RFI. Công an yêu cầu TS Phạm Chí Dũng chấm dứt hoạt động Hội Nhà báo Độc lập

Nguồn thuymyrfi

Thứ Năm, ngày 25 tháng 6 năm 2015

bt23_pcd.jpg
Nhà báo Phạm Chí Dũng trong một cuộc biểu tình chống thái độ hung hăng của Trung Quốc tại Biển Đông năm 2014.

Đăng ngày 25-06-2015 Sửa đổi ngày 25-06-2015 19:12

Sáng nay, 25/06/2015 vào khoảng 8 giờ Việt Nam, ông Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam đã bị khoảng 20 nhân viên công an cưỡng bức đưa lên xe đến cơ quan an ninh điều tra để « hỏi về các vấn đề liên quan đến vụ án ông Nguyễn Quang Lập ». Nhưng công an cũng đã yêu cầu ông Phạm Chí Dũng chấm dứt hoạt động trang Việt Nam Thời Báo của Hội Nhà báo Độc lập. Sau khoảng 8 giờ bị câu lưu và thẩm vấn, nhà báo Phạm Chí Dũng đã được trả tự do vào cuối giờ chiều hôm nay.

Trả lời RFI Việt ngữ ngay sau khi được thả, nhà báo Phạm Chí Dũng cho biết :

« Sáng nay tôi đưa bé đi học ở trường Tuổi Thơ 7, quận 3 Saigon. Khi vào trường tôi chợt thấy có mấy người vào theo, và sau khi gởi bé rồi, tôi quay ra thì có khoảng hai chục người và một chiếc xe hơi đậu ngay trước cổng trường. Họ đưa tôi giấy triệu tập, yêu cầu đi về cơ quan công an điều tra để làm việc. Tôi từ chối, nói rằng tôi không có lý do nào để làm việc với họ. Sau đó họ đã bẻ quặt hai tay tôi ra sau lưng, và đẩy tôi ra khỏi cổng trường. Lúc đó đông người lắm.

Họ đưa tôi lên xe hơi, đến cơ quan an ninh điều tra. Tới đó họ nói lý do là vụ ông Nguyễn Quang Lập, vì cho tới nay vụ ông Lập vẫn chưa đình chỉ điều tra, và hoàn toàn còn nằm trong khuôn khổ của một vụ án. Họ hỏi tôi khá nhiều về những vấn đề liên quan tới ông Nguyễn Quang Lập.

Thật ra thì tôi với ông Lập là bạn văn với nhau, cũng có quen biết ngoài đời một chút, nhưng không phải là quá thân thiết. Thành thử tôi cũng không biết nhiều để nói về ông Nguyễn Quang Lập.

Nhưng tôi rất nghi ngờ đây là một động thái của một phe nhóm nào đó. Họ muốn gắn tôi với vụ ông Lập để ngăn chặn tôi một điều gì. Và điều đó lại diễn ra ngay trước chuyến đi Mỹ dự kiến từ ngày 7 đến ngày 9/7 của ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tôi ngờ rằng những vấn đề vi phạm thô bạo về nhân quyền kéo dài suốt từ tháng Năm năm nay : đánh blogger Nguyễn Chí Tuyến, Đinh Quang Tuyến, và gọi hỏi điều tra kể cả đối với những linh mục Công giáo, tu sĩ Cao Đài, áp giải thô bạo đối với tôi…là những động thái có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và hiệu quả chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng. Và không có gì chắc chắn là ông Trọng đi Mỹ mà sẽ không bị cộng đồng quốc tế, Quốc hội Mỹ và kể cả Chính phủ Mỹ phản ứng, về chuyện Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm những cam kết khi vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

Một trong những câu hỏi mà điều tra viên xoáy vào tôi là:« Anh có quốc tịch Mỹ không ? » Dường như họ muốn nói kháy người Mỹ. Và khi tôi cho rằng, tất nhiên chúng ta cần phải có một liên minh quân sự với Mỹ hiện nay để đối trọng với dã tâm xâm lăng của Trung Quốc ; thì họ gần như tảng lờ không biết.

Cuối cùng cũng xoay quanh việc Hội Nhà báo Độc lập. Họ yêu cầu thẳng là trang Việt Nam Thời Báo của Hội Nhà báo Độc lập cần phải chấm dứt. Tôi nói rằng tất cả những vấn đề này tôi phải trao đổi lại với trong Hội, vì tôi không có quyền quyết định. Đó là một.

Vấn đề thứ hai : Bất kỳ những hành động nào của họ muốn ngăn chận tiếng nói tự do, phản biện, chính luận, đều là can thiệp thô bạo vào quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân đã được Hiến định trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992.

Đến cuối giờ chiều hôm nay, tôi mới được thả ra. Cơ quan an ninh nói rằng kể từ nay trở đi họ có thể áp giải tôi bất cứ lúc nào, và bất cứ ở đâu ! »

Advertisements
Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Bùi Tín : Toàn dân không thể để Bộ Chính trị đánh lừa dễ như thế

Nguồn VOA

Bùi Tín

Trong các đại hội đảng trước đây, khi còn cách Đại hội Đảng toàn quốc 7 hay 8 tháng là các đại hội đảng bộ cơ sở và cấp quận, huyện đã được tiến hành để thảo luận góp ý vào các văn kiện trình Đại hội toàn quốc và bầu đoàn đại biểu đi dự đại hội cấp trên.

Năm nay tình hình khác hẳn. Tháng 6 rồi mà các đại hội đảng bộ cơ sở chưa động tĩnh gì. Một điều khác hẳn các đại hội trước là Bộ Chính trị lần này chỉ tập trung lo về vấn đề nhân sự, về số lượng, tiêu chuẩn bầu cấp ủy các cấp và các đoàn đại biểu đi dự đại hội cấp trên, tiêu chuẩn ủy viên Trung ương và ủy viên Bộ Chính trị nhiệm kỳ mới, gần như không nhắc đến việc thảo luận, góp ý, thông qua nội dung các văn kiện quan trọng sẽ trình Đại hội toàn quốc.

Cũng chưa thấy Bộ Chính trị đưa ra lời kêu gọi cán bộ, trí thức dân tộc, nhân sỹ ngoài đảng và toàn dân góp ý vào các văn kiện đã được dự thảo.

Theo báo Nhân Dân ngày 10/5, nhân dịp này, khi gặp các cử tri thủ đô, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng các văn kiện trình Đại hội XII đã được sự nhất trí cao, đồng thuận sâu sắc, ngụ ý rằng nội dung các văn kiện không còn thành vấn đề, chỉ còn có vấn đề nhân sự mà thôi.

Điều Bộ Chính trị cố tình che dấu toàn đảng CS và toàn dân VN lúc này là nội dung các văn kiện quan trọng sẽ trình Đại hội đang vấp phải sự chống đối dữ dội của một số hơn 60 đảng viên trí thức tiêu biểu, của tất cả các nhà báo tự do, của hơn 30 tổ chức xã hội dân sự, của đông đảo nông dân trong cả nước, của hầu hết các nhà doanh nghiệp tự do vừa và nhỏ không có chân trong các nhóm lợi ích riêng ăn bám vào kinh tế quốc doanh. Sự phản kháng chưa từng có này có thể cản trở cho Đại hội XII tiến hành được trôi chảy.

Nỗi lo cực lớn của Bộ Chính trị là do tác động của dư luận xã hội, nếu như lần này, từ đại hội đảng bộ cơ sở, các đại biểu được phát biểu ý kiến thật sự dân chủ, như Bộ Chính trị từng xác định, được tự do nói lên chính kiến của mình, thì tình hình chắc chắn sẽ có nhiều điều khác trước. Đó là vì trong các văn kiện được dự thảo có quá nhiều điều phi lý, trái lẽ phải và thực tiễn, quá lạc hậu và sai lầm mà một con người bình thường cũng có thể nhận ra, nhưng Bộ Chính trị bảo thủ, giáo điều vẫn cố tình ép buộc toàn Đảng phải nhắm mắt chấp nhận là chân lý.

Đó là học thuyết Mác – Lênin, đó là chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Xã hội kiểu mác-xít đã bị toàn thế giới lên án, bác bỏ, cũng như đã bị nhiều nước đặt ra ngoài vòng pháp luật, coi là tội ác chống nhân loại. Vậy thì còn có lý do gì mà bắt toàn đảng CS và toàn dân phải kiên trì áp dụng?

Không phải ai khác mà chính Giáo sư Trần Phương, từng là Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng, nay là Hiệu trưởng một trường Đại học, từng góp ý vào các văn kiện Đại hội rằng chủ nghĩa Mác – Lênin là hoàn toàn sai lầm về cả lý luận và thực tiễn, hoàn toàn có hại do cổ suý cực đoan bạo lực và chiến tranh, cần từ bỏ dứt khoát vì tương lai dân tộc, hạnh phúc toàn dân. Hơn 60 trí thức CS gạo cội cũng đồng tình như thế. Vậy mà Bộ Chính trị vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin trong các văn kiện gốc là tỏ ra thông minh, sáng tạo, có trách nhiệm với dân tộc và nhân dân ở chỗ nào ?

Cũng không phải ai khác mà chính một cán bộ cao cấp đương quyền là Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh, Ủy viên Trung ương Đảng, cũng nhiều lần nói thẳng ra trước công luận rằng «Cái chủ nghĩa Xã hội và cái định hướng Xã hội chủ nghĩa làm gì có trong thực tế mà đi tìm cho mất công?». Vậy mà Bộ Chính trị vẫn cứ cưỡng bách toàn đảng và toàn dân kiên trì chủ nghĩa Xã hội và thực hiện cái định hướng Xã hội chủ nghĩa không có thật, thì đó là khôn ngoan, sáng suốt, có tính sáng tạo, có trách nhiệm với dân tộc và đất nước ư? Vậy mà Bộ Chính trị vẫn cưỡng ép đại hội Đảng các cấp phải thông qua các văn kiện chứa đựng những sai lầm, lẩm cẩm to lớn khủng khiếp như thế.

Rồi các văn kiện trình Đại hội XII vẫn còn kiên trì chế độ độc đảng phi dân chủ cổ lỗ bế tắc, với cái ngụy biện trâng tráo rằng «một đảng vẫn có dân chủ, nhiều đảng vẫn không có dân chủ», ngang nhiên phủ nhận chân lý phổ cập của nền chính trị dân chủ hiện đại.

Một sai lầm dai dẳng của Bộ Chính trị trong nhiều khóa liên tiếp còn là «kiên trì lấy kinh tế quốc doanh, lấy kinh tế chỉ huy làm chủ đạo cho nền kinh tế», bóp chết nền kinh tế tự do cạnh tranh của tư nhân, làm phá sản các doanh nghiệp vừa và nhỏ, làm điêu đứng tầng lớp trung lưu vốn là đòn bẩy năng động nhất của phát triển, công bằng và phồn vinh xã hội.

Chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội Mác-xít, chế độ độc quyền đảng trị và nền kinh tế quốc doanh làm chủ đạo là 4 chiếc gông choàng lên cổ dân ta quá nặng nề quá lâu dài, đến nay toàn dân ta không còn có thể chịu đựng thêm nữa.

Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống oanh liệt, bất khuất trước bạo quyền, hoàn toàn không đáng bị lâm vào tình trạng lạc hậu thê thảm, thiếu tự do, bất công, không có nền pháp trị như hiện nay. Đây là điều phi lý tai ác nhất mà nhân dân lương thiện không thể chịu nổi nữa.

Đại hội đảng CS các cấp từ các đảng bộ cơ sở lên đến đại hội các tỉnh, thành và các ngành, cơ quan trung ương, quân đội, công an…nếu như còn có mối quan hệ ruột thịt với nhân dân, nếu như biết thật lòng yêu nước thương dân, sẽ sử dụng quyền dân chủ của mình, bác bỏ dứt khoát 4 chiếc gông nguy hiểm nói trên, loại bỏ Bốn điều kiên định nói trên ra khỏi các văn kiện Đại hội với những lập luận chặt chẽ mà khá đông bà con ta đã rõ.

Tất cả các lực lượng tự cho là lành mạnh, trong sáng còn ở trong Đảng CS hãy bật dậy, dám nói lên tiếng nói trung thành với nhân dân, với dân tộc, nói lên lời chính nghĩa một lần cuối giữa các đại hội Đảng, nếu không xin hãy mạnh dạn ra đảng, thoát đảng, gia nhập đại khối dân tộc, đòi lại bằng được cuộc sống tự do trong nhân phẩm.

Các Đại hội đảng từ đảng bộ cơ sở trở lên phải đòi quyền thảo luận dân chủ các văn kiện chủ yếu của Đại hội toàn quốc, góp ý cụ thể, biểu quyết đàng hoàng khi thông qua, không thể qua loa, hình thức, vì nội dung văn kiện, đường lối, chính sách là sinh mệnh của đảng và lẽ sống của dân, nội dung các văn kiện sai thì dù cho chọn nhân sự tài giỏi trong sạch đến đâu cũng là thừa, là vô dụng. Mỗi đại biểu dự đại hội các cấp cần đinh ninh điều ấy.

Tôi rất tâm đắc và tán thành ý kiến của Giáo sư Lê Xuân Khoa, một nhân sỹ không đảng phái sống ở Nam California (Hoa Kỳ) vừa đưa ra là nội dung thảo luận về tình hình nước ta ở các cuộc họp quan trọng cần phải có một phần bàn kỹ đến Trung Quốc, những mưu đồ của TQ đối với nền độc lập và an ninh nước ta cũng như những đối sách của nhân dân ta. Đề nghị thứ hai của Giáo sư Khoa là tất cả các tổ chức yêu nước trong và ngoài nước nên cùng nhau phối hợp, liên kết để mở một Đại hội Dân tộc để bàn luận về tình hình khẩn cấp và các giải pháp cần thiết cho Đất nước ta. Đây nên là một mối quan tâm chung của mỗi người Việt Nam lúc này.

Bộ Chính trị làm ra vẻ như nội dung các văn kiện đã giải quyết xong, không cần bàn gì thêm, chỉ còn vấn đề nhân sự ở các đại hội các cấp. Đây là một quả lừa nguy hiểm, đánh tráo vấn đề. Đại hội đảng bộ cơ sở sắp bắt đầu về nguyên tắc phải thảo luận kỹ Báo cáo Chính trị và các văn kiện trình Đại hội Toàn quốc, với những biểu quyết với số phiếu tán thành và phản đối nghiêm minh, với biên bản đầy đủ. Nội dung các văn kiện là linh hồn của Đại hội, gắn liền với vận mệnh của dân tộc và nhân dân, vì đảng tự nhận quyền lãnh đạo đất nước qua cương lĩnh, đường lối, chính sách của đảng CS.

Mong rằng các anh chị em trí thức trong và ngoài đảng CS tổ chức những cuộc họp sôi nổi, nghiêm túc, góp ý kỹ lưỡng vào các văn kiện sẽ được chính thức công bố, phê phán có lý lẽ vững chắc từng sai lầm, thiếu sót, và đề nghị những điều đúng đắn, chuẩn xác để bổ sung, điều chỉnh các văn kiện đó.

Đây là một sinh hoạt chính trị sôi động rộng khắp, hệ trọng nhất trong năm nay, để phân biệt đúng sai, phải trái trong việc xác định đường lối chính trị, kinh tế, đối ngoại, văn hóa đạo đức cho toàn xã hội trong một thời gian dài là năm, mười năm tới.

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Tô Văn Trường : Buồn giận vui khi đọc bài của Gs nguyên Uỷ viên Bộ chính trị Lê Xuân Tùng

Nguồn boxitvn

Tôi không tin Gs Lê Xuân Tùng nguyên Ủy viên Bộ Chính trị và “ê kíp” của ông sai lầm một cách chân thành. Họ không thể không biết điều sơ đẳng: "Thực tiễn là thước đo duy nhất đúng của chân lý ".
Chỉ cần nhìn vào thực tế trên thế giới mấy chục năm qua thì sẽ thấy vì sao Tây Đức hơn Đông Đức, Đài Loan hơn Đại lục, Hàn Quốc hơn Bắc Triều Tiên…, vì sao Thành trì của CNXH là Liên Xô lại sụp đổ cái rụp như thể đó là một ngôi nhà xây trên cát! Vì sao Việt nam tụt hậu thê thảm so với các nước.Nhân tiện, tôi xin "biếu" họ câu nói chí lý của "ông tổ" "Lê" Tiên sinh :
" Đào xuống, lật lên, xới ra những lớp ngôn từ lý luận có vẻ như cao siêu, ta sẽ thấy đằng sau chúng hiện ra cái lõi trần trụi – đó là QUYỀN và LỢI !".

Có người hỏi cảm giác của tôi khi đọc bài “Phải chăng kinh tế tư nhân là nền tảng của nền kinh tế quốc dân?” của GS nguyên Ủy viên Bộ chính trị Lê Xuân Tùng (dưới đây xin viết tắt: “GS. LXT’) đã đăng trên tờ Dân trí gần đây? Tôi đã trả lời hết sức nhanh rằng “tôi buồn, giận, vui khi đọc bài báo này”.
Theo như lời phi lộ của tờ Dân trí thì đây là bài báo cực kỳ quan trọng không phải chỉ vì trình độ và vị thế chính trị của tác giả, mà còn phản bác “những quan điểm xa lạ” để bảo vệ “quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước ta”, nhất là về vấn đề sở hữu. Tôi và chắc chắn có rất nhiều nhà báo, nhà khoa học, nhà nghiên cứu sẽ có hàng loạt bài phản bác lại quan điểm của GS. LXT.
Bài viết ngắn đầu tiên này, tôi chỉ giải thích một điều đơn giản: tại sao “tôi buồn-giận-vui khi đọc bài báo này”?. Để mọi người đỡ sốt ruột và cũng để mở đầu cho hệ thống bài viết của mình về chủ đề này, xin được trả lời ngay:
– “Tôi buồn” vì sự thủ cựu, bảo thủ đến cực điểm của GS. LXT. Ông Tùng viết ra những điều mà người đời hay nói “xưa như trái đất”. Tôi buồn hơn, sự bảo thủ này không chỉ của GS. LXT mà thực tiễn cho thấy không ít nhà lãnh đạo cao cấp của đảng hiện nay cũng chưa thoát ra được.
– “Tôi giận” vì một người có học hàm cao và vị thế lớn như GS. LXT lại nhắm mắt nói bừa những điều sai sự thật, quá xa với cuộc sống diễn ra trên đất nước ta trong 30 năm đổi mới vừa qua. Tôi giận hơn, khi tìm hiểu hệ thống văn kiện tóm tắt đưa xuống đại hội đảng các cấp cũng có tình hình tương tự.
– “Tôi vui” vì GS. LXT đã “dũng cảm” phơi bày quan điểm bảo thủ, lạc hậu của mình (và tôi hiểu cũng là của giới bảo thủ, giáo điều trong Đảng cầm quyền) để mọi người có dịp tranh luận công khai mà không bị “trừng trị”.
Dưới đây, xin nói rõ hơn những điều nêu trên đây.
1.GS. Lê Xuân Tùng cố tìm cách (kể cả bịa chuyện) để chống lại “những quan điểm xa lạ” để bảo vệ một trong những quan điểm chính thống của đảng cầm quyền đã được ghi vào Cương lĩnh và Hiến pháp sau đây: “ Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, “Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”…Vấn đề này sẽ còn được bàn kỹ hơn, ở đây xin được nói nhanh hai điều:
Một, đường lối của đảng cầm quyền là để chỉ đạo hành động nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, vậy mà sau 30 năm đổi mới mọi người, kể cả các nhà khoa học lớn của đất nước vẫn còn loay hoay bàn vấn đề “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là gì? Một đường lối như vậy làm sao bắt mọi người phải thừa nhận là đúng, bắt mọi người phải nói theo và làm theo; Ngay Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh cũng thẳng thắn đánh giá “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm!”
Ai nói ngược, nói khác thì được lãnh đạo, mà GS. LXT “tặng cho” cái mũ “chệch hướng”?
Hai, thành quả của đổi mới lớn nhất, đáng ghi nhận và nhờ đó, chúng ta mới có bước phát triển như vừa qua là phát triển kinh tế nhiều thành phần sở hữu. Các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật. Nhưng điều rất đáng buồn là đảng đã thụt lùi khi ghi vào Cương lĩnh (xin được nhắc lại lần nữa):. “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu,[…]. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. […]. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.
Đoạn trích từ Cương lĩnh trên đây đã nói lên rõ ràng rằng chính Đảng cầm quyền chứ không phải ai khác chủ trương và cổ súy cho việc phân biệt đối xử đối với các thành phần kinh tế. GS. LXT còn bảo hoàng hơn vua khi bịa ra rằng có thế lực thù địch nào đó muốn “kinh tế tư nhân là nền tảng của nền kinh tế quốc dân?”. Xin thưa với GS. LXT là mọi người, kể cả các nhà khoa học chỉ muốn đảng thực hiện chủ trương các thành phần kinh tế “bình đẳng trước pháp luật” như đã hứa thôi!
2.Theo tôi, thực chất của Đổi mới là sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm cả về nhận thức lý luận, lẫn hành động thực tế do chính chúng ta gây ra trước đó, đưa đất nước phát triển theo quy luật của nó. Có những sai lầm, khuyết điểm được phát hiện khá sớm, nhưng không ít sai lầm khuyết điểm chỉ có thể được phát hiện dần trong quá trình thực hiện đổi mới.
Do đó, đổi mới là một quá trình lâu dài, liên tục. Mặc dầu vậy, trong Dự thảo báo cáo chính trị tóm tắt đưa đến Đại hội cấp cơ sở, một số chỗ có nói đến đổi mới, chẳng hạn: “Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế”( Văn kiện Đại hội XII, tr. 11); “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo duc…”(Văn kiện Đại hội XII, tr. 18); “Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận” (Văn kiện Đại hội XII, tr. 36); “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ”( Văn kiện Đại hội XII, tr. 37)., nhưng tuyệt nhiên không nơi nào nói rõ ràng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng trong lãnh đạo công cuộc đổi mới.
Trong khi đó, qua khảo sát thực tế, ý kiến của không ít chuyên gia tâm huyết khẳng định rằng “việc thực hiện công cuộc đổi mới trong 30 năm qua thiếu nhất quán, không triệt để, nghiêm trọng hơn là công cuộc đổi mới bị chững lạị. Đặc biệt, đổi mới chính trị không những không đi liền với đổi mới kinh tế như đảng đã hứa với dân từ 1986, mà hầu như còn dẫm chân tại chỗ, có mặt còn đi thụt lùi. Chính điều này đã trở thành lực cản của đổi mới kinh tế – xã hội .”
Trên cơ sở đó, nhiều nhà nghiên cứu kiến nghị “đẩy mạnh công cuộc đổi mới”; “Đổi mới lần 2”; “Đổi mới mô hình tăng trưởng”; “Đổi mới thể chế”…..Đề nghị GS. LXT và những người cổ vũ cho quan điểm của ông dành thì giờ đọc kỹ các bài viết đăng trên các báo chính thống trước khi phát biểu ý kiến của mình!
3.Đại hội XII của Đảng sắp tới, chắc chắn phải đánh giá chúng ta đang ở đâu và từ đó sẽ đi đến đâu trong giai đoạn tiếp theo. Đại hội XII diễn ra trong bối cảnh nước ta đã trải qua chặng đường 30 năm đổi mới, nếu chỉ tính từ Đại hội VI (1986-2015) và một phần tư thế kỷ thực hiện công nghiệp hóa theo mục tiêu đưa nước ta “trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” đề ra tại Đại hội VII (1991-2015). Đồng thời cũng đã gần ¼ thế kỷ, nước ta thoát khỏi bao vây, cấm vận và tham gia ngày càng đầy đủ vào quá trình toàn cầu hóa, thực chất là quá trình phân công lao động trên phạm vi khu vực rộng lớn và toàn cầu.
Do đó, để đánh giá tình hình hiện nay, cần điểm lại những thành quả quan trọng mà nhân dân ta đã giành được, những bài học quý giá cả thành công, nhất là những bài học thất bại xảy ra không chỉ trong một nhiệm kỳ 5 năm mà trong cả 30 năm ấy. Và trong bối cảnh mới này, việc đánh giá những mặt làm được và chưa làm được nhất thiết phải đặt trong mối tương quan so sánh giữa ta và các nước trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực.
Trong phạm vi bài viết này, chỉ xin nêu vắn tắt vài hệ lụy:
Một là Việt Nam đã tụt hậu xa hơn (hay doãng ra) chứ không còn là “nguy cơ” và không chỉ tụt hậu về kinh tế mà cả văn hóa, xã hội so với các nước.Riêng về thu nhập bình quân theo đầu người, VN tụt hậu ngày càng xa hơn so với bình quân chung của thế giới và khu vực đã trở thành hiện hữu, chứ không còn là nguy cơ như các văn kiện trình Đại hội Đảng khóa XII nhận định.
Trong các văn kiện chính thức, chúng ta thường chỉ đánh giá một chiều rằng Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm nước cao nhất thế giới, coi đó là thành tựu “có ý nghĩa lịch sử”. Nhưng thực chất, nếu xem xét kỹ về số tuyệt đối, mà điều đó mới là quan trọng nhất thì Việt Nam tụt hậu ngày càng xa hơn so với bình quân chung của thế giới và các nước trong khu vực.
Mong muốn đuổi kịp nước này, nước khác trong vùng về thu nhập đầu người đã trở nên không tưởng. Chẳng hạn, năm 1990, GDP bình quân đầu người của Thái Lan là 1508 USD và VN là 98 USD, cách nhau 1410 USD. Đến năm 2013 lần lượt là 5674 USD và 1908 USD, cách nhau 3766 USD, tức khoảng cách doãng ra gấp 2,67 lần, sau 23 năm. So với hầu hết các nước trong khu vực đều thấy có tình hình tương tự.
Hai là để lại gánh nặng nợ nần cho giai đoạn tới. Do sử dụng các nguồn lực để thực hiệm nhiệm vụ công nghiệp hóa kém hiệu quả, nên để lại gánh nặng nợ nần cho giai đoạn tiếp theo.
Ba là rất nhiều nước, sau khoảng 30 năm thực hiện công nghiệp hóa đã phải nhập khẩu lao động, còn nước ta chắc còn phải vác rá đi xin việc làm dài dài. Thực chất, hiện chúng ta đang thiếu việc làm nghiêm trọng. Nếu có quyết tâm cao và tạo được nguồn lực lớn thì cũng phải cần một thời gian dài nữa mới xử lý được vấn đề này. Thiếu công ăn việc làm, người có việc làm thì thu nhập không đủ sống là nguyên nhân quan trọng tạo nên sự bất an xã hội.
Bốn là nguyên nhân của tình hình trên có nhiều và lâu nay trong các văn kiện chính thức chưa bao giờ nói một cách rõ ràng nguyên nhân cốt lõi. Ở đây xin nêu tiêu đề của hai nguyên nhân cốt lõi:
Thứ nhất, do Đảng không tiếp tục, không kịp thời đổi mới tư duy. Đảng ta vẫn cố bám lấy những mặt sai, lỗi thời của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là trong những nguyên lý xây dựng chủ nghĩa xã hội, vẫn tiếp tục lấy nó làm nền tảng tư tưởng và phương hướng hành động của đảng. Trong khi đó chủ nghĩa Mác-Lênin ngày càng được nhiều học giả chân chính và thực tiễn chứng minh là một học thuyết chưa hoàn chỉnh có rất nhiều sai lầm, khuyết tật đặc biệt là trong những nguyên lý xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Hơn thế nữa, thực tiễn áp dụng học thuyết này vào cuộc sống là Liên Xô trong một thời gian đủ dài tới 73 năm đã bị thất bại thảm hại ngay trên quê hương nó, phải thừa nhận là một sự kìm hãm lịch sử phát triển của một đất nước. Điều dễ nhận thấy là tuy có một số lập luận về sự phát triển học thuyết này, nhưng ít có cơ sở khoa học thuyết phục, thực chất chỉ là sự biến tấu, về cơ bản Đảng ta đang từng ngày, từng giờ đi theo vết xe đổ của đảng cộng sản Liên Xô. Cho nên, Đảng ta “lấy chủ nghĩa Mác – Lênin … làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động…” (Cương lĩnh 2011) là rất sai lầm. “Chủ nghĩa Mác-Lênin” là thuật ngữ hàm hồ, của Stalin, “Chủ nghĩa Mác-Lênin” là thuật ngữ hàm hồ do Stalin nêu ra đầu tiên sau khi Lênin mất, không nên tiếp thu và phổ biến.
Liệu ở thời đại ngày nay với sự hiểu biết và nhận thức về lịch sử phát triển thế giới khác hẳn những năm 1930, ai và dân tộc nào tán đồng và chấp nhận một cuộc thí nghiệm kéo dài đã biết trước kết quả như ĐCS Liên Xô và nhà nước Xô Viết đã làm? Người dân, đặc biệt là những trí thức đủ kiến thức để nhận biết những người đang chủ trương đường lối xây dựng đất nước vì những lợi ích cá nhân đặt trên quyền lợi của đất nước của dân tộc. Trong lịch sử Việt Nam đã ghi nhận không ít những Vương triều đã để lại vết nhơ không ai và không bao giờ xóa được là bài học đâu có phải mất nhiều công tìm kiếm.
Thứ hai, là do Đảng vẫn duy trì mô hình về tổ chức bộ máy cầm quyền lỗi thời, lạc hậu, kìm hãm quá trình phát triển của đất nước.
Đảng độc quyền tuyệt đối về công tác tổ chức và cán bộ tạo ra bộ máy kém năng lực, thiếu tư chất và trách nhiệm là nguyên nhân gây ra tệ tham ô lãng phí tràn lan (không còn là “con sâu… hay một bộ phận nhỏ đảng viên”… quan liêu kém hiệu quả của bộ máy dẫn đến không chỉ mất dân chủ, mất lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh, chủ quyền của đất nước. Vì vậy, đảng phải chịu trách nhiệm toàn diện về lĩnh vực hoạt động này. Điều rất đáng quan tâm là hiện nay đảng ta không nhận ra hiện trạng yếu kém nói trên, vẫn duy trì mô hình về tổ chức bộ máy cầm quyền lỗi thời, lạc hậu, kìm hãm quá trình phát triển của đất nước giống như Liên Xô trước khi tan rã.

Thứ hai, là do Đảng vẫn duy trì mô hình về tổ chức bộ máy cầm quyền lỗi thời, lạc hậu, kìm hãm quá trình phát triển của đất nước.
Trên thực tế cho đến nay, những người lãnh đạo đảng ta là người điều hành độc quyền và duy nhất quá trình phát triển của đất nước, can thiệp vào mọi hoạt động lớn, nhỏ của hơn 90 triệu dân Việt Nam. Rất khó tìm một lĩnh vực, một khu vực, một hoạt động cụ thể nào, cả đối nội lẫn đối ngoại trong đời sống hằng ngày của người dân mà ở đó không có sự can thiệp của cơ quan lãnh đạo đảng.
Quyền cực lớn và vô giới hạn đến như vậy, nhưng về mặt pháp luật không hề có quy định nào nêu rõ trách nhiệm của Đảng cộng sản Việt Nam trước tổ quốc, trước dân, ngoài vài câu khẩu hiệu ghi tại Điều 4 Hiến pháp năm 2013 (tương tự như Điều 126 Hiến pháp Liên Xô năm 1936 và Điều 6 Hiến pháp Liên Xô năm 1977). Kinh nghiệm chung của cả thế giới, kể cả Liên Xô và các nước XHCN cũ chỉ ra rằng: Độc quyền mà không hề bị giám sát, không hề bị kiểm soát theo pháp luật thì tất yếu dẫn đến lộng quyền, làm những điều sai trái gây phương hại đến lợi ích của đất nước, của người dân. “
Thay cho lời kết
Nếu có một diễn đàn khoa học dân chủ, công khai, minh bạch, thiện chí và bình đẳng, chắc chắn sẽ có nhiều học giả ở nước ta không phân biệt đảng phái, giai cấp sẽ tình nguyện (không cần phải đầu tư tổ chức tốn kém và không hiệu quả như hiện nay đang làm !) tham gia bàn luận nghiêm túc có tính xây dựng về vấn đề nêu trên, điều mà trên thế giới đang làm sẽ là những thông tin đa chiều mà từ đó sẽ tìm hoặc lựa chọn ra được những chân lý có cơ sở khoa học định hướng tốt nhất, phù hợp nhất cho sự phát triển đất nước. Trong lịch sử nước ta đã từng có Hội nghị Diên Hồng, Hội nghị Tân Trào của Mặt trận Việt Minh. Còn các dạng bài viết và nghị quyết, cương lĩnh,… theo đặt hàng định hướng hiện nay thường rơi vào những tư tưởng duy ý chí, không phải và không thể là một luận cứ mang tính biện chứng khoa học thuyết phục.
Bài viết của GS Lê Xuân Tùng thuộc dạng thứ hai nêu trên là sắp xếp cho ra vẻ có lớp lang một mớ hổ lốn những điều cũ kỹ đã được nhồi nhét và tự nhặt nhạnh từ những bản dịch cũnát, đã được lựa chọn nhằm mục đích như hai mảnh che mắt con ngựa thồ chạy đường dài. Nhưng dù có giỏi ngụy biện đến đâu cũng không che dấu nổi mâu thuẫn ngay trong bài viết.
Bài viết của Gs Lê Xuân Tùng đại diện cho tư duy giáo điều, bảo thủ của giới cầm quyền, vẫn bám giữ con đường xã hội chủ nghĩa theo học thuyết Mác-Lênin. Dù sao, nó cũng tạo cơ hội cho những ý kiến phản biện lên tiếng, trong khi giới cầm quyền đang tìm mọi cách không cho những tiếng nói phản biện được công khai tranh luận.
T.V.T.
Tác giả gửi BVN

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Đức Hồng : Có gì để tự hào về bức ảnh “Em bé Napalm”?

Nguồn BBC

Đức Hồng Gửi tới BBC từ Tp HCM

  • 17 tháng 6 2015

Bức ảnh ‘Em bé Napalm’ được báo chí dùng nhiều trong Cuộc chiến Việt Nam.

Vài tháng trước, tôi có tình cờ biết được Phan Thị Kim Phúc – cô gái trong bức ảnh “Em bé Napalm” hiện đang sống tại Canada.

Một chút thắc mắc hiện ra trong đầu: tại sao một người là nạn nhân của “Chủ nghĩa tư bản” lại sống dưới vòm trời của một trong những trùm tư bản quốc tế, lại đi sang đất nước mà Quốc hội thông qua luật 30/4 – tức coi ngày 30 tháng 4 là ngày quốc lễ Canada để tưởng niệm những nạn nhân cộng sản Việt Nam đã liều chết vượt biên ra đi tìm tự do?

Không có lý gì như thế cả, cô ấy phải là một người yêu Chủ nghĩa Cộng sản, căm thù đế quốc Mỹ và những đồng lõa của nó vì đã gây ra vết thương không bao giờ có thể xóa mờ trên cơ thể và tâm trí mới phải.

Thế mà Kim Phúc không chỉ sống tại Canada một cách đơn thuần, cô đã phải bỏ trốn, xin tị nạn chính trị tại quốc gia láng giềng của “đế quốc Mỹ” này.

Nguồn gốc của bức ảnh

Youtube còn một đoạn video ghi lại gần như toàn bộ diễn biến sự việc từ lúc máy bay ném bom cho đến khi các em nhỏ trong đó có Kim Phúc chạy ra. Bức ảnh của Nick Út chỉ là một trong những khoảnh khắc ấy.

Cái lạ ở đây là các em nhỏ ấy lại chạy về phía lính Việt Nam Cộng hòa để kêu cứu mà không một chút sợ sệt, sao các em không chọn những người lính Cộng sản Bắc Việt cũng đang lẩn trốn ở ngay gần đó?

Ngay từ đầu người dân đã biết lính Việt Nam Cộng hòa đến không phải để giết hại họ. Nếu muốn thế, lính Mỹ đã bắn hết những ai chạy ra và chẳng sơ cứu rồi mang Kim Phúc đi chữa trị làm gì.

Tại sao Kim Phúc phải chạy trốn khỏi Việt Nam?

null

Năm 1982, một nhiếp ảnh gia người Đức đến Việt Nam muốn tìm lại cô bé trong bức hình và Kim Phúc trở thành công cụ hoàn hảo cho bộ máy tuyên truyền. Nếu những gì trong ảnh đúng theo những gì người ta tưởng tượng (về tội ác của đế quốc Mỹ) thì mọi việc chẳng có gì đáng nói và Kim Phúc chẳng bị nhà cầm quyền kiểm soát gắt gao như thế.

Cô bị bắt nói ra những điều chính quyền muốn. Sau đó, cô bỏ trốn, bị truy lùng, bắt lại, bị buộc thôi học, quản thúc tại gia nghiêm ngặt, giám sát 24/24h “chỉ trừ lúc đi vệ sinh”.

Và cuối cùng, khi có cơ hội Kim Phúc đã chạy trốn và xin tị nạn chính trị ở Canada.

Chiến tranh có phải thứ khủng khiếp nhất?

Chiến tranh luôn đại diện cho điều đáng sợ nhất. Đối với cá nhân Kim Phúc, đó là vết sẹo trên cơ thể và trong tâm chí cô, nhưng những nỗi đau ấy còn có thể xoa dịu bằng niềm tin ở Chúa (cô đã cải đạo sang Tin Lành), còn sự khủng bố tinh thần ngay trong thời bình mới chính là thứ làm cho cô không thể chịu đựng được.

Trong trường hợp này, chiến tranh liệu có còn là điều khủng khiếp nhất? Sẽ nhiều người phản đối, nhưng khoan đã, hãy nhớ lại có bao nhiêu người vô tội phải chết trong Cải cách ruộng đất khi chính quyền đã về tay nhân dân, đó chỉ là một trong rất nhiều tội ác của nhà cầm quyền mang danh nghĩa “do dân vì dân”.

Người ta không chết trong thời chiến mà lại chết trong thời bình, cái chết nào ít đáng sợ hơn, và tội ác nào đỡ ghê sợ hơn?

Nhưng một nhiếp ảnh gia như Nick Út không bao giờ có cơ hội ghi lại những khoảnh khắc ấy, vì chính quyền Cộng sản không bao giờ cho phép. Ông chỉ được hoạt động ở một nơi tôn trọng nhân quyền, tôn trọng báo chí mà thôi.

Ý nghĩa thực sự của “Em bé Napalm”?

nullNhiếp ảnh gia Nick Út tại cuộc triễn lãm ảnh Chiến tranh Việt Nam ở Hà Nội vào tuần trước.

Nhìn vào bức ảnh ấy, người ta không biết rằng lỗi một phần không nhỏ là do lính Bắc Việt đã chạy vào nơi có dân đang trú ngụ không phải để bảo vệ mà gián tiếp đe dọa tính mạng của họ. Người dân nơi Kim Phúc đang sống lúc đó không hề “rên xiết dưới gót giày quân xâm lược” nên chẳng cần ai đến để cứu giúp họ. Nếu không có sự xuất hiện của người lính Cộng sản ở một nơi không đúng chỗ như thế, sự việc đáng tiếc đã không xảy ra với Kim Phúc.

Còn ai nghi ngờ về điều trên có thể tìm hiểu về cuộc tháo chạy của những người miền Nam khỏi thứ “độc lập, tự do” mà chính quyền Cộng sản đã trao cho họ. Trong số đó có rất nhiều người phải bỏ quê cha đất tổ, bất chấp tính mạng để lênh đênh trên biển tìm nơi ở khác.

Khi nhìn vào một bức ảnh mà người ta chỉ thấy một phần rất nhỏ sự thật, bức ảnh ấy có thực sự còn nguyên giá trị?

Bức hình ấy khiến nhân dân Mỹ có một cái nhìn khác về Cuộc chiến Việt Nam, góp phần đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ và đòi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Đến ngày hôm nay, có khi nào Nick Út nghĩ rằng việc tồn tại của Mỹ ở miền Nam hoặc thậm chí chiến thắng toàn diện ở Việt Nam lại là tốt cho người dân Việt?

Mỹ đã rời đi, nay được vời lại để chống lại người anh em Cộng sản lúc đó giúp cách mạng Việt Nam đánh Mỹ.

Jane Fonda – biểu tượng của phong trào phản chiến Mỹ, người từng đến miền Bắc Việt Nam năm 1972 (năm mà bức ảnh “Em bé Nepalm” ra đời) mới đây cũng đã phải thừa nhận sai lầm và xin lỗi các cựu chiến binh Mỹ.

Thử hình dung rằng tôi chớp được khoảnh khắc người cha phạt con mình. Thực tế ngoài đời đứa con đáng bị phạt nhưng bức ảnh lại trở thành biểu tượng của nạn bạo hành trẻ em, thì thà bức ảnh ấy đừng bao giờ xuất hiện. Bản thân bức ảnh ấy không có lỗi gì cả, khoảnh khắc ấy với người xem ảnh có thể đúng, nhưng bản chất của sự việc thì không.

Vậy bức ảnh “Em bé Napalm” có ý nghĩa gì? Nó làm người ta nghĩ đến sự độc ác của Mỹ trong khi họ không hoàn toàn có lỗi. Nó khiến Mỹ rút quân rồi giờ đây Việt Nam muốn Mỹ trở lại.

Nick Út được nhà cầm quyền phe “đế quốc” cho tác nghiệp, được đi cùng với lính Mỹ để chụp ảnh, nhưng sản phẩm của ông sau này chống lại chính những người tôn trọng, bảo vệ cho nghề nghiệp và tính mạng của ông.

Nhà cầm quyền Việt Nam – phía đáng lẽ ra được hưởng lợi nhiều nhất từ tấm ảnh này lại không hề chào đón nó. Người ta đã từng từ chối triển lãm ảnh của Nick Út năm 2007 và nếu Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không chuẩn bị thăm Mỹ thì chắc cũng khó có chuyện bức hình “Em bé Napalm” được xuất hiện chính thức ở Hà Nội. Cũng dễ hiểu vì không lãnh đạo nào muốn nhắc đến cái tên Phan Thị Kim Phúc – người lẽ ra cũng nên có mặt tại buổi triển lãm với tư cách chứng nhân lịch sử.

Không biết lòng thành của Việt Nam được bao nhiêu, vì họ vẫn còn sợ sự thật lắm. Nhưng nếu tôi có bức ảnh hay một bài báo không được mọi người hiểu đúng ý hoặc không thể toát ra những cái mà tôi muốn truyền đạt để rồi làm công cụ cho một sự tuyên truyền lệch lạc, tôi không thể tự hào và thà đừng nhắc đến nó còn hơn.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của tác giả.

Posted in báo chí, chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Cống vỡ làm lộ tấm bản đồ Biển Đông, Trung Quốc – Philippines cãi nhau

Nguồn motthegioi

Đăng Bởi Một Thế Giới – 05:00 15-06-2015
Cong vo lam lo tam ban do Bien Dong

Bãi Scarborough (vòng tròn đỏ) trên Bản đồ Murillo

mtg-mark.png

Chứng cứ để Philippines trình trước Tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc ở The Hague trong tuần này, nhằm khẳng định chủ quyền Bãi Scarborough trên Biển Đông, bắt đầu từ vụ cống vỡ làm lộ tấm bản đồ Biển Đông, theo báo Independent (Anh).

Có thể bạn quan tâm

>> Kỳ 12- Năm Cam ẩn mình, chờ ngày phục hận Bình "kiểm"

>> ĐBQH Nguyễn Bá Thuyền: Ông Lê Phước Vũ cắt nguồn nước, chận đường dân là không đúng!

>> Cty của đại gia Lê Phước Vũ cắt nước, chặn đường dân xã Đạ M’ri: Không thể coi thường lợi ích người dân!

Vụ này gây tranh cãi ngoại giao giữa Philippines với Trung Quốc (TQ) như thế nào ?

Chuyện cống vỡ làm lộ tấm bản đồ Biển Đông bắt đầu từ tháng 5.2012: khi một tuyến cống cổ (từ thời Nữ hoàng Anh Victoria) bị sụp, gây hậu quả nghiêm trọng lập tức:

Nước cống gây trượt đất và làm ngập, buộc cư dân ở những dãy phố gần tòa lâu đài phải sơ tán và một số nhà cửa phải san bằng.

Nhưng không ai có thể dự báo trước, rằng sự suy tàn của một hệ thống cống ngầm trong tòa lâu đài Alnwick (ở phía tây Newcastle) lại làm lộ ra một chứng cứ cần thiết trong cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa Philippines với TQ.
Cuộc mua đấu giá vì yêu nước

Câu chuyện liên quan một quý tộc Anh, một doanh nhân Philippines giàu có và một tấm bản đồ xưa 281 năm, tuy chưa đi đến phần cuối nhưng rất giống kịch bản của một bộ phim Hollywood.

Tòa lâu đài Alnwick từng xuất hiện trong nhiều cảnh quay các phim Harry Potter, cũng góp phần vào câu chuyện tranh cãi này:

3 năm trước, khi đường cống sập, Công tước xứ Northumberland thứ 12 là Ralph Percy phải chi 12 triệu bảng Anh để sửa chữa. Để có tiền, ông đồng ý bán khoảng 80 món tài sản thừa kế cho tại một cuộc bán đấu giá của nhà Sotheby’s ở London ngày 4.11.2014.

Cong vo lam lo tam ban do Bien Dong
Vị công tước từng sở hữu tấm bản đồ Murillo

Lô bán số 183 là một tấm bản đồ dài 120 cm và rộng 112 cm đã úa vàng, do linh mục Pedro Murillo Velarde (của Dòng Tên) vẽ và công bố năm 1734 ở Manila và đặt tên là Carta Hydrographica y Chorographica de las Islas Filipinas.

Nó được gọi là Bản đồ Murillo, trong đó Bãi Scarborough được đặt tên là Panacot, do người Philippines gọi là Panatag. Bãi ở gần vùng bờ biển Luzon (ngày xưa là Nueva Castilla). Theo vài nguồn lịch sử, quân Anh xâm lược Philippines năm 1762 đã chiếm đoạt bản đồ này, đưa về nước.

Danh mục của Sotheby’s gọi Bản đồ Murillo là “bản đồ khoa học đầu tiên của Philippines”. Các chuyên gia định giá từ 20.000 đến 30.000 bảng, nhưng sau đó nó được bán giá 170.500 bảng.

Người mua là doanh nhân Mel Velarde người Philippines, chủ tịch một công ty công nghệ IT.

Từ một nhà hàng chuyên bán món bò bít-tết, khi đang mừng sinh nhật 78 tuổi của người mẹ, ông gọi điện thoại đấu giá và mua được Bản đồ Murillo. Ông kể đó là 3 phút “điên rồ” khi giá liên tục tăng.

Ban đầu, Velarde quan tâm tấm bản đồ vì trùng tên họ với vị linh mục. Công ty của ông chưa tìm ra mối liên hệ bà con với tác giả tấm bản đồ.

Ông nói việc trúng món đấu giá này là “một cuộc chinh phục cá nhân”, khi ông nhận ra nó có thể giúp chứng minh chủ quyền Bãi Scarborough của Philippines.

Bạn của Velarde là chánh án tòa án tối cao Antonia Carpio, người cũng là một tiếng nói hàng đầu trong nỗ lực tố cáo thủ đoạn độc chiếm Biển Đông của TQ, mô tả Bản đồ Murillo là “mẹ của tất cả những bản đồ Philippines”.

Vị quan tòa này nói: ngay trong Hiến pháp năm 1949 của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (TQ) cũng chưa bao giờ nhắc đến những vùng tranh chấp này.

Khi được hỏi tại sao ông quyết sở hữu bằng được tấm bản đồ này, Velarde nói: “Trong một bộ phim rất giống đời thật, ai cũng có phần.Có ông hàng xóm bắt nạt, chiếm đất của chúng tôi. Rồi tấm bản đồ của một công tước trong một lâu đài Harry Potter. Cứ như quý vị diễn vai của mình trong phim này”.

Người phát ngôn của vị Công tước cho Independent biết: ông không muốn bình luận, vì đã bán tấm bản đồ.

Chiến tranh bản đồ giữa Philippines với TQ

Ngày 12.6, nhân Lễ độc lập của Philippines, Velarde đã tặng lại Bản đồ Murillo cho Bảo tàng quốc gia, nơi đã không thể quyên đủ tiền để mua đấu giá. Tổng thống Benigno Aquino của Philippines đã thay mặt nhận một bản sao của tấm bản đồ này.

Bản đồ Murillo cũng để chứng minh Bãi Scarborough là của Philippines, chứ không phải của TQ. Vụ xét xử chủ quyền Bãi này có thể có phán quyết vào tháng 3.2016, căn cứ theo Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS).TQ đã tuyên bố không tham dự phiên tòa này.

Bản đồ Murillo đặt nghi ngờ về “đường lưỡi bò 9 đoạn” để thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh.

TQ đã trình một bản đồ “đường lưỡi bò” lên LHQ năm 2009. Bản đồ này từng được Cộng hòa Trung Hoa thời Quốc dân đảng công bố ngày 1.12.1947, gồm 11 đoạn, nhưng sau TQ giảm còn 9 đoạn.

Chính phủ Philippines hy vọng bản đồ này sẽ nghiêng cán cân về họ. Edwin Lacierda, người phát ngôn của Tổng thống Aquino nói:

“Bản đồ Murillo chắc chắn sẽ chứng minh lẽ phải thuộc về Philippines khi dựa trên cơ sở lịch sử”.

Cong vo lam lo tam ban do Bien Dong
Sotheby’s rao mời đấu giá tấm bản đồ Murillo

Theo CNN, giáo sư Ferdinand Llanes của đại học Philippines, cựu thanh tra Ủy ban di sản quốc gia (NHCP) nói Bản đồ Murillo là bản đồ đáng tin cậy nhất về các đảo của Philippines hồi thế kỷ 18.Vì chúng dựa trên lời kể và bản đồ của nhiều nhà thám hiểm Anh, Ý, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Pháp thời đó.

Ông nói nó cũng thể hiện văn hóa và cuộc sống ở Philippines, thậm chí nêu tên của một người thợ khắc lên giá đỡ tấm bản đồ là Nicolas Bagay, một người Philippines. “Đó là bản đồ được hoàng gia Tây Ban Nha chính thức công nhận”, giáo sư Llanes nói.

Ông nói thêm rằng những vùng lãnh thổ được vẽ trên bản đồ này không có ai tranh chấp, và thực tế là trong Hiệp định Paris ký ngày 10.12.1898, Tây Ban Nha nhượng các đảo Philippines có trên bản đồ cho Mỹ.

Vị giáo sư nói: "Đó là lý do tại sao tuyên bố của TQ là phi lý”, và cho biết nhiều giáo sư sử học và sinh viên luôn biết có Bản đồ Murillo do nó được sử dụng để giảng dạy.

Nhưng việc Velarde mua lại được Bản đồ Murillo đã làm xới lại vấn đề. Giáo sư Llade nói tuyên bố chủ quyền của TQ chỉ dựa trên những câu chuyện kể trong lịch sử.

Philippines cáo buộc TQ chiếm Bãi Scarborough năm 2012, khi tàu chiến hai nước lao vào xung đột. Lực lượng Philippines yếu hơn nên phải rút lui, để TQ chiếm Bãi này.

Năm 2013, Philippines đề nghị tòa án trọng tài quốc tế can thiệp, và năm ngoái, họ trình hồ sơ 4.000 trang để khẳng định chủ quyền Bãi này.

Báo Mỹ: TQ đi quanh như chó cụp đuôi

Theo tạp chí Forbes, gần đây Đại sứ TQ Zhao Jinhua tại Philippines hai lần gọi điện gợi ý hai bên ngồi xuống nói chuyện nhằm tìm một giải pháp hòa bình, nhưng lãnh đạo Philippines không chấp nhận, vì thiên về một cuộc đối thoại đa phương giữa TQ với các nước tranh chấp như Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei.

Báo này bình luận: TQ “đi vòng quanh như con chó cúp đuôi vào giữa hai chân, khi dư luận quốc tế đều chống nước này. Đa số các nước Đông Nam Á và đồng minh xa của họ như Mỹ đều ngầm ủng hộ Philippines chống việc TQ ngang ngược chiếm đất.

Khó cắn được dư luận quốc tế, TQ sẽ khó thể thắng trong bất kỳ cuộc đối thoại đa phương nào.

TQ chỉ ưng nói chuyện song phương với từng nước phản đối tuyên bố độc chiếm Biển Đông của TQ, và sẵn sàng sử dụng sức mạnh kinh tế-quân sự của họ. Đó là lý do Philippines từ chối nói chuyệnsong phương”.

Trần Trí (theo Independent)

Posted in chính trị, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , | Leave a comment

Tô Văn Trường : Chất vấn tại Quốc hội “cá đối bằng đầu”!

Nguồn boxitvn

Nếu tôi nhớ không nhầm thì ông Trần Xuân Giá Bộ trưởng Bộ Kế Hoạch & Đầu tư là ngườiđầu tiên ở nước ta trả lời chất vấn trước Quốc hội và được truyền hình trực tiếp. Ngày nay, so với hồi bấy giờ có mấy điều khác biệt:
Tính "giám sát" của Quốc hội đối với hoạt động của Chính phủ được nâng lên rõ rệt. Đólà xu thế đúng cần phát huy.
Trước đây, rất nhiều đại biểu hỏi là để tìm hiểu, để học là chính. Tính kiểm tra, giám sát không cao. Có tình hình này cũng có thể do "trình độ" giữa người chất vấn và người bị chất vấn khác nhau nhiều, nay hình như "cá đối bằng đầu"! Nếu nói theo ngôn ngữ dân gian, hơi xách mé là “cá mè một lứa”!
Có vị lãnh đạo là đại biểu Quốc hội khóa IV và VII, và cũng từng là Ủy viên Ủy ban kỹ thuật kể lại cho người viết bài này cảm nhận, lúc đó Quốc hội chỉ là vật trang trí, hợp pháp hóa mọi chủ trương đã được Đảng quyết định. Đưa chất vấn vào cuộc họp Quốc hội, lúc đầu cũng ‘vớ vẩn" dần dần khá hơn. Nhưng cái quan trọng của Quốc hội là cơ quan lập pháp, làm luật, giám sát, và chủ động đề ra chủ trương, chính sách thì cho đến tận ngày nay chưa bao giờ thấy (vì Đảng đã làm rồi) nên Quốc hội cũng "vô duyên". Việc bầu đại biểu Quốc hội cho đủ thành phần xã hội theo kiểu “Đảng cử dân bầu” đã làm mất đi nhiều các tinh hoa trong xã hội. Sự hấp dẫn của các phiên họp kể cả phiên chất vấn của Quốc hội cũng phai nhạt trong lòng dân.

Mấy năm gần đây, người dân đặt vấn đề về chất lượng các phiên họp, nhiều vấn đề nước sôi lửa bỏng không bàn lại mất thời gian vào việc tranh luận đặt tên cho con có bao nhiều chữ cái, bàn về giới tính vv…Vấn đề được cử tri cả nước quan tâm là Biển Đông thì lại họp kín vv… (Ở Philippines đều công khai, minh bạch từ lãnh đạo Nhà nước đến đại biểu Quốc hội đều lên án Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông và kiên quyết đưa vấn đề Biển Đông ra tòa án quốc tế phán xử) .
Hiện tượng đại biểu Quốc hội ở ta trốn họp, có người ngủ gật hay chơi game trên IPAD (báo chí đã đưa tin), đặc biệt là những phát ngôn làm dạy sóng công luận về độ ngớ ngẩn của nhiều vị đại biểu Quốc hội đã trở thành chuyện thường ngày ở huyện.
Ngay cả ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cũng đã để lại những câu nói bất hủ đại ý như:
– Dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam không thể không làm (kết quả Quốc hội khóa trước bấm nút bác bỏ dự án này).
– Với những chính sách điều chỉnh thị trường hiện nay, tôi đảm bảo thị trường chứng khoán sẽ lên giá. Thực tế 6 tháng đầu năm 2008 Việt Nam Index sụt giảm trên 60% so với năm 2007.
– Sai thì phải sửa, nếu cách chức hết thì lấy ai làm việc (6/2010)
– Đối với Vinashin, khi nghe cảnh báo, ông phát biểu “Tôi thì vẫn chưa lo”… thực tế Vinashin vỡ nợ đầm đìa đến trên 80 nghìn tỷ đồng.
– Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân phải chịu chứ kỷ luật ai (4/2014) v.v…
Chỉ nói riêng trong phiên chất vấn của Quốc hội vừa qua, mới nhìn thì các câu hỏi đi vào các vấn đề rất cụ thể để chứng tỏ là các Đại biểu Quốc hội sát dân, nhưng thực ra để kiểm tra công việc của Chính phủ, để kiểm tra trình độ của Bộ trưởng thì như vậy là chưa đủ, nhiều câu hỏi còn chưa biết truy tới cùng để làm rõ trách nhiệm của Bộ trưởng.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Cao Đức Phát là người giữ kỷ lục lên diễn đàn, có nhiều kinh nghiệm trận mạc, nhiều câu hỏi đơn giản, nhưng có lẽ chịu áp lực lớn của việc suy thoái nông nghiệp trong cả nước, có lúc cũng không tránh khỏi lúng túng, trả lời chung chung nên bị nhiều đại biểu hỏi lại. Báo Giáo dục Việt Nam có bài “Bộ trưởng không thể hứa suông, trả lời suông” nêu rõ ý kiến của đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm (TP.HCM), đại biểu Nguyễn Văn Tuyết (Bà Rịa Vũng Tầu) v.v… không hài lòng với cách trả lời của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT v.v… (mặc dù ông nhận được lời khen tặng từ Chủ tịch Quốc hội)!
Về nội dung trả lời chất vấn của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng và Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Nguyễn Vũ Luận không có dấu ấn gì đáng bình luận.
Riêng Bộ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ Nguyễn Quân lần đầu tiên lên diễn đàn trả lời chất vấn. Ông có bất lợi như thí sinh đi thi lần đầu, trong khi 4 khóa của Quốc hội không có đại diện của lãnh đạo Bộ KHCN trong Quốc hội mặc dù được coi là quốc sách hàng đầu. Nói cho công tâm và khách quan, Bộ trưởng Nguyễn Quân trả lời rất tự tin, nắm chắc vấn đề mình phụ trách, KHCN đã bươn trải có nhiều khởi sắc hơn xưa. Tuy nhiên, rất tiếc, Bộ trưởng Nguyễn Quân, không đủ dũng khí, đã bỏ qua cơ hội “ngàn năm có một” để vượt lên chính mình khi bị Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng truy vấn (tôi sẽ nói rõ hơn ở phần dưới của bài viết này).
Theo tôi hiểu, chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của một nước thường gồm 6 thành tố sau đây: (i) Đánh giá xu thế phát triển các lĩnh vực khoa học công nghệ trên thế giới, từ đó Đánh giá đúng thực trạng của từng lĩnh vực, nhất là thực trạng tụt hậu của nền khoa học và công nghệ của nước nhà; (ii) Xác định đúng đòi hỏi về nhu cầu phát triển của từng lĩnh vực khoa học và công nghệ trong ngắn hạn (thí dụ trong 10 năm tới) và dài hạn cần phấn đấu; (iii) Lựa chọn một cách thông minh những ngành khoa học công nghệ mũi nhọn, thiết thực đối với kinh tế – xã hội, nghiên cứu tìm kiếm những khâu đột phá; Con đường, các nguồn lực và các biện pháp phát triển khoa học và công nghệ của nước nhà, trong đó mấy điều rất quan trọng là: từ chỗ học hỏi cập nhật kịp thời kiến thức mới, du nhập, làm theo khoa học và công nghệ của thế giới đến chỗ chủ động đề xuất, triển khai sớm các hướng và thành tựu mới khoa học và công nghệ cho nước mình ; (iv) Thiết lập các điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học, nhà công nghệ của nước mình hoạt động và giao lưu, hội nhập quốc tế; (v) Xây dựng đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ; (vi) Tổ chức hợp lý, điều chỉnh kịp thời các cơ quan khoa học và công nghệ của nước nhà.
Lâu nay, chúng ta thường nghe điệp khúc trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước ”Khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu"” đó chỉ là câu có xác chữ , chứ không có nghĩa vì không có thực tế và không có sức sống. Chúng ta cũng thường được đọc và nghe nói rằng: “Xây dựng Đảng (việc cốt yếu của chính trị) là then chốt, phát triển kinh tế là trung tâm, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, đối ngoại là tiến cùng thời đại, cống hiến cho thế giới và tiếp thu từ thế giới vv…”.
"Then chốt", "trung tâm", "nền tảng tinh thần của xã hội", "tiến cùng thời đại" lại không phải là hàng đầu, chỉ là hàng hai, hàng ba thôi hay sao? Cái gì cũng "hàng đầu" thì chẳng khác gì các mũi nhọn trong quả mít, dàn hàng ngang ra mà tiến, thế thì còn "hàng đầu" gì nữa ? Chung quy là bệnh "sính chữ", câu viết và lời nói rỗng, không khái niệm.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém của nền khoa học nước nhà là người ta đã biến các nhà làm khoa học thành công chức. Không có đề tài nghiên cứu vẫn được trả lương, có đề tài là khoản làm thêm hợp pháp, lại được tiếng, được đủ mọi thứ. "Luật KHCN 2013 quy định sử dụng ngân sách nhà nước cho nghiên cứu KHCN phải theo đặt hàng xuất phát từ nhu cầu, sản xuất kinh doanh chứ không theo ý thích và ràng buộc rõ địa chỉ ứng dụng sau nghiên cứu" nhưng làm thế nào để thẩm định đề tài nghiên cứu KHCN "có địa chỉ ứng dụng thì mới duyệt", và làm thế nào để giám sát doanh nghiệp (là "địa chỉ ứng dụng") sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu này không phải đơn giản vì lòng vòng một hồi thì lại tìm ra kẻ có lỗi cuối cùng lại là "thằng cơ chế"!
Nhìn ra nước ngoài, đối với các nghiên cứu của các trường đại học (do GS chủ trì) như ở Canada cũng có chính sách tương tự kiểu "quy định sử dụng ngân sách nhà nước cho nghiên cứu KHCN phải theo đặt hàng xuất phát từ nhu cầu, sản xuất kinh doanh" như ở nước ta. Tuy nhiên, Chính phủ Canada chỉ cấp tiền nghiên cứu khi đề tài đó có giấy cam kết + thêm tiền "đặt cọc" của Công ty (ví dụ Công ty "đặt cọc" 25K thì Chính phủ sẽ cấp thêm 50K) .
GS có quyền viết vài đề xuất đề tài nghiên cứu, thuyết phục Công ty khác nhau hợp tác để xin tiền từ ngân sách Chính phủ, dĩ nhiên phụ thuộc vào khả năng viết đề tài, trình bày thuyết phục Công ty, giải quyết đề tài trong thời hạn nhất định và được các bên liên quan thẩm định kết quả (tham lam không hoàn thành như đề xuất thì thân bại danh liệt ngay).
Cũng xin nói ngay tiền nghiên cứu chỉ để dành cho nghiên cứu thuê sinh viên, mua thiết bị, mua hóa chất, đi hội thảo hội nghị…, chứ GS làm việc đã có lương, "viết chuyên đề" cũng không được đồng nào từ tiền này cả. GS hưởng lợi ở chỗ ra được kết quả tốt, có công bố trên các tạp chí khoa học có uy tín thì có khả năng thăng tiến (giải thưởng, uy tín, vị trí…). Hóa ra xin tiền nghiên cứu KHCN ở các nước tư bản giãy chết cũng gian nan lắm, không có chuyện hòa cả làng như ở ta.
Xin trở lại vấn đề đáng chú ý nhất của bài viết này là khi Chủ tịch Quốc hội truy vấn Bộ trưởng Nguyễn Quân “Nghiên cứu khoa học vì sao còn nhiều đề tài để ngăn kéo, có lãng phí tham những không v.v…”. Tôi cảm thông chia sẻ, với cách trả lời của Bộ trưởng mới chỉ là “tròn vai” trong bối cảnh nhiễu nhương hiện nay.
Đứng về lý, có thể giải thích cho ông Chủ tịch Quốc hội rõ hơn nếu là quĩ tài trợ khoa học thuần túy hoặc hướng đến khoa học thuần tùy thì không nên đặt vấn đề ứng dụng, và dù là ứng dụng nó phải đưa đến cái gì mới về mặt lý thuyết. Cái lợi cơ bản là nó nâng tầm khoa học của người nghiên cứu, của nền giáo dục nói chung và qua đó nâng tầm của người nghiên cứu, khả năng giải quyết các vấn đề ứng dụng cụ thể.
Việt Nam thì khó lòng có khoa học thuần túy trừ toán học (vì không đủ tiền và tầm) nhưng phải đòi hỏi các nghiên cứu nhắm vào mặt lý thuyết nào đó.
Đề tài nghiên cứu khoa học muốn thật sự là ứng dụng thì nên theo hướng:
1. Để cho các công ty tài trợ nghiên cứu điều mà họ muốn giải quyết (vì là tư nên họ giữ bản quyền và bảo mật);
2. Để cho các tổ chức ngành nghề của nhà nước tài trợ các nghiên cứu giải quyết các vấn đề cụ thể của họ.
3. Giai đoạn trước mắt, Nhà nước vẫn tài trợ kinh phí nghiên cứu khoa học nhưng ưu tiên nhiều cho đặt hàng xuất phát từ nhu cầu thực tế hơn là “đánh trống ghi tên”!
4. Làm rõ các tiêu chí đánh giá và nâng cao chất lượng của các Hội đồng tư vấn khoa học công nghệ từ xác định nhiệm vụ, chấm thầu, đến nghiệm thu (kể cả giai đoạn hậu kiểm kết quả của đề tài với quy định chế tài cụ thể ) v.v…
Riêng về vấn đề lãng phí, thất thoát, kém hiệu quả trong lĩnh vực khoa học công nghệ thấy rõ nhất là lĩnh vực khoa học xã hội. Tiếc là Bộ trưởng Nguyễn Quân không đủ dũng khí để “mổ xẻ” công khai trên diễn đàn Quốc hội vấn đề này vì nó đụng chạm đến đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, chủ thuyết phát triển và nhiều vị “tai to mặt lớn” trong Hội đồng lý luận trung ương v.v… Nhiều đề tài cho lĩnh vực khoa học xã hội là vô bổ, lãng phí tiền thuế của dân ví dụ như “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đúng là biến giấy trắng thành giấy lộn vv…
KHCN ở nước ta vẫn đang ở trong giai đoạn lạc hậu đặc biệt là về phương pháp luận của khoa học xã hội không hòa nhập được với trào lưu tiến bộ của thế giới. Do tư duy, tầm nhìn hạn chế, sự lãng phí chất xám, sự đầu tư và phân công điều hành quản lý KHCN trong thời gian dài vừa qua giữa Trung ương và các địa phương còn nhiều bất cập cùng với cơ chế lạc hậu về quản lý tài chính đã làm trì trệ phát triển KHCN của nước nhà.
Lời kết
Nhiều người dân hiểu rằng không nên kỳ vọng quá nhiều ở Quốc hội vì đây là một diễn đàn rộng rãi cho nhiều đại biểu thuộc các tầng lớp rất khác nhau. Riêng ở Việt Nam, Quốc hội ngay từ những ngày đầu thành lập trong hoàn cảnh ngoại xâm thường trực, cho nên vai tròcủa Quốc hội, của Mặt Trận Liên Việt, rồi Mặt Trận Tổ quốc, người ta cho đổ đồng làm một, người ta đồng ý với tất cả các biểu quyết với tỷ lệ 100%, cũng tương tự với việc nhờ người bỏ phiếu bầu các Hội Đồng ở các cấp tại mọi địa phương, nhưng phải nói, người dân nói chung, tin vào Đảng, vào thắng lợi giải phóng dân tộc cuối cùng.
Cái cảm giác Quốc hội là “hình nộm” dần dần được (hay là "bị") thay thế bằng tiếng nói tuy yếu ớt của dân, tiếng nói đó đang to dần lên, ngoài ý muốn của phù thủy đã gieo âm binh, và đạo quân giấy đó đang trở thành có hồn, có ý nguyện mà không phải lúc nào cũng phù hợp với người sinh ra nó. Hay nói một cách khác, phương tiện được tạo ra đang trở thành một vật có trọng lượng không phải vứt bỏ dễ dàng được… như xưa kia.
Tuy vậy, đây mới chỉ là những bước đầu của dân chủ hóa Đất nước, có thể chậm, nhưng không bao giờ là quá muộn đối với dân tộc, và khi lượng đã biến thành chất, thì đó là một sức mạnh khó ai cản nổi.
Nhìn chung, thực tế, nhiều cử tri không còn mặn mà, quan tâm đến diễn đàn của Quốc hội vì cho rằng diễn toàn tuồng cũ. Người dân hỏi chính khách làm gì cho dân nhờ chứ không hỏi hàng ngày ông làm gì mà ông nào cũng vậy, toàn ề à kể công hoặc kể việc ông làm hàng ngày, chỉ thiếu liệt kê hội họp và cái chuyện giữa các Bộ, các Ban của các ông ký với nhau.
Xin mượn lời Cụ Đồ Chiểu cho Tiểu Đồng nói trong thơ Lục Vân Tiên để kết thúc bài viết này:
"Đồng rằng trong túi vắng hoe
Bởi tin nên mắc bởi nghe nên lầm"!
T.V.T.
Tác giả gửi BVN

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Trần Huỳnh Duy Thức : Lý trí, cảm tính và lựa chọn một con đường (Thư 43A)

Nguồn tranfami

Cảm tính và lí trí

Xuyên Mộc, 8/5/2015

Chị Hai thương,

Em vừa đọc lại thư 0/2015 của chị, cảm giác thật phơi phới vì ít nhất trên đời này có một người hiểu mình. Cảm xúc của con người thật đa dạng và vô hạn. Cảm xúc khi đọc những dòng thông hiểu của chị thật mới lạ, lần đầu tiên em có. Nó không hẳn vì chị là người thân trong nhà mà dường như là một sự kết nối năng lượng cùng tần số của những người có cùng sứ mạng. Em không chắc lắm nhưng cảm giác hiện giờ là vậy và em cũng chưa thấy có cảm giác gì khác. Em là người có trực giác khá đặc biệt và dữ dội.

Nhiều lần em quyết định bằng linh cảm mà nếu để lý trí quyết định thì nó không bao giờ lựa chọn con đường của linh cảm vì lúc đó nó chỉ thấy con đường đó tối đen đầy nguy hiểm. Nhưng những lúc ấy sự thôi thúc của trái tim phải bước vào con đường này thật mãnh liệt và dữ dội, đến mức mà em chỉ cảm thấy yên lòng khi mình đã quyết định lựa chọn nó một cách rõ ràng và không thể đảo ngược. Khi mình chưa lựa chọn nó thì sự thối thúc sẽ hoành hành mình khôn nguôi, mình có dùng tất cả lý lẽ của lý trí và mọi sức mạnh lý tính để xua đuổi nó và trấn an mình thì cũng không thể thắng được nó. Điều kỳ lạ là khi mình quyết định lựa chọn thì không những cảm thấy yên lòng mà một thời gian ngắn sau đó mình cảm thấy thật dồi dào năng lượng để sẵn sàng cho một chăn đường đầy thử thách chông gai. Các thử thách đó là đánh cho mình tơi tả tới mức có lúc mình đã tự trách vì không chịu nghe theo lý trí. Nhưng vào những lúc tưởng như mình sắp cạn kiệt năng lượng thì lại nhận được những sự tiếp tế năng lượng thật bất ngờ cứ tưởng như ngẫu nhiên. Năng lượng ấy đủ lớn để đưa mình đi đến hết con đường mình đã chọn và tạo nên một thành quả lớn không chỉ cho mình. Dạng thức của năng lượng tiếp tế cũng rất đa dạng, có thể đến từ những con người cụ thể, từ thế cuộc thuận thế hoặc từ chính trong nội tại của mình nhờ mình nhận ra được chân lý của vấn đề hoặc tìm thấy được những lối thoát hiểm trong gang tấc. Khi còn trẻ, trước 35 tuối, trải qua lần đầu của con đường lựa chọn bằng cảm tính như thế, em chỉ nghĩ đấy đơn giản chỉ là sự ngẫu nhiên của cuộc đời. Nhưng sự ngẫu nhiên tương tự cứ lặp lại đến vài lần và em bắt đầu không cảm thấy ngẫu nhiên nữa. Từ đó em quyết tâm tìm hiểu nó vào năm 2002. Đó cũng là năm mà em chọn con đường của mình hiện giờ, cũng bằng một quyết định của con tim như em kể trong thư 25B. Phải trải qua hơn 3 năm rưỡi, sau rất nhiều biến cố và sự kiện tận mắt mình chứng kiến nhưng không thể giải thích bẳng khoa học, em đã định hình niềm tin rõ rang vào một Thế giới siêu thực như em đã viết trong thư 23A. Sự khác nhau căn bản của niềm tin này ( hoặc đức tin theo cách gọi của các tôn giáo) và sự mê tín chính là khoa học. Ta có thể tin vào một cái đích đến được mách bảo/khai mở khi chưa thấy được con đường để đi đến được nó. Nhưng phải dùng khoa học để mở ra được con đường đó. Tức phải dùng khả năng quan sát, phân tích, suy luận của lý trí để chứng nghiệm cho sự tồn tại của cái đích ấy bằng một con đường trên thực tế đi đến được nó. Nếu tiếp tục cảm tính khi mở đường thì chắc chắn thất bại thảm hại. . Nếu tin vào những cái đích như thế và nghĩ rằng chỉ cần tin và chờ đợi thì sẽ có những phép màu tự nhiên hiện thực hoá cho mình thì lúc nào cũng sẽ chỉ sống trong áo tưởng. Cả hai cái nếu này đều là sự mê tín và đều thiếu khoa học – thiếu lý trí. Trong thư 41B em đã lưu ý điều này cho các cháu. Ở các xã hội phương Tây văn minh, hầu hết con người ở đó đều có đức tin nhưng sự khác biệt của họ so với những xã hội còn lạc hậu chính là ở kiến thức khoa học và phương pháp khoa học.

43A-in-god-we-trust

Trong khi niềm tin tín ngưỡng vẫn tồn tại ở các xã hội phương Tây dưới góc độ tiếp cận khoa học, họ đạt được sự sáng tạo nhất định và thăng hoa trong các lĩnh vực, xã hội phát triển rực rỡ….

Sự khác biệt này cũng tạo nên văn hoá ứng xử tiến bộ và nhân văn hơn trong xã hội. Người ta không hoàn toàn đề cao hẳn lý tính hoặc cảm tỉnh như chị thường thấy ở phương Đông như Trung Quốc hay Việt Nam mình. Ở những xã hội này, một mặt thì đòi hỏi lòng nhân ái và chính trực nhưng mặt khác lại ca ngợi nhưng đức tính lạnh lùng, tàn nhận, sẵn sàng “hy sinh” tình cảm cá nhân, gia đình và người thân để hoàn thành nghiệp lớn “vì mọi người”. Vì thế mà tạo nên tình trạng đạo đức giả nặng nề. Ở Trung Quốc hiện giờ vẫn đầy các sách dạy tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứđức, … cùng với các sách “Tam thập lục kế”, “Binh pháp Tôn tử trong kinh doanh”,… để dạy những chiêu thức lừa mị nhau hoặc các quyển ca ngợi các danh nhân thành công nhờ giết con, cha, me, anh, chi, em, vợ, chồng,… Điều đáng sợ là ở những xã hội như thế, người ta không có niềm tin vào những giá trị nhân ái, chính trực nếu mình thành đạt dù chỉ ở mức trung lưu. Họ đề cao sức mạnh thuần lý trí. Nhưng một người thuần lý trí thì thường chỉ giỏi bắt chước, sao chép thậm là ăn cắp ý tưởng và rất hạn chế về khả năng sáng tạo và khám phá vì khả năng này được dẫn dắt rất mạnh mẽ bởi cảm tính, cảm xúc. Vì thế ở các xã hội này, như Trung Quốc ngày nay, tính sáng tạo kém xa phương Tây. Người Trung Quốc giỏi như vậy mà bao lâu nay chẳng được ghi nhận sự phátminh, khám phá ra các quy luật cơ bản. Em nghĩ vấn đề này có một phần nguyên nhân từ một trường văn hoá ứng xử đề cao sức mạnh thuần lý trí. Trong thư 41B em có trích một câu từ cuốn “Vượt khỏi ao tù” của Mỹ: “Be one hearted and one minded” và em dịch là :”Hãy là người vừa có trái tim và có khối óc”. Nhưng nếu áp dụng cho đề tài em vừa viết ở trên cho chị thì em sẽ dịch là: “Hãy là người vừa cảm tính vừa lý trí”. Đừng xem thường những người quyết định bằng cảm tính nhưng thực hiện bằng lý trí. Họ thường tạo nên kỳ tích. Em thấy nhiều người như vậy ở phương Tây nên vì vậy mà họ phát triển văn minh và nhân ái.

43A-heart-and-mind-coexist-1

…Thì các xã hội Phương Đông tiêu biểu là Trung Quốc vẫn chưa đạt được sự cân bằng giữa tình cảm và lý trí do văn hóa đầy mâu thuẫn tại đây (một mặt ca ngợi những giá trị về lòng nhân ái, vị tha trong khi tại đây luôn là cái nôi của các kế sách Tam Thập Lục kế, Binh pháp tôn tử trong kinh doanh để hạ bệ đối thủ trên thương trường)

Giá trị của thơ đối với cảm xúc về chân lý

9/5/2015

Đến hôm nay, cảm xúc của em về năng lượng chị tiếp thêm vẫn còn rất mạnh mẽ. Em cảm nhận được sự thông hiểu ấy không bị giới hạn mà đang lan toản như hiệu ứng truyền lửa (*)Năng lượng từ những dòng chảy thuận thế cũng đang mạnh lên thấy rõ. Tất cả đang tiếp sức cho em đủ năng lượng để đi đến cái đích của con đường mình đã chọn và đã mở. Cảm ơn chị. Cảm ơn các chị và cả gia đình mình đang đồng hành cùng em.

Em là người có nhiều cảm xúc và cũng bị tác động bởi cảm xúc từ nhỏ. Nhưng em lại đến với thơ rất trễ. Bài thơ đầu tiên em làm lúc đã 40 tuổi rồi nhưng không phải là thơ tình là mà thơ chính sự. Thời trẻ có lẽ vì quan tâm nhiều đến công việc, phần vì cũng không thích thơ lắm nên em chỉ hướng cảm xúc của mình vào việc sáng tạo kinh doanh. Khi em bất ngờ tuôn ra bài thơ đầu tiên thì em mới bắt đầu hiểu được giá trị của thơ đối với cảm xúc về chân lý của con người. Trước đó em chưa bao giờ cảm nhận được giá trị đó. Có lẽ bởi một nguyên nhân quan trọng từ cách dạy và học thơ văn hồi phổ thông không để cho học trò tự do phát triển cảm xúc mà bị bó vào những khuôn sáo. Em luôn bị điểm văn thấp vì không thích viết theo cảm xúc được định khuôn nên cứ viết đại cho qua chuyện. Không rõ vấn đề này bây giờ đã được cải thiện chưa, nếu chưa thì sẽ thành một vấn nạn. Cũng may em còn nhận ra được giá trị của thơ dù muộn màng. Rất nhiều người, từ những học sinh đã tốt nghiệp phổ thông đến những người lớn đã nhiều trải nghiệm, vẫn bị thiếu vắng một phần rất quan trọng của con người là khả năng cảm thụ chân lý thông qua nghệ thuật. Chân lý là cái gốc của chân thiện mỹ. Ở những xã hội tiến bộ, có nền giáo dục tốt, em thấy đa số con người ở đó có khả năng này và dùng nó để phát triển nhiều kỹ năng cần thiết cho công việc và cho hạnh phúc cũng như sự hưởng thụ cuộc sống của mình. Em thấy ở Việt Nam những khía cạnh này gần như bị tách bạch trong cuộc sống, không có sự hoà quyện và tương hỗ nhau. Đó là sự thiệt thòi mà chính em đã trải qua và thấy rõ tác hại của nó đối với cá nhân mình và nhìn rộng ra là xã hội.

Ở những xã hội phát triển, nơi giáo dục được quan tâm đúng mực. Con người luôn có khả năng dùng sự cảm nhận nghệ thuật để phục vụ chân lí

Ở những xã hội phát triển, nơi giáo dục được quan tâm đúng mực. Con người luôn có khả năng dùng sự cảm nhận nghệ thuật để phục vụ chân lí

Em làm bài thơ đầu tiên vào đúng khoảnh khắc giao thừa Tết Bính Tuất 2006. Giữa 2005, sau 3 năm rưỡi dò tìm con đường, em đã ngộ ra chân lý của nó. Bước vào năm mới 2006, em muốn tóm tắt con đường và chân lý ấy bằng một thông điệp thật ngắn gọn nhưng viết mãi mà chẳng vừa ý. Việc này dang dỡ đến ngày giao thừa. Đến chiều hôm đó, em bỗng nảy ra một ý nghĩ mà lúc ấy thật “điên rồ” với mình là dùng thơ để thể hiện, một việc chưa từng làm trong đời. Nhưng cái ý nghĩ này cứ thôi thúc em mà không thể dừng nó được. Em loay hoay từ chiều đến 10h đêm bằng bao nhiêu câu thơ con cóc đủ thứ kiểu và đã định bỏ cuộc vì nghĩ mình không thể. Nhưng tính cách không chấp nhận sự không thể dễ dàng đã lôi em trở lại. 11h đêm em lại nảy thêm 1 ý định còn điên rồ hơn nữa, đó là làm thơ tứ tuyệt bằng từ Hán Việt. Chắc nhờ 2 lần điên nên nó mới trở lại bình thường. Không ngờ nhờ ý tưởng đó mà em lại làm được bài thơ đầu tay “Nam quốc Mộc tinh chấn Lạc Hồng…” mà chị biết rồi. Nó ra đời đúng vào lúc năm con Gà chuyển giao cho con Chó. Em mất thêm 1 tiếng rưỡi trong thời gian đi xuất hành sau giao thừa thì hoàn thiện bài thơ mà chính mình cũng bất ngờ. Em nhận ra giá trị của cảm xúc đối với chân lý từ việc làm ra bài thơ này. Từ đó em mới nói rằng: con đường từ trái tim và con đường từ khối óc gặp nhau tại một điểm là chân lý.Đó cũng chính là điểm cân bằng trong con người mà nếu có được thì người ta sẽ có được rất nhiều giá trị vượt trội, kể cả thành công và hạnh phúc. Cũng từ đó em hiểu rằng chân lý được phát hiện và làm sáng tỏ bởi các nhà khoa học bằng con đường của khối óc, nhưng muốn lan toả chân lý đó rộng ra thì phải bằng con đường của trái tim nhờ những người làm nghệ thuật. Các nhà nghệ thuật sau khi đã cảm thấu được chân lý, họ sẽ có những cách thức truyển tải nó đến thẳng trái tim của các độc giả, khán giả của mình. Họ gieo những hạt giống của chân lý, truyền nhữg ánh lửa khai sáng vào đúng cái môi trường của chúng – trái tim con người. Và kết quả là sự nảy mầm và sinh sôi của Chân – Thiện – Mỹ. Sự thẳng hoa của xã hội bắt đầu từ đó. Phong trào Phục hưng đưa Châu Âu thăng hoa rực rỡ cũng chính là một quá trình như thế.

43A-art-vs-science

chân lý được phát hiện và làm sáng tỏ bởi các nhà khoa học bằng con đường khối óc, nhưng muốn lan toả chân lý đó rộng ra thì phải bằng con đường trái tim nhờ những người làm nghệ thuật

Giờ thì có lẽ chị hiểu hơn vì sao em đề nghị anh chị sáng tác ngụ ngôn như trong thư 40A. Đọc thư 0/2015 em càng tin chị sẽ làm được vì chị đã cảm thấy được Con đường và chân lý. Chị cố lên! Em chắc chắn chị có khả năng sáng tác nhưng lâu nay chưa tự khai mở thôi, giống như chuyện em làm thơ vậy. Chị đừng để mình bị ràng buộc bởi những kiểu cách, thể thức ngụ ngôn thường có. Hãy cứ làm theo cảm xúc và cách mà chị cho là tốt. Dần dần chị sẽ tự điều chỉnh đến một tâm trạng sáng tác phù hợp. Em làm thơ chẳng thích bị câu thúc theo những niêm luật cứng nhắc dù em cũng biết khá rõ cho từng thể loại. Tuân thủ cái nào, không tuân thủ cái nào đều do cảm xúc em quyết định. Đọc các tài liệu chị gửi về thể thơ Tanka và Haiku của Nhật, em hiểu được them về niêm luật và tập quán của chúng nhưng em không có ý định sẽ bó buộc mình theo đó, hè hè. Chỉ có làm thơ lục bát hiện nay em mới cố gắng giữ vần để nó dễ thuộc. Em đang ấp ủ làm những câu thơ lục bát theo phong cách dân dã, ca dao để truyền tải chân lý về Quyền con người. Đây chính là đề án làm một bài lục bát mấy trăm câu kể chuyện mà em đã thổ lộ trong thư 37B đó. Nhưng đến giờ thấy thật là khó, thách thức ghê quá. Em định xây nên một cốt truyện cho hấp dẫn rồi kể bằng thơ. Làm thử mấy lần lại bỏ. Em lại đang thử làm từng đoạn 6-10 câu lục bát, mỗi đoạn là một thông điệp về Quyền con người nhưng cũng thấy chưa ổn. Chọn lục bát giữ vần cho dễ thuộc là em dựa theo thư N của chị nói về khả năng ám gọi của ca dao tục ngữ. Em cũng thấy như vậy nhưng lại chưa làm được. Phải chi có người nào giởi về việc này giúp mình thì hay biết mấy. Nhưng em sẽ cố.

11/5

Cả nhà có nhớ hôm nay là ngày gì không? Ngày này 5 năm trước em ra toà phúc thẩm. Trưa muộn hôm đấy lúc xe chở em ra toà án em thấy các chị đang đứng ngoài sân toà không được vào tham dự. Em ngồi trong xe chỉ vẫy chai nước chào các chị vì hai tay đang bị còng. Mới đó mà đã mấy ngàn ngày rồi. Nếu ở ngoài đời hẳn em sẽ thấy khoảng thời gian ấy rất dài vì có quá nhiều việc phải làm. Vào đây thì ở ngoài mọi người làm thay hết cho mình rồi. Nhờ vậy mà em mới rảnh rang làm việc khác, hè hè. Ngày này với em còn có ý nghĩa khác nữa. Đúng ngày này năm ngoái em làm một bài thơ 52 câu, có một đoạn:

Lửa và băng,

Chặng đường cuối!

Những ngọn núi lửa phun trao

Từng dòng sông băng tan rã

Nước ấm tràn về…

Hoa ban bừng mở

Tràn trề gió xuân…

(11/5/2014)

Thơ này đã được phổ nhạc thành bài “Tiếng vó ngựa hoang” mà em đã hát nhà mình nghe rồi đó. Năm nay em cũng đã nuôi xong cảm xúc một bài thơ theo chất hồn Tanka 5 câu của Nhật, chắc trong hôm nay sẽ xong. Tháng 7 năm ngoái, lần đầu tiên em làm 1 bài thơ theo chất thơ này:

Mưa thu buồn

Tí tác dòng song

Sóng vỗ xa xăm

Ru anh giọt lệ

Giọt buồn mưa thu

(12/7/2014)

Hồn thơ bài này cùng với lời của một bài thơ khác đã được phổ nhạc thành bài “Giọt buồn mưa thu” mà em đã ký âm gửi về rồi đó. Khi nào chị rảnh thì bình luận nghen.

Đọc các tài liệu về thể Haiku và Tanka chị gửi em mới hiểu them nhiều về niêm luật và tập quán của chúng. Trong quyển “Nhật Bản – Đất nước, con người, văn học” mà em đọc được từ thư viện ở đâu không giới thiệu rõ về những điều này, chỉ nói sơ và đăng những bài thơ hay theo hai thể này. Em cảm được cái hồn, cái khí chất thơ của chúng và sáng tác theo phong cách của em thôi chứ không muốn tuân thủ niêm luật nguyên gốc. Thực ra ban đầu em đã thử làm theo quy định về số âm tiết (5-7-5 cho Haiku và 5-7-5-7-7 cho Tanka) nhưng lại thấy quá nhiều chữ, đánh mất cái chất cô đọng mà mênh mông của thể thơ này. Vì vậy mà em tự giới hạn cái bài Haiku chỉ có 12 âm tiết trong 3 câu (3-4-5), Tanka thì đâu đó trên dưới 20 âm tiết cho 5 câu và không bắt buộc về số âm tiết cho từng câu. Hôm rồi đọc tài liệu chị giải, hoá ra người Trung Quốc làm thơ kiểu Haiku và Tanka của Nhật cũng gặp vấn đề về âm tiết. Tiếng Việt và Tiếng Hoa giống nhau ở chỗ đơn âm tiết, một chữ chỉ đọc một âm. Trong khi Tiếng Nhật lại đa âm tiết, một chữ có khi tới 5-7 âm tiết. Vì thế một bài Haiku 17 âm tiết hoặc Tanka 31 âm tiết tuy bình chỉ có khoảng 10 chữ (Haiku) và 20 chữ (Tanka). Em chọn mò mà té ra lại phù hợp số chữ trung bình này. Làm thơ thể này bằng Tiếng Việt hoặc Tiếng Hoa mà giữ đúng số âm tiết gốc thì quả là “tràng giang đại hải”, toàn chữ là chữ. Các bài thơ gốc của Nhật dịch ra Tiếng Việt em thấy cũng không chú trọng giữ số âm tiết mà cố gắng chuyển tải được hồn thơ theo khí chất của thể thơ. Em sáng tác cũng chỉ cố gắng theo được chất hồn, không thể tuân thủ niêm luật gốc được.

Em vừa xong bài Tanka năm nay:

Đã mười hạ

Ước hẹn vẫn ngày ấy

Ngũ Hành tháng Năm

Gió vẫn lộng

Áng mây xưa còn không?

(Khuya 11/5/2015)

Mười năm trước em hạ quyết tâm đối với Con đường mình đã chọn. Đó là một ngày đặc biệt. Trên đỉnh Ngũ Hành sơn em đã hứa nguyện dấn thân vì Quyền con người và ước nguyện về một ngày mai tươi đẹp. Đã hừng sáng rồi.

24/5

Hôm qua gặp cả nhà thật là ấm cúng và vui vẻ. Thư 42B em đã thông báo nhận được thư 0/2015 của chị rồi, nhưng tới hôm qua nhà mình vẫn chưa nhận được thư 42 nên chị vẫn chưa biết. Thấy cả nhà mình vui vẻ, tự tin, em vui lắm. Cứ vậy thôi, con đường ngày càng ngắn lại và mở rộng hơn. Chẳng gì phải lo khi ta đi đúng quy luật. Em tin là chị vả cả nhà mình đang dần hiểu rõ những quy luật ấy rồi. Một bằng chứng là giờ chị đã quan tâm xem thời sự. Càng nhiều người nữa như chị thì đất nước mình sẽ tốt đẹp nhanh thôi. Chị rủ cậu Út nhà mình xem thời sự giống chị đi. Chúng ta cần hiểu những gì đang xảy ra và ảnh hưởng đến cuộc sống của mình. Một trong những vấn đề lớn ở các nước đã phát triển giàu có là người dân, nhất là giới trẻ đánh mất sự quan tâm đối với thời sự, chính trị, nói chung là thời cuộc của đất nước và quốc tế. Đây là nguyên nhân suy giảm lớn của các nước này. Đọc thư 0 chị kể ngồi xem thời sự, em thấy thích thú lắm. Cứ vào 7h tối coi VTV3 là em nghĩ có chị và chị Năm đang cùng xem là thấy vui vui, cả ba mình nữa. Khi em ở ngoài, cái TV ở nhà được lập trình tự động ghi lại thời sự VTV lúc 19h để hôm nào em bận vào giờ đó thì sau đó phải xem lại. Em biết nhiều là nhờ vậy. 21/6 này là Ngày của cha, mấy chị em định làm gì cho ba? Hẹn chị thư khác nha. Thương cả nhà.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

GS. Tương Lai : Góp ý kiến vào quá trình tiến đến Đại hội lần thứ XII của Đảng

Nguồn boxitvn

15/06/2015

Tương Lai

Đã có khá nhiều ý kiến đóng góp về Văn kiện sẽ đưa trong Đại hội XII của Đảng, về quy trình bầu cử và chuẩn bị nhân sự cũng như nhiều vấn đề cụ thể khác. Tôi không có điều kiện đọc hết, nhưng qua một số bài tìm thấy trên mạng, đã có rất nhiều những ý kiến sâu sắc và rất thuyết phục như ý kiến của ông Nguyễn Thu Giang – Đoàn luật sư TPHCM, nguyên phó Giám đốc Sở Tư pháp TPHCM về ứng cử, đề cử của cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư hay ý kiến của ông Lê Công Giàu ở Chi bộ ấp 4B, Khu dân cư Trung Sơn, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, TPHCM cô đọng, ngắn gọn mà rất sâu sắc.

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp thiết thực và cụ thể hết sức cần thiết rất đáng trân trọng đó, cũng rất cần những đóng góp về cơ sở lý luận của việc xây dựng Báo cáo chính trị và Quy chế lựa chọn nhân sự với những quy trình ứng cử, bầu cử từ cơ sở đến Đại hội thì tôi chưa đọc được, cũng có thể đã có nhưng tôi chưa tìm thấy. Vì thế, trong ý kiến đóng góp với quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII, tôi muốn góp thêm vào chủ đề này. Với tư cách một người làm nghiên cứu, tôi sẽ cố gắng tiếp cận từ bình diện lý luận gắn với thực tiễn để trình bày ý kiến đóng góp với Đảng và cũng qua đó mong nhận được sự thẩm định của công luận về những ý tưởng đã trình bày và những kiến nghị với Đại hội XII. Tôi sẽ tập trung trình bày mấy vấn đề sau đây:

  • Từ bỏ mô hình đã lựa chọn sai, mô hình Xã hội chủ nghĩa.
  • Từ bỏ cái gọi là “Chủ nghĩa Mác-Lênin”
  • Trung thực và nghiêm túc thực hiện “Điều mong muốn cuối cùng” trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

1. Về “Chủ nghĩa xã hội”
Cách đây 6 năm, năm 2009, theo lời mời của ông Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương, trong một tham luận gửi đến Hội thảo về Phương pháp luận nghiên cứu Chủ thuyết phát triểnTư tưởng Hồ Chí Minh” do Hội đồng này tổ chức tại TPHCM, tôi đã trình bày rõ: “Hiện nay, loài người không còn chủ nghĩa tư bản nguyên nghĩa nữa, mà cũng chưa từng có chủ nghĩa xã hội đích thực. Hai thuật ngữ chủ nghĩa tư bảnchủ nghĩa xã hội, thì một không còn phản ánh một thực tế nào nữa, và một thì chưa hề phản ánh một thực tế nào cả. Cái thứ nhất là chủ nghĩa tư bản, cái thứ hai là chủ nghĩa xã hội! *
Cũng có nghĩa là mục tiêu mà chúng ta, nói đúng hơn là Đảng áp đặt cho cả dân tộc ta, cho toàn xã hội phải hướng tới một mục tiêu mù mờ để ra sức xây dựng. Sự mù mờ đó thì chính ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói ra chứ chẳng phải ai khác khi ông phát biểu rằng không biết đến hết thế kỷ XXI thì liệu đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện hay chưa! Cho dù vậy, ông vẫn áp đặt cái “Cuơng lĩnh xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, gọi tắt là Cương lĩnh 91” vào trong Hiến pháp 2013 vì ông ta đặt Cương lĩnh của Đảng cao hơn Hiếp pháp! Chuyện này thì báo Tuổi Trẻ đã đưa rất rành rọt, “thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi” như sau: “Tại cuộc tiếp xúc cử tri này, Tổng bí thư cho biết trong kỳ họp sắp tới Quốc hội sẽ tiếp tục thảo luận, xem xét thông qua dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Đây là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng nhất sau cương lĩnh của Đảng, là đạo luật gốc….
Có lẽ sẵn cái trớn này và cũng là noi gương ông, có vị bộ trưởng, Uỷ viên Trung ương Đảng trong buổi nói chuyện với các vị lãnh đạo Thành phố tại Học viện Chính trị Quốc gia TPHCM đã nói thẳng thừng: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”!
Một vị Thứ trưởng phát biểu tại hội thảo khoa học “Xây dựng thể chế kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý đối với Việt Nam” do Ngân hàng Thế giới, và Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức ngày 22/12/2014) cũng nói lên một băn khoăn rất thật: “Tôi cứ suy nghĩ mãi một điều, nếu chúng ta đi mà không rõ đi đâu, bằng cách nào, bao giờ đến… thì không bao giờ chúng ta đi nhanh và bền vững được. Nói là rất thật”,vìsau nhiều thập kỷ đi theo cái gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” mà càng đi càng không biết nó là cái gì thì làm sao mà đi tới được.
Đúng là cái mô hình xã hội chủ nghĩa “mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm, thế nhưng suốt mấy thập kỷ qua, Đảng vẫn áp đặt cái mô hình đó lên toàn xã hội, chẳng những thế lại đòi hỏi tất cả mọi người Việt Nam, kể cả những người Việt Nam đang sống ở nước ngoài muốn Yêu nước thì phải Yêu chủ nghĩa xã hội. Oái oăm hơn nữa, áp đặt một cách hết sức khiên cưỡng lên tôn giáo, tín ngưỡng khi đòi hỏi Phật tử Phật giáo Việt Nam phải phát huy truyền thống hộ quốc an dânvới phương châm Đạo pháp, Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Thử hỏi còn gì quá ngớ ngẩn hơn không và cái Chủ nghĩa xã hộigắn với Đạo pháp là thứ Chủ nghĩa xã hội gì, hình thù, diện mạo ra sao? Các nhà lý luận chính thống chắc cũng khó rao giảng về cái chủ nghĩa xã hội tạp pí lù này!
Gs Trần Phương, một nhà lý luận của Đảng, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, trong một Hội thảo của Hội Kinh tế Việt Nam đóng góp ý kiến vào Văn kiện Đại hội XI trước đây, đã đề cập đến chủ đề trên một cách dung dị, thẳng băng không úp mở, đúng hơn là “huỵch toẹt” ra cho dễ hiểu như sau:
Thế bây giờ cái chủ nghĩa xã hội của ông là cái gì đây? Thật ra mà nói, chúng ta nói và chúng ta biết là chúng ta bịp người khác! Đến tôi bây giờ, tôi cũng không biết cái chủ nghĩa xã hội mà chúng ta sẽ đi là cái chủ nghĩa xã hội gì đây? Có nhiều người bảo rằng thôi thì ta cứ đành lấy khẩu hiệu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh, đó là chủ nghĩa xã hội.
Tôi xin lỗi ông. Đấy không phải chủ nghĩa xã hội! Xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôi hỏi anh: anh đã bằng (…) Thụy Điển và (…) Na Uy chưa? Nó không xã hội chủ nghĩa cũng công bằng, mà công bằng hơn ông, mà văn minh thì tất nhiên là hơn ông rồi. Thế thì cái chủ nghĩa xã hội mà anh bảo rằng là lấy cái khẩu hiệu dân giàu, nước mạnh mấy cái câu đó mà thay thế cho chủ nghĩa xã hội, đấy là chủ nghĩa xã hội của tớ đấy! Tôi nghĩ không đúng. Ông bịp thiên hạ với cái chữ chủ nghĩa xã hội của ông”!
Trên thực tế thì hệ thống xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu, chỉ còn lại cái hình hài đã biến dạng tại Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba và Bắc Triều Tiên! Mà sụp đổ là do đã chọn cái gọi là Chủ Nghĩa Mác-Lênin làm “kim chỉ nam”. Trong tham luận nói trên, tôi đã trình bày rõ: “trong quãng thời gian từ tháng 5/1975 đến nay (2009), đất nước ta đã tụt hậu như thế nào so với những nước châu Á có cùng một trình độ kinh tế như nước ta, thậm chí xuất phát điểm của họ còn thấp hơn của ta, nhưng vì họ không cần đến kim chỉ nam như ta nên họ đã vượt xa ta. Mà với kim chỉ nam đó, để đuổi kịp Hàn Quốc hay Singapore, ta phải phấn đấu liên tục trong 30 năm với giả dụ trong thời gian đó họ dậm chân tại chỗ để đợi ta!”. *
Thế rồi oái oăm hơn khi chỉ còn lại có mấy nước “anh em” vừa liệt kê ra trên đây, thì một ông lãnh tụ trẻ cũng ở bán cầu phía Đông đang bận rộn thanh toán đối thủ chính trị bằng những thủ đoạn tàn khốc như tử hình Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng bằng đại bác khiến cả nước và thế giới khiếp vía với cái “Chủ nghĩa xã hội” của ông lãnh tụ tối cao, hậu duệ của hai đời lãnh tụ tối cao lão thành đã quy tiên đang kiên trì xây dựng còn một ông lãnh tụ khác ở bán cầu phía Tây thì lại đang “xoay trục”.
Thì chẳng phải vừa rồi ở Cuba, Chủ tịch Raul Castro, em ruột của lãnh tụ tối cao Fidel đang là “thái thượng hoàng”, đã nắm chặt tay Tổng thống Hoa Kỳ khi Obama đi một nước cờ cao, đã chìa tay ra với người cộng sản kiên định ở sát cạnh mình, thế rồi nhân dân Cuba vỗ tay rầm rầm chào đón sự kiện động trời này sau hơn nửa thế kỷ chờ đợi đó sao?
Nhưng còn “động trời” không kém khi người cộng sản Cuba kiên định Raul Castro kia đã sẵn sàng từ bỏ nguyên tắc để sẽ “trở về với giáo hội”. Xin trích nguyên văn phát biểu của Chủ tịch Cuba vào sáng chúa nhật 10.5.2015, sau khi Giáo hoàng Francis tiếp và hội kiến riêng hơn 50 phút đồng hồ như sau:
Tôi đã đọc tất cả những bài diễn văn và các văn kiện của Đức Giáo hoàng, và tôi nói với Thủ tướng rằng nếu Đức Giáo hoàng tiếp tục con đường đó, tôi sẽ trở lại cầu nguyện và tôi sẽ trở về với giáo hội, và tôi không nói đừa đâu.”(if the pope continues this way, I will go back to praying and go back to the church, and I’m not joking). Ông nói tiếp: “Tôi xuất thân từ Đảng Cộng sản Cuba, là đảng không cho phép các đảng viên theo đạo, nhưng bây giờ chúng tôi đã bỏ cấm đoán này, đó là một bước quan trọng”. (I am from the Cuban Communist Party, that doesn’t allow (religious) believers, but now we are allowing it, it’s an important step).
Sự kiện trên gợi nhớ lại cái mệnh đề bốc đồng của một thời về hai nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cuba, hai pháo đài của chủ nghĩa xã hội ở Đông và Tây bán cầu với sứ mệnh cao cả là hai pháo đài vững chắc của thành trì xã hội chủ nghĩa thế giới, vì thế mà tự nhận nhiệm vụ “anh thức tôi ngủ” để canh cho sự an toàn của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Có lẽ cả hai thức trắng đêm canh gác quá lâu cho sự an toàn của chủ nghĩa xã hội đã ngủ gật nên để cho hệ thống sụp đổ tan tành! Thế là hình như chỉ còn lại ba nước kiên định xã hội chủ nghĩa là Lào, Trung Quốc và Việt Nam chúng ta, những nước “núi liền núi, sông liền sông”.
Khoan hãy nói đến Lào và Việt Nam, chi xin gợi lên vài nét về nước xã hội chủ nghĩa khổng lồ, người bạn láng giềng cùng chung ý thức hệ với cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thời Đặng và đương kim Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thời Tập.
Với lý thuyết “mèo trắng mèo đen” của Đặng, rồi luận điểm “nhất quốc lưỡng chế, một nước hai chế độ, nền kinh tế Trung Quốc đã dần dần trở thành nền kinh tế lớn thứ hai của thế giới để đến thời Tập Cận Bình với “giấc mơ Trung Hoa”, siêu cường mới tự giới thiệu với thế giới một “Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” nhưng thực chất là một “Chủ nghĩa tư bản mang màu sắc Trung Quốc”.
Theo Financial Times hôm 1.6.2015 dẫn lời François Godement của European Council on Foreign Relation, một chuyên gia kỳ cựu về Trung Quốc cho rằng: Từ hai năm qua, Tập Cận Bình đã chứng tỏ quyền uy cả trong nước lẫn ngoài nước. Trong một Trung Quốc toàn cầu hóa, ông ta cao giọng rao giảng những luận điệu vốn đã dân tộc chủ nghĩa đến cực độ. Mượn danh chống tham nhũng, Tập Cận Bình trừ khử tất cả các đối thủ thực sự hay tiềm năng. Lo sợ sự tương phản quá mức trong một nền kinh tế đang cải cách, vừa tạo ra của cải vừa gây thêm bất bình đẳng, hay một “xã hội dân sự” được thúc đẩy bởi những làn gió mới bên ngoài, Tập Cận Bình bóp nghẹt tất cả phong trào đối lập, biện minh bằng“chủ nghĩa xã hội theo kiểu Trung Quốc”.
Từ sau khi thời đại Mao chấm dứt, Trung Quốc chưa bao giờ trong tình cảnh bị siết chặt đến thế về an ninh và ý thức hệ. Dự luật an ninh quốc gia vừa được công bố gồm cả chống lại “những giá trị phương Tây” và“ảnh hưởng nước ngoài. Tập Cận Bình bị ám ảnh bởi sự sụp đổ của Liên Xô với cơn ác mộng Gorbachev.
François Godement nhận định rằng: ông Tập vừa muốn“hiện đại hóa Nhà nước độc Đảng” hay chính xác hơn là“tái khẳng định quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.Theo ông, chủ trương của Tập Cận Bình: “Chấp nhận chủ nghĩa cá nhân, xã hội tiêu thụ và một số biện pháp tự do hóa nền kinh tế, miễn là không đụng chạm đến Nhà nước độc đảng. Đó là những nghịch lý của “Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc”.
Xem ra những ai đó trong bộ máy quyền lực, ngưỡng mộ cái mô hình xã hội chủ nghĩa này của Tập, đang cố áp đặt mô hình ấy vào nước ta khi mà uy tín của Đảng trong dân, kể cả trong nhiều đảng viên hiểu rõ về thời cuộc, đã xuống đến tận đáy. Liệu có phải họ cũng muốn đi theo những chỉ dẫn của Tập, mượn danh chống tham nhũng, trừ khử tất cả các đối thủ chính trị thực sự hay đang ở dạng tiềm năng. Ho sợ sự tương phản quá mức trong một nền kinh tế đang cải cách, vừa tạo ra của cải vừa gây thêm bất bình đẳng kéo theo sự mất ổn định xã hội, họ sợ một “xã hội dân sự” được thúc đẩy bởi những làn gió mới bên ngoài, nên chủ trương bóp nghẹt tất cả những xu hướng dân chủ hoá chống lại sự độc tài phản dân chủ, phản tiến bộ rồi biện minh bằng luận điệu hàm hồ là “kiên định con đường mà Bác Hồ đã chọn”! Bác chọn cái gì, xin sẽ nói tiếp ở mục thứ ba.
Nhân chuyện Cuba và những điều vừa dẫn ra, tôi lẩn thẩn tự đặt câu hỏi, không hiểu vào dịp sắp tới khi ông Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, câu chuyện của Raul Castro vừa gợi lên đây có khiến ông phải cân nhắc giữa viện kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa với “nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa” mà ông từng kiên quyết không chấp nhận trong đó có “tam quyền phân lập”. Thậm chí những ai đòi hỏi cần phải có nguyên tắc cơ bản đó thì mới có nhà nước pháp quyền đúng với nghĩa của nó thì ông quy vào tội suy thoái tư tưởng, đạo đức và phải “quan tâm xử lý” 1. Đặc biệt là đối với sự vận hành cái gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chắc cái định hướng này sẽ buộc phải xem xét lại với luật chơi mới của TPP khi Việt Nam đang phấn đấu quyết liệt để trở thành một thành viên của Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương đó. Xin dẫn ra đây một mẩu tin vừa đọc được trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn: “Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mai vừa trở về từ cuộc đàm phán song phương Việt Nam – Hoa Kỳ về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ở Washinton DC hôm Chủ nhật 27-4, nói ông lo ngại thể chế chính trị của Việt Nam hiện nay không tương thích với TPP. Ông giải thích: Ví dụ, trong TPP đề cao vai trò của xã hội dân sự, đề cao sự tự do thành lập các hiệp hội. Đây là vấn đề rất nhạy cảm về chính trị với chúng ta. Nếu vì về vấn đề rất nhạy cảm về chính trị” này động chạm đến sự kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà ông Tổng Bí thư lại để vuột mất thời cơ một đi không trở lại để tạo ra một bước đột phá, đưa đất nước đi tới trong bối cảnh mới thì chưa chừng, để tránh được xem là tội đồ của lịch sử mà là người thúc đẩy lịch sử, ông phải tham khảo bước đi của ông Raul để nhìn nhận lại về mô hình Chủ nghĩa Xã hội mà ông đang kiên trì áp đặt trên đất nước mình.
Nhân dân vốn rất tỉnh táo và sáng suốt, vì thế mà rất bao dung và công minh khi nhìn nhận những người lãnh đạo. Họ biết bỏ qua những sai lầm, khiếm khuyết do sự bất cập của trí tuệ bản thân và sự khiên cưỡng của cơ chế tuyển chọn, để sẵn sàng ghi nhận những đóng góp của những người, do sự đưa đẩy của số phận và thời cuộc, đã được trao cho những sứ mệnh qúa lớn vượt khỏi tầm vóc của người phải nhận sứ mệnh đó. Lịch sử vốn rất sòng phẳng trong sự khoan dung và công bằng.
Đã có những tấm gương tày liếp về chuyện kiên định lập trường xây dựng xã hội chủ nghĩa mà đã đẩy đất nước rơi vào thảm hoạ như Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã có ảo tưởng dựa vào Trung Quốc để cố níu kéo mấy nước xã hội chủ nghĩa còn lại khỏi sụp đổ sau khi Bức tường Berlin đã bị phá vỡ. Chính cái ảo tưởng đó, hệ quả trực tiếp của một tầm tư duy hạn hẹp và thiển cận đã dẫn đến Hội nghị Thành Đô năm 1990 với hệ luỵ khủng khiếp mà mọi người đã thấy. Nếu chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của một ảo tưởng duy ý chí thì cái gọng kìm Trung Quốc với Hội nghị Thành Đô siết chặt con mồi Việt Nam lại là một hiện thực trực tiếp đau đớn mà ai cũng thấy được.
Ấy vậy mà, “trong lịch sử chưa có một mô hình xã hội chủ nghĩa nào”, mà ngay cả những nhà sáng lập ra học thuyết Mác “cũng chưa bao giờ đề ra một định nghĩa có tính chất hình mẫu về chủ nghĩa xã hội khoa học cả, chính khoa học là ở chỗ đó”, nhận định đó đước đưa ra từ hơn 20 năm trước*. Thời gian đã đủ để chứng minh rằng việc áp đặt mô hình xã hội chủ nghĩa cho mục tiêu phấn đấu xây dựng đất nước là một sai lầm, không chỉ là phản khoa học mà còn là phản tiến hoá. Đã quá muộn để dứt khoát từ bỏ mô hình đó. Nhưng muộn còn hơn là ngoan cố duy trì một lựa chọn sai lầm đã đẩy đất nước đi vào ngõ cụt. Điều có ý nghĩ thuyết phục mạnh mẽ hơn cả là không có Chủ nghĩa Xã hội” trong “Điều mong muốn cuối cùng” của Hồ Chí Minh trong Di chúc.
2. Về cái gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin
Như vừa trình bày ở trên, “kim chỉ nam” của sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chính là “Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Nhưng thực chất cái gọi là “chủ nghĩa Mác-Lênin” đó là gì, nó từ đâu tới và hiện nay số phận của nó ra sao thì cho đến nay, người ta vẫn chưa đưa ra những lý lẽ thuyết phục. Mà xét đến cùng thì cũng không thể thuyết phục được với một khái niệm tiên thiên bất túc như khái niệm được lấy làm kim chỉ nam” cho việc xây dựng“chủ nghĩa xã hội” đang được áp đặt. Vì thế, cần phải thật sự sòng phẳng trước lịch sử. Và muốn vậy, phải thật sự tường minh về cái gọi là “Chủ nghĩa Mác-Lênin” ấy trên bình diện lý luận cũng như trong thực tiễn.
Sự thật thì đã từ lâu, những người cộng sản có sự hiểu biết sâu sắc về lý luận trong một số Đảng Cộng sản đã từ bỏ khái niệm và cụm từ “Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Nhiều Đảng Cộng sản đã chính thức từ bỏ từ khoảng hơn năm chục năm nay. Họ chỉ thừa nhận rằng có học thuyết của K. Marx và rồi sau đó có sự đóng góp của V.I. Lenin và của một số nhà lý luận cộng sản khác vào học thuyết ấy, chứ không hề có cái gọi là chủ nghĩa Mác-Lênin”, một sản phẩm xuyên tạc, cả cố ý và vô tình của J. Stalin để rồi khi đi về phương Đông thì nó lại bị nhào nặn bởi những tư tưởng lý luận Maoít để trở thành “kim chỉ nam” dẫn đến những thảm hoạ.
Điều cần lưu ý là, sinh thời K. Marx không bao giờ tự nhận có một “chủ nghĩa Mác”, thậm chí K. Marx từng viết: “Tôi chỉ biết một điều là tôi không phải là người Mác-xít”. Về sau này, do nhu cầu của cách mạng mà những đồng chí của C. Mác, trước hết là F. Engels mới nói đến “Chủ nghĩa Mác” với tính cách là một học thuyết nhằm dẫn dắt sự nghiệp cách mạng. Điều này là đòi hỏi khách quan, cho nên nó cần thiết. K. Marx nói vậy là do nhận thức sâu sắc được sứ mệnh chân chính của một nhà khoa học. Nhưng sau đó, với trách nhiệm lãnh tụ của phong trào công nhân, Ph.Angghen cần đến một học thuyết để làm ngọn cờ tư tưởng lý luận cho phong trào, thì không có ai xứng đáng hơn là C. Mác. Khái niệm “chủ nghĩa Mác” ra đời là một đòi hỏi của lịch sử phong trào công nhân thế giới, trước hết là Châu Âu. Vả chăng, lúc này K. Marx đã qua đời! Hình như sau này, “chủ nghĩa Lênin” cũng được tạo dựng theo cách ấy nhưng về sau thì bị diễn dịch theo động cơ và những dụng ý khác của J. Stalin.
Ở ta, thuật ngữ “Chủ nghĩa Lênin” được xuất hiện năm 1927 trong cuốn “Đường Cách mệnh” của Nguyễn Ái Quốc: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Lúc ấy chưa xuất hiện thuật ngữ “Chủ nghĩa Mác-Lênin” vì thuật ngữ này chỉ được tạo ra từ đầu những năm 1930 và chính thống hoá trong tác phẩm “Lịch sử tóm tắt của Đảng Cộng sản (BSV)” (tức là Đảng Bolchevik) do J. Stalin chỉ đạo soạn thảo đã là “sách gối đầu giường” biến thành kinh nhật tụng của những người không am hiểu về học thuyết Mác. Rõ ràng là, cũng như chính bản thân những tác giả của nó với tư cách là nhà khoa học và nhà cách mạng, học thuyết của K. Marx cũng như sự nghiệp của ông đang còn dang dở. Vả chăng, K. Marx là người mà “sự sửa chữa đến nhanh hơn sự hình thành, chưa kịp hình thành đã sửa chữa”*. Vì vậy, cần phải thẳng thắn chỉ ra những sai lầm, thiếu sót trong tư tưởng lý luận của một học thuyết ra đời trong bối cảnh của thế kỷ XIX, học thuyết Mác. Đó là những sai lầm rất cơ bản trong chính tư duy lý luận của những người sáng lập học thuyết ấy đã bị thực tiễn bác bỏ, nhưng điều cần thiết hơn nữa là phải chỉ rõ những xuyên tạc và làm méo mó học thuyết Mác theo ý đồ của Stalin và rồi của Mao khi vận dụng vào thực tiễn nước ta. Những sai lầm trong cách vận dụng học thuyết K. Marx, nhất là cố tìnhphóng đại một cách thô thiển và dại dột những luận điểm sai lầm của K. Marx, đặc biệt là của V. Lenin được biến tấu qua những luận điểm Stalinnít và Maoít. Chính điều này đãlàm trầm trọng thêm những khuyết tật của bệnh giáo điều, nô lệ sao chép những công thức, những luận điểm đã bị cuộc sống vượt qua! Tất cả những cái đó đã đưa đến những thảm trạng của đất nước hôm nay.
Xin chỉ gợi ra hai điều cốt lõi nhất đã lũng đoạn và áp đặt trong toàn bộ chủ trương đường lối xây dựng Chủ nghĩa Xã hội trong suốt hơn nửa thế kỷ qua như: đấu tranh giai cấp động lực thúc đẩy sự phát triển và đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản và gắn liền với nguyên lý đó là xoá bỏ chế độ tư hữu. Thật ra, người đầu tiên sử dụng thuật ngữ chuyên chính vô sản không phải là K. Marx mà là Blanqui, nhà cộng sản không tưởng người Pháp. K. Marx đã vận dụng khái niệm này vào năm 1848 với hàm ‎ý rằng “cuộc đấu tranh giai cấp nhất thiết dẫn tới chuyên chính vô sản, bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu tất cả mọi giai cấp để tiến tới một xã hội không giai cấp”.
Thế nhưng, dưới ngòi bút của K. Marx, kể cả trong bản nháp, bản thảo viết tay, trong các tài liệu nội bộ không nhằm công bố, trong các bức thư viết cho anh em bè bạn hoặc thư góp ý cho đồng chí của mình hiện còn lưu giữ được, thì tần số xuất hiện của thuật ngữ chuyên chính vô sản không đến mười lần! Ngoài sự xuất hiện lần đầu vào năm 1848 ấy thì trong suốt 20 năm tiếp theo, K. Marx cũng như F. Engels không dùng thuật ngữ này nữa. Cũng xin nói thêm rằng công trình đồ sộ nhất của K. Marx là bộ Tư bản thì trong đó lại không có một định nghĩa rõ ràng nào về khái niện giai cấp cả.
Còn về khái niệm tư hữu mà trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản xuất bản năm 1848 K. Marx “tóm tắt lý‎ luận của mình thành công thức duy nhất: xóa bỏ chế độ tư hữu” thì chỉ là cách nói thật gọn và vắn tắt “một quá trình cải tạo toàn bộ xã hội”, và cũng chính ông khẳng định rằng: “chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của kẻ khác”.
Nhưng đến V. Lenin rồi đặc biệt là J. Stalin thì chuyên chính vô sản là đảng trị vì đảng đã trở thành một siêu nhà nước. Với Mao thì biến tấu của nó càng khủng khiếp hơn để khi du nhập vào Việt Nam thì “chuyên chính vô sản” chiếm lĩnh vị trí then chốt trong tư duy của người nắm quyền lực với luận điểm ưa thích là “súng đẻ ra chính quyền”. Mà vì thế, xóa bỏ chế độ tư hữu đã trở thành điểm quy chiếu trong sự phân định cuộc đấu tranh ai thắng ai giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội!
Một sự xuyên tạc do bất cứ lý do gì, do trình độ hạn chế hoặc bị mê hoặc bởi những giáo điều, thì hệ luỵ của nó cũng rất khó mà đo đếm cho xuể. Cho nên như đã trình bày, vấn đề “xoá bỏ chế độ tư hữu” trở thành một điểm quy chiếu trong cuộc đấu tranh ai thắng ai, trong định hướng bản chất của Chủ nghĩa Xã hội, phải giữ bằng được “công hữu”, mất sở hữu toàn dân, trong đó có đất đai, là mất Chủ nghĩa Xã hội đã để lại những vết hằn quá sâu trên cơ thể đất nước mà muốn xoá những vết hằn đáng xấu hổ đó sẽ phải có một quyết tâm rất lớn cùng với những giải pháp đồng bộ và quyết liệt.
Người ta không hiểu được rắng vấn đề xoá bỏ chế độ tư hữu nêu trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là “tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất” chỉ là cách nói thật gọn, thật vắn tắt một quá trình cải tạo toàn bộ xã hội. Làm được cái đó hay không sẽ còn rất nhiều chuyện phải bàn, song ngay vào thời điểm ấy, chính K. Marx đã khẳng định: “chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của kẻ khác”.
Quá trình cải tạo xã hội ấy không phải là sự xóa bỏ giản đơn bằng một mệnh lệnh hành chính hoặc là “sự tước đoạt lại những kẻ đi tước đoạt”, mà phải là sự phát triển tất yếu của đại công nghiệp đưa tới sự thay đổi cơ bản môi trường sống của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Trong thuật ngữ đương đại, thì đấy là con người phải tự biến đổi để thích nghi với môi trường mới do chính họ tạo ra. Không có sự phát triển của đại công nghiệp thì không thể có quá trình cải tạo toàn bộ xã hội để thực hiện kết quả cuối cùng là xóa bỏ chế độ tư hữu trong quan niệm của K. Marx vào thời điểm ấy.
Marx trình bày rất dứt khoát: “Như vậy là chỉ với công nghiệp lớn, mới có khả năng xóa bỏ được sở hữu tư nhân”. Nói cách khác, trong tư duy lý luận của K. Marx, xóa bỏ chế độ tư hữulà hệ quả của việc thực hiện thành công chủ nghĩa cộng sản như ông mơ ước. Với ông, sở hữu tư nhân là một phương thức quan hệ cần thiết ở một giai đoạn phát triển nào đó của lực lượng sản xuất. Phương thức quan hệ sở hữu tư nhân ấy người ta không thể tách khỏi nó, không thể bỏ qua nó trong sự sản xuất ra cuộc sống vật chất, cho tới khi nào tạo ra được những lực lượng sản xuất mà sở hữu tư nhân là một ngăn cản và trở ngại đối với những lực lượng sản xuất ấy.
Để hiểu vấn đề khá phức tạp này, xin dẫn ra đây lập luận của K. Marx về lợi ích và sở hữu, về “lợi ích phổ biến hư ảo, dưới hình thức nhà nước… biểu hiện như một lực lượng xa lạ” trong Hệ tư tưởng Đức: “Sự tha hoá ấy – dùng từ đó để cho các nhà triết học dễ hiểu sự trình bày của chúng tôi – dĩ nhiên chỉ có thể bị xoá bỏ khi có hai tiền đề thực tiễn. Để trở thành lực lượngkhông thể chịu đựng được nghĩa là một lực lượng mà người ta phải làm cách mạng để chống lại, thì điều cần thiết là sự tha hoá đó phải biến đa số trong nhân loại thành những người hoàn toàn không có sở hữu, đồng thời mâu thuẫn với cái thế giới đầy dẫy của cải và học thức đang tồn tại thực sự – cả hai điều này đều giả định trước là phải có sự tăng lên to lớn của sức sản xuất.
Mặt khác, sự phát triển ấy của những lực lượng sản xuất cùng với sự phát triển này, sự tồn tại có tính chất lịch sử thế giới, chứ không phải có tính chất địa phương nhỏ hẹp, của con người đã thực hiện một cách kinh nghiệm chủ nghĩa, là tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết, vì không có nó thì tất cả sẽ chỉ là một sự nghèo nàn sẽ trở thành phổ biến; mà với sự thiếu thốn tột độ thì ắt sẽ bắt đầu trở lại một cuộc đấu tranh để giành những cái cần thiết, thế là người ta lại không tránh khỏi rơi vào cũng sự ti tiện trước đây.”
Cần nhớ rằng K. Marx viết những dòng này vào năm 28 tuổi, và suốt đời K. Marx đã tập trung nghiên cứu về sở hữu kinh tế và trình bày tập trung trong Tư bản. Chính ở đây có một tư tưởng rất quan trọng: khi sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đã bị xóa bỏ, sẽ xuất hiện sở hữu cá nhân của người lao động bao gồm cả tư liệu sản xuất chứ không phải chỉ là tư liệu sinh hoạt. Tư tưởng lý luận này không phải sau này mới có mà ngay trong Hệ tư tưởng Đức, K. Marx cũng đã có nói đến tuy còn lúng túng: sở hữu cá nhân của những người lao động dựa trên những thành quả của thời đại tư bản chủ nghĩa, dựa trên sự hợp tác của những người lao động được giải phóng và sự chiếm lĩnh chung tất cả các tư liệu sản xuất, kể cả đất đai. Ở đây có sự nhập nhằng, đã công hữu về tư liệu sản xuất nhưng vẫn có sở hữu cá nhân của người lao động về tư liệu sản xuất.
Dù sao thì những lập luận nói trên vẫn còn được diễn đạt theo cách ngoại suy. Nhiều năm sau đó, khi viết Tư bản, K. Marx đã thấy ra được rằng, cái sẽ thay thế cho sở hữu tư nhân là sở hữu cá nhân của con người lao động mới hợp tác với nhau, chứ không phải sở hữu công cộng hiểu một cách giản đơn là tập thể hoá, quốc hữu hoá như người ta đã làm. Rõ ràng, suốt cả quá trình suy nghĩ và trăn trở về điều này, tư duy khoa học của K. Marx đã trải qua nhiều chặng với nhiều biến đổi, trong đó chồng chất những sai lầm. Cũng nên nhắc lại rằng bộ Tư bản được K. Marx nghiền ngẫm và biên soạn ròng rã suốt 25 năm trời, thế nhưng sinh thời K. Marx chỉ cho ra mắt Quyển I (in xong ngày 14.9.1867), còn những quyển tiếp theo thì mãi sau khi K. Marx qua đời, F. Engels mới lần lượt xuất bản.
Chính vì thế, cần lưu ý thêm, trong một số trường hợp, đúng là K. Marx có nói về “xoá bỏ sở hữu tư nhân”, nhất là thời kỳ đầu, lúc trẻ, nhưng suốt về sau này, khi K. Marx dùng cụm từ “xoá bỏ sở hữu tư nhân” trong phần lớn trường hợp, ý của K. Marx muốn chỉ rõ đó là “xoá bỏ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa” mà theo quan niệm của K. Marx trong bối cảnh tích lũy sơ khai của chủ nghĩa tư bản, thì sở hữu đó là để nô dịch lao động của kẻ khác. Nhận thức ấy của chàng thanh niên K. Marx thế kỷ XIX đúng sai như thế nào thì phải đặt nó vào thời điểm lịch sử ấy mà xét đoán.
Nêu lên những điều trên hoàn toàn không nhằm biện hộ cho những sai lầm của học thuyết Mác, mà chỉ để nói rõ hơn những biến dạng của những cái mà người ta gán cho K. Marxdo không hiểu một cách kỹ càng luận điểm của K. Marx, hoặc là do đọc mà không hiểu, nhưng tệ hại nhất là do ăn theo nói leo như vẹt những giáo điều được rao giảng bởi những người đang nắm quyền lực để dễ lọt được “mắt xanh” của ai đó cũng rất mù mờ về lý luận Mác nhưng lại có quyền phán bảo và rao giảng! Chính cái đó gây tai hoạ cho cuộc sống mà đã quá muộn để phải thật sòng phẳng về điều này để rồi những biến dạng tệ hại đó lại tiếp tục chi phối quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội XII, tiếp tục gây tai hoạ cho đất nước.
Phải mạnh dạn và trung thực chỉ rõ rằng khi vận dụng một cách quá thô thiển và nông cạn mệnh đề “xoá bỏ chế độ tư hữu” gắn liền với mệnh đề “chuyên chính vô sản” để thể hiện nó trong chủ trương, đường lối, trong chính sách và giải pháp đã đưa đến những nguy hại không sao lường trước được cho đến tận hôm nay, thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI! Thì chẳng phải cũng chỉ cách đây mấy năm thôi, trong một bài viết của Võ Văn Kiệt đề cập đến vấn đề này đã lập tức bị Trần Trọng Tân phê phán quyết liệt.
Phê phán cái gì? Phê phán những ý tưởng mà Võ Văn Kiệt nhắc đến về những gợi mở của Lê Duẩn trong sự vận dụng một cách quá thô thiển và nông cạn mệnh đề “xoá bỏ chế độ tư hữu” gắn liền với mệnh đề “chuyên chính vô sản” nói trên:
Trong nhiều lần trao đổi, nhận xét và chỉ đạo những công việc chúng tôi đang tiến hành tại Thành phố Hồ Chí Minh, Anh Ba nêu rất nhiều gợi ý hết sức mạnh dạn và sáng tạo. Qua những ý kiến chỉ đạo của Anh, tôi hiểu Anh đang trăn trở về mô hình phát triển của đất nước mình không thể rập khuôn theo mô hình của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, mô hình Trung Quốc. Cũng như trước đây trong chỉ đạo cuộc chiến tranh cách mạng, tôi thấm thía lời căn dặn của Anh: chỉ lúc nào chúng ta độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn của đất nước, từ lợi ích của dân tộc, lúc ấy chúng ta thắng lợi, lúc nào chúng ta lệ thuộc, giáo điều sao chép của người ta, lúc ấy cách mạng phải trả giá nặng nề.
Tôi hiểu, Anh không tán thành mô hình Xô Viết. Qua tìm hiểu thực tế ở các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và suy ngẫm về lý luận, Anh nhận ra có quá nhiều vấn đề bất ổn. Anh không tán thành áp đặt thể chế nhà nước chuyên chính vô sản khi mà nhân dân đã giành lại được quyền làm chủ đất nước mình bằng những hy sinh không sao kể xiết, không thể vô sản lại chuyên chính với chính mình, với nhân dân. …
Đáng tiếc là, những lóe sáng trong bộ óc tìm tòi, sáng tạo của Lê Duẩn chưa được giới lý luận suy nghĩ, bàn bạc một cách nghiêm túc để định hình được một hệ thống lý luận hoàn chỉnh từ sự đúc kết thực tiễn thay vì những lời tụng ca xu thời lúc Anh Ba giữ cương vị Tổng Bí thư và những quy kết vô lối đầy ác ý khi Anh Ba qua đời. Giờ đây nhớ lại, Anh Ba đã từng phê phán những tư tưởng hạn hẹp chỉ bó gọn tầm mắt và mối quan hệ trong COMECOM.
Đôi lúc trao đổi với chúng tôi, Anh nghĩ đến việc phải học hỏi thêm những thành tựu kinh tế và mở rộng quan hệ với Châu Âu, với Nhật, với Mỹ. Anh Ba cho rằng đó không chỉ là chuyện chính sách và chiến thuật, mà phải ở tầm đường lối cơ bản. Trong suy nghĩ về đường lối phát triển kinh tế, Anh Ba cũng đã từng nói đến kinh tế hộ, kinh tế hợp tác và kinh tế tư nhân chứ không phải chỉ nhấn mạnh quốc doanh là ưu việt nhất một cách tràn lan mọi ngành, mọi lúc. Ngay cả vấn đề khoán hộcủa đồng chí Kim Ngọc ở Vĩnh Phú, mặc dầu lúc ấy đã có kết luận chính thức, song Anh Ba vẫn động viên cần tiếp tục tìm tòi cái mới trong quản lý sản xuất nông nghiệp.
Chính tôi đã nhiều lần nghe Anh Ba phê phán những khuyết tật cơ bản của kế hoạch hóa tập trung quan liêu, và đòi hỏi phải dám mạnh dạn tìm tòi cơ chế mới phù hợp với từng bước phát triển của đất nước mình. Anh Ba đã có lần gợi ý với chúng tôi những vấn đề cần suy nghĩ về vai trò của giá, của tài chính tiền tệ, những công cụ và đòn bẩy chính của kinh tế thị trường mà ta nói hiện nay. Rõ ràng là, từ rất sớm, bộ óc lớn ấy đã từng lóe sáng những suy tư về đổi mới như tôi đã nói ở trên. Chỉ có điều, từ những trăn trở trong suy nghĩ nhằm định hình những vấn đề thuộc về đường lối, đến việc vận dụng vào thực tế, có cả một khoảng cách rất xa….
Bài này vừa đăng lên thì hai hôm sau trên báo Sài Gòn Giải phóng ông Trần Trọng Tân đã lên tiếng bác bỏ trong một bài viết “đằng đằng sát khí”! Trong lập luận,Trần Trọng Tân dứt khoát khẳng định nhà nước của ta hiện nay, về thực chất vẫn thực hiện nội dung chuyên chính vô sản! Quả thật, không có ví dụ nào sáng tỏ hơn về cảnh báo “mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá” (đây điều mà Engels đã mượn lời của Hegel khi bàn về biện chứng của sự phát triển). Thật là khủng khiếp của cái trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá! *
Nhưng cũng phải công bằng mà nói, về cuối đời, ông Trần Trọng Tân đã có nhiều chuyển biến đáng trân trọng trong tư duy. Những ý kiến mạnh mẽ và thẳng thắn của ông khi trao đổi về thời cuộc, những đóng góp đúng đắn của ông với đường lối, chính sách của Đảng đã có những tiếng vang trong công luận vốn đang mong chờ những tiếng nói phản biện mạnh mẽ nhằm thúc đẩy quá trình dân chủ hoá để hoá giải dần tệ độc đoán phản dân chủ, phản tiến bộ của những thế lực bảo thủ, giáo điều khiếp nhược trước áp lực của Trung Quốc đang cố vin vào người láng giềng “cùng chung ý thức hệ” được nhồi vào trong “16 chữbốn nguyên tắc lừa mị và bịp bợm để mong giữ được cái ghế quyền lực đang chao đảo.
Ấy vậy mà, đối với những vấn đề vốn được xem là “nguyên lý, nguyên tắc”, thì sức chuyển biến của tư duy của người từng là Trưởng ban Tư tưởng và Văn hoá của Đảng vẫn chưa đủ sức để vượt qua! Thế thì nói gì đến những đầu óc lú lẫn, xơ cứng sẽ là quá khó, nếu chưa muốn nói là không thể, tiếp nhận được chân lý của cuộc sống. Càng nguy hiểm hơn nữa khi những giáo điều tệ hại đã ngự trị trong não trạng của một số người do sự đưa đẩy của thời cuộc đã chiếm lĩnh được cái ghế quyền lực ở những cấp cao nhất, trở thành một quán tính chi phối cách tư duy và mọi hành động của họ đều bị dẫn dắt bởi “tính chuyên chế của tập quán.
Điều này thì cách đây gần hai trăm năm, khi phân tích về nền chuyên chế phương Đông, tác giả của cuốn sách mang ý nghĩa khai sáng Bàn về tự do đã chỉ ra: “Nền chuyên chế của tập quán đã hoàn tất triệt để. Đó là trường hợp của toàn thể phương Đông. Ở đó Tập quán là tiếng nói quyết định cuối cùng”. Jonh Stuart Mill cảnh báo: “Tính chuyên chế của tập quán ở mọi nơi là chướng ngại thường trực cản trở con người tiến lên phía trước, luôn không ngừng đối kháng với xu thế hướng tới cái gì đó tốt đẹp hơn thói thường, cái xu thế mà tùy theo tình hình vẫn được gọi là tinh thần tự do. Vì thế, cái đang ngự trị trong đời sống tinh thần của xã hội nhân danh “chủ nghĩa Mác-Lênin” chính là cái trạng thái suy đồi nhưng lại được tập quán thần thánh hoá chứ không là gì khác.
Dẫn ra những điều trên để nói lên một sự thật: Thực tiễn đã chứng minh quá rõ ràng và khắc nghiệt lý‎ do cần phải dứt khoát vứt bỏ cái “kim chỉ nam” đã dẫn dắt sự lựa chon mô hình sai. Bằng chứng hiển nhiên về sự sai lầm đó là sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và sự trì trệ, chậm phát triển của đất nước ta hiện vẫn đang là người chạy áp chót trong tiến trình phấn đấu đẩy tới quá trình hội nhập quốc tế.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ và yếu kém đó. Trước hết phải nói, đó là những sai lầm, yếu kém tích tụ suốt cả một thời gian dài. Trong đó sai lầm lớn nhất là sự xơ cứng về lý luận để cứ khăng khăng khẳng định con đường đã chọn là đúng đắn nhất! Đó là một hệ thống lý luận xa rời thực tế và đã bị thực tế vượt qua. Nhưng do chỉ quen với thói độc quyền tư tưởng và áp đặt tư duy, một dạng biểu hiện sự tha hoá của quyền lực, những người gánh trọng trách không tìm cách đổi mới hệ thống lý luận và quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội, họ bị đóng khung chết cứng trong những giáo điều đã học thuộc lòng để rồi bằng quyền lực cưỡng bức mọi người phải tuân phục sự áp đặt đó. Quả đúng là “sự ngạo mạn của quyền lực là kẻ thù lớn nhất của chân lý” như Einstein bộ óc lớn của mọi thời đại đã cảnh báo.
Chính vì thế mà những rao giảng của “những nhà lý luận” đang ngự trị trên ghế quyền lực hiện nay chỉ là bản sao nhàm chán của những giáo điều được học thuộc từ nửa cuối thế kỷ XX, trong lúc giới lý luận nói riêng và các nhà khoa học lớn của thế giới đã nghiêm khắc chỉ ra rằng “Khi khủng hoảng trở nên trầm trọng, những cách tư duy thông thường không còn đúng nữa: cái bạn cho là tốt thực ra là tệ hại, cái mà bạn tưởng là thận trọng thực ra lại đầy rủi ro, và sự khôn ngoan lại hóa ra là dại dột” (Paul Krugman, người được giải Nobel về kinh tế đã trình bày tại một Hội thảo ở Sài Gòn năm 2012).
Những đầu óc xơ cứng ấy không sao hiểu được rằng “Con đường cũ dừng ở đây. Thế giới đã thay đổi, và kiểu tư duy tuyến tính không còn thích hợp vớí một thế giới phi tuyến tính… những ai chần chừ, tin rằng tương lai sẽ là sự tiếp tục đơn giản của quá khứ, sẽ sớm thấy mình bị hụt hẫng trước sự thay đổi. Họ sẽ bị buộc phải suy nghĩ lại: sẽ đi đến đâu và bằng cách nào đi đến đó, khi mà có lẽ đã quá muộn để tránh được điều không thể tránh khỏi”. Chính vì vậy người ta khẳng định rằng, trong thời đại của nền kinh tế tri thức và nền văn minh trí tuệ “chuẩn mực chính là sự thay đổi.
Xin trở lại với ý kiến Trần Phương: “Thế tôi hỏi ông là: bây giờ ông nói là nền tảng của ông là chủ nghĩa Mác – Lênin thì chủ nghĩa Mác – Lênin là cái gì đây nhỉ? …chủ nghĩa Mác – Lênin là cái gì, mà ông nói là nền tảng của ông?
Chúng ta đã trải qua 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội theo nguyên tắc mà ông Mác đưa ra, là gì? Chuyên chính vô sản về mặt chính quyền. Thứ hai về mặt kinh tế thì lấy chế độ công hữu làm nền tảng ấy để thu hẹp và xóa dần cái kinh tế tư nhân và thị trường tự do, rồi phân phối theo lao động, v.v. Nhưng mà bây giờ ông xem lại tất cả những nguyên tắc đó ông có làm không? Tôi nghĩ ông từ chối rồi còn gì nữa. Có phải không? Khi các ông đổi mới… cái thời kỳ mà ông xây dựng chủ nghĩa xã hội từ năm 60 cho đến năm 80 là ông theo cái tư tưởng tả khuynh. Ông theo một cái tư tưởng giáo điều mà cái điều này là ông Mác sai, ông dự kiến là chủ nghĩa xã hội, với những đặc trưng đó thì dự kiến của ông Mác là sai. Ông Mác có nhiều cái dự kiến phải nói là thiên tài, nhưng riêng dự kiến là những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội là ông Mác sai. Nhưng mà chúng ta không thừa nhận rằng ông ấy sai. Chúng ta cứ làm giả vờ như là ta vẫn theo ông Mác. Thì xin lỗi, ông giả vờ ông Mác thì ông đã thay đổi hành động của ông rồi”.
Nhân “tư tưởng tả khuynh” mà Trần Phương vừa đề cập, xin nói thêm đôi câu. Những người sính trích dẫn kinh điển hãy đọc lại cuốn Bệnh ấu trĩ tả khuynh của phong trào cộng sản của Lenin viết vào tháng 5.1918. Trong tác phẩm này, Lenin đã phê phán luận điệu “tả khuynh”, “ấu trĩ” mà ông cho là một “mớ hỗn độn cũ rích”, nếu “cứ giữ mãi sai lầm, đi sâu thêm để bào chữa cho nó, đưa nó đến chỗ tột cùng thì từ một sai lầm nhỏ, người ta luôn luôn có thể làm cho nó thành một sai lầm lớn ghê gớm”. Lenin phê phán sai lầm của phái “tả” trong nội bộ Đảng Bônsêvích Nga, tiếp đó, với sự ra đời của các Đảng Cộng sản, bệnh “tả khuynh” đã phát sinh trên phạm vi quốc tế trong quãng thời gian 5 năm trước khi tác phẩm này ra đời trước Đại hội II của Quốc tế Cộng sản. Khi đến Đại hội, mỗi đại biểu đã có trong tay tác phẩm này. Thế mà căn bệnh “tả khuynh” ở nước ta kéo dài đã 70 năm vẫn đang tác oai tác quái mà vẫn chưa được vạch trần một cách quyết liệt, cho dù trong bài viết “Đóng góp ý kiến vào lý luận và thực tiễn 20 năm Đổi mới” Võ Văn Kiệt đã vạch rõ: “Chính là xu hướng giáo điều tả khuynh vẫn tồn tại, muốn co kéo, kiềm chế những tiềm lực phát triển nhưng lại mang danh nghĩa bảo vệ Đảng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống chệch hướng”.
Sự cảnh báo ấy chưa đủ để ngăn chặn thế lực bảo thủ, giáo điều vẫn cố tình “cứ giữ mãi sai lầm, đi sâu thêm để bào chữa cho nó”, “đưa nó đến chỗ tột cùng”theo cách nói của Lênin, đã và đang gây nên thảm hoạ cho đất nước. Sự ngoan cố của cái trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá này diễn ra thiên hình vạn trạng, nhưng trắng trợn và dễ thấy nhất là khi cái thế lực này lại chiếm lĩnh được những cái ghế cao ngất ngưỡng của quyền lực để thực thi thủ đoạn của mình. Chỉ xin dẫn ra một ví dụ xoay quanh việc điều chỉnh và “phản điều chỉnh” Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh 1991), một thủ đoạn khôn khéo nhằm ngăn chặn những tư tưởng mới được thể hiện trong những luận điểm tiến bộ được đưa ra tại Đại hội X để minh hoạ cho những điều vừa trình bày.
Đây là Cương lĩnh đã được Đại hội VII thông qua nhưng đến Đại hội X đã có những điều chỉnh lớn tại Đại hội X. Chẳng hạn như về mục tiêu của xây dựng xã hội chủ nghĩa không phải là thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, thay mệnh đề nhân dân lao động làm chủ bằng nhân dân làm chủ, tức là toàn dân làm chủ. Về Đảng thì trở lại quan điểm của đại hội II: Đảng là Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của toàn dân tộc chứ không chỉ nói Đảng là Đảng của giai cấp công nhân nữa, việc đảng viên được làm kinh tế tư nhân cũng đã được khẳng định tại Đại hội. Như vậy là Đại hội X đã không khẳng định tính toàn vẹn của Cương lĩnh nữa mà đặt vấn đề sau Đại hội sẽ làm Cương lĩnh mới.
Thế nhưng đến Đại hội XI năm 2011 lại khẳng định mạnh mẽ Cương lĩnh 91. Có thể gọi đây là một bước “phản điều chỉnh”, đi ngược lại những điều chỉnh của Đại hội X. Nếu Đại hội X khẳng định tính không trọn vẹn của Cương lĩnh 91 và đặt vấn đề phải làm lại, thì đến Đại hội XI lại đưa ra đánh giá: từ Đại hội VII đến Đại hội XI (tức là khoảng 20 năm) là thời kỳ thực hiện Cương lĩnh 91 với những thành công có ý nghĩa lịch sử. Vậy thành công “có ý nghĩa lịch sử” đó là gì nếu không phải là làm chậm bước phát triển của đất nước, đặc biệt là với Hội nghị Thành Đô 1990, đẩy đất nước rơi vào quỹ đạo lệ thuộc vào Trung Quốc, điều mà Nguyễn Cơ Thạch đã từng cảnh báo về một thời “Bắc thuộc lần thứ hai”.
Những gì tồi tệ nhất cũng diễn ra trong gần năm năm qua của nhiệm kỳ Đại hội XI. Chính trong thời gian này, luận điệu “tả khuynh”, “ấu trĩ ” mà Lenin gọi là một “mớ hỗn độn cũ rích” như đã dẫn ra ở trên, lại được rao giảng một cách trơ trẽn và nhàm chán như thế nào thì nhiều người đã thấy rõ. Không chỉ rao giảng trong nước mà còn dại dột rao giảng tận bên kia bán cầu để rồi sau đó bị “cấm cửa”. Chuyện đáng buồn này không là sự bẽ mặt của một cá nhân “mình thế nào người ta mới mời chứ”, mà còn là một sự xúc phạm đối với thể diện quốc gia vốn chưa có tiền lệ trên lĩnh vực ngoại giao!
Những người đang làm cái việc nhàm chán đó không dám đọc hoặc đọc mà không hiểu nổi lời cảnh báo của chính K. Marx: “Làm sống lại những người đã chết là để ca ngợi những cuộc đấu tranh mới, chứ không phải để nhai lại những cuộc đấu tranh cũ, là để đề cao trong tưởng tượng một nhiệm vụ nhất định, chứ không phải để trốn tránh việc giải quyết nhiệm vụ ấy trong thực tế”. *
Họ phải khấn vái tụng niệm vì đúng như K. Marx đã vạch ra, là “để tự đánh lừa mình về cái nội dung của chính mình”. Vì thế, họ không chịu để cho “những người đã chết chôn cất những người chết của mình” vì họ không thể “làm sáng tỏ cho mình cái nội dung của chính mình”, họ không thể “tìm được thi hứng của mình ở tương lai chứ không phải ở quá khứ” nên phải “buộc cái bóng ma của nó phải lang thang một lần nữa”. Đúng là những người cứ phải tụng niệm những giáo điều mà có khi thật lòng họ cũng không tin, nhưng vì để “trốn tránh việc giải quyết những nhiệm vụ” mà nếu họ thực thi nhiệm vụ đó thì họ buộc phải từ bỏ cái ghế quyền lực của mình. Chính vì thế, họ không thể “làm sáng tỏ cho mình cái nội dung của chính mình”, họ phải tự lừa dối mình và lừa dối người khác, lừa dối cả xã hội.
Phải như vậy, vì thật xót xa và đau đớn như Nguyễn Khải viết:“Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm người lại không nói. Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ, còn mình là dân chả nên hỏi lại nói thế là thật hay không thật…”.
Chẳng thế mà K. Marx đã phê phán một cách mỉa mai các sự biến lớn trong lịch sử đều xuất hiện có thể nói là hai lần, “lần đầu như một bi kịch và lần thứ hai như một trò hề”! Liệu có cần nói thêm rằng cái “trò hề” hiện đại mà người ta đang công diễn, cho dù có mượn y phục của người xưa để hiện lên trên sân khấu mới của lịch sử, cũng đã quá dai dẳng và lố bịch khi chính họ đã mất phương hướng, mất niềm tin về chính cái tín điều mà họ đang áp đặt cho toàn xã hội! Mất như thế nào thì chính người đang ngồi trên cái ghế cao nhất kia đã buột miệng nói ra như vậy, bàn dân thiên hạ đều biết cả, chắc chẳng cần nhắc lại ở đây.
Mất phương hướng về định hướng mục tiêu. Thế nhưng những tín điều được học thuộc lòng thì lại đã ăn sâu vào não trạng của người nắm quyền lực quyết duy trì quyền lực tuyệt đối đó khó mà rũ bỏ. Ấy vậy mà quyền lực lại có xu hướng tha hoá, quyền lực tuyệt đối thì sự tha hoá cũng tuyệt đối. Chế độ toàn trị phản dân chủ là nguyên nhân sâu xa cho cái chuyện “quyền lực tuyệt đối thì tha hóa cũng tuyệt đối” ấy. Tuy nhân danh Đảng, nhưng trên thực tế là nhân danh cho một nhóm người đang thao túng một Đảng đã biến dạng. Họ đang phản bội lại Đảng mà họ nhân danh, đúng hơn, đang phản bội lại Đảng của Hồ Chí Minh do sự tha hoá tuyệt đối đó của những người nắm quyền lực. Những người ấy đang cố kết lại thành một giai cấp mới như tên gọi của một cuốn sách do Milovan Dijlas một nhà lý luận cộng sản viết ra. Xin nói vài dòng về khái niệm này.
Vào cuối những năm 50 của thế kỷ trước, tác giả của Giai cấp mới, một tác phẩm viết trong tù bí mật gửi ra nước ngoài và được in ở New York năm 1957 từng phân tích rất rành mạch về “giai cấp mới” đó: “Đảng sinh ra giai cấp. Sau đó giai cấp tự phát triển bằng chính nguồn lực của mình và sử dụng đảng như là cơ sởỞ đây, muốn trở thành chủ sở hữu hay đồng sở hữu thì cần phải len được vào hàng ngũ của bộ máy quan liêu chính trị”.
Milovan Dijlas chỉ ra rằng: “Giai cấp mới giống như một hình kim tự tháp: đáy to, càng lên trên càng hẹp dần. Để đi lên, chỉ ý chí không chưa đủ, còn cần phải hiểu và vận dụng lý luận nữa, cần phải quyết liệt trong cuộc đấu tranh với kẻ thù, phải cực kỳ khôn khéo khi xảy ra các cuộc tranh chấp trong nội bộ đảng, phải nắm được nghệ thuật, thậm chí tài năng trong việc củng cố vị trí cho giai cấp nữa.”
Vì thế, “cùng với việc củng cố giai cấp mới, khi bộ mặt của nó càng thể hiện rõ, thì vai trò của đảng cũng ngày càng giảm đi. Hạt nhân và cơ sở của giai cấp mới đã hình thành ở bên trong cũng như trên đỉnh quyền lực của đảng và của bộ máy nhà nước. Cái đảng từng có lúc là một tổ chức sinh động đầy sáng kiến, thì nay, đối với những người cầm đầu của giai cấp mới, đảng đã biến thành một vật trang trí, càng ngày chỉ càng kéo vào hàng ngũ của mình những kẻ hãnh tiến, những kẻ muốn nhập vào hàng ngũ của giai cấp mới, và đẩy những người vẫn còn tin vào lý tưởng ra”.
Gần gũi hơn và cũng dễ chứng minh hơn là những phát biểu của Trần Độ năm 1974 về “một thế lực xã hội” “bao vây và xua đuổi những tâm hồn trung thực”khi từ chiến trường ra lại Miền Bắc cũng có nội dung na ná như thế.
Ông viết: “Nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội và trong tất cả các tổ chức Đảng, trong bộ máy chính quyền… Điều đó ai cũng thấy. Thế nhưng vấn đề là tại sao nó lại chuyển biến chậm chạp. Sự biến chuyển chậm chạp này đã tạo ra một tình trạng giảm sút lòng tin trong cán bộ, đảng viên, trong nhân dân và đáng ngại nhất là trong thanh niên… Những hiện tượng tiêu cực của xã hội (và trong Đảng, trong chính quyên) làm vẩn đục sự trong sáng và đẹp đẽ của những lý tưởng, đầu độc những lòng say mê hăng hái có tính chất lãng mạn cách mạng, sống tiêu cực, tạo nên một thế lực xã hội bao vây và xua đuổi những tâm hồn trung thực … mọi người trung thực đều nóng lòng mong đó một cái gì đổi mới, chuyển biến gì mạnh mẽ…”.
Trung thực với chính mình, trung thực với cuộc sống, trung thực với lịch sử, chính cái đó tạo ra “hiện tượng Trần Độ”, ở đây “sức hấp dẫn vĩnh hằng đối với những chiến sĩ tranh đấu cho tự do và tiến bộ. Sức hấp dẫn mang tính nhân bản của những lý tưởng đó” bị chính sự dối trá lọc lừa của “quyền lực bị tha hóa” làm cho băng hoại. Bằng sự trải nghiệm của cả cuộc đời dấn thân trọn vẹn cho lý‎ tưởng nhân văn cao đẹp, Trần Độ tỉnh táo nhận ra sự băng hoại khủng khiếp đó.
Xin nhắc lại rằng Milovan Dijlas, vốn là Phó Tổng thống Liên bang Nam Tư dưới thời Joseph Tito, được giao trọng trách công tác tư tưởng với nhiệm vụ chứng minh cách hiểu chủ nghĩa cộng sản của Tito là đúng đã viết: “Tôi, một trí thức đã đi trọn con đường mà một đảng viên cộng sản có thể đi. Từ những chức vụ thấp nhất, từ các tổ chức cơ sở cho đến quốc gia và quốc tế, từ việc thành lập một đảng cộng sản chân chính, chuẩn bị cách mạng, đến việc tham gia xây dựng cái gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa. Không ai buộc tôi phải tham gia hay từ bỏ chủ nghĩa cộng sản cả. Tôi đã tự quyết, theo niềm tin của mình, một cách tự do… Càng rời xa chủ nghĩa cộng sản, tôi càng tiến gần đến lý tưởng của chủ nghĩa xã hội dân chủ…
Tư tưởng bình đẳng và bác ái tồn tại cũng lâu như chính loài người, được chủ nghĩa cộng sản ủng hộ trên lời nói, vốn mang trong mình nó sức hấp dẫn vĩnh hằng đối với những chiến sĩ tranh đấu cho tự do và tiến bộ. Sức hấp dẫn mang tính nhân bản của những lý tưởng đó đã làm cho việc phê phán chúng trở thành không chỉ phản động mà còn trống rỗng và vô nghĩa nữa”. Chính vì thế mà người trí thức “đã đi trọn con đường mà một đảng viên cộng sản có thể đi” ấy đã “tập trung mô tả đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản hiện đại… Tất cả chỉ là sản phẩm của thế giới mà tôi đang sống và đang phê phán. Tôi đã thấy và đã trình bày tất cả mà không ngượng ngùng khi thú nhận rằng mình đã là sản phẩm của nó, có lúc đã là người tham gia xây dựng nó và bây giờ là người phê phán nó”.*
Phải chăng đây là sự “phê phán nó” khi “” đã tự tha hóa, tự biến mình thành công cụ trong tay “giai cấp mới” với lợi ích của chính nó, củng cố chế độ toàn trị phản dân chủ, quay lưng lại với nhân dân?
Trong những bức thư Trần Độ gửi lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là bức thư viết vào cuối năm 1974 dưới bút danh Chín Vinh, cũng có bóng dáng của sự phê phán nói trên. Trần Độ cũng đã từng giữ trọng trách Phó Chủ tịch Quốc hội, Trưởng ban Văn hoá văn nghệ Trung ương cũng đã day dứt trong Nhật ký viết vào những năm cuối đời mà ông gọi “đây là một tấc lòngđể tặng người đời và cuộc đời. Đây là những ý nghĩ nung nấu trong những tháng cuối năm Rồng và đầu năm Rắn, và cũng là những ý nghĩ nung nấu trước đó hàng chục năm và sẽ còn nung nấu tiếp đến cả khi sang thế giới bên kia. Đây là nỗi niềm cay đắng của một cuộc cách mạng, và của một kiếp người”.
Không giống như những kẻ bị K. Marx phê phán đã dẫn ra ở trên, Trần Độ không “tự đánh lừa mình về cái nội dung của chính mình”, ông quyết liệt và thẳng thắn đòi hỏi: “Đảng Cộng sản phải tự mình từ bỏ chế độ độc đảng, toàn trị, khôi phục vai trò, vị trí vốn có của Quốc hội, Chính phủ. Phải thực hiện đúng Hiến pháp, tức là sửa chữa các đạo luật chưa đúng tinh thần Hiến pháp. Đó là phải có những đạo luật ban bố quyền tự do lập hội, lập đảng, tự do ngôn luận, luật báo chí, xuất bản. Sửa chữa các luật bầu cử ứng cử tự do, từ bỏ quyền quyết định của cơ quan tổ chức Đảng….
Chắc chắn rằng những điều nói trên không chỉ là đòi hỏi của Trần Độ, cũng như trong Đảng và trong nhân dân không chỉ có một Trần Độ. Không thiếu những bức xúc như của Trần Độ. Càng không thiếu những người âm thầm nung nấu những suy tư như Trần Độ. Một sức mạnh bung phá đang tiềm ẩn trong lòng xã hội, trong sự vận động tự thân của khối quần chúng nhẫn nại chịu đựng để tĩnh lặng nung nấu những khát vọng. Liệu có phải đó là khoảng tĩnh lặng trước cơn bão?
Chính vì vậy, phải sòng phẳng với cuộc sống, đừng “tự đánh lừa mình về cái nội dung của chính mình” nữa, không thể kiên định và “trung thành” theo kiểu “quay về những thế kỷ đã lụi tàn để ngắm một dãy dài những bóng ma” mà cần làm ngược lại: “phải đem hết sức mình tiến về phía tương lai, như dòng sông chỉ có chảy ra biển mới gọi là trung thành với ngọn nguồn của nó”. Phải đoạn tuyệt không mảy may thương tiếc cái trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá để mạnh dạn dấn bước khi mà một cơ may và vận hội mới đang đến với nhận thức sâu sắc rằng bỏ lỡ thời cơ là sự sai lầm tệ hại nhất mà rồi cái giả phải trả cho sự đánh mất thời cơ sẽ là qúa lớn. Đó chính là mệnh lệnh của cuộc sống, thể hiện ý chí của những đảng viên có lương tri, cũng là đòi hỏi bức xúc của đông đảo các tầng lớp nhân dân.
Hãy học tập thái độ dũng cảm, thực sự cầu thị, dám nhận sai lầm để kiên quyết sửa chữa sai lầm của cố Tổng Bí thư Trường Chinh, viết lại Báo cáo Chính trị để dẫn đến bước đột phá của Đại hội VI, đưa đất nước thoát khỏi sụp đổ. Quá trình tiến tới Đại hội XII phải được chuẩn bị theo tinh thần đó thì mới đáp ứng được những bức xúc và ý nguyện của đông đảo đảng viên và nhân dân. Quá trình đó đang diễn ra trong một bối cảnh mới phức tạp hơn, nhưng đồng thời cánh cửa đã mở rộng cho những ai dám dấn thân vào “cuộc chiến đấu khổng lồ” nhằm “chống lại những gì đã cũ kỹ hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi” theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3. Trung thực và nghiêm chỉnh thực hiện “Điều mong muốn cuối cùng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc
Quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội XII cũng là quá trình người ta đang ra sức hô hào việc đẩy mạnh phong trào “Học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh”. Biết bao thời gian, công sức và tiền của đã trút vào công việc mà thực chất là một liều thuốc an thần cho một cơ thể đang lâm vào trọng bệnh nhưng lại không dám dùng những liều thuốc đặc trị. Không dám dùng, vì liều thuốc đặc trị ấy lại có tính công phạt đối với cái ghế quyền lực đã rệu rã mà người ta đang cố duy trì, kể cả việc vời đến các thầy Tàu sang chữa trị. Bởi vậy, thay vì nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh, người ta chỉ nói đến “đạo đức” và hô hào “làm theo”! Có lẽ vì người ta muốn chữa căn bệnh tham nhũng đã ăn vào tận “cao hoang” trong cơ thể chế độ xã hội chủ nghĩa đã được xây dựng gần một ba phần tư thế kỷ nay. Nhưng chỉ dùng thuốc an thần thì chỉ có thể đánh lừa được người nhẹ dạ cả tin, có khi lại làm bệnh càng thêm nặng. Thì chẳng thế sao khi càng chống thì tham nhũng lại càng phát triển, đâu phải chỉ tham vặt để được ví một cách ngô nghê là “khó chịu như ngứa ghẻ”! Chẳng cần thầy lang cao tay bắt mạch bốc thuốc. Bằng mắt thường cũng thấy chính cái cơ chế độc tài toàn trị phản dân chủ là nguồn gốc của tham nhũng. Không xoá bỏ cái cơ chế đó thì chẳng bao giờ trị được tham nhũng, trừ phi cố tình “mượn màu son phấn đánh lừa con đen”, lấy cớ chống tham nhũng để loại bỏ đối thủ chính trị.
Đây là ngón “võ Tàu” quen thuộc mà Tập Cận Bình, hậu duệ xuất sắc của Mao Đặng, đang truyền nghề cho những “đồng chí cùng chung ý thức hệ”. Mà thật ra, hành vi tham nhũng lớn nhất là tham nhũng quyền lực. Chuyện này thì vốn đã “xưa như trái đất”! Quyền gắn với lợi, ghế đi đôi với tiền, quyền lực đẻ ra sở hữu, nguyên lý đó được đúc kết từ lâu. Max Weber, nhà xã hội học bậc thầy sống cùng thời với K. Marx, đã từng phân tích sâu sắc quy luật này trong những luận đề phê phán K. Marx.
Cho nên, chỉ riêng việc đưa ra một khẩu hiệu có ý nghĩa định hướng cho một phong trào được thực hiện rầm rộ trong suốt nhiều năm trời khi mà đất nước đang đối diện với biết bao những thách thức và vận hội đủ nói lên được cái tầm trí tuệ của một định hướng. Chưa nói đến chuyện K. Marx đã từng nói đến lúc nào thì người ta phải cầu viện đến đạo đức khi phê phán sự cổ vũ cho một quan điểm đạo đức đậm mùi tôn giáo của Feuerbach, một nhà triết học Đức thế kỷ XIX. Đó là một thứ đạo đức “được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả, cả đối với thế giới hiện thực” và thẳng thắn chỉ ra rằng ”đạo đức là sự bất lực đưa ra hành động”!
Dài dòng một chút về điều này vì hình như trong kiểu hô hào đạo đức của khẩu hiệu trên cũng có hơi hướng và bóng dáng của sự “bất lực” vừa nói. Và tiếp đó là sự hô hào làm theo. Trong giáo dục hiện đại người ta đã phê phán việc rèn cho trẻ con quen nếp “làm theo” người lớn mà không biết cái quyết định của việc hình thanh nhân cách là nuôi dưỡng và cổ vũ bản lĩnh tự khẳng định, biết tưởng tượng và sáng tạo. Trẻ con đã thế, vậy mà lại đưa ra một khẩu hiệu, bắt cả dân tộc phải làm theo, chỉ biết làm theo, thì không hiểu dân tộc ấy rồi sẽ thế nào?
Cách đây cả nghìn năm mà ông cha ta đã từng khuyên dạy:“Nam nhi tự hữu xung thiên chí. Hưu hướng Như Lai hành xứ hành. Làm trai phải có chí xông trời thẳm, việc gì cứ phải lẽo đẽo lần theo vết chân của Phật tổ Như Lai. Nên nhớ đây là thơ của một nhà sư, tác giả của bài kệ “Hưu hướng Như Lai” (“Đừng đi theo vết chân Như Lai”). Xuất gia đi tu, thế mà lại bảo không cần phải dẫm theo đường mòn có sẵn, phải ngộ đạo theo cách của mình. Thật là đã chống giáo điều từ gốc!
Ấy vậy mà, chọn một liều thuốc an thần, do cái tầm hạn hẹp của tư duy và sự bất cập của trí tuệ, người ta cổ vũ cho một tính cách làm theo, không chỉ của một nhóm người, một cộng đồng người, mà là của cả một dân tộc ! Rõ ràng đây là một minh chứng tiêu biểu cho cái logic thông thường trong tư duy của người nắm quyền lực. Họ muốn phát huy tối đa quyền lực đó, muốn tất cả mọi người phải tuân theo cái gậy chỉ huy của mình. Đôi lúc cần thiết, họ chọn cách chìa ra củ cà rốt, cách mị dân khá quen thuộc. Nhưng dù cây gậy hay củ cà rốt, thì trong não trạng của kẻ nắm quyền lực là muốn biến tất cả những người họ đang cai trị thành đàn cừu! Họ không biết rằng, đã từng có một cảnh báo được đưa ra: “Một xã hội của loài cừu cuối cùng sẽ phải sinh ra một nhà nước của loài sói” (Bertrand de Jouvenel). Phải chăng là cái nhà nước toàn trị phản dân chủ này đang muốn biến cả dân tộc vốn có truyền thống bất khuất quật cường thành đàn cừu?
Nếu không phải thế thì tại sao cái đáng học tập và thực hiện nghiêm chỉnh và trung thực nhất, có ý nghĩa lớn lao nhất đối với sự tồn vong của cả dân tộc, thì người ta lại lờ đi? Đã thế lại sẵn sàng dùng giải pháp cả vú lấp miệng em nhằm bịt miệng những ý kiến phản biện về những sai lầm về lý luận và thực tiễn bằng luận điệu con đường Bác đã lựa chọn! Đã đến lúc phải nói rõ về điều này với Điều mong muốn cuối cùng trong Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn cái gì.
Theo Hồi ký của Vũ Kỳ “đó là buổi sáng thứ hai, mồng 10 tháng 5 năm 1965… đúng 9 giờ, Bác Hồ đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu Tuyệt đối bí mật để dặn lại mãi mãi mai sau. Chọn đúng vào một ngày tháng Năm, nhân dịp ngày sinh của mình; chọn đúng vào lúc 9 giờ, giờ đẹp nhất của một ngày; chọn đúng vào lúc sức khoẻ tốt nhất trong những năm gần đây để viết về ngày ra đi của mình, sao mà thanh thản, ung dung đến thế…. Ngày 19/05/1969 “đúng 9 giờ, Bác ngồi vào bàn làm việc với bản di chúc trước mặt… tựa lưng vào thành ghế, thoải mái, ung dung, nét suy tư hiện lên vầng trán rộng. Hôm nay, Bác xem kỹ lại toàn bộ bản viết của mình trong bốn năm qua, cả phần chính và phần phụ lục, nhưng chỉ chữa thêm ba chữ ở phần mở đầu”. Bốn năm để viết có một nghìn chữ. Sau bốn năm xem lại lần cuối cũng chỉ sửa có ba từ.
Một sự dồn nén, chưng cất của ý tưởng và tình cảm đạt tới độ minh triết của một tầm vóc tư duy không còn bị ràng buộc và câu nệ bởi bất cứ cái gì: thời gian thúc bách hay không gian hạn hẹp. Vì thế, chúng ta có quyền tin chắc vào độ “chín”, đạt đến sự tường minh của tư tưởng trình bàytrong Di chúc. Bốn mươi năm đã trôi qua kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt bút viết Di chúc, 10/05/1965, thời gian đã tạo ra một độ lùi cần thiết để cho sự kiện đủ sức trở thành ấn tượng lịch sử. Mà lịch sử là cái đã xảy ra, không ai có quyền thêm bớt lịch sử, song ai cũng có quyền cảm nhận về lịch sử tuỳ theo trình độ nhận thức và chỗ đứng của mỗi người.
Hồ Chí Minh có sự nhạy cảm đặc biệt đối với lịch sử, thấu hiểu cuộc sống của con người, có nhận thức sâu về vận mệnh dân tộc, về hướng đi của thời đại” (Phạm Văn Đồng). Sự “nhạy cảm đặc biệt”, sự “thấu hiểu”, sự “nhận thức” đó đã tạo nên tầm nhìn lãnh tụ, tạo nên bản lĩnh và cốt cách Hồ Chí Minh, hình thành nên Tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi biết rằng, cuối cùng rồi mình cũng phải thực hiện cái quy luật khắc nghiệt của cuộc sống, Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng là căn dặn Đảng phải làm gì cho nhân dân mình, đất nước mình, dân tộc mình, đó cũng là “muôn vàn tình thân yêu” để lại cuộc đời này. Lời căn dặn ấy, rốt cuộc được dồn nén lại trong “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Trong “điều mong muốn cuối cùng”, Hồ Chí Minh không hề nói đến Chủ nghĩa xã hội!
Nhìn trở lại hành trình lịch sử của Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước, cho đến khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho đến Di chúc của Người sẽ hiểu ra điều đó. Độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân là mục tiêu trước sau như một của Hồ Chí Minh. “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Cho đến “lúc cuối”, trong toàn bộ Di chúc của Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán “chủ nghĩa yêu nước” đó, tập trung trong “điều mong muốn cuối cùng” và cũng là câu cuối cùng, câu quan trọng nhất trong Di chúc.
Nên lưu ý rằng, từ sau ngày 10/05/1995 bắt đầu viết Di chúc, “mỗi năm lại dành thời gian xem lại, sửa chữa và bổ sung, tất cả chỉ trên 1000 từ với biết bao tình cảm, hoài bão và khí phách” (Phạm Văn Đồng). Như vậy rõ ràng là Hồ Chí Minh viết “Di chúc” trong một tâm thế bình tĩnh, ung dung để có thể đắn đo cân nhắc từng chữ từng câu, từng ý. Hoàn toàn không thể có chuyện vội vã nên quên ý này, ý khác, nhầm lẫn hoặc bỏ sót từ này, chữ kia. Mà ngược lại, mỗi ý, mỗi câu, mỗi chữ, mỗi dấu phẩy, dấu chấm đều được cân nhắc rất kỹ, sửa đi, sửa lại nhiều lần. Vậy tại sao Hồ Chí Minh không nhắc đến mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa Xã hội trong “tài liệu tuyệt mật” và hết sức quan trọng này?
Phải chăng, với Hồ Chí Minh, mục tiêu dễ hiểu nhất, cụ thể nhất là “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” được đọng lại trong câu kết của bản Di chúc!
Bằng sự từng trải và chiêm nghiệm của một người mà trọn cuộc đời dành hết cho việc tìm đường cứu nước, toàn bộ trí tuệ và tâm huyết cũng như bản lĩnh và kinh nghiệm của một nhà cách mạng chuyên nghiệp, một nhà văn hoá uyên bác đã từng dồn hết cho công cuộc chèo lái con thuyền cách mạng qua biết bao phong ba, bão táp, thác ghềnh đến được cận kề với mục tiêu, vào lúc tĩnh tâm nhất để có thể đạt tới sự minh triết, Hồ Chí Minh đã hiểu rõ dân tộc mình, nhân dân mình cần cái gì.
Nói lên điều này thì tất cả mọi người Việt Nam vốn nặng lòng vì đất nước, quê hương cùng có chung nguồn cội, cho dù đang ở đâu, làm gì cũng đều hiểu, đều tán thành. Đây là sức hút quy tụ mọi tấm lòng Việt Nam yêu nước mà Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở. Đây cũng là động lực mạnh mẽ thúc đẩy và phát huy tính đồng thuận xã hội, nền tảng của đại đoàn kết dân tộc. Phải bằng cách hiểu đó, chúng ta mới tiếp cận được với điều mà Hồ Chí Minh muốn gửi gắm lúc sắp ra đi.
Đây không thể là một suy đoán cảm tính chủ quan, mà thật sự là một câu hỏi rất nghiêm túc cần đặt ra để suy nghĩ và tìm lời giải đáp. Một cán bộ lão thành có cho biết là trong một hội nghị những người cao tuổi nhắc lại những hồi ức về Bác Hồ, có cả ông Hoàng Tùng dự, một người kể lại: khi Bác đã rất mệt, có một cán bộ lãnh đạo cao cấp đã được biết về Di chúc đã hỏi Bác: “Khi viết di chúc, Bác đã quên không viết về xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Bác có trả lời: “Chú nhầm, Bác không quên, chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và Trung Quốc nhiều vấn đề lắm. Bác không quên, không nhầm, các chú nhầm” (theo Đào Xuân Sâm). Đừng quên là Hồ Chí Minh đã từng nói rõ: “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc”. *
Cần phải thấy rằng, sự gặp gỡ giữa lý tưởng “ái quốc” và lý tưởng “cộng sản” trong tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ của lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hộigiải phóng con người. Hơn nữa, lại càng phải chú ý, trong tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh, giải phóng con người là trung tâm. Nhìn lại nhân cách, tư tưởng, tình cảm và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rất rõ một luận đề: mục tiêu, cứu cánh, phương tiệnđộng lực cách mạng đều ở trong con người. Chính ở đây, chủ nghĩa yêu nước trong Hồ Chí Minh bắt gặp lý tưởng cộng sản, nội dung của lý tưởng đó thể hiện tập trung ở tư tưởng “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”, đó là tư tưởng của K. Marx trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.
Có thể nói, tư tưởng này là sự hội tụ của những khát vọng của con người, của loài người trong suốt chiều dài của lịch sử, từ khi con người có tư tưởng, biết tư duy, biết đau khổ và hy vọng. Vì thế, “Người Yêu Nước” ấy biết phải làm gì trên từng chặng của con đường vạn dặm nhằm thực hiện khát vọng của loài người mà trước K. Marx, rồi cả sau K. Marx, đã từng có bao nhiêu trái tim lớn, khối óc lớn mơ ước và đều đang mày mò tìm con đường thực hiện. Cái đích còn ở chân trời phía trước.
Trong sự bay bổng của lý tưởng và khát vọng, không sao tránh khỏi những không tưởng. Biết như vậy để phải bám chắc vào thực tiễn của đất nước mình, nhân dân mình mà dấn bước trên con đường chưa hề có bản đồ, trong một thế giới đầy biến động không sao dự đoán hết được. Bằng chính cuộc đời của mình, Hồ Chí Minh hiểu rõ điều đó, và rồi chúng ta nhận ra tư tưởng, tình cảm của Hồ Chí Minh, nhận ra “điều mong muốn cuối cùng” của “Người Yêu Nước” ấy.
Hồ Chí Minh đứng vượt hẳn lên những người đương thời ở tầm tư duy và cái nhìn biện chứng nhờ vào sự uyên bác của một nhà văn hoá và sự từng trải của một nhà cách mạng chuyên nghiệp đã bôn ba khắp năm châu bốn biển, hiểu rõ ngọn ngành những tinh hoa cũng như những khuyết tật mà phong trào cách mạng đã trải qua, để khi về đến Tổ quốc, nắm trong tay mảnh đất quê hương đang đói nghèo, đau khổ, nước mất, nhà tan, Hồ Chí Minh hiểu rõ cần phải làm gì.
Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà mở đầu cho Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh đã dẫn ra những câu bất hủ của Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước MỹTuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1971. Nên nhớ rằng, Hồ Chí Minh đã yêu cầu các phi công Mỹ thả dù xuống chiến khu Việt Bắc một nguyên bản của văn kiện lịch sử này vào thời điểm cận kề khởi nghĩa Tháng 8/1945. Đơn vị “Con Nai” của OSS đã thực thi sứ mệnh độc đáo đó! Và có lẽ cũng nên nói thêm rằng, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh còn lưu giữ hai bức thư Hồ Chí Minh viết bằng tiếng Anh ngày 18.8.1945 gửi cho hai người bạn Mỹ trong cơ quan tình báo O.S.S để cảm ơn sự giúp đỡ của Đồng Minh và ngỏ ý tiếc họ đã rời Việt Nam quá nhanh.
Bằng những trải nghiệm của một người đi tìm đường cứu nước, từng bôn ba khắp năm châu bốn biển, trước khi hôn lên nắm đất quê hương ngày trở về Hồ Chí Minh đã từng nhiều năm sống trên đất Liên Xô, Trung Quốc, vì sao lại mở đầu tác phẩm mà Võ Nguyên Giáp viết “như lời Bác nói lại sau này, đó là những giờ phút sảng khoái nhất của Người” ?
Chỉ có thể giải thích rằng, với tác giả của Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945, những lời trích dẫn ấy chính là những dòng ánh sáng kết tinh trí tuệ của cả loài người chứ không chỉ của riêng một quốc gia, dân tộc nào. Phải chăng đó chính là ánh sáng tỉnh thức?Chính “ánh sáng tỉnh thức” ấy đã soi rọi con đường dẫn đến Cách mạng Tháng Tám 1945, cũng là định hướng cho mục tiêu phấn đấu của dân tộc ta ngay từ buổi khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và ngay từ buổi ấy, Hồ Chí Minh đã hiểu rõ muốn trường tồn và phát triển, đất nước này, dân tộc này phải đứng vào trong quỹ đạo phát triển của thời đại, phải biết tiếp nhận nguồn sức mạnh của thời đại đến từ đâu.Những bước đi oái oăm của lịch sử đã khiến cho trong những bước gập ghềnh của sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong nửa sau của thế kỷ XX, có lúc ánh sáng tỉnh thức đó bị lu mờ đi, nhưng trong sâu thẳm tâm thức của Hồ Chí Minh, ánh sáng đó vẫn chiếu rọi để rồi được biểu hiện ra trong câu cuối cùng của Di chúc về điều mong muốn cuối cùng.
Giải đáp một cách đầy đủ và trung thực điều này sẽ có ý nghĩa rất lớn, tạo ra một bước phát triển mới của sự đồng thuận xã hội trong giai đoạn cách mạng hiện nay của nhân dân ta. Chẳng phải chỉ chúng ta hiểu điều đó, thế giới cũng quan tâm làm sáng tỏ vấn đề mang tầm vóc của một nhân vật đã đi vào lịch sử. Gần đây, một cuốn sách đã được giới thiệu tại Paris với nhan đề “Le Monde/Histoire – Hồ Chí Minh La Figure de l’Indépendance retrouvée du Vietnam” (Hồ Chí Minh – Gương mặt của nền Độc lập được xác lập ở Việt Nam). Đây là tập sách nằm trong hệ ấn phẩm có nhan đề “Ils sont change le monde (Họ làm thay đổi thế giới) bao gồm các nhà hoạt động chính trị nổi tiếng trên thế giới. Sách tập hợp những bài viết có liên quan đến Hồ Chí Minh từng được đăng trên báo Le Monde xuất bản ở Paris từ 1946 đến 2005.
Phải chăng nhan đề của cuốn sách cũng đã gợi đến điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chí Minh mà chúng ta đang suy ngẫm? Xin được dẫn ra câu Hồ Chí Minh trả lời nhà báo André Blanchet, đặc phái viên của báo Le Monde tại Hà Nội vào tháng 2.1946 được giới thiệu trong cuốn sách đó: “Chúng tôi muốn gì ư? Cũng một điều như ông: điều mà ông mong muốn cho đất nước ông, đó là độc lập…”. Và André Blanchet kết thúc bài báo của mình: “Bóng tối gần như phủ kín căn phòng rộng, tôi chỉ còn nhìn thấy chòm râu thưa và đôi mắt sáng ngời của người đối thoại… Nếu như có chiến tranh, hãy quay trở lại gặp tôi. Chúng ta vẫn sẽ là những người bạn. Ông chia tay tôi như vậy .
Bỗng nhớ lại lời của Hồ Chí Minh căn dặn Võ Nguyên Giáp giữa rừng Việt Bắc ở vào thời khắc quyết định vận mệnh của cả dân tộc. Đại tướng viết trong Hồi ký: “Bác lúc ấy chắc cũng thấy mình yếu quá, có ý dặn lại công việc”. Bác dặn gì? “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Ý chí ấy, tầm nhìn ấy trước sau như một chiếm lĩnh trái tim, khối óc của “Người Yêu Nước – Hồ Chí Minh” để rồi đọng lại trong “điều mong muốn cuối cùng” di chúc lại cho nhân dân mình. Ở đấy thể hiện tập trung nhất mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp Hồ Chí Minh, con người Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh và đấy mới chính là điều Hồ Chí Minh đã chọn.
Chính vì thế, quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội XII phải là quá trình quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong tư tưởng lý luận cũng như trong hành động thực tế quyết tâm thực hiện “điều mong muốn cuối cùng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc. Đương nhiên, trong diễn biến của tình hình hiện nay, thực hiện điều đó không dễ.
Đây sẽ là một “cuộc chiến đấu khổng lồ” nhằm “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi”. Dự liệu được khó khăn của cuộc chiến đấu đó, Hồ Chí Minh đã căn dặn phải “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.
Từ những vấn đề cơ bản đã trình bày, tôi kiến nghị với Đảng: quá trình tiến tới Đại hội lần thứ XII phải là quá trình chuẩn bị một cách quyết liệt để Đại hội ra Nghị quyết về ba vấn đề sau đây:

  1. Từng bước từ bỏ mô hình Xã hội Chủ nghĩa, nghiêm túc và mạnh dạn tiếp thu những thành công của mô hình xã hội dân chủ ở các nước Bắc Âu để vận dụng vào việc định hình một thể chế dân chủ phù hợp với đặc điểm của Việt Nam.
  2. Dứt khoát loại bỏ cái gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng lý luận để định hướng mục tiêu, đề ra chủ trương đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước.
  3. Quyết tâm thực hiện bằng được điều mong muốn cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Muốn thế, cần trở lại với tên nước là Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trở lại với tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam, trở lại với những nội dung cơ bản của Hiến pháp 1946 để xây dựng Hiến pháp mới thể hiện được khát vọng và ý chí của cả dân tộc, đẩy tới tiến trình dân chủ hoá nhằm thực hiện quyền làm chủ đích thực của nhân dân, dựa vào dân để đổi mới Đảng phù hợp với quy luật phát triển trong thời đại của nền văn minh trí tuệ và kinh tế tri thức thế kỷ XXI.

TP Hồ Chí Minh ngày 11.6.2015
Viết để tưởng nhớ đến Võ Văn Kiệt nhân 7 năm ngày mất của ông, người cộng sản chân chính, noi gương khí phách của ông, sự trung thực và quyết liệt của ông trong cuộc đấu tranh nhằm đẩy tới quá trình dân chủ hoá trong việc chuẩn bị tiến tới Đại hội Đảng.
T. L.
_______________
Chú thích:
* Đây là bản tham luận không được trình bày. Mặc dầu khi nhận được thư mời của ông Tô Huy Rứa, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, tôi đã từ chối vì biết rằng khó có thể trình bày thẳng thắn ý kiến của mình, cho dù đây là “một hội thảo khoa học”! Tuy nhiên, nhiều tháng sau, năm ngày trước khi khai mạc Hội thảo “khoa học” đó, tôi lại nhận được thư mời của ông Hoàng Chí Bảo, hình như là người chịu trách nhiệm trong Ban Tổ chức Hội thảo giục gửi tham luận, từ chối nữa thì không tiện, tôi đã tạm gạt bỏ những công việc đang làm để kịp viết gửi đến Hội thảo ngày 6.4.2009. Và rồi chiều ngày 8.4.2009 tôi nhận được điện thoại của Ban Tổ chức Hội thảo khuyên là tôi “không nên đến vì không tiện” cho tôi. Tôi có gửi mấy câu chất vấn nhưng không hề nhận được trả lời.
Nay tôi in tham luận đó trong cuốn sách Cảm nhận và suy tư vừa ra mắt bạn đọc đầu tháng 6 này. Những đoạn có dấu * là trích từ cuốn sách này, lần lượt tại các trang 23, 31, 30, 323, 350, 148, 232. Tại các trang ấy đã có xuất xứ của những ý, những đoạn trích buộc phải dẫn ra trong bản “Góp ý” này để tiện cho những người làm công tác lý luận tiện xem xét, thẩm định. Vì vậy bài viết hơi nặng nề, mong được thông cảm. TL
1 Mời xem lại Thư ngỏ gửi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 28.2.2013 của Tương Lai.

T.L
Tác giả gửi BVN.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , | Leave a comment

André Menras : CHIẾU PHIM TÀI LIỆU “HOÀNG SA – VIỆT NAM NỖI ĐAU MẤT MÁT” Ở CỘNG HOÀ S ÉC, SỨ QUÁN VIỆT NAM “KHÔNG CÓ AI Ở NHÀ”

Post lại từ boxitvn

André Menras thuật

7/6/2015: Vài thông tin về chuyến đi CH Séc nhân dịp Phim tài liệu “Hoàng Sa VN nỗi đau mất mát” được phiên tiếng Séc nhờ một nhóm bạn bè ở đó.

Tôi tới Praha vào chiều 05, nhóm Văn Lang và bạn bè đã có buổi gặp nhỏ tại Remember Restaurant (một nhà hàng VN ở trung tâm Praha). Có khoảng 20 người tham dự, có 2 bạn sinh viên hiện đang học ngành VN học, có 2 người bạn Séc làm truyền thông, gần gũi với VL và quan tâm nhiều tới tình hình nhân quyền, xung đột ở biển Đông Nam Á giữa VN – Phi – TQ…
Đặc biệt có chị Ng. từ Cheb, khi nghe tin anh A.M qua CZ đã chạy xe cả đi về là gần 400 km, chị đến chỉ để trao số tiền 400 Eur mà chị và các bạn của chị bán nem tự làm để quyên góp giúp ngư dân VN. Còn lại, là những người từng ở CZ trên dưới 20 năm. Tất cả đã đều có cuộc sống khá ổn định nhưng luôn quan tâm tới tình hình VN. Không chỉ quan tâm tới tình hình Biển Đông, mọi người còn trao đổi cả về những thay đổi đang diễn ra ở VN, về những đàn áp, hành hung của công an VN với các nhà hoạt động xã hội gần đây và cả chuyện ăn chặn, thu phí vượt quy định của các cơ quan ngoại giao VN ở nước ngoài. Sau buổi gặp ở Remember rest. Cả nhóm còn tới thưởng thức cocktail tại De Javu Bar, một cơ sở kinh doanh (có lẽ duy nhất) rất có tiếng và cũng của một doanh nghiệp VN tại Praha.
Hôm nay đi chiếu phim tại TP JIHLAVA, cách Praha 130 km, khán giả chủ yếu là người VN…
8/6/2015: Về mặt lịch sự cơ bản của một công dân Việt nam đi tham quan nước ngoài và vì tôi không hiểu tại sao hai thư mời dưới đây chưa có hồi âm, lát nữa, tôi đích thân sẽ tới cơ quan đại sứ quán VN tại Praha thăm các bạn ở đó và kính mời Ông Đại sứ hay người đại diện của đại sứ quán đến xem phim tài liệu về các ngư dân Việt Nam Miền Trung đã và đang chịu khổ tại vùng biển đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.


Nói xấu về nhà nước tức là đại diện nhà nước hay NÓI THẬT ? Một chuyện bi hài.
Sáng nay 11 giờ tôi đi buýt từ khách sạn đến Đại sứ quán VN tại Praha. Vì đã báo từ ngày thứ Sáu và báo lại hôm qua khi chiếu phim tại TP Jilhava, tôi sẽ đi đích thân mời ngài ĐS hay đại diện cho ĐS đến xem phim “Hoàng Sa Việt Nam nỗi đau mất mát” vì họ không hồi âm cho thư mời của ban tổ chức chiếu phim tại Praha.
Khi tới cơ quan, tôi bấm chuông trước cái cửa nhỏ, sẵn sàng tự giới thiệu. Chưa kịp nói, cửa được mở. Đi vào sân, lên vài bậc thang và đi vào phòng tiếp khách. Ở đây không có người Việt. Chỉ một cô người Tiệp có vẻ hơi bối rối. Tôi tự giới thiệu bằng tiếng Anh:
– Tôi là một công dân VN tại Praha xin gặp một quan chức của ĐS quán để bàn về một việc quan trọng.
– Rất tiếc nhưng kg có ai tại ĐSQ. Tất cả đều đi vắng vì có bận việc tại địa phương.
– Vậy thì tại ĐSQ VN không có người Việt hà?
– (nụ cười)
– Tôi đã mang theo một bức thư mà một nhóm người Việt tại Praha đã gửi đến ngài ĐS, mời ngài đến xem một bộ phim có ý nghĩa về ngư dân VN. Nhưng họ không thấy hồi âm. Cho nên tôi đến đây, đích thân, với tư cách công dân Việt, tác giả và đạo diễn phim để kính mời ngài.
– Sorry nhưng không có ai. (cười nhẹ)
– Vậy xin cô vui lòng trao bức thư ấy cho một quan chức nào và chuyển đến ông ĐS những lời tiếc nhưng không ngạc nhiên của tôi trước thái độ vô trách nhiệm của cơ quan đại diện cho VN tại Séc và thái độ vô cảm của Ông đối với số phận bi kịch của các đồng bào ngư dân của ông đối diện hàng ngày với các tội ác của TQ. Xin chào cô và xin lỗi đã làm phiền.
– (cười tử tế ) Mời ông ra qua cửa lớn nhé…
– Tất nhiên: vào qua cửa nhỏ và ra qua cửa lớn. Cả một biểu tượng.
– “(cười thực thà) ”
Tôi đã biết từ lâu rồi qua kinh nghiệm cay đắng của tôi tại VN và ở nước ngoài: đó là cách rất hiệu quả của nhà cầm quyền VN hy sinh hết mình để “quốc tế hóa” vấn đề ngư dân và vấn đề chủ quyền. Dưới đây vài ảnh tôi đã chụp trước ĐSQ VN tại Praha với chủ đề:
VIỆT NAM: KHÔNG CÓ AI Ở NHÀ !


Tối 8/6: chiếu phim và giao lưu tại đại học Karlova, Praha, tại phòng dành cho khoa Hán học quốc tế. Tiếc kg có sinh viên người Hoa. Chắc họ bận việc khác như Ngài đại sứ VN và các quan chức sứ quán vào sáng ngày ấy… Được một số người Tiệp quan tâm đến Việt nam tham gia với những câu hỏi hợp thời và xác đáng. Lần nay tôi được nói tiếng Pháp có người phiên dịch tiếng Tiệp.
Một buổi tối thành công.

10/6/2015: Hôm qua, lúc 18 giờ (cao su) có buổi cuối chiếu phim và trao đổi tại Praha. Nó kết thúc lúc 22 giờ. Đại đa số khán giả người Việt hay Séc gốc Việt. Nhà báo người Séc đã đến xem phim và tham gia cuộc trao đổi, phỏng vấn đạo diễn.

Không hân hạnh được thấy người nào đại diện cho sứ quán hay Hội người Việt tại CH Tiệp. Họ vẫn còn nằm trong tình trạng ” Không có ai ở nhà “.
Một số câu hỏi của khán giả:
– Tại sao phim ấy bị cấm chiếu tại VN ( nó kg nói xấu về chính quyền và nó cũng giữ lịch sự và văn hóa khi tố cáo các cuộc tấn công của TQ) ?
– Tại sao sứ quán VN giả vờ kg biết phim ấy về đồng báo ngư dân đã được phiên tiếng Tiệp và vô cảm như thế?
– Từ khi phim được quay vào năm 2011, có gì thay đổi về tình trạng ngư dân kg?
– Các cơ sở lịch sử của VN để yêu sách quyền chủ quyền về quần đảo HS thế nào?
– Tại sao ngư dân kg có lên tiếng mạnh hơn và kg có tự tổ chức để kiện hải quân TQ chính thức hay giả dạng ngư dân?
– Liệu có thống kê về số ngư dân nạn nhân của các cuộc tấn công không? Tại sao Biên phòng và chính phủ giấu những con số ấy?
– Có thể nói về sự liên quan giữa lòng yêu nước và nhu cầu dân chủ không?
– Tại sao ông vẫn còn giữ cái tên Hồ của mình ?
v v …
Trước buổi ăn trong môi trường gia đình, đại diện nhóm Văn Lang thông báo kết quả của quyên góp giúp ngư dân đã đến 2000 đô Mỹ. Chúc mừng !
Vì tôi chưa có được ảnh nào chụp tại cuộc trao đổi ấy, xin minh họa với cái hình đầy ý nghĩa dưới đây. Kính tặng lại cho ông Đại sứ VN tại CH Tiệp!

13/6/2015: Nhờ có các bạn giỏi và có nhiệt tình, bộ phim Hoàng Sa Việt Nam nỗi đau mất mát vừa mới được đưa lên youtube bằng tiếng Tiệp:
Nguồn: A.M. Facebook

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , | Leave a comment

Nguyễn Quang Dy : 40 năm sau: Xem lại dân trí

Nguồn viet-studies

Người ta hay nói dân trí là yếu tố sống còn đối với vận mệnh của một quốc gia. Nhưng hiểu về dân trí như thế nào thì chắc vẫn còn tranh cãi. Có người cho rằng dân trí ở Viêt Nam cao, trong khi “quan trí” lại thấp, cần phải nâng cao. Nhưng từ xưa đến nay (từ thời cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh), tại sao người ta thường kêu gọi “nâng cao dân trí”? Có lẽ người ta muốn đề cập đến cùng một vấn đề. Hay nói cách khác, “dân nào thì quan nấy”.

Sau 40 năm, hãy điểm lại 10 hình ảnh hài hước và độc đáo “chỉ có tại Việt Nam” để xem dân trí đang ở đâu, và vì sao có thể (hay không thể) thay đổi được. (Tất nhiên các bạn có thể bổ sung thêm). Tuy hình ảnh chỉ là bề nổi của tảng băng chìm, nhưng nó là một tiêu chí quan trọng. Những người cầm quyền hay nói “lấy dân làm gốc”, vậy làm thế nào thay đổi được cái ngọn bị sâu bệnh, nếu cái gốc cũng yếu kém và khó thay đổi?

1. Cái cột điện

NQDy_1.jpg

Bill Gates hay khách quốc tế nào đến Việt Nan đều ấn tượng bởi “cái cột điện” như một hình ảnh độc đáo khó quên. Đó là một đống dây điện lằng nhằng cuộn vào nhau như cái mạng nhện khổng lồ, tạo thành một tác phẩm nghệ thuật đường phố mà không một nghệ sĩ sắp đặt nào có thể làm nổi. Tác phẩm này có mặt khắp nơi, từ các đường phố lớn sang trọng đến các ngõ hẻm tồi tàn. Không biết nó xuất hiện từ bao giờ, nhưng đã tồn tại qua thời gian như một phần của nền văn minh đô thị (theo “định hướng XHCN”). Chắc không thể cải tạo được nó, mà chỉ có thể bỏ đi và thay bằng một hệ thống khác. Có người nói đó là hình ảnh của Hà Nội, những người khác thì cho rằng đó là hình ảnh của EVN (tập đoàn điện lực VN). EVN vừa được hưởng ngân sách, vừa có quyền tăng giá điện tùy ý, mà chẳng cần phải đầu tư đổi mới hạ tầng (như một nhóm lợi ích). Vậy tiền chạy đi đâu? Dù sao, cái tác phẩm nghệ thuật này (biểu tượng cho dân trí VN) đáng được đưa vào “Guinness Book” về những kỷ lục tồi tệ nhất.

2. Cái loa phường

NQDy_2.jpg

Có lẽ Bill Gates chưa có dịp thưởng thức cái loa phường để đánh giá. Nó dễ dàng đánh bại cái cột điện để chiếm vị trí số một nếu xếp hạng. Nó cũng hiện diện khắp nơi, nhưng không câm lặng như cái cột điện. Từ sáng sớm đến tối, nó oang oang lặp đi lặp lại mấy nội dung nhàm chán. Ngay cả khi ta ngủ, hay sang tận Paris hoặc London, trong tai vẫn văng vẳng tiếng loa phường. Thật khó lòng thoát khỏi nó, ngay cả trong tâm thức. Tại sao người ta bỏ được sổ gạo và tem phiếu, mà lại không bỏ được cái loa phường điên khùng này? Có lẽ vì nó là công cụ kiểm soát văn hóa tư tưởng, nên tồn tại cùng với chế độ. Chúng ta lớn lên với nó, quen thuộc và chấp nhận nó, nên nó đã đi vào tiềm thức và dân trí, ngay cả khi ta sống cũng như chết. Có lẽ nhạc sỹ Văn Cao, dù đã ở thế giới bên kia, cũng không thể quên được cái thứ “khủng bố mềm bằng âm thanh” này (như có người đặt tên). Tác giả của bài Quốc Ca đã phải chịu đựng cái loa phường chõ vào căn phòng mình như để tra tấn trong suốt cuộc đời còn lại, cho đến khi nhắm mắt.

3. Giao thông nguy hiểm

NQDy_3.jpg

Đối với những người nước ngoài nào mới đến Việt Nam lần đầu thì có lẽ điều đáng sợ nhất trong đời là phải vượt qua đường phố, nơi xe cộ đi lại hỗn loạn, không ai tránh ai. Nó còn nguy hiểm hơn cả cái cột điện và cái loa phường. Nó giống như cảnh tượng bạo lực chỉ thấy trong phim hành động. Nó phản ánh một não trạng bất an và ám ảnh bạo lực của nhiều người Việt, như một di chứng của chiến tranh, làm cho con người dễ vô cảm. Nó lý giải tại sao Việt Nam lại được xếp thứ 13 (gồm những nước vô cảm nhất) trong 150 quốc gia được viện Gallup khảo sát năm 2012. Huffington Post coi giao thông ở Việt Nam là “nơi nguy hiểm nhất”, còn CBS News thì ví giao thông ở đây như “địa ngục”, và BBC cho rằng nó còn nguy hiểm hơn cả đại dịch AIDS. Bộ Y tế VN thông báo trong 7 ngày nghỉ Tết năm 2015 có 246 người chết do tai nạn giao thông. Còn bộ trưởng Giao thông VN gọi đó là “quốc nạn” vì mỗi năm có gần 12.000 người chết và 9.300 người bị thương, có thể so sánh với con số thương vong do thảm họa sóng thần ở Nhật Bản. Nhưng đối với những người Việt đã quen với chiến tranh và bạo lực thì giao thông hỗn loạn và tắc đường là một phần của đời thường và dân trí. Người ta hay đùa “Hà Nội không vội được đâu!” Hình như người Việt có khiếu hài hước đặc biệt, thích đùa ngay cả với tính mạng của mình. Có người còn lập luận là tại sao lại sợ chết khi hàng ngày vẫn “sống trong sợ hãi” như trong phim “thập diện mai phục”.

4. Đường phố ngập lụt

NQDy_4.jpg

Khi mùa mưa đến, những đường phố lớn ở Hà Nội có thể biến thành những dòng sông nhỏ. Bạn không cần mất công đến tận Venice để thưởng ngoạn cảnh này. Chỉ cần sắm cho mình một cái thuyền nhỏ, thay vì cái xe máy vô tích sự trong nước lụt. Năm này qua năm khác, người Hà Nội nơm nớp vừa lo “mất nước” vừa lo “ngập lụt’, mà cả hai đều cùng một nguyên nhân. Nghe nói đã có những khoản kinh phí lớn của các nhà tài trợ quốc tế và ngân sách quốc gia đầu tư để cải tạo hệ thống cấp thoát nước Hà Nội. Nhưng các khoản tiền này đã trôi theo dòng nước cống ra sông ra biển (hoặc chui vào túi ai đó). Ách tắc không phải chỉ có giao thông, cấp thoát nước, hay hệ thống hành hành chính công, mà trước hết là ý thức hệ và dân trí. Vì vậy, muốn tháo gỡ ách tắc ngoài đường, phải tháo gỡ ách tắc trong đầu con người trước.

5. Đái đường và vứt rác

NQDy_5.jpg

Tuy nhiên, chúng ta có một thói quen rất thông thoáng, đó là đái đường và vứt rác. Bạn có thể thấy cái biển “cấm đái bậy” khắp mọi nơi, nhưng nó không ngăn được người dân đái bậy. Người ta đái bậy và vứt rác khắp nơi, từ những góc phố cổ quanh Hồ Hoàn Kiếm, đến con đường đê dọc sông Hồng nơi có những bức tranh gốm hiện đại. Phải chăng dân ta uống nhiều bia hơi, nên đái nhiều hơn người khác? Phải chăng họ lâu nay “sống trong sợ hãi” nên hay vãi đái? Phải chăng đái bậy đã trở thành một phong cách sống? Hay chỉ vì họ không có đủ toilet? Dù đây có phải là một vấn đề quan trọng cần “tái cấu trúc” hay không, dù các “sở ban ngành” (như giao thông công chính hay văn hóa tư tưởng) đã làm được những gì, thì đái bậy và vứt rác vẫn đang hiện hữu như một hình ảnh “đặc thù” của văn hóa và dân trí VN.

6. Ném đá và chửi đổng

NQDy_6.jpg

Không phải chỉ có đái bậy, mà hình như người Việt còn thích văn hóa ném đá và chửi đổng, đặc biệt là gần đây trên internet và thế giới mạng. Nhiều người cũng rất mê internet và truyền thông kỹ thuật số nhưng rất ngại tham gia thế giới mạng, chỉ vì vấn đề này. Trên đó hoàn toàn tự do, kể cả ném đá vô tội vạ. Không có luật lệ nào cả, giống như vô chính phủ, chỉ có dân trí điều tiết. Đó là bản chất của thế giới mạng, nơi cả hai mặt tích cực và tiêu cực cùng tồn tại. Có lẽ vì vậy mà tốc độ phát triển internet và Facebook ở Viet Nam vào loại nhanh nhất thế giới, dù không tỉ lệ thuận với dân trí. Có mấy nguyên nhân. Người Việt vốn có truyền thống hay chửi nhau và cãi nhau (chẳng cần lý do cụ thể). Do bị kiểm duyệt quá nhiều và quá lâu nên họ không có thói quen tranh luận một cách có văn hóa. Nay internet và truyền thông kỹ thuật số đã mở ra một xa lộ thông tin mới cho tự do ngôn luận (mà không bị kiểm duyệt). Nó giống như “tháo cống” cho mọi thứ, kể cả gia bảo và rác rưởi trong nhà đều được phơi bày.

7. Học vẹt

NQDy_7.jpg

Không có vấn đề nào bị công chúng phê phán nhiều như giáo dục. Và lúc này không có vấn đề nào quan trọng hơn giáo dục, để nâng cao dân trí và chấn hưng đất nước. Nhưng tại sao càng cải cách, chất lượng giáo dục càng tụt hậu? Các chuyên gia giáo dục cho rằng học vẹt và chế độ thi cử chạy theo thành tích và bằng cấp làm triệt tiêu năng lực sáng tạo và tư duy độc lập của học sinh. Human Development Indicators xếp Việt Nam đứng thứ 121/187 (dưới trung bình). Không có một trường đại học nào của VN lọt được vào danh sách các trường đại học có danh tiếng và chất lượng (trong khu vực). International Property Rights Index xếp Việt Nam thứ 108/130 (gần đội sổ), tính theo giá trị trí tuệ. Giáo dục bị tụt hậu thê thảm như vậy mà vẫn có nhân tài xuất hiện (như Ngô Bảo Châu). Đất nước bị tàn phá kinh người như vậy, mà vẫn còn cảnh đẹp (như hang Sơn Đòng). Nhưng Ngô Bảo Châu không phải là sản phẩm của giáo dục VN, cũng như Sơn Đòng không phải là sản phẩm của du lịch VN. Nếu không thay đổi cơ bản về hệ thống giáo dục và đào tạo, Việt Nam sẽ chảy hết chất xám vì hầu hết nhân tài rời bỏ đất nước

8. Lễ hội quá nhiều

NQDy_8.jpg

Gần đây có quá nhiều lễ hội ở Việt Nam (nghe nói 9000 mỗi năm), nhưng cũng có nhiều hình ảnh phản cảm thiếu văn hóa và thậm chí đầy bạo lực trong các hoạt động này. Đây là hệ quả của căn bệnh “cờ đèn kèn trống”, phản ánh tâm thức bất an của những người bị cuồng tín và quá khích, cố giành bằng được vài biểu tượng văn hóa nào đó để trang trí, mà không hiểu đó là dân trí thấp. Điều này có thể bị những kẻ bất lương và tham nhũng trong chính quyền lợi dụng để “đục nươc béo cò”. Trong khi kinh tế đang khó khăn, thì rất nhiều kinh phí nhà nước đã được chi cho những lễ hội tốn kém như vậy. Nhiều đền chùa cổ kính vô giá đã bị phá bỏ để biến thành những “công trình văn hóa” mới toanh rất tốn kém nhưng chẳng có giá trị gì về lịch sử. Trong khi khu chùa Bái Đính hoành tráng (ở Ninh Bình) góp phần thương mại hóa Phật Giáo, thì tỉnh Vĩnh Phúc đã “mạnh dạn” đầu tư 271 tỷ VNĐ xây lại Văn Miếu của tỉnh (để thờ Khổng Tử!). Lạm phát lễ hội là một biểu hiện của tham nhũng về văn hóa và dân trí thấp. Tổng cục Du lịch cho biết 85% khách du lịch quốc tế không muốn quay trở lại Việt Nam, và ngày càng nhiều người Việt đi du lịch nước ngoài. Đó là cách họ “bỏ phiếu bằng chân”.

9. Xây để phá

NQDy_9.jpg

Gần đây, ai đi qua đường Bưởi ở Hà Nội đều nhìn thấy một quang cảnh như thời chiến (sau một trận ném bom), nhà cửa dọc phố đang bị phá hủy để làm đường. Nó lặp lại hình ảnh nhiều năm về trước khi nhà cửa dọc đường đê Yên Phụ (phía đông bắc Hà Nội) cũng bị phá hủy như vậy để “bảo vệ đê” (thật vậy sao?). Nghe nói bài học này đã gây tổn thất trên 10 triệu USD, và làm cuộc sống nhiều gia đình điêu đứng. Trong thời chiến thì những việc này có thể hiểu được, nhưng thật khó hiểu là tại sao 40 năm rồi mà tư duy thời chiến vẫn không hề thay đổi. Quy hoạch đô thị kiểu gì mà cứ cho xây rồi lại phá? Hàng năm, Hà Nội vẫn đào vỉa hè và đường phố lên để lát lại và sửa đường ống, chẳng ai phối hợp với ai, vừa tốn kém và lãng phí, bất ổn cho giao thông và cuộc sống con người. Gần đây căn bệnh này đã lây lan tới thành phố Hồ Chí Minh, với những “lô cốt” (bịt đường để thi công) mọc lên ngày càng nhiều trên đường phố. Hình như người Việt thích xây để phá (chứ không phải để tồn tại). Kiểu dân trí lạ lùng này (theo “định hướng XHCN?”) có thể biến “nền văn minh Sông Hồng” thành “nền văn minh Sông Tô Lịch” (một con sông nhỏ tại Hà Nội đã bị chết vì ô nhiễm nặng nề).

Như để minh họa, trong khi đang viết bài này thì một tổ công nhân (xí nghiệp “nước sạch”) lại đến đào đường ống nước trước cửa nhà (để thay cái đồng hồ cũ). Trước đó chỉ khoảng mấy tuần một tổ khác (cùng xí nghiệp này) đã đến đào đường để thay ống nước mới (nhưng không chịu thay cái đồng hồ cũ). Có trời mới biết tại sao họ không phối hợp với nhau? Tất nhiên vấn đề không phải do họ, mà do một hệ thống bị phân liệt và dân trí thấp.

10. Đốn hạ cây xanh

NQDy_10.jpg

Trong khi các vấn đề nan giải trên đây vẫn còn nguyên, thì gần đây Hà Nội đã có một quyết định “sáng tạo” là chặt bỏ 6700 cây xanh đã tồn tại hàng thế kỷ nay như “lá phổi” của thành phố và là hình ảnh hấp dẫn của Hà Nội. Cũng may, cái quyết định ngu xuẩn và quái gở này đã vấp phải một làn sóng phản kháng của dư luận, buộc lãnh đạo thành phố phải nghĩ lại và nhân nhượng (sau khi vài trăm cây xanh đã bị giết oan). Cực đoan và bạo lực không chỉ đe dọa con người, mà còn đe dọa thiên nhiên và môi trường sống. Hình ảnh phản cảm về Hà Nội chặt hạ cây xanh vô tội đã lan truyền khắp thế giới mạng, trong khi bảo vệ môi trường để đối phó với thay đổi khí hậu đang trở thành vấn đề sống còn của loài người. Chẳng lẽ Hà Nội muốn quay về thời kỳ đồ đá, bằng cách phá hủy nốt những gì chiến tranh chưa kịp phá hủy?

Thay cho lời kết

Không biết sau khi Hà Nội quyết định chặt 6700 cây xanh sẽ là sự kiện gì khác tiếp theo, nhưng vụ bê bối này đã đem lại một số bài học hữu ích. Một là, khi nào báo chí mạng “lề trái” và báo chí “lề phải” cùng vào cuộc, phản ánh đồng thuận xã hội cao hơn, thì tiếng nói sẽ mạnh hơn. Hai là, khi nào dư luận trong nước và quốc tế cùng lên tiếng, thì sức ép sẽ hiệu quả hơn. Ba là, khi nào chính quyền bị động, lúng túng đối phó với dân trí cao hơn, thì họ buộc phải lắng nghe và nhân nhượng, dù chỉ để gỡ thể diện. Tuy nhiên, chừng nào hệ thống độc quyền và thân hữu (theo “định hướng XHCN”), được gia cố bằng não trạng cực đoan và bạo lực, còn ngự trị xã hội, thì mọi thứ đều có thể xảy ra. Nếu người dân không thoát khỏi nỗi sợ hãi, không nâng cao dân trí và năng lực, để buộc chính quyền phải lắng nghe, thì sẽ không có gì thay đổi. Xét cho cùng, dân trí là nền tảng của xã hội công dân và sự chấn hưng của một quốc gia.

N.Q.D.

Ngày cuối tháng 5/ 2015

Tác giả gửi chi viet-studies ngày 10-6-15

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , | 1 Comment