Hội Nhà báo độc lập Việt Nam : Tuyên bố số 1 (bổ sung) và Danh sách ký tên ủng hộ

Nguồn boxitvn

14/07/2014

(Hội Nhà báo độc lập Việt Nam)

Ngày 11/7/2014, Hội Nhà báo độc lập Việt Nam đã ra Tuyên bố số 1 về 6 ngư dân Quảng Ngãi bị Trung Quốc giam cầm.

Song một tin tức mới nhất từ báo chí nhà nước lại phát hiện có thêm 7 ngư dân Quảng Bình bị tàu Trung Quốc bắt giữ từ tháng 6/2014, nhưng cho đến nay mới được công bố, nâng số ngư dân Việt Nam bị người “đồng chí tốt” giam cầm lên đến con số 13. Trong lúc vẫn chưa có bất cứ động thái kiên quyết nào để đòi Trung Quốc phải trả tự do cho những ngư dân bị bắt, chính quyền Việt Nam lại tự cột họ vào một dấu hỏi rất đáng nghi ngờ về động cơ: Tại sao cho đến lúc này họ vẫn chỉ loanh quanh với chức phận “xác định tọa độ” liên quan vụ 6 ngư dân Quảng Ngãi bị bắt? Tại sao phải hơn ba tuần sau khi 7 ngư dân Quảng Bình lâm nạn thì tin tức mới được nhà chức trách công khai? Trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam với lời cổ vũ ngư dân “bám biển” sẽ trôi dạt về đâu?

Rất nhiều dấu hiệu cho thấy việc ém nhẹm thông tin liên quan đến ngư dân bị xâm hại trong nhiều năm qua đã thuộc về trách nhiệm của giới hữu trách Việt Nam. Thế nhưng một điều đáng sửng sốt là lần đầu tiên thông tin đích thực về ngư dân bị xâm hại lại đến từ một người Pháp mang quốc tịch Việt Nam – ông Andre Menras- Hồ Cương Quyết. Mới đây trên báo chí quốc tế, ông đã loan tải về một thống kê do ông thực hiện: “Từ năm 2002 đến nay có hơn 2.000 ngư dân Việt Nam là nạn nhân của tàu Trung Quốc; 30 ngư dân chết hay ‘mất tích’ trên biển khi thời tiết không xấu, 120 ngư dân bị tàu đâm chìm và suýt chết, 500 ngư dân bị bắt giữ tại đảo Phú Lâm, 130 chiếc tàu bị tịch thu…”.

Nhà nước Việt Nam sẽ phải trả lời ra sao trước những con số và câu hỏi quá nhức nhối và bất nhẫn trên?

Ngày 14 tháng 7 năm 2014

Hội Nhà báo độc lập Việt Nam

TUYÊN BỐ SỐ 1 CỦA HỘI NHÀ BÁO ĐỘC LẬP VIỆT NAM

Về việc 6 ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc giam cầm

Đúng một tuần sau khi 6 ngư dân Quảng Ngãi trong lúc đánh cá ngay trên vùng biển của mình bị tàu Trung Quốc tấn công và bắt về phương Bắc, Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội và Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn nín tiếng.

Cứ mỗi 24 giờ người thân bị giam cầm, nỗi đau đớn của các gia đình ngư dân nghèo bị xâm hại và hàng triệu trái tim người Việt lại nhân lên gấp đôi: ánh mắt thất thần hướng biển trong những dự cảm bị cướp bóc, tra tấn và chưa rõ chết sống của những ngư dân từng được nhà nước khuyến khích bám biển; cùng sự thất vọng cùng cực trước thái độ không thể mô tả khác hơn là hổ nhục của những người vẫn tuyên bố về “tình hữu nghị viển vông” hay “không để mất chủ quyền lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc”.

Kể từ sau Hội nghị Thành đô năm 1990 với thất lợi quá lớn cho Việt Nam trước Trung Quốc, chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc không thể là đầu môi chót lưỡi mà phải được hiểu một cách thống thiết vào lúc mỗi công dân Việt Nam phải chịu cảnh nhược tiểu hèn kém và ô nhục từ ngày giàn khoan HD 981 ngự trị ngay trước mũi chính thể Hà Nội, như một cái gai nhức nhối cứ mỗi ngày lại đâm chọc sâu hơn vào 90 triệu cặp mắt người dân Việt.

Trớ trêu thay, trong khi tuyệt đại đa số các tổ chức chính trị và các hội đoàn của nhà nước vẫn như chìm trong cơn á khẩu khó phương chữa trị, đã chỉ có giới báo chí và Hiệp hội Nghề cá Việt Nam mới là những con người dám cất lên tiếng nói của tấm lòng đồng cảm nhất với 6 ngư dân không hề và chưa bao giờ được bảo vệ của chúng ta.

Tất cả những gì cho tới nay mà chính quyền Việt Nam hé môi vẫn chỉ là tìm cách “xác định tọa độ” nơi ngư dân bị bắt giữ, mà không có nổi một lời lên án Bắc Kinh tấn công và bắt cóc đồng bào mình. Phải chăng đó là tâm địa và phương cách của Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và giới tuyên giáo Việt Nam khi vẫn thản nhiên kêu gọi “sẽ bảo vệ ngư dân mưu sinh”?

Cũng không có nổi một nghị quyết dù chỉ là ám chỉ về mối “xung đột Biển Đông” sau Hội nghị trung ương 9 và kỳ họp quốc hội thứ 7 năm 2014, cũng chưa từng biểu hiện manh mối nào để chứng tỏ cho 90 triệu đồng bào là “sẽ kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế”, những người đang nắm quyền và chịu trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc đang muốn đưa Tổ quốc Việt Nam vào số phận phụ thuộc ngoại bang thê thảm đến mức nào?

Không thể chấp nhận số phận không đáng phải gánh chịu của đồng bào mình, Hội Nhà báo độc lập Việt Nam – đại diện cho trái tim và tiếng nói tự do của những người viết báo và người dân muốn tìm ra và nói lên sự thật nhân bản dân tộc – lên tiếng yêu cầu Nhà nước Việt Nam phải có ngay hành động dứt khoát đòi Trung Quốc phải xin lỗi, bồi thường và thả ngay 6 ngư dân Quảng Ngãi, đồng thời công bố ngay kế hoạch khởi kiện Trung Quốc ra tòa án luật biển quốc tế cho toàn thể quốc dân đồng bào nước Việt.

Ngày 11 tháng 7 năm 2014

Thay mặt Hội Nhà báo độc lập Việt Nam

Phạm Chí Dũng

Lê Ngọc Thanh

Nguyễn Tường Thụy

Bùi Minh Quốc

Hãy tiếp tục ký tên ủng hộ Tuyên bố để thể hiện tình cảm với đồng bào ngư dân Việt. Xin ghi rõ họ tên, nghề nghiệp, nơi cư trú và gửi về địa chỉ: ijavn2014

DANH SÁCH KÝ TÊN ỦNG HỘ

TUYÊN BỐ SỐ 1 CỦA HỘI NHÀ BÁO ĐỘC LẬP VIỆT NAM

Về việc 6 ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc giam cầm

(Cập nhật đến 18 h ngày 13/7/2014)

1. Hoàng Vũ Trang Thùy, 65/13Bui Thi Xuan F5 QTB nghề nghiệp buôn bán

2. Hoàng Hưng, nhà thơ, dịch giả, thành viên BVĐ Văn đoàn Độc lập VN, TPHCM

3. Phan Thành Khương, Nhà Giáo, Ninh Thuận.

4. Phạm Minh Hoàng, Tp.HCM

5. Trần Văn Thuấn, CNC Programmierer, Karolingerstr.32, 82205 Gilching, CHLB Duc

6. Phan Đắc Lữ Nhà thơ, 393 QL 13 Hiệp Bình Phước Thủ Đức Sài Gòn.

7. Lê Văn Sinh, Cựu giảng viên Khoa Sử, ĐHKHXH & NV, Hà Nội, trú tại phòng 213, nhà A11, phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, tp. Hà Nội.

8. Nguyễn Mê Linh,TS, đảng viên đảng CSVN:Q.2 tp Hồ Chí Minh.

9. Nguyễn Xuân Diện, Hà Nội.

10. Chu Văn Keng, Cử nhân Toán, Berlin, CHLB Đức

11. Tân An Trung, Nông Gia về hưu, Adelaide South Australia.

12. Nguyễn Thúy Bình, 278 Nguyễn Đình Chiểu. P6. Q3. TP hcm.

13. Lê Văn Chinh, Kỹ sư xây dựng, Đà nẵng.

14. Trần Ngọc Tuấn, nhà báo, nhà văn, Leského 35 – Praha – CH Czech.

15. Nguyễn Quang A, kỹ sư, 19 Đoàn Nhữ Hài, Hà Nội.

16. Lương Minh Hải, Kỹ sư thiết kế, Đăk Lăk.

17. Lê Anh Hùng, blogger; HKTT: Hà Nội.

18. Huỳnh Văn Anh, kinh doanh tự do, Phan Rang – Ninh Thuận.

19. Ngô Văn Cương – Country Director HEKS/EPER Swiss Interchurch Aid in Vietnam, Bình Thạnh, Sài Gòn.

20. Hà Bình Minh, Giáo viên về hưu , nhà thơ, Bảo Lộc , Lâm Đồng , VN

21. Nguyễn Đào Trường CB hưu trí, 65 phố Đinh Văn Tả, phường Bình Hàn, TP Hải Dương.

22. Trần thị Thanh Tâm, đã nghỉ hưu, đang sống tại Ul.Rajska5 M75 varsovie Ba lan.

23. Ngoc Dung Lê, nhà báo IFJ, tại Châu âu.

24. Huỳnh Đức Minh, kỹ sư điện toán, Florida USA.

25. Nguyễn Văn Dũng, Tiến Sĩ Vật Lý, nguyên cán bộ của Viện Khoa học Việt Nam, định cư ở Mỹ.

26. Nguyễn Quốc Quân, tư vấn soạn thảo phần mềm vi tính, California – Hoa Kỳ.

27. Ngô Thị Mai Hương, kế toán, California – Hoa Kỳ.

28. Ts.Bs.Đinh Đức Long TP.HCM

29. Lê Thanh Tùng, Pv VRNs, Quận 9, Sài Gòn.

30. Hồ Quang Huy, Ks đường sắt, P. Ngọc Hiệp, Nha Trang, Khánh Hòa.

31. Phạm Ngọc Hồ Sn 1976, chuyên viên tài chính, 47 Phù Đổng Đà lạt.

32. Nguyễn Anh Thế, Sinh viên (nghiên cứu sinh), Kaiserslautern, Palatinate, CHLB Đức.

33. Minh Khanh Nguyen, researcher, Cleveland, OH, USA.

34. Nguyễn Thiện Phương, nông dân, k2 ấp phước Hòa, Long Phước, Long Thành, Đồng Nai.

35. Nguyễn Thăng Long,tự kinh doanh.Munich – Germany.

36. Nguyễn Mạnh Thành, Cử nhân kinh tế, Sài Gòn.

37. Nguyễn Quốc Khải, Virginia, Hoa Kỳ.

38. Vũ Thư Hiên, nhà văn, Paris, Pháp.

39. Nguyễn Minh Nhựt, programmer / designer, Tp. Hồ Chí Minh.

40. Nguyễn Thị Thanh Bình, nhà văn, Washington, D.C.

41. Henry Phan, Sr. Automation & Process Engineer, 7124 Fairwood Ct, Highland, CA 92346.

42. Nguyễn Đan Quế, Bác sĩ, Saigon.

43. Nguyễn Trọng Hoàng, Bác sĩ Y khoa, Paris, Pháp.

44. Trần Trung Sơn, Giáo viên, TS, Phó trưởng khoa MBDC trường SQKQ, Nha Trang, Khánh Hòa.

45. Huỳnh Minh Huy, Đội Trưởng bảo vệ khu vực Nam Tân Uyên, Cty LiKoo ấp Bình Chánh Xã Khánh Bình Tân Uyên Bình Dương.

46. Nguyễn Trọng Hoàng – tiến sỹ vật lý, Frankfurt, Cộng Hòa Liên Bang Đức.

47. Lương Ngọc Châu, Kỹ sư điện toán (hưu trí), Mainz, Germany.

48. Nguyễn Quang Nhàn, Cán bộ công đoàn hưu trí Đà Lạt.

49. Frank Minh Trịnh, Mechanical engineer, at Canyon Swiss Inc. S.CA USA, 105 McFall lane, La Puente, CA 91744 – USA

50. Larry Trần, BS, San Diego , USA.

51. Nguyễn Đăng Quang – Đại tá, nguyên cán bộ Bộ Công an, Hà Nội.

52. Bùi Ngọc Mai, Cử nhân Khoa học, 89/2 Duy Tân, P.15, Phú Nhuận, Tp.HCM.

53. Dương Văn Minh, Nhân viên hóa chất, công ty adidas văn phòng đại diện VN, Địa chỉ: Số 15, tổ 1, ấp 4, An Hòa, Biên Hòa, Đồng Nai.

54. Nguyễn Hồng Quân, Kỹ sư kết cấu công trình, Fremont – California Hoa Kỳ.

55. Trần Minh Thạnh, Giáo viên, Lương Thế Vinh, P. Tân Thới Hoà, Q. Tân Phú, Sài Gòn.

56. Nguyễn Huy Canh, giáo viên, Hải phòng.

57. Trần Tuấn Hải, Nghề nghiệp: Ngoại thương, P. Thống Nhất, Biên Hoà, Đồng Nai.

58. Trương Điền Quan, Kỹ sư xây dựng, Thành phố Hồ Chí Minh.

59. Nguyễn Thanh Thuấn, kinh doanh và sản xuất cà phê, 33/11, Hoàng Diệu , P10, Q. Phú Nhuận, TP.HCM.

60. Dương Bích Ngọc, Kinh doanh, Hà Nội.

61. Nguyễn Trường Nguyện, tu nghiệp sinh tại Osaka – Nhật Bản.

62. Trần Văn Tuyến, Nhân Viên Văn Phòng, KCN Mỹ phước 2, Bến cát, Bình Dương.

63. Ho Thuyet, truck driver, 21 kauri Grove Glen Waverley Vic 3150 AUSTRALIA.

64. Phạm Ngọc Minh, kiến trúc sư, số 45 ngách 24/5 ngõ 132 đường Cầu giấy Hà Nội.

65. Hà Quang Hải, Kỹ sư tin học, 3/22 Thành Thái, Phường 14, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh.

66. Nguyễn Đắc Diên, Bác sĩ Nha khoa, Tp.HCM.

67. Nguyễn Phương Nam, 64 tuổi, là cán bộ nghỉ hưu, hiện ngụ tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

68. Trần Rạng, nhà giáo, Saigon.

69. Lê Nhuận (Hải Sư), Engineer Networking, Lampson Ave, Garden Grove, CA 92840, USA.

70. Nguyễn Duy Toàn, Kỹ sư, Portland, Oregon, U.S.

71. Trương Chí Tâm, cựu chiến binh Campuchia, cử nhân y khoa, TP HCM.

72. Trần Thị Thúy Lan, Nhân viên dự án, số 14 ngách 624/12/75 Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

73. Duc Anh Trịnh, Director, Operations Engineering – Satelite Communication, Equipment, USA.

74. Lưu Hồng Thắng, công nhân, Louisiana, Hoa Kỳ.

75. Linh mục Phaolô Nguyễn Quốc Hưng, Roma, Italia.

76. Tô Oanh, GV nghỉ hưu, Số 6, ngõ 190/56, Nguyễn Công Hãng, TP Bắc Giang.

77. Phạm Minh Đức, Kỹ sư, Hà nội.

78. Vũ Văn Khảm, cử nhân, chuyên viên kinh tế đã nghỉ hưu, 14/238/292 Lạch Tray, Hải Phòng.

79. Nguyễn Trần Tuấn, công nhân, Bà Điểm, Hóc môn.

80. Triệu Sang, Nông dân, Châu Thành, Sóc Trăng, Việt Nam.

81. Lê Xuân Thiêm, kỹ sử xây dựng, Tp.HCM.

82. Phạm Vương Ánh, Kỹ sư Kinh tế, cựu Sỹ quan QĐNDVN, Thành phố Vinh – Nghệ an.

83. Lê Đình Hồng, Kế toán Hưu trí, 2481 E 28 th Ave Vancouver B.C Canada V5R 1R5.

84. Lê Thị Nhàn, công nhân hưu trí, 2481 E 28 th Ave Vancouver B.C Canada V5R 1R5.

85. Hoang Truong – Minneapolis – MN – USA.

86. Mai Văn Bình, Kỹ sư, TP. Hồ Chí Minh.

87. Phan Thiên Vũ, Dựng Phim, 9/2 Đường Số 4 Cư Xá Đô Thành F4 Q3 TP.HCM.

88. Nguyễn Thịnh Lê , Giảng viên đại học Humboldt-Universität zu Berlin, Unter den Linden 6, 10099 Berlin, Germany

89. Nguyễn Văn Thắng, kỹ sư, tổ viễn thông tân sơn nhất – chi nhánh viễn thông Gia Định, 127/43 Cô Giang P1, Q.phú nhuận.

90. Hoàng Đình Thành, KTS, Hà nội.

91. Trần Nguyên San, Công nhân, 2033 E. 27th Avenue, Vancouver, BC, Canada.

92. Lê Quang Liêm, 95 tuổi, Hội Trưởng Trung Ương Giáo Hội PGHH Thuần Túy tại VN, 182/6 Hồ Văn Huê, Phú Nhuận , TP.HCM.

93. Đào Ngọc, GĐ Kinh doanh, đã nghỉ hưu, Hải phòng.

94. Phạm Đình Trọng, nhà văn, Sài gòn.

95. Nguyễn Minh Cần, Moswcow, Nga.

96. Nguyễn Hữu Dõng, Germany.

97. Võ Ngọc Lục, SN 1976, Quảng Nam.

98. Bùi Quang Trung, kỹ sư xây dựng, Chelles France.

99. Nghị Thanh Liêm, nghề nghiệp: Bảo hiểm, 193/116 Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, TPHCM.

100. Trần Quốc Phú, SN 1963, thương nhân, 15B KP 1 phường Tân Thới Hiệp quận 12 Tp Hồ Chí Minh.

101. Mục Sư Phạm Ngọc Thạch – 72, Hòa Khánh, Ban Ma Thuột, DakLak.

102. Phạm Phú, Kỹ sư, United States.

103. Khúc Thị Tình, Doanh nhân tại CHLB Đức.

104. Larry Nguyễn, Doanh Nhân, San Diego, California – Hoa Kỳ

105. Huỳnh Thị Thu Trang, Chuyên Viên – Công ty Boeing, San Diego- California – Hoa Kỳ

106. Nguyễn Hồng Khoái, Chuyên viên Kế toán, thuế và phân tích tài chính, 36/55/124 đường Âu Cơ, cụm 5, phường Tứ Liên, quận Tây Hồ Hà Nội.

107. Nguyễn Thanh Giang – Tiến sỹ Địa Vật lý – Hà nội.

108. Hoàng Quân, Kỹ sư điện tàu, Nam kỳ khởi nghĩa P.6 Q.3 Tp Hcm.

109. Trần Vũ Việt Trung, Kỹ sư Cơ khí – Cử nhân Kinh tế, tp HCM.

110. Nguyễn Thành Nhân, nhà văn/dịch giả, Sài Gòn.

111. Nguyễn Anh Duy, nhân viên kinh doanh, 47 đường 11 kdc Him Lam, Bình Chánh.

112. Thích Không Tánh, Sư trụ trì Chùa Liên trì.

113. Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, Tổng thư ký Hội thánh Tin Lành Lutheran Việt Nam-Hoa Kỳ.

114. Nguyễn Kinh Kha, Kỹ sư tự động-Kiểm nhiệt cty PVPS Việt Nam, 27H1 Tôn Thất Tùng F7. Tp Vũng Tàu.

About ixij

Gan san sang de ra ve
This entry was posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội and tagged , , , , , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s