Đến đã đủ lâu! Giờ cũng sẵn sàng để… ra đi! (… về với Chúa)

– Phổ biến thông tin đa chiều, và lên tiếng vì những bất công xã hội là việc làm cần thiết và đúng đắn. – Tự do thông tin là bước khởi đầu để có được dân chủ thực sự, giúp đưa đất nước đi lên và thoát khỏi khốn khó đói nghèo.

– Đừng lầm lẫn giữa : thứ tha những lỗi lầm đã qua, với việc nuôi dưỡng những sai phạm đang diễn ra để chúng cứ tiếp tục tồn tại và trầm trọng hơn nữa! – Đó là ác chứ không phải ái!

– Đừng để bị nhập nhằng giữa “Đất Nước, Tổ Quốc” với đảng cầm quyền! “Đất Nước, Tổ Quốc” là mãi mãi, còn đảng cầm quyền chỉ là nhất thời!

Theo dõi các links tin từ twitter, được cập nhật thường xuyên ở cột phải

Posted in khề khà | Tagged , | 1 Comment

RFA. Dòng Chúa Cứu thế Saigon tạm ngưng chương trình “trợ giúp thương phế binh”

Nguồn RFA

tpb-tri-an.gif

Trong 6 lần liên tiếp Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn đã tổ chức các cuộc quyên góp tài vật trong và ngoài nước để giúp đỡ anh em thương phế binh VNCH. Từ chiếc xe lăn cho tới những phần tiền tuy ít ỏi nhưng đầy tình người đã vực dậy niềm cô đơn và số phận không may của họ.

Thế nhưng trong lần thứ 7 này, DCCT gửi thư mời 152 anh em thương phế binh từ Đà Nẵng cho tới Cà Mau đến DCCT Sài Gòn vào sáng ngày Thứ Sáu, 17 tháng Tư để được khám tổng quát sức khỏe, xét nghiệm cận lâm sàng cho anh em do 4 cơ sở đa khoa thiện nguyện đứng ra phụ trách đã gặp trở ngại. Nguyên nhân được biết là tân linh mục Giám tỉnh Giu Se Nguyễn Ngọc Bích, mới được bổ nhiệm thay thế cho linh mục Giám tỉnh Phạm Trung Thành cho rằng nhà sách của DCCT là nơi bán sách không nên tổ chức tụ tập đông người gây trở ngại cho việc kinh doanh.

Linh mục Phạm Trung Thành nguyên linh mục Giám tỉnh của DCCT cho biết ý kiến của ông về vấn đề này:

father-thanh
Linh mục Phạm Trung Thành, nguyên Giám Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế

-Tôi được cha Thoại cho tôi cái thông tin chuyện chuẩn bị vào ngày Thứ Sáu tức hôm nay cho 152 thương phế binh, lần này là đợt thứ bảy rồi. Hôm thứ Ba cha Vũ Trọng Phiệt, tức là cha Hoàng Phúc là cha giám đốc nhà sách là nơi mà Ban tổ chức sử dụng phòng ốc để mà làm thì cha thông tin là hạ tất cả các poster xuống và nói rằng cha Giám tỉnh không cho phép làm. Cha Thoại cẩn thận đi gặp trực tiếp cha Giám tỉnh để hỏi ý kiến có phải là chính cha hay không.

Cha Thoại bảo là cha rất trung thực để nói về thông tin này, tức là không phải là cha Giám tỉnh không cho làm mà ngài bảo là chưa làm, cái cách ngài nói như thế. Cha Giám tỉnh có giải thích một vài điều và cha Thoại nói con chỉ cần biết có phải lệnh của cha hay không, và chỉ cần biết có cho làm hay không mà thôi.

Cha Thoại quyết định ra một bức thư cũng gây phản ứng rất mạnh trên cộng đồng mạng cũng như xã hội. Tôi thương quá đi tại vì nghe kể rằng có những anh đã lên xe đi từ An Giang lên và lúc nghe được tin báo hồi thì đang ngồi trên xe. Nghe cái tin đó tôi muốn khóc anh ạ.

Linh mục Giu Se Nguyễn Ngọc Bích nhận chức Giám tỉnh dòng Chúa Cứu Thế căn cứ trên cuộc bầu cử của nhà dòng. Sau khi bầu cử thì kết quả được gửi về cho Trung ương Dòng tại Roma để xác định kết quả bầu cử và bổ nhiệm. Tân Linh mục giám tỉnh năm nay 65 tuổi đã du học tại Ottawa về Giáo luật. Linh mục Phạm Trung Thành cho biết việc ông thôi chức Giám tỉnh để nghỉ bệnh của ông như sau:

-Thú thật cái này thuộc về tổ chức. Sau khi tôi thôi nhiệm vụ tôi nghĩ rằng để tạo điều kiện cho anh em mới làm việc tôi nói với ngài ngài cứ theo lương tâm ngài cứ làm những gì ngài muốn làm không vì tôi. Tôi xin nghỉ một thời gian để chữa bệnh đó là nguyên tắc thứ nhất. Thứ hai là tôi không tham gia vào bất kỳ một cuộc bàn bạc nào về công việc cũng như những sinh hoạt của Tỉnh dòng. Hiện nay thì tôi đang ở nhà hưu và tôi đang chữa bệnh tiểu đường khá nặng.

Linh mục Đinh Hữu Thoại người phụ trách chương trình khám sức khỏe cho anh em thương phế binh lần này cho biết thêm chi tiết:

-Quyết định rất là bất ngờ của ngài như vậy để lại rất nhiều thiệt hại cho thương phế binh về mặt tâm lý, về mặt tinh thần. Có những người khi chúng tôi gọi xin lỗi hồi báo cho họ thì họ đang ở trên xe rồi rất nhiều phiền phức, ngay cả các phòng khám đa khoa chúng tôi cũng phải xin lỗi. Quyết định vội vàng như vậy để lại rất nhiều bất tiện tôi phải đi xin lỗi các nơi, nhất là anh em thương phế binh họ tổn thương tinh thần rất lớn. Cái lý do có thể nói vội vàng, cận quá trong khi họ đã chuần bị để lên đường hết rồi.

Anh Huỳnh Công Thuận, một tình nguyện viên cốt cán trong tất cả các chương trình trợ giúp thương phế binh do DCCT tổ chức cho biết:

-Không phải là cấm hẳn anh, cha Giám tỉnh không cho làm trong khuôn viên của nhà thờ thôi còn chương trình ủng hộ thì vẫn tiếp tục. Chúng tôi đi tới từng nhà, hôm qua tới nay có đi tới anh em giúp đỡ những anh em bị bệnh rồi hỗ trợ anh em có nhà cửa bị hư cần giúp như phát xe lăn thì chúng tôi cũng cho bình thường nhưng không được làm đại trà như lúc trước nữa thì nó cũng có trở ngại khó khăn nhưng mà tôi nghĩ rằng vẫn được chứ không đến nỗi mất hết. Hôm qua từ khi được tin cha Giám tỉnh trả lời là không cho mượn cái phòng để làm thì chúng tôi đã thay phiên nhau gọi báo cho 152 anh em thương phế binh ở các tỉnh thì có những anh em ở xa như Cà Mau người ta đã lên xe đi dọc đường rồi.

Tân linh mục Giám Tỉnh Nguyễn Ngọc Bích cho chúng tôi biết nguyên nhân mà ông cho là hợp lý khi tôn trọng sự đồng thuận của người khác, cụ thể là linh mục phụ trách nhà sách của DCCT:

-Thứ nhất là tôi không cấm chuyện giúp đỡ anh em thương phế binh đâu nhưng mà có những cơ sở của nhà dòng thì cần có sự đồng thuận của những người trách nhiệm thì mới nên làm. Tôi không cấm việc giúp cho anh em thương phế binh cái đó tôi không ngăn cản gì hết, ai làm thì cứ làm không sao hết. Nhưng mà việc tổ chức thì nơi nào đó cần phải có sự đồng ý của người có trách nhiệm. Việc giúp anh em thương phế binh tôi hoàn toàn ủng hộ. Các cha cần giúp thì cứ giúp không sao hết, không có cản trở gì hết.

med-exam-for-arvn-invalids
Một trong năm buổi khám bệnh cho TPB/VNCH năm 2014 tại DDCT

Sau vụ tạm ngưng giúp dỡ anh em thương phế binh, kế đến vào ngày 16 tháng 4 một vấn đề nữa khiến dư luận quan tâm đến DCCT tỏ ra nghi ngại đó là việc thay đổi hoàn toàn nhân sự của Ban Truyền thông DCCT do linh mục Lê Ngọc Thanh phụ trách từ nhiều năm qua, trong đó có việc đóng trang Facebook của nhà dòng. Giải thích việc này linh mục Đinh Hữu Thoại cho biết:

-Thực ra thay đổi Ban Truyền thông thì nó cũng nhỏ thôi cho nên các vị lãnh đạo làm chứ không phải là tất cả. Thực tế là theo cơ cấu của nhà dòng là Ban Thường vụ của nhà dòng chỉ có ba người quyết định.

Cái trang Facebook đó là trang của DCCT Việt Nam, theo tôi được biết cái ban Truyền thông mới đã có cho nên cha Thanh không còn làm Ban Truyền thông nữa nên Facebook mang tên Dòng Chúa Cứu Thế chúng tôi trao lại cho cái ban mới thì ban mới họ không sử dụng Facebook nên tôi đóng lại, đóng lại để mở một Facebook khác.

Ban Truyền thông của DCCT Sài Gòn được xem là nơi truyền giảng đức tin một cách sống động và không ngại loan tải những vụ vi phạm nhân quyền, dân oan hay bắt bớ trái phép của chính quyền khắp nơi. Hơn nữa, linh mục Lê Ngọc Thanh cũng là người vừa bị cấm xuất cảnh mới đây khiến câu hỏi về việc thay đổi này càng thêm đậm nét. Về việc này tân linh mục Giám tỉnh Nguyễn Ngọc Bích cho biết:

-Không, tại vì tới lúc họ bàn giao nó trùng thôi chứ không phải dính dáng gì đến thương phế binh cả. Tôi rất ủng hộ anh em nhưng ủng hộ theo cách nếu biết ai cần giúp đõ thì cứ giúp đỡ thôi nhưng khi dùng những gì là của chung thì phải có sự đồng thuận, tại vì chỗ nhà sách thì người ta xin là chỗ này chỉ để làm công việc kinh doanh nhà sách chứ đừng tổ chức gì khác, vậy thôi. Chuyện truyền thông chả dính dáng gì đến chuyện thương phế binh cả vì họ bàn giao với nhau lúc tôi không ở nhà, tôi đang ở Hà Nội.

Bên cạnh việc giúp thương phế binh, DCCT Sài Gòn còn rộng cửa đón nhận rất nhiều người cơ nhỡ, những người tù lương tâm không nơi nương tựa được nhà dòng tổ chức cho tạm trú chờ người hảo tâm giúp chỗ ở làm lại cuộc đời. Dân oan mất đất, mất nhà trên các tỉnh thành cả nước cũng thoải mái xem nơi đây là nhà của mình mỗi khi về thành phố. Dưới mắt chính quyền không thể nói là không khó chịu về các hoạt động này nhưng sự kiên định của các linh mục lãnh đạo và giáo xứ đã khiến những ý định đàn áp hay cấm cản bất thành.

Lo lắng không được tiếp tục giúp đỡ anh em thương phế binh như trước nữa, anh Huỳnh Công Thuận cho biết:

invalids-in-thank-you-day-in-saigon
Các thương phế binh VNCH trong "Ngày tri ân TPB" tại Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn

-Riêng anh em chúng tôi những người thiện nguyện viên có viết một thư ngỏ nhưng chưa công bố để gửi cha Giám tỉnh yêu cầu cha tiếp tục cho phép ủng hộ thương phế binh, giúp đỡ những người dân oan, những người cơ nhỡ, những người khó khăn bị xã hội ruồng bỏ đúng như chương trình cũng như truyền thống của DCCT. Chúng tôi định gửi cho cha nhưng nếu cha Bích không trả lời, không giải quyết thì chúng tôi sẽ gửi đi Tòa thánh Roma.

Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn đã và đang mang các hoạt động bác ái vào đời một cách thực tiễn đúng theo gương từ vị Giáo hoàng của người nghèo, cũng xuất thân từ dòng tu nổi tiếng dấn thân này. Vì vậy các linh mục trong nhà dòng khẳng định công tác bác ái này sẽ không thể dở dang dù phải tiến hành bằng các hình thức nào đi nữa.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

VNTB – Trước chuyến đi Mỹ của TBT Trọng: VN bắt đầu thả tù nhân chính trị?

Nguồn ijavn

VNTB: Ngày 17/4, nữ tù nhân chính trị Mai Thị Dung đã trở thành tù nhân lương tâm đầu tiên của năm 2015 được phóng thích vô điều kiện (không bị quản chế tiếp theo), sớm 16 tháng so với thời hạn thụ án.
Bà Mai Thị Dung là một trong những tín đồ Phật giáo Hòa hảo thuần túy (ly khai với giáo hội Hòa Hảo nhà nước), kiên cường đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo. Bà Dung cũng thường nằm trong danh sách của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đòi hỏi Nhà nước VN phải thả vô đuều kiện.
Trước chuyến công du của TBT Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ, mà một nguồn tin cho biết dự kiến mới nhất là dời đến đầu tháng 6/2015, dường như chính quyền VN bắt đầu "làm một cái gì đó" để thỏa mãn yêu sách của phương Tây về nhân quyền và dân chủ.
Tháng 5/2015 và sát chuyến đi của TBT Trọng là thời điểm đặc biệt "nhạy cảm": vừa diễn ra cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ tại Hà Nội, vừa là lúc phía Mỹ xem xét có thể cho Việt Nam "đặc cách" vào TPP hay không.
Hôm 16/4, Quốc hội Mỹ đã quyết định trao cho Tổng thống Obama quyền đàm phán nhanh (fast track) – được xem là rất quan trọng để chính phủ Mỹ toàn quyền quyết định các nội dung đàm phán với các nước trong khối TPP, trong đó có Việt Nam.
Hãy chờ xem lần này chính quyền VN chịu thả bao nhiêu người và có bao gồm cả những tù nhân chính trị "chất lượng" như phía Mỹ yêu cầu hay không.
Tù nhân chính trị Trần Huỳnh Duy Thức là một trong số người "chất lượng" như thế.
Năm 2014, chính quyền trả tự do cho 14 tù nhân chính trị, trong đó có những tên tuổi như Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ. Tuy nhiên, con số này vẫn là quá ít so với 53 tù nhân chính trị mà chính quyền Cuba phóng thích đồng loạt vào cuối năm 2014, chỉ một tuần sau ra tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

VOA. Chế độ cộng sản VN sụp đổ, người Việt mới có hòa hợp hòa giải?

Nguồn VOA

17.04.2015
bởi Trà Mi-VOA

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt cách đây 4 thập niên, nhưng mâu thuẫn trong nội bộ người Việt dẫn tới cuộc chiến và phát sinh từ sau ngày 30/4/75 tới nay vẫn chưa được hóa giải bất chấp những nỗ lực ‘hòa hợp hòa giải dân tộc’.

… hòa giải với những người trong chế độ Việt Nam Cộng hòa là hòa giải về mặt tinh thần. Còn hòa giải với những người có quan điểm đối lập với chính quyền do đảng cộng sản Việt Nam kiểm soát hiện nay là hòa giải thực tế.
Cù Huy Hà Vũ​​

Nguyên nhân vì sao và làm thế nào để người Việt thật sự ‘hòa hợp-hòa giải’ với nhau? Đó cũng là nội dung cuộc trao đổi hôm nay giữa Trà Mi VOA với một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng xuất thân từ gia đình cách mạng có công lớn với chế độ cộng sản Việt Nam, người từng lãnh án tù vì các hoạt động đấu tranh dân chủ và bị trục xuất sang Mỹ tị nạn chính trị cách đây một năm: Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ.

VOA: Khái niệm ‘hòa hợp hòa giải’ được nhắc tới rất nhiều, nhưng mấu chốt của mâu thuẫn cần hòa hợp hòa giải là gì?

TS Hà Vũ: Mọi người vẫn hay nói tới ‘hòa hợp hòa giải’, nhưng cần phải làm rõ rằng thứ nhất đây là sự hòa giải giữa chính thể cộng sản hiện hành với những người đã làm việc trong chính thể Việt Nam Cộng hòa trước 30/4/1975. Thứ hai là sự hòa giải với những người đang sống tại Việt Nam và phản đối chế độ độc tài của đảng cộng sản Việt Nam. Tựu chung lại, hòa giải với quá khứ hay hiện tại. Nói cách khác, hòa giải với những người trong chế độ Việt Nam Cộng hòa là hòa giải về mặt tinh thần. Còn hòa giải với những người có quan điểm đối lập với chính quyền do đảng cộng sản Việt Nam kiểm soát hiện nay là hòa giải thực tế.

VOA: Theo nhận xét của ông, giữa người Việt trong và ngoài nước, giữa hai ý thức hệ cộng sản và dân chủ tư bản trong lòng người Việt đã ‘hòa,’ ‘hợp’ và ‘giải’ đã đạt tới mức nào sau 40 năm chiến tranh kết thúc?

TS Hà Vũ: Phía chính quyền cộng sản Việt Nam không hề có thiện chí bởi vì nói đến hòa giải tức là phải chấp nhận quan điểm chính trị đối lập. Đằng này họ chỉ là lợi dụng nhằm tháo gỡ những khó khăn về mặt kinh tế, tháo gỡ những cái nhìn rất xấu về một chế độ toàn trị luôn thù địch với những ai có quan điểm ngược lại với quan điểm của mình. Để bắt đầu đi vào hòa giải thực chất với quá khứ, yêu cầu đầu tiên là phải công nhận Việt Nam Cộng hòa là một chính quyền của người Việt ở miền Nam trước năm 1975. Thứ hai, để thực hiện sự hòa giải, khi mời người Việt ở nước ngoài về nước thì cũng phải bảo đảm cho họ quyền tự do ngôn luận, thể hiện quan điểm chính trị của họ về dân chủ-tự do hoặc thậm chí về chính thể Việt Nam Cộng hòa.

không thể có hòa giải với chính quyền cộng sản Việt Nam mà chỉ có thể giải thể chế độ cộng sản này đi. Một khi chế độ cộng sản Việt Nam bị giải thể thì tự dưng sẽ có sự hòa giải giữa các quan điểm khác nhau. Bởi vì lúc đó, chế độ sẽ là dân chủ-đa đảng, ai cũng có quyền nói lên quan điểm của mình, không còn ai bị coi là thù địch với ai nữa, mà đó chỉ là sự khác biệt hay đối lập về mặt chính trị mà thôi.
Cù Huy Hà Vũ

VOA: Ông nhận xét thế nào về thiện chí hòa hợp hòa giải của phía những người có quan điểm đối lập với đảng cộng sản Việt Nam?

TS Hà Vũ: Tôi nghĩ người Việt bất cứ lúc nào cũng hướng về Tổ quốc, muốn đóng góp để vừa bảo toàn lãnh thổ của quốc gia Việt Nam, đặc biệt trước sự xâm lăng từ phía Trung Quốc. Tôi biết tất cả người Việt ở nước ngoài, đặc biệt ở Mỹ, đau đáu chuyện đó, rất muốn đóng góp. Mọi người muốn dùng tiềm năng từ kinh tế cho tới chất xám, kể cả các quan hệ chính trị và ngoại giao, để giúp Việt Nam có thể phát triển thành một nước được kính trọng trên thế giới. Thế nhưng, đúng là có sự luôn luôn chống cộng sản tới cùng, không chấp nhận chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay. Tôi không cho đấy là thiếu thiện chí, mà đấy là một quan điểm chính trị.

VOA: Những người thân chính phủ cộng sản Việt Nam cho rằng chỉ có thể hòa hợp hòa giải với những người có thiện chí, có tinh thần xây dựng, chứ không thể hòa hợp hòa giải với những thành phần chỉ muốn đối đầu, chỉ muốn mặc cả để làm điều kiện. Ý kiến ông ra sao?

TS Hà Vũ: Quan điểm như vậy là độc tài, tức là họ chỉ cho rằng họ là duy nhất có chân lý, họ cho rằng những người nào chấp nhận chế độ cộng sản mới là người có thiện chí. Trong khi đó, hòa giải là đi đến giải quyết một cách hòa bình giữa các quan điểm chính trị khác biệt, thậm chí đối lập với nhau, để tìm ra một mẫu số chung.

VOA: Vấn đề ở đây là mỗi bên cần thay đổi cách nhìn về nhau. Phía bên kia cũng có thể lập luận ngược lại rằng ‘Nếu muốn tôi thay đổi cách nhìn và tạo niềm tin hơn nữa đối với tôi, thì anh cũng phải thay đổi cách nhìn về tôi. Thay vì anh chỉ muốn xóa bỏ chế độ cộng sản Việt Nam, thì có thể có một cách khác cùng hàn gắn và cùng nhau phát triển.’ Phản hồi của ông thế nào?

TS Hà Vũ: Tôi đã có những kinh nghiệm rất cụ thể rồi. Năm 2010, chính tôi đã đưa ra những giải pháp đầu tiên để bắt đầu những sự hòa hợp hòa giải. Đó là phải gọi tên đúng của cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến. Tôi cũng đưa ra một giải pháp nữa là công nhận những chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh tại Hoàng Sa trong cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc để bảo vệ lãnh thổ Việt Nam. Thế nhưng, cho tới giờ, chính quyền cộng sản Việt Nam không những không chấp nhận đề nghị của tôi, (tôi đã làm kiến nghị gửi Quốc hội), mà lại còn bỏ tù tôi. Thành ra, cuối cùng tôi rút ra kết luận là không thể có hòa giải với chính quyền cộng sản Việt Nam mà chỉ có thể giải thể chế độ cộng sản này đi. Một khi chế độ cộng sản Việt Nam bị giải thể thì tự dưng sẽ có sự hòa giải giữa các quan điểm khác nhau. Bởi vì lúc đó, chế độ sẽ là dân chủ-đa đảng, ai cũng có quyền nói lên quan điểm của mình, không còn ai bị coi là thù địch với ai nữa, mà đó chỉ là sự khác biệt hay đối lập về mặt chính trị mà thôi.

VOA: Nhiều người đặt vấn đề vì sao đối với ‘người ngoài’ như quốc gia cựu thù Mỹ, chính phủ cộng sản Việt Nam có thể hòa hợp hòa giải, bỏ qua quá khứ, tiến tới cùng hợp tác xây dựng nhanh chóng và hiệu quả hơn đối với ‘người nhà’ là những đồng bào khác ý thức hệ với họ? Phải chăng lòng hận thù của người Việt mình chưa được hóa giải nên mâu thuẫn mới kéo dài cho tới ngày hôm nay?

TS Hà Vũ: Trước hết, tôi khẳng định chuyện chính quyền cộng sản Việt Nam hiện nay thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, nước cựu thù trong chiến tranh, là vì vấn đề ngoại giao và vụ lợi về mặt kinh tế. Tiếp nữa, chính quyền cộng sản Việt Nam đang bị Trung Quốc tấn công trên mọi phương diện nên họ cần tìm kiếm những hỗ trợ từ bên ngoài.

VOA: Hoa Kỳ là một bên tham chiến góp phần tạo sự rạn nứt trong xã hội Việt Nam. Theo ông, quan hệ Việt-Mỹ có ảnh hưởng ra sao đến việc hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam?

TS Hà Vũ: Việc Mỹ quay trở lại Châu Á, Đông Nam Á và có thiện chí tăng cường quan hệ hợp tác với Việt Nam, tôi tin rằng sự trở lại đó của Mỹ chắc chắn sẽ có tác động tích cực đến việc dân chủ hóa Việt Nam. Trên cơ sở đó, phong trào dân chủ ở Việt Nam sẽ được tạo điều kiện để phát triển. Chính phong trào dân chủ ở Việt Nam sẽ là nhân tố quyết định để đưa đến một sự hòa giải thật sự, tức là giải thể chế độ cộng sản Việt Nam.

VOA: Ngoài sự ảnh hưởng của mối quan hệ Việt-Mỹ, riêng đối với những người Việt với nhau, ông có đề nghị gì không để tạm gác chuyện ‘được-mất’ trong quá khứ để cùng hướng tới chuyện ‘được-mất’ trong tương lai người Việt?

TS Hà Vũ: Đảng cộng sản Việt Nam hãy chủ động từ bỏ chế độ toàn trị của mình đi, thực hiện dân chủ-nhân quyền mà bước đầu là phải xóa bỏ các điều luật đàn áp dân chủ-nhân quyền như 79, 88, và 258 trong Bộ luật Hình sự, trả tự do cho các tù nhân chính trị, bảo đảm những quyền cơ bản của công dân Việt Nam bao gồm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, tự do tôn giáo và đề ra lộ trình tiến hành bầu cử tự do.

VOA: Trong lộ trình hòa hợp hòa giải ông đề nghị, bản thân là con trai một công thần của nhà nước cộng sản Việt Nam thoát ly đấu tranh dân chủ dẫn tới cuộc sống lưu vong tại Mỹ hiện nay, nhìn thấy ý hướng của người cộng sản từ trong nước và hiểu được mong muốn khát khao của người Việt hải ngoại khi ra đây, ông nghĩ mình có thể góp phần thế nào thúc đẩy tiến trình hòa hợp hòa giải của người Việt nhanh và hiệu quả hơn?

TS Hà Vũ: Việc tôi có mặt tại Mỹ, đương nhiên tôi vẫn phải tiếp tục cuộc đấu tranh vì dân chủ-nhân quyền Việt Nam. Người Việt ở nước ngoài có thể đóng góp vào tiến trình hòa giải thực chất, tức là đưa tới chế độ dân chủ-đa đảng, bằng cách nêu quan điểm của mình trên các phương tiện đại chúng đặc biệt là internet để người Việt trong nước hiểu thêm thế nào là chế độ dân chủ; gây sức ép với chính quyền Mỹ cả lập pháp lẫn hành pháp để Mỹ có biện pháp thúc đẩy dân chủ-nhân quyền Việt Nam thông qua hợp tác kinh tế, hợp tác tương trợ về quân sự, và ngoại giao; ủng hộ trực tiếp những người đấu tranh dân chủ trong nước. Kết luận lại, việc hòa giải chỉ có thể diễn ra khi chế độ cộng sản Việt Nam được chấm dứt.

VOA: Xin cảm ơn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này.

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

VOA. Bào chữa không công, luật sư trẻ hết lòng vì lý tưởng công bằng xã hội

Nguồn VOA

Thứ Tư, 15/04/2015

Trà Mi-VOA

Sau khi phanh phui vụ án 5 công an Phú Yên đánh chết dân gây chấn động dư luận hồi năm ngoái, một luật sư trẻ đã bất chấp những đe dọa về sự nghiệp và tính mạng để tiếp tục phơi bày ra ánh sáng thêm một cái chết oan ức của một cậu bé vô tội 14 tuổi vì tay công an.

Luật sư Võ An Đôn ở Phú Yên nổi danh như một anh hùng được mọi người cảm phục và tôn vinh khi một mình đứng ra bảo vệ và giúp đỡ miễn phí cho gia đình nạn nhân Ngô Thanh Kiều trên con đường đi tìm công lý, tự chuốc cho mình những bất an, áp lực, đe dọa, và sự khủng bố tinh thần thường xuyên.

Trong khi chưa hoàn toàn chiến thắng trong vụ án đó, chưa lường hết được những hậu quả đang chờ chực phía trước, luật sư Đôn kết hợp với luật sư Trần Văn Đạt bảo vệ không công cho một bị hại nữa là em Tu Ngọc Thạch, học sinh cấp 2 ở Khánh Hòa bị công an xã Vạn Long, huyện Vạn Ninh, đánh chết vào năm 2013.

Kết thúc phiên phúc thẩm cuối tháng 3 vừa qua, tòa đã chấp nhận hủy án sơ thẩm để điều tra xét xử lại, nhưng đã phớt lờ yêu cầu của luật sư Đôn đề nghị khởi tố tòa cấp dưới vì đã "ra bản án trái pháp luật," "bao che tội phạm," "giảm nhẹ hình phạt" cho các bị cáo công an, những vi phạm thường thấy trong hệ thống pháp luật thiếu độc lập tại Việt Nam.

Trò chuyện với VOA, vị luật sư trẻ mưu sinh bằng nghề nông tại một vùng quê khốn khó của Phú Yên nhưng hết lòng phục vụ người nghèo trải lòng về lý tưởng đóng góp cho công bằng xã hội mà anh quyết tâm theo đuổi đến cùng, và kêu gọi mọi người cùng đồng hành ủng hộ công lý.

Luật sư Võ An Đôn: Hai vụ án công an dùng nhục hình với anh Ngô Thanh Kiều và em Tu Ngọc Thạch khác nhau ở chỗ vụ anh Kiều các bị cáo là công an chính quy của thành phố Tuy Hòa và tỉnh Phú Yên. Còn vụ em Thạch thì bị lực lượng công an xã, không phải lực lượng công an chính quy. Em Thạch và bị cáo Khỏe trước đây là bạn học cùng lớp xích mích khi đi coi lô tô ở địa phương trước đó 1, 2 ngày. Tới ngày 29/12/2013, em Thạch đạp xe đi ngang quán nước, em Khỏe bên trong cầm chai nước khoáng đuổi theo và quăng trúng vào sau ót của em Thạch. Khỏe, một bị cáo trong vụ án, là con của một công an của xã mà Thạch đang sinh sống.

Trà Mi: Vậy nguyên nhân vụ việc là do có đụng chạm tới con của công an, nên mới có sự can thiệp của công an xã trong việc này?

Luật sư Võ An Đôn: Đúng, chính vì vậy nên bị cáo Lê Minh Phát, công an xã, mới bắt em Tu Ngọc Thạch về đồn đánh đập cho đến chết. Giám định pháp y nói Thạch bị đa thương tích trong đó có chấn thương sọ não dẫn tới chết người. Ngoài ra còn bị dập não, các bộ phận trong cơ thể bị đa thương tích. Gan, tim, phổi bị sưng huyết. Nhìn bên ngoài thì các vết đánh đã bầm hết rồi.

Trà Mi: Tất cả những thương tích đó có được xác nhận là do bị cáo gây ra? Bị cáo có nhận tội không?

Luật sư Võ An Đôn: Tại tòa, bị cáo Lê Minh Phát, người bị cho là đánh chết em Thạch, đổ tội cho Khỏe, nói rằng nguyên nhân cái chết do Khỏe ném chai nước trúng đầu của Thạch. Phát nhận có hành vi đánh Thạch, nhưng nguyên nhân gây chết thì không nhận. Tuy nhiên, qua chứng cứ rõ ràng thì Hội đồng Xét xử đã tuyên hủy án sơ thẩm, trả lại hồ sơ để điều tra xét xử lại.

Trà Mi: Những sai phạm chủ yếu trong vụ này mà luật sư đặt trọng tâm làm rõ là gì?

​​Luật sư Võ An Đôn: Bị hại không có một hành vi phạm tội nào, nhưng các bị cáo công an xã lại bắt về trụ sở là không đúng quy định pháp luật. Thêm vào đó, họ còn dùng chân tay, dùi cui, mũ bảo hiểm đánh em đến chết là hết sức trái pháp luật khiến dư luận rất phẫn nộ. Bản án sơ thẩm của Tòa án Nhân dân huyện Vạn Ninh xét xử bị cáo Phát 2 tội gồm "bắt người trái pháp luật" và "cố ý gây thương tích." Theo đúng quy định pháp luật, hành vi của Phát lẽ ra phải truy tố xét xử theo tội giết người mới đúng. Tại tòa phúc thẩm, tôi yêu cầu hủy án sơ thẩm, khởi tố từ tội "giết người." Thứ hai, tòa sơ thẩm xử Lê Minh Phát và Lê Nhật Tâm tội "bắt người trái pháp luật" áp dụng khung 1 là không đúng. Việc này gây hậu quả nghiêm trọng là chết người, phải áp dụng khung 3. Thứ ba, tôi yêu cầu khởi tố Hội đồng Xét xử sơ thẩm của Tòa án Nhân dân huyện Vạn Ninh vì tòa làm không đúng pháp luật, cố tình bao che để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo phạm tội với trẻ em, có tính chất côn đồ, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội. Nhưng tòa sơ thẩm lại bỏ qua những tình tiết tăng nặng đó.

Trà Mi: Hai trong ba đề nghị của luật sư coi như đang được xem xét. Còn đề nghị thứ ba không được hồi đáp, họ giải thích thế nào?

Luật sư Võ An Đôn: Hội đồng Xét xử làm ngơ, không đá động tới việc này. Ở Việt Nam từ khi ban hành điều luật này, chưa một thẩm phán hay hội thẩm nhân dân nào bị xử lý về tội danh đó. Các bản án trái pháp luật rất nhiều nhưng chưa có người nào bị xử về tội này.

Trà Mi: Sai phạm của tòa sơ thẩm, luật sư có định theo đuổi tới cùng để đưa ra công lý?

Luật sư Võ An Đôn: Đề nghị của tôi căn cứ đúng luật pháp nhưng không bao giờ họ chấp nhận. Điều luật đó đã ra từ khi có Bộ luật Hình sự nhưng tới nay vẫn chưa áp dụng đối với ai hết.

Trà Mi: Chưa áp dụng không có nghĩa là không áp dụng. Luật sư có nghĩ mình sẽ đi theo đến cùng để nó được áp dụng cho công lý được thực thi?

Luật sư Võ An Đôn: Sau này em cũng sẽ đề nghị tiếp, nhưng để thực hiện được phải có báo chí vào cuộc, dư luận phải lên tiếng.

Trà Mi: Ông nghĩ khó có cơ may như mong đợi, nhưng nếu ai cũng nghĩ như thế thì coi như không có lối thoát?

Luật sư Võ An Đôn: Để việc đó được thực hiện, thứ nhất các cơ quan nhà nước và Viện Kiểm sát phải nhập cuộc, Ủy ban Tư pháp Quốc hội, dư luận, báo chí phải vào cuộc. Còn không thì khó lắm.

Trà Mi: Sau vụ ông Ngô Thanh Kiều tới nay chưa ngã ngũ mà luật sư đã phải đối mặt với rất nhiều đe dọa, bất an, áp lực. Trong khi chưa hoàn toàn thắng lợi trong vụ án đầu, giờ bước sang vụ thứ nhì, ông có nghĩ mình đang chuốc thêm họa vào thân hay chăng? Điều gì đã khiến ông nhận bảo vệ không công cho thêm một bị hại nữa?

Luật sư Võ An Đôn: Chính tình trạng dân chết trong đồn công an rất nhiều, giới luật sư thì không dám đụng tới các vụ án ‘nhạy cảm’ đó vì sợ công việc bị khó khăn, tính mạng bị nguy hiểm. Mình là luật sư mà không giúp được gì thì rất áy náy lương tâm. Cho nên, tôi biết dù nguy hiểm, khó khăn nhưng tôi chấp nhận tất cả để nói lên tiếng nói công lý, bảo vệ người dân, giảm bớt tình trạng dân chết trong đồn công an.

Cái tôi trăn trở nhất là hệ thống luật pháp này. Học luật quy định một nơi mà ra thực tế thực hiện lại một nẻo khác. Cái đau đầu nhất của tôi là vấn đề đó.
Luật sư Võ An Đôn

​​Trà Mi: Ông mường tượng con đường phía trước của mình như thế nào?

Luật sư Võ An Đôn: Rủi ro thì rất nhiều. Tương lai phía trước thì không biết như thế nào. Mình làm hết lương tâm-đạo đức nghề nghiệp thôi chứ tương lai phía trước mù mịt lắm, tính từng ngày thôi. Khi nào mình còn sống, còn hành nghề thì mình giúp người dân thôi chứ không biết được tương lai sẽ như thế nào.

Trà Mi: Trong các vụ án công an đánh chết dân hầu hết là bức cung nhục hình, lạm dụng quyền lực. Họ nói không cố tình gây ra cái chết. Nhưng vì lối hành xử trước nay quen tay rồi, cho nên, nhiều khi đưa tới kết cục ngoài ý muốn. Để bài trừ tận gốc tình trạng bạo hành trong ngành công an, theo luật sư, giải pháp khả thi phải như thế nào?

Luật sư Võ An Đôn: Nguyên nhân của bạo hành trong ngành công an thứ nhất là được giao quá nhiều quyền lực mà không có sự giám sát dẫn tới lạm quyền. Thứ hai là do trình độ, năng lực của cán bộ công an còn thấp, không dùng lý lẽ thuyết phục người ta nhận tội mà dùng bạo lực, đánh đập để lấy lời khai. Nhiều khi do cấp trên giao nhiệm vụ phải lấy bằng được lời khai, do áp lực công việc mà người ta dùng nhục hình. Để khắc phục tình trạng này, công tác giam giữ phải tách riêng, không giao công an nữa thì sẽ giảm được nhiều. Bạo hành trong ngành công an mà xử lý nghiêm, nặng thì sẽ giảm ngay thôi. Nhưng ngược lại, bên tòa án, các cơ quan tiến hành tố tụng lại không dám xử nghiêm vì áp lực từ nhiều phía. Họ bảo vệ cán bộ lẫn nhau, nhiều khi xử mức án rất nhẹ. Để xử lý nghiêm, đòi hỏi toàn hệ thống các cơ quan, trong đó có cơ quan tiến hành tố tụng, phải độc lập. Xử nghiêm, mức án nặng mang tính răn đe cao, thì lực lượng công an sẽ bớt dùng bạo hành đối với người dân.

Trà Mi: Như vậy sự thay đổi như mong đợi đó nên được bắt đầu từ đâu?

Luật sư Võ An Đôn: Từ luật pháp, từ những người làm công tác ban hành soạn thảo luật pháp, từ Quốc hội.

Trà Mi: Từ luật pháp thôi có đủ hay không?

Luật sư Võ An Đôn: Việc này mang tính vĩ mô cả một hệ thống, cả cơ chế luôn, rất là khó nói. Là luật sư bảo vệ miễn phí cho người dân bị công an bạo hành đánh chết mà đa số là người nghèo thấp cổ bé họng, không quyền không tiền; để việc tôi làm có hiệu quả, mong cộng đồng quan tâm ủng hộ, báo chí lên tiếng. Có như vậy mới thành công được, chứ một mình tôi chẳng làm được gì.

Trà Mi: Một mình đứng ra bảo vệ cho người nghèo, ông có bao giờ cảm thấy bị lẻ loi? Có bao giờ ông cảm giác mình là một luật sư đơn độc giữa thế giới xung quanh còn nhiều bóng tối ảm đạm hay không?

Luật sư Võ An Đôn: Hiện ở Việt Nam có khoảng 10 ngàn luật sư, nhưng tôi thấy rất đơn độc, chẳng ai bảo vệ mình hết, một mình mình vậy thôi. Luật sư là để bảo vệ công lý, bảo vệ người dân cho dù có muôn vàn khó khăn. Nguyện vọng của tôi là tôi làm đúng luật pháp mà bị cản trở hay bị gây khó khăn thì Hội Luật sư cả nước cứ căn cứ vào Luật Luật sư mà giúp tôi, bảo vệ tôi đúng luật pháp. Tôi chỉ mong muốn như vậy thôi. Cái tôi trăn trở nhất là hệ thống luật pháp này. Học luật quy định một nơi mà ra thực tế thực hiện lại một nẻo khác. Cái đau đầu nhất của tôi là vấn đề đó.

Ông Tu Ngọc Hoài, bố của em học sinh lớp 9 Tu Ngọc Thạch bị công an đánh chết ở Khánh Hòa, xúc động bày tỏ lòng cảm kích đối với những người như luật sư Đôn đã giúp mang lại hy vọng và niềm tin công lý cho người nghèo thấp cổ bé miệng như gia đình ông:

“Luật sư Đôn ở Phú Yên tư vấn, biện hộ cho gia đình tôi miễn phí không lấy một đồng bạc nào hết. Luật sư Đạt cũng vậy. Hai luật sư này có tấm lòng quảng đại lắm. Gia đình tôi rất cảm ơn. Hai luật sư đã biện hộ giúp lấy lại công bằng cho đứa con tôi đã chết. Tôi mong họ mau sớm điều tra vụ việc của con mình. Vụ này mà bị bỏ lơ thì vụ khác họ lại bắt chước. Vụ này mà làm sáng tỏ thì làm gương cho những kẻ khác. Luật sư Đôn và luật sư Đạt vừa có tài vừa có đức, mình không biết dùng lời nào để cảm ơn họ. Tôi mong muốn, yêu cầu pháp luật, chính quyền Việt Nam, những nhà lãnh đạo làm sao phải minh chính, minh bạch, công minh, công lý. Tôi và vợ tôi lúc nào cũng đau đớn vì đứa con mình không có tội lỗi gì hết, nó là người nhỏ vô tội mà, đâu biết gì đâu mà họ đánh đập tàn bạo như vậy. Gia đình tôi đau đớn, lúc nào cũng đau buồn, thậm chí không thể nào mà bước chân đi làm.”

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Nguyễn Ngọc Ngạn – Tháng Tư 2015

Nguồn gocnhinalan

Bên thắng cuộc

Benthuacuoc-caitao

(GNA: Chúng tôi không nghĩ ông MC Nguyễn Ngọc Ngạn dễ thương của chương trình ca nhạc Thúy Nga lại là một nhà phân tích chính trị khà sâu sắc. Bài viết dưới đây nhân ngày đại thắng (của ai?) là một góc nhìn sáng tạo về hệ quả của cuộc biển dâu lịch sử)

Trong đợt lưu diễn văn nghệ đầu năm nay ở vài thành phố bên Mỹ, trùng hợp có một tờ tạp chí và một đài phát thanh hỏi tôi cùng một câu: Nhìn lại 4 thập niên vừa qua, 1975-2015, sự kiện gì đối với chú là quan trọng nhất?

Câu này dễ trả lời! Thế giới biến đổi từng ngày, biết bao nhiêu chuyện xảy ra. Nhưng riêng đối với tôi thì biến cố lớn nhất trong 40 năm qua là sự tan rã của Liên Xô và hệ thống cộng sản toàn cầu. Nó mở ra một kỷ nguyên hòa bình mới, kết thúc chiến tranh lạnh, giảm thiểu tối đa các vũ khí chiến lược, tiết kiệm bao nhiêu tiền của và xương máu mà nhân loại đã đổ ra từ ngày có phong trào cộng sản.

Cần hình dung lại hàng triệu người đã chết thảm ở Siberia thời Stalin, trong cải cách ruộng đất và cách mạng văn hóa thời Mao Trạch Đông, rồi cải cách ruộng đất và sửa sai thời Hồ Chí Minh trên đất Bắc, cũng như đánh tư sản và tù cải tạo tại miền Nam sau 1975. Chưa kể chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Kiểm điểm lại những đau thương ngút trời gần một thế kỷ vừa qua, người ta mới thấy hết được niềm hạnh phúc khi đế quốc cộng sản sụp đổ, mà sự sụp đổ ấy không do tác động trực tiếp của thế giới tự do, mà do chính nội bộ của đảng viên và của quần chúng các nước xã hội chủ nghĩa dấy lên. Theo tôi, đó là sự kiện vĩ đại nhất của nhân loại trong 4 thập niên vừa qua!

Từ ngày ra hải ngoại, tôi vẫn mang trong đầu một điều tiếc nuối: Việt Nam Cộng Hòa là quốc gia cuối cùng trên thế giới bị lọt vào tay Cộng Sản. Giả như đồng minh Hoa Kỳ không bỏ cuộc giữa đường, Miền Nam Việt Nam chỉ cần cầm cự thêm vài năm nữa, chắc chắn tình hình đã đổi khác.

Đến khi cộng sản toàn cầu sụp đổ, tôi lại cho rằng, sự sụp đổ ấy bắt nguồn sâu xa từ chiến tranh Việt Nam. Tôi tin như thế, nhưng dè dặt không dám viết ra vì sợ có người sẽ bảo là tôi chủ quan. Mãi đến khoảng năm 2005, tôi tình cờ đọc được cuốn sách của một tác giả người Mỹ, tôi mới cảm thấy an lòng và hết sức vui mừng vì có người đồng ý với suy nghĩ của tôi.

Tiếc là giờ này tôi không có cuốn sách ấy trong tay, vì hôm đó trong khi chờ chuyến bay ở phi trường, tôi tạt vào tiệm bách hóa Hudson News tính mua đại một tờ tạp chí nào đó để lên máy bay xem cho qua thì giờ, thì thấy có cuốn sách viết về Vietnam War nên vội lấy xuống. Tôi mới chỉ đọc được 2 trang của phần mở đầu thì chuyến bay thông báo boarding mà người xếp hạng ở quầy tính tiền sách đông quá, tôi đành bỏ lại cuốn sách trên kệ.

Ngồi trên phi cơ, tôi nhớ lại lập luận của tác giả cho rằng: Chiến tranh Việt Nam là cuộc chạy đua võ trang, hay đúng hơn là cuộc chạy đua tiêu tiền, giữa hai khối tư bản và cộng sản. Cuộc chạy đua ấy tuy kết thúc dở dang vì Hoa Kỳ bỏ cuộc, nhưng cũng đủ để làm khối cộng sản kiệt quệ về tài chánh, không vực dậy nổi, dẫn đến sự sụp đổ 15 năm sau!

Điều này tôi tin là đúng. Hồi mới sang Canada, năm 1979, tôi đọc một bài viết trong tờ Financial, nói rằng: Chiến tranh Việt Nam đã làm đồng dollar Mỹ mất giá và gây nên tình trạng lạm phát nặng nề. Lúc ấy tôi nghĩ: Mỹ giàu như thế mà còn điêu đứng vì chiến tranh Việt Nam, thì huống chi các nước cộng sản vốn quanh năm èo uột về kinh tế!

Quả thực đúng như vậy! Trong chiến tranh, người dân các nước Cộng Sản tạm quên cái đói khổ. Nhưng hết chiến tranh rồi, cái sai của chế độ và cái yếu của lãnh đạo tất nhiên phải lộ ra, không thể nào che đậy được. Lấy lý do gì để giải thích với nhân dân, sau bao nhiêu năm nhịn ăn cung ứng cho chiến trường, rồi bây giờ lại càng đói khổ hơn khi hòa bình trở lại!

Từ những “bức xúc” thực tế ấy, lãnh đạo Cộng Sản bất đắc dĩ phải đưa ra khẩu hiệu “đổi mới”, khởi đầu ngay tại Liên Xô từ năm 1985. Nói “bất đắc dĩ” là bởi vì trong thế giới Cộng Sản, bất cứ ai đề xuất một ý tưởng khác với những giáo điều cứng rắn của Đảng thì lập tức bị gán cho cái tội “xét lại” hoặc “phản Đảng” và thường đưa đến hậu quả thân tàn ma dại. Điều này chắc chắn ai cũng đã biết qua kinh nghiệm mấy chục năm cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đọc Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Đèn Cù của Trần Đĩnh, Bên Thắng Cuộc của Huy Đức v.v… chúng ta đã thấy được phần nào những thanh trừng nội bộ rất cay đắng của Đảng Cộng Sản qua những vụ án mà họ gọi là “xét lại”, chẳng hạn như vụ Hoàng Minh Chính.

Hoàng Minh Chính là một đảng viên kỳ cựu, hoạt động cùng thời với anh em Lê Đức Thọ. Năm 1945 ở Hà Nội, nhạc sĩ Văn Cao tham gia Việt Minh, công tác trong đội ám sát. Chính Hoàng Minh Chính đã đưa súng cho Văn Cao đi giết những đảng viên Quốc Dân Đảng bị Việt Minh vu cho tội thân Nhật. Hơn 30 năm sau, Hoàng Minh Chính mới tỉnh ngộ, nhìn thấy nhu cầu phải cải tổ để cứu đất nước. Nhưng ý kiến của ông đụng vào những bức tường bảo thủ kiên cố nên ông bị truy bức, kéo theo bao nhiêu người khác mà phe bảo thủ muốn nhân dịp này tiêu diệt.

Kim Ngọc, Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú, thấy nông dân làm hợp tác xã không có hiệu quả vì cha chung không ai khóc, cơm nhà chúa múa tối ngày, cứ rềnh rang vác cuốc ra đồng đủ 8 tiếng rồi về, thu hoạch không năm nào đủ chỉ tiêu. Ông mới nghĩ ra sáng kiến là cho nông dân làm khoán. Làm nhiều ngày hay ít, chăm hay lười, không cần biết, miễn là nộp đủ số thóc quy định! Sáng kiến này tuy thực tế và có lợi cho Nhà Nước nhưng bị coi là đi lạc đường nên bí thư tỉnh ủy bị kỷ luật và cách chức! Bí thư tỉnh ủy tất nhiên phải là một ủy viên trung ương Đảng, thế mà còn bị trừng phạt vì một sáng kiến cá nhân, huống chi người dân thường, ai dám phát biểu ý kiến!

Vậy mà sau 10 năm kết thúc chiến tranh, giữa lúc phe bảo thủ còn đang thống trị toàn Đảng, thì Trường Chinh đã phải công khai hô hào đổi mới. Ai cũng biết Trường Chinh là lãnh tụ cộng sản kỳ cựu bên cạnh Hồ Chí Minh, một lý thuyết gia tiền phong của Đảng và là người chỉ đạo cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu tại Miền Bắc, giết hại biết bao nhiêu nông dân cũng như đảng viên. Nói cách khác, Trường Chinh vẫn được coi là một thành trì kiên cố nhất của Đảng. Thế mà chính Trường Chinh phải thay đổi lập trường thì đủ biết hoàn cảnh Việt Nam sau chiến tranh thê lương như thế nào!

Trần Bạch Đằng viết trong bài “Dám Rẽ Ngoặt Trong Tư Duy” như sau:

“Mùa Thu năm 1985, thành quả của bao nhiêu năm chắt chiu của nước ta bỗng chốc sụp đổ qua sai lầm trong điều chỉnh giá cả và đổi tiền. Thế là toàn Đảng toàn dân “khởi đầu bằng sự khởi đầu”! Bác Trường Chinh tìm lối thoát trong cảnh cực kỳ rối ren… Bác kiên trì sự nghiệp đổi mới, đổi mới triệt để và toàn diện… Bác dũng cảm điều chỉnh lại tư tưởng của mình…”!

Nói “dũng cảm” bởi vì khi đề xuất ý kiến đổi mới tức là đụng chạm mạnh đến những vùng đất cấm kinh niên của Đảng, những nhân sự suốt đời cố chấp mà chỉ có người tầm cỡ như Trường Chinh, lúc ấy ngoài 70, mới dám lên tiếng!

Sau khi Trường Chinh mất, Trần Bạch Đằng viết:
“Thưa anh Năm Trường Chinh! Tiễn anh, chúng tôi ân hận vô cùng: Không đổi mới nhanh như anh ao ước!… Tôi tin, nếu quả còn cuộc sống ở thế giới khác sau khi người ta chết, thì những nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất, cũng sẽ mở rộng vòng tay đón Bác Năm Trường Chinh…”.

Ý nói: Cuối đời Trường Chinh đã thấy cái sai của mình, xin các oan hồn bị đấu tố trước đây, nếu gặp lại Trường Chinh ở thế giới bên kia, hãy tha cho Trường
Chinh, đừng xúm lại hỏi tội!
(Ghi chú: Trần Bạch Đằng nguyên là Bí thư Khu Ủy Sài Gòn – Gia Định. Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, Trần Bạch Đằng và Võ Văn Kiệt là tư lệnh tiền phương, chỉ huy lực lượng Việt cộng đánh vào nội thành Sài Gòn).

“Đổi mới” thật ra là một bản tuyên ngôn đầu hàng tư bản! Bởi vì: Cốt lõi của Cộng Sản là kinh tế chỉ huy, là mậu dịch quốc doanh, là kiểm tra hộ khẩu, là hợp tác xã, là mỗi tháng xếp hàng lĩnh 16 ký gạo! Một khi đã chuyển sang cơ chế thị trường tức là đã chào thua thế giới tự do rồi!
Kiệt quệ về kinh tế đã đành, người Cộng Sản còn mất hết niềm tin vào những lý tưởng mà họ được dạy dỗ trước đây.

Lùi lại hồi đầu thế kỷ thứ 20, phong trào Cộng Sản là một cái gì mới mẻ, hấp dẫn rất nhiều người trí thức ở thành thị. Nó hấp dẫn bởi về mặt lý thuyết, nó đề cao lý tưởng công bằng xã hội, xóa bỏ bất công bằng đấu tranh giai cấp. Lúc ấy, quả thực tư bản còn quá nhiều khuyết điểm, chủ nhân bóc lột công nhân, công đoàn chưa thành hình, chế độ lao động hà khắc, không được luật lao động bảo vệ. Ở nông thôn thì phong kiến áp bức đến tận cùng. Do thực tế ấy, người ta dễ dàng bị lôi cuốn theo Cộng Sản dù chưa hiểu CS là gì. Đã thế, cộng sản lại ra đời đúng lúc phong trào giải phóng các dân tộc bị trị lên cao trên toàn cầu, nhất là sau Đệ nhị Thế chiến. Cộng Sản khôn khéo đem chiêu bài chống ngoại xâm để lôi kéo quần chúng, điển hình là biết bao nhiêu người đã theo Hồ Chí Minh, đâu phải vì thích Cộng Sản mà vì muốn đứng vào hàng ngũ đánh Pháp. Đến khi Cộng Sản thắng rồi thì đã quá muộn, họ không rút chân được nữa!

Thế giới tư bản thì càng ngày tự điều chỉnh để trở nên hoàn thiện, trong khi cộng sản dừng chân tại chỗ, hết chiến tranh là lộ ra hết khuyết điểm. Khi Liên Xô và Trung Cộng công khai thù nghịch nhau, khi Việt Cộng xâm lăng Miên Cộng (Khờ-Me Đỏ), khi Trung Cộng dạy cho Việt Cộng một bài học vào đầu năm 1979 – nghĩa là gà cùng một mẹ mà chém giết nhau không nương tay – thì cái lý tưởng “thế giới đại đồng” và “chung sống hòa bình” giữa các nước xã hội chủ nghĩa anh em còn ý nghĩa gì nữa! Cứ nhìn Trung Cộng, người ta thấy ngay cái tình hữu nghị môi hở răng lạnh của hai nước Cộng Sản nó cay đắng như thế nào!

Lời dạy của Đảng trở thành trò hề, làm thất vọng tất cả những ai từng tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin. Ý nghĩ giã từ chủ nghĩa xã hội vì vậy càng ngày càng lan rộng trong đầu nhiều đảng viên, chỉ chờ cơ hội là bùng phát!

Từ khi các nước Đông Âu và nhất là Liên Xô sụp đổ, thế giới không còn ai nhắc đến Cộng Sản nữa. (Chắc chỉ còn cộng đồng người Việt ở hải ngoại vẫn bám lấy ma Cộng Sản để hù dọa hoặc chụp mũ nhau mà thôi!). Hai chữ “Cộng Sản” chỉ còn là một tì vết của lịch sử, đã lùi hẳn vào trong dĩ vãng, không còn là mối bận tâm cho nhân loại. Nó đã trở thành chuyện cổ tích, người bỏ Đảng mỗi ngày một đông. Trước mắt thế giới, kẻ thù mới bây giờ là Terrorist, là ISIS, là những nhóm quá khích không nhân tính, chứ kẻ thù cũ là Cộng Sản giờ này là hết hẳn đất đứng.

Dĩ nhiên cũng còn vài nước vẫn bám lấy danh hiệu Cộng Sản nhưng thật ra họ không còn mang chất cộng sản như xưa. Họ bám chỉ vì quyền lợi của đảng phái, của phe nhóm mà họ phải bảo vệ mà thôi. Bắc Hàn và Cuba thì đói khát quanh năm, không đáng bàn đến. Trung Cộng thì tư bản hóa trước cả Việt Cộng. Cụ thể, ngày nay nếu phải đối phó với Trung Quốc thì hoàn toàn không phải là đối phó với một nước cộng sản mà là một đế quốc có chủ trương bá quyền.

Việt Nam cũng thế! Giờ này người ta chống Việt Nam không phải là chống một nước cộng sản mà là chống một chính quyền độc tài, độc đảng, chà đạp nhân quyền giống như nhiều nước độc tài khác trên thế giới.

Trong chế độ Cộng Sản đích thực, chỉ cần có vài mẫu ruộng đã ra pháp trường đấu tố, chỉ cần làm chủ một cửa tiệm hạng trung đã bị đánh tư sản, hoặc vào tù hoặc đi vùng kinh tế mới, chứ làm gì có những cán bộ đảng viên sở hữu những dinh thự nguy nga và ôm hàng tỉ hàng triệu dollars như hiện nay ở Việt Nam! Các cấp lãnh đạo Trung Quốc cũng thế! Có những quan chức phải dành riêng ra hẳn một căn nhà mới đủ chỗ chứa vàng và tiền mặt thì cộng sản ở điểm nào!

Nói tóm lại, trên thế giới ngày nay không còn nước nào áp dụng lý thuyết Cộng Sản đúng nghĩa. Tất cả đều đã đầu hàng tư bản, chạy theo tư bản, nhưng gắng gượng nên câu khẩu hiệu: “Áp dụng cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa!” Họ ngượng ngùng nói thế khi chính họ cũng biết rõ rằng chủ nghĩa xã hội không bao giờ có cơ chế thị trường! Tư bản thúc đẩy sản xuất và cải thiện sản phẩm bằng tự do cạnh tranh! Cộng Sản thúc đẩy sản xuất bằng tuyên truyền, bằng chỉ thị và bằng giấy biểu dương! Khác nhau như nước với lửa, không thể kết hợp được.

Cho nên, như tôi đã nói ở trên, người cộng sản một khi đã áp dụng cơ chế thị trường tức là đã bỏ cuộc, là giã từ hẳn chủ nghĩa của mình rồi! Chỉ cần để ý một chút, chúng ta thấy ngay ngày nay họ không còn tự hào khoe khoang về lý tưởng của họ như thuở trước. Những câu khẩu hiệu một thời họ hãnh diện nêu cao như “Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân”, hoặc “Chủ nghĩa xã hội là đỉnh cao trí tuệ loài người” giờ này chính họ đã lặng lẽ xóa đi. Hai chữ “vô sản” là đặc trưng của chế độ, ngày nay cũng đã biến mất! Đấu tranh giai cấp để tiến đến công bằng xã hội thì không thể áp dụng được nữa bởi giai cấp giàu nhất bây giờ gồm toàn đảng viên! Chả nhẽ họ tự đấu tố chính mình!

Chẳng những thế, trong nước đang có dư luận một ngày gần đây Đảng Cộng Sản sẽ đổi tên, bỏ hẳn hai chữ “Cộng Sản” đã lỗi thời vì quá nhiều khuyết điểm! Nhưng dù có đổi tên mà vẫn duy trì lề lối cũ, vẫn độc tài và thường xuyên vi phạm Hiến Chương Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc thì thế giới vẫn tiếp tục lên án và người dân vẫn tiếp tục đấu tranh.

Bởi mục tiêu tối hậu không phải chỉ là xóa đi hai chữ Cộng Sản, mà là kiến tạo một quốc gia tự do, dân chủ và phú cường, để Việt Nam có thể hãnh diện đứng ngang tầm với các nước văn minh trên thế giới.

Tổng kết lại, nhìn lại 4 thập niên vừa qua, nếu chỉ chú ý đến cái mốc kết thúc chiến tranh năm 1975 ở Việt Nam, thì người ta gọi Miền Bắc là “bên thắng cuộc”. Nhưng nếu mở tầm mắt rộng hơn, nhìn sự sụp đổ của hệ thống Cộng Sản toàn cầu do chiến tranh Việt Nam gián tiếp gây nên, thì thế giới tự do mới đích thực là “bên thắng cuộc”!

Nguyễn Ngọc Ngạn
Tháng 4/2015

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Phạm Thị Hoài : Thư Lý Quang Diệu gửi Margaret Thatcher về vấn đề thuyền nhân Việt Nam

Nguồn baotreonline

Wednesday, 01 April 2015 12:46

Ph%E1%BA%A1m%20Th%E1%BB%8B%20Ho%C3%A0i.jpg

Tác Giả
Phạm Thị Hoài

Trong tác phẩm Bên Thắng Cuộc, chương "Nạn kiều", nhà báo Huy Đức nhắc tới "Phương án II", "một kế hoạch ‘được phổ biến miệng để giữ bí mật’, theo đó: người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản."[1] Đó là thời điểm từ giữa năm 1978 đến giữa năm 1979, khi chiến dịch bài Hoa ở Việt Nam dâng cao và chiến tranh biên giới Việt-Trung bùng nổ. Những người vừa mất nơi sinh sống, vừa mất hết tiền của vào tay chính quyền để ra đi "hợp pháp" trong vòng bí mật và không ít cũng sẽ mất mạng trên biển trong kế hoạch này phần lớn là người Việt gốc Hoa.

lee-kuan-yew-13.jpg

Lý Quang Diệu. ẢNH TODAYONLINE.COM

Phương án bí mật, chưa bao giờ được chính quyền Việt Nam thừa nhận này, được đánh giá từ một nguồn bất ngờ khác: bức thư của cố Thủ tướng Singapore vừa qua đời, gửi cho cố Thủ tướng Anh ngày 5/6/1979, đăng trên trang Margaret Thatcher Foundation.

Chúng ta đã biết rằng Lý Quang Diệu ủng hộ sự xích lại gần nhau của Trung Quốc và Hoa Kỳ sau Chiến tranh Việt Nam để kiềm chế ảnh hưởng của Liên Xô. Ông cũng biện bạch cho Pol Pot, rằng Khmer Đỏ là một phương án cần thiết, chẳng qua chỉ bị giới truyền thông cường điệu lên thành ma quỷ[2].Về xung đột biên giới Việt-Trung, ông cho rằng nếu Trung Quốc không dạy cho Việt Nam một bài học thì giờ này Liên Xô đã bành trướng thế lực ra toàn Đông Nam Á, rằng các nước trong khu vực đều hưởng lợi từ đòn phủ đầu của người Tàu. Khi ấy, Đặng Tiểu Bình đã coi ông là cố vấn và mô hình Singapore đã trở thành hình mẫu của Trung Hoa hiện đại. Họ Lý và họ Đặng gặp nhau hai lần, trò chuyện kéo dài, nồng ấm và trân trọng lẫn nhau, ngày 12 và 13/11/1978, trong chuyến thăm đầu tiên của nhà lãnh đạo Trung Quốc tại Singapore. Trước đó một tháng, nhanh chân hơn, ngày 16/10/1978, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng cũng đến Singapore tiếp kiến Lý Quang Diệu. Nhưng cuộc trò chuyện giữa họ Lý và họ Phạm, theo miêu tả của một nhà ngoại giao Singapore chứng kiến cả ba cuộc gặp mặt[3], diễn ra lạnh lẽo.

Cuối năm 1978, đầu năm 1979, hàng trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam trở thành một vấn nạn quốc tế. Khác với nhiệt tình cứu giúp những năm trước, các nước trong khu vực bắt đầu lo ngại, từ chối, thậm chí xua đuổi và có cả trường hợp nổ súng vào thuyền nhân Việt Nam. Các nước phương Tây bắt đầu đùn đẩy nhau trách nhiệm bảo lãnh. Anh quốc đóng một vai trò, vì điểm đến của những nạn kiều gốc Hoa này trước hết là Hồng Kông, trong khi Anh quốc chỉ sẵn lòng tiếp nhận tổng cộng chưa đầy 2000 người. Trước áp lực của công luận, Thủ tướng Anh Margaret Thatcher thậm chí đã tính đến việc mua một hòn đảo ở Thái Bình Dương cho thuyền nhân Việt Nam định cư. Dự định này bị Lý Quang Diệu phản đối, vì lo ngại nó sẽ trở thành một đảo quốc, cũng của những người Tàu tha phương, cạnh tranh với Singpore.[4]

Ngày 23/5/1979, một chiếc thuyền với 293 người tị nạn Việt Nam được con tàu chở hàng Roachbank của Anh trên đường từ Singapore đến Đài Loan cứu vớt, đến Cao Hùng ngày 27/5. Song chính quyền Đài Loan từ chối không cho họ nhập cảnh, tàu Roachbank không được phép cập cảng.[5] Bà Margaret Thatcher đã nhờ đến Thủ tướng Singapore để gây áp lực với chính quyền Đài Loan, trước khi nước Anh phải đối diện với trách nhiệm bảo trợ những con người trong bước đường cùng đó. Toàn văn bức thư trả lời của Lý Quang Diệu như sau:

alt

alt

Ngày 5/6/1979

Thưa Thủ tướng,

Cảm ơn bà về bức thư ngày 30 tháng Năm.

Vấn đề người tị nạn này rất nghiêm trọng và có lẽ sẽ còn tồi tệ hơn.

Tháng trước, tại một hội nghị quốc tế ở Jakarta ngày 15-16 tháng Năm, đại diện Việt Nam đã tuyên bố rằng Việt Nam sẽ cho phép 10,000 người di tản hợp pháp mỗi tháng. Ông ta ước chừng dè dặt là có khoảng 600,000 người muốn ra đi. Phần lớn cho rằng con số ấy có thể lên đến gần một triệu.

Bà có đề nghị tôi thỉnh nguyện chính phủ Đài Loan nhận những người tị nạn trên con tàu "Roach Bank". Vì quan điểm của chính nước tôi trong vấn đề người tị nạn Việt Nam, tôi không thực sự là người thích hợp để đưa ra yêu cầu đó. Chính sách của Đài Loan không khác gì chính sách của Singapore. Tuy nhiên, tôi sẽ đề nghị họ cân nhắc việc đưa ra một ngoại lệ, ngoại lệ duy nhất, cho những người tị nạn trên tàu "Roach Bank". Tôi không lạc quan về kết quả, vì tôi biết rằng nếu họ chấp nhận thì cử chỉ đó sẽ kéo theo hàng ngàn người tị nạn khác.

Tôi tin rằng những tin tức về vấn đề người tị nạn trên truyền thông và từ các phát ngôn viên của các chính phủ phương Tây chỉ làm lợi cho chính quyền Việt Nam. Chú trọng vào những giải pháp có thể đặt ra, chẳng hạn nước nào sẽ đảm nhận những người tị nạn nào và bao nhiêu, truyền thông đã biến họ thành đối tượng cho sự đổ lỗi lẫn nhau giữa các chính quyền phi cộng sản. Các nước này sẽ bảo đảm được quyền lợi của mình hơn, nếu tập trung năng lượng vào việc vạch trần sự bỉ ổi của chính quyền Việt Nam. Phải nói, phải nhắc đi nhắc lại, cho nhân dân và các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới biết rằng chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính là kẻ tích cực xúc tiến cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng nề cho các nước Đông Nam Á.­­

Chúng ta phải đẩy họ vào thế thủ. Các nhà lãnh đạo Việt Nam không phải là những kẻ điên rồ vô lý như kiểu Idi Amin[6]. Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh. Chỉ có nguy cơ bị cộng đồng quốc tế ruồng bỏ mới khiến họ phải phản suy xét lại đường lối hiện tại. Từ giờ đến lúc đó, họ sẽ còn tung ra hàng ngàn người tị nạn mỗi tuần.

Kính thư

Lý Quang Diệu

Với những lời thẳng thừng không một chút màu mè ngoại giao này, vị nguyên thủ Singapore khó có thể hãnh diện về trái tim nhân đạo của mình, song sự tỉnh táo sắc bén của ông quả là xứng đáng với huyền thoại Lý Quang Diệu. Làm thế nào một người hoàn toàn đứng ngoài như ông, ngay ở thời điểm đó, có thể nhận ra thực chất của chính sách kiếm lời trên lưng thuyền nhân của chính quyền Việt Nam, khi phần lớn người Việt chúng ta cho đến giờ phút này vẫn không biết gì, hoặc có biết cũng không thể tin hay không muốn tin vào cái gọi là Phương án II, như đã dẫn ở đầu bài?

Bức thư này, dù chỉ như một ghi chú nhỏ, là một bổ sung vào những trang còn trống của lịch sử thuyền nhân Việt Nam, và, bất chấp sự khó chịu của rất nhiều người Việt, nó còn cho thấy chính Việt Nam những năm tháng ấy cũng đã góp phần không nhỏ để xung đột Việt-Trung biến thành bạo lực, rồi đến lượt nó bạo lực lại nhả độc ngấm sâu trong lòng người Việt như thế nào.

Phạm Thị Hoài

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Chia tay NS. Nguyễn Đức Quang – Post lại nhân ngày giỗ anh 27-3-2011

Nguồn saigonocean

Lời Cuối Gởi Đến Anh:

Vĩnh Biệt Nguyễn Đức Quang!

Lời Mở Đầu:

Sau khi được tin nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang lặng lẽ ra đi, ngày 28 tháng 3, 2011, tôi có kêu gọi những anh chị em (ACE) trong nhóm liên diễn đàn với nhóm Tình Nghệ sĩ để lấy những cảm nghĩ về người quá cố, rồi cho vào bài viết chung tiễn đưa lần cuối. Kết quả bài hay emails gửi về ngoài 10 diễn đàn liên kết, các thân hữu từ bên ngoài gửi vào khá nhiều.

Vì nhiều ACE như Dương Viết Điền và vài ACE khác cho biết đã thức khuya đến 4, 5 giờ sáng hôm sau để viết gấp cho xong bài, và nhiều thân hữu nhắn khi gửi là lời phân ưu, những cảm nghĩ đưa tiễn gồm kỷ niệm gửi qua internet không nên cắt xén bài của họ, và dịp tiễn đưa này chỉ có một lần thôi, do lời yêu cầu đó, tôi xin giữ trọn bài, trừ vài bài được cho qua trích đoạn được đăng y như vậy.

Vào….

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang thật sự không xa lạ với dân chúng ở miền Nam Việt Nam hay Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, bên ngoài được nhận diện là một nhạc sĩ, anh cũng là một nhà báo, một Huynh trưởng Hướng Đạo Việt Nam và những phạm vi khác nữa, chung qui là người có nhiều tài năng và đức độ.

Tôi có hai dịp chuyện trò với anh, cảm giác khi tiếp xúc thì anh là người vui tính, hòa nhã và cởi mở. Khoảng năm 2000 tôi đi với một người bạn là thân chủ của báo Viễn Đông, chúng tôi được anh tiếp, chuyện trò thế sự trước và sau năm 75, sinh hoạt âm nhạc và báo chí quận Cam, lần sau khi cùng đi với nhạc sĩ Dương Viết Điền xuống OC gặp anh Phan Nhật Nam, rồi anh Vương Trùng Dương, xong ghé vào Viễn Đông lấy báo và tiếp xúc với anh Quang. Tôi không có kỷ niệm trực tiếp với anh Nguyễn Đức Quang nhiều, nhưng có kỷ niệm đặc biệt với nhạc của anh. Vào những năm cuối của VNCH, Trung Cộng và Hoa Kỳ có những thỏa hiệp trao đổi ngầm, Đệ thất hạm đội của xứ Đồng minh án binh bất động khi hải quân Trung Cộng tiến đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19-01-1974. Tin chiếc HQ-10 của hải quân VNCH bị đánh chìm, anh chị em sinh viên trường đại học Minh Đức chúng tôi xuống đường biểu tình chống Trung Cộng. Cái đau đớn, tủi nhục cái uất nghẹn căm hờn khi bên ta thua trận chỉ bởi vì địch thủ là một con khủng long hung ác, một thứ king kong vạm vỡ lấy thịt đè người, qui luật của sự kiện mạnh được yếu thua, tôi đau khổ chứng kiến cảnh những chị em yếu lòng khóc ròng, các sinh viên trẻ sôi sục nỗi uất ức, loa phóng thanh tố cáo cả hai loại giặc, giặc trong Việt Cộng và giặc ngoài Trung Cộng. Giặc trong ngu xuẩn, mà giặc ngoài tham lạm, và rồi nhạc của Nguyễn Đức Quang tiếp vang niềm tin cho tuổi trẻ chúng tôi, để tiếng nói bất khuất cùa anh chỉ em chúng tôi, lòng yêu nước dâng tràn khi đồng ca bài "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ".

Từ sau biến cố 1974 về quần đảo Hoàng Sa, bài ca này khơi lòng tuổi trẻ Việt Nam khi bờ cõi lâm nguy bởi ngoại bang, đặc biệt bọn Đại Hán bắc phương. "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" nhắc nhở cho tuổi trẻ niềm hãnh diện khi nhớ về những gương anh hùng hào kiệt xa xưa trong lịch sử bất khuất, có những Lý Thường Kiệt, Ngô Quyền, Trưng Triệu, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng hay Quang Trung Đại Đế,….Năm 2007 gần đây khi Trung Cộng ngang nhiên sát nhập hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa vào bản đồ của họ, Bắc Kinh chính thức hóa sự việc thành lập huyện Tam Sa trực thuộc đảo Hải Nam. Người Việt Nam, đặc biệt tuổi trẻ Việt Nam khắp nơi từ trong xứ ra hải ngoại tràn xuống đường căm phẩn, phản đối rợ bá quyền Đại Hán côn đồ ngang ngược và rồi "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" lại vang lên trong các buổi biểu tình bày tỏ nỗi quan tâm lo lắng vì tiền đồ dân tộc bị lâm nguy.

RFA link:

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/music-for-the-weekend-TNga-06292008221713.html

Tôi suy nghĩ trong lời phát biểu cảm nghĩ của nhạc sĩ Trần Trung Đạo trong bài viết "Khi Bài Hát Trở Về" rất chí lý như sau:

"Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.", và cũng theo ý kiến của ca sĩ Thanh Lan, một trong các tác giả thân hữu góp bài và hát nhạc Nguyễn Đức Quang viết là "…một Việt Nam quê hương ngạo nghễ. Anh có cái ý chí mạnh mẽ và trong sáng của một anh hùng dân tộc. Một bài hát của anh có hiệu quả hơn ngàn viên đạn đồng."

Thật vật, nếu tướng Nguyễn Khánh ví von một ngòi bút lợi hại bằng một sư đoàn địch quân, thì một bài hát này của Nguyễn Đức Quang vang dội khắp nơi nơi khơi dậy tiếng lòng yêu nước cho hàng triệu con tim Việt Nam diễn ra trong nhiều thế hệ nối tiếp chống ngoại xâm. Tôi cho đây là một món quà quý báu của người nhạc sĩ tài hoa ra đi để lại cho hậu thế một gia tài vĩ đại, mà gia tài đó không đo bằng tiền bạc, và gia tài đó không đo bằng súng đạn, mà đo bằng sức mạnh của triệu triệu con tim yêu thương Việt Nam.

Xin cám ơn anh Nguyễn Đức Quang đã cho một gia tài to tát, vĩnh cửu theo thời gian mà anh để lại cho ngàn sau… Cầu chúc anh thượng lộ bình an về cõi trên. Từ nay chúng ta sẽ chia tay, âm nhạc sử sẽ không quên anh, văn học sử sẽ không quên anh, sách lỉch sử Việt Nam sẽ ghi tên anh qua yếu tố nhạc hùng chống ngoại xâm, và chúng tôi tiếp tục ca khúc Việt Nam ngạo nghễ, Việt Nam kiêu hãnh, và Việt Nam vinh quang mãi mãi…trong từng con tim vì Việt Nam, cho Việt Nam và của Việt Nam, mà một trong những quan tố chính yếu là anh, Nguyễn Đức Quang, của "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ"…

Xin chào vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang!

Trần Việt Hải, Los Angeles

Phụ chú:

Khi bài hát trở về, Trần Trung Đạo:

http://www.baocalitoday.com/index.php?option=com_content&view=article&id=798:khi-bai-hat-tr-v&catid=5:vn-ngh&Itemid=53

(theo website của Nguyễn Xuân Nam)

image001.jpg

Link nhạc Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, Nguyễn Đức Quang

http://community.vietfun.com/showthread.php?t=318435

Lời : Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ

Nguyễn Đức Quang

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

Lê sau bàn chân gông xiềng cuộc đời xa xăm

Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang!

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người

Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi

Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi

Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian!

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại

Xương da thịt này cha ông miệt mài

Từng ngày qua,

Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức khôn nguôi!

Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang

Trên bàn chông hát cười đùa vang vang

Còn Việt Nam,

Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng!

Lời 2 :

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng

Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm

Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi

Ôm vết thương rỉ máu, ta cười dưới ánh mặt trời

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người

Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam

Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian

Hỡi những ai gục xuống trỗi dậy hùng cường đi lên!

oOo

Cháu hướng đạo Bùi Bảo Kim, của LĐ Hướng Đạo Thăng Long, Arlington, Virginia, là tác giả bé nhất xin tiễn đưa chào vĩnh biệt bác Trưởng Nguyễn Đức Quang.

You are true Scout Leader, Friend and Inspiration for many of us.

You’re the best, Bác Quang.

And I will miss you…

Bùi Bảo Kim

LĐ Hướng Đạo Thăng Long

Arlington, Virginia.

Thành Kính Phân Ưu

Bùi Mạnh Hùng, DC

image002.jpg

Tác giả Mỹ Thanh viết bài "Mãi mãi một Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ", bài khá dài với nhiều chi tiết về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang như sau:

“Lần này đây thì chúng ta đã thật sự phải chào biệt người nhạc sĩ của “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.” Ông đã ra đi vào ngày Chủ Nhật 27/3/2011, vẫn chưa nhìn được một Việt Nam ngạo nghễ như những lời ca viết từ trái tim của ông, cũng là tiếng lòng của hàng triệu thanh thiếu niên Việt Nam qua bao thế hệ. Bài viết này xin được rút từ những lời tự bạch của người nhạc sĩ du ca của tuổi trẻ miền Nam một thời trong một buổi phỏng vấn dài giữa Nguyễn Đức Quang và vietyouth.net vào ngày 28/7/2006 như một nén hương chào biệt linh hồn người nhạc sĩ khả kính về chốn vĩnh hằng.

Nguyễn Đức Quang sinh quán Sơn Tây, nhưng trải suốt thời niên thiếu đến trưởng thành tại Đà Lạt. Ông tốt nghiệp Đại Học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt vào năm 1968. Và vì biến cố Tết Mậu Thân nên lứa sinh viên năm đó chưa ra trường, chưa lãnh bằng đã theo lệnh Tổng động viên vao quân trường. Đến ngày phat bằng, nhà trường phải can thiệp để các sinh viên tốt nghiệp, trong số có Nguyễn Đức Quang, rời quân trường, về lai trường dự lễ.

Sau 7 năm trong quân ngũ, ông được chuyển làm việc đúng với sở học tại Ngân Hàng Phát Triển Nông Thôn, vào năm 1974. Và sau biến cố 1975, ông vào tù cải tạo 3 năm.Sau khi được phóng thích, ông đã vươt biên cùng gia đình, đến Mỹ vào năm 1979.

Tại Mỹ, cùng mười mấy người bạn từ thời du ca cũ, trong đó có Đỗ Ngọc Yến, người sáng lập nên tờ báo đầu tiên của người Việt tại Orange County, tuần báo Người Việt.Chính nhóm bạn hữu du ca xưa đã trở thành những người tiên phong trong lãnh vực báo chí hải ngoại. Tờ Người Việt sau đó chuyển qua nhật báo và ngày một phát triển với nhiều chi nhánh và các cơ sở truyền thông khác, radio,đài TV, nhà xuất bản , etc… Và từ đó, ông lăn lộn trong sự nghiệp làm báo, từ Người Việt, qua Viễn Đông, Chí Linh…

Nguyễn Đức Quang kể lại quyết định khởi sự bước chân vào làng báo là do sau khi gặp lại bạn, ông Đỗ Ngọc Yến. Ông hỏi bạn tại sao làm báo. Đỗ Ngọc Yến đã trả lời, “Mở báo vì báo chí có thể tác động tới người khác. Ở Việt Nam, người ta đang đốt sạch sách báo của miền Nam. Mình, người Việt tự do, phải mở ra một chân trời.” Ông sau khi nghe thế, cảm thấy không còn con đường nào khác để đi cả. Như bao giờ, Nguyễn Đức Quang vẫn luôn chọn những công việc theo lý tưởng hơn là cơm áo. Vì tờ Người Việt lúc đó còn đặt trụ sở tại garage nhà của chủ nhiệm Đỗ Ngọc Yến, và nhóm chủ trương phải tự tay mang báo đi bán (tại chùa, nhà thờ) và không hiếm khi phải móc tiền túi ra để phụ vào tờ báo.

Một thời đẹp nhất

Khi được hỏi về thời điểm ông cho là đỉnh cao trong đời (defining moment), câu trả lời của Nguyễn Đức Quang không ra ngoài chờ đợi dành cho “típ” người nhạc sĩ với những lời nhạc bừng bừng hoài bão với quê hương: Đó là thời sống với những sôi nổi của tuổi trẻ, không hề có chút đắn đo về tiền bạc, danh vọng, quyền lợi, không chút ham hố riêng tư.

“Khoảng đó, năm 1965 – 1967, khi ai đến chào tôi là ‘nhạc sĩ’ là tôi quay ngoắt đi. Sau này nhớ lại, tôi cũng thấy mình kỳ cục, nhưng lúc đó con người mình nó như vậy.Không phải tôi coi thường danh hiệu, mà là tôi không nghĩ là tôi đáng để được gọi là nhạc sĩ. Tôi chỉ say mê một chuyện là sinh hoạt, dùng nhạc để cống hiến cho tuổi trẻ.Đó là thời gian đẹp nhất trong đời tôi.”

Ông hồi tưởng lại thời tuổi trẻ hoạt động lý tưởng của mình: Miền Nam, từ khoảng 1965 – 1975, các tổ chức cộng đồng, Hướng đạo, Phật tử, Thiên chúa giáo, hội học sinh, tổng hội sinh viên bừng rộ. “Chúng tôi tập họp các bạn hữu thành một nhóm du ca đi khắp các hội đoàn chia sẻ, trình diễn. Phong trào du ca bàng bạc tự phát như thế đó.Sau đó, chúng tôi nhận được rất nhiều thư từ các hội đoàn tới, yêu cầu giúp đỡ.”

Từ sau năm 1963 trở đi, các tổ chức sinh viên khởi phát các cuộc hội thảo về đủ các vấn đề như: xã hội nhiễu nhương, Cộng sản lũng đoạn nông thôn, chiến tranh leo thang, dân quê khổ sở, etc… Các tướng đảo chánh liên tục, trật tự rối loạn… Tuổi trẻ bị hoang mang, thiếu phương hướng. Do đó, mục đích của phong trào du ca là đi gây tạo một tâm thức, xây dựng một tâm thức mới cho tuổi trẻ, tạo ra các tác động viên cho xã hội. Chúng tôi hoàn toàn không có ý định thay đổi chính quyền, chỉ thuần tuý với mục đích xây dựng, đưa xã hội đi lên. Theo ông, tuổi trẻ miền Nam lúc đó không hề muốn chiến tranh, chỉ miễn cưỡng bị đẩy vào một tình thế tự vệ, và trách nhiệm phải chia sẻ gánh nặng với những người chung thế hệ.

Sự nghiệp du ca của ông cũng có sự tiếp tay của nhạc sĩ Phạm Duy. Bắt nguồn từ một trại hè của sinh viên toàn quốc tại Trạch Lộc Thôn, cách Sài Gòn mấy cây số. Vào buổi chiều, Phạm Duy được mời tới, theo lời ông kể, lúc đó Phạm Duy có thể coi là thần tượng của giới trẻ qua các Trường ca, Con Đường Cái Quan … Phạm Duy đã rất ngạc nhiên và khen nhạc của Nguyễn Đức Quang, rủ về nhà và nghe thêm một số nhạc nữa và sau đó mời Nguyễn Đức Quang đi theo ông trong mọi cuộc trình diễn. “Và tôi đã đi theo Phạm Duy mấy tour khắp Việt Nam, khoảng thời gian đó, Pham Duy sáng tác 10 bài tâm ca rất nổi tiếng, và tôi cũng học hỏi theo ông. Phạm Duy có tài sáng tác rất đa dạng; ông liên tiếp nhảy từ thể loại này sang thể loại khác, tình ca, sang tâm ca, phổ thơ, etc …

Những bài trầm ca

Nguyễn Đức Quang đã bỏ Đà Lạt về Sài Gòn, lập một nhóm trầm ca lưu diễn, đi hát chung với Phạm Duy. Ông nhắc lại niềm đam mê khác với các bạn du ca của mình là, những người bạn đó từ Đà Lạt về Sài Gòn để học đồng thời ca hát, trong khi ông đang theo học tại Đà Lạt, bỏ về Sài Gòn chỉ để ca hát. Khác với “Tâm ca”, tiếng hát từ timcủa Phạm Duy, “Trầm Ca” là lời ca từ những suy tư trong óc. Mười bản trầm ca đã trở nên lẫy lừng ngay từ lúc ra đời.

“Nỗi Buồn Nhựơc Tiểu” viết về thân phận bị các nước lớn thao túng dẫn đến anh em một nhà đánh nhau, đổ máu … Tôi trót sinh ra làm thân nhược tiểu, nỗi tủi buồn căm bừng trên tay, nỗi nhọc nhằn còn đọng lòng sông, tình anh em máu chảy thành giòng … Như trong “Lìa Nhau”, Lìa nhau cho tim bốc cháy, thù sâu lan khắp địa cầu … Những lời này đi đến đâu hát cũng làm rơi lệ ở đó. Chúng như quả bom nổ trong đầu óc tâm tư của tuổi trẻ. Nó có vang dội ra Bắc, và một số lãnh đạo miền Bắc ngộ nhận là nhóm Trầm Ca chống lại chính quyền miền Nam, nhưng không phải, chúng tôi nói chung cho cả miền Nam lẫn miền Bắc (lời Nguyễn Đức Quang).

“Tiếng Hát Tự Do” Việt Nam thao thức hoài, trải qua những đêm dài, nuôi giòng máu tự do …, “Chuyện Việt Nam”, Chuyện Việt Nam ôi mấy mươi năm, mấy trăm năm hay đã hơn ngàn năm. Mấy ngàn năm chưa thấy vẻ vang … Ôi quê hương ơi đẹp tươi đứng trong trời đất, ta yêu quê ta thì đâu có bao giờ mất, yêu giống nòi mình lầm than mãi rồi, yêu khiến lòng chẳng biết sao nguôi… Hay “Về với Mẹ Cha” vẫn nói về một Việt Nam là một, một ước mơ về một Việt Nam chung cho tất cả, về bồi đắp cho mẹ cha Từ Nam Quan, Cà Mau, từ non cao rừng sâu, gặp nhau cho non nước xây cầu…

Những lời hát như thế nên, ông kể, có nhiều khi chúng tôi đi trại hè, đi công tác từ Sài Gòn ra Vũng Tàu, Pleiku, Vĩnh Long, Cần Thơ, suốt mấy tiếng đồng hồ chỉ hát một bài mà vẫn say mê. Những lời đã trở thành câu hát đầu môi cho các bạn trẻ. Xin nhận nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương … Ta còn những người ngồi quanh đây, trán in vết nhăn … Chưa gặp bao giờ mà đã như uống máu ăn thề …. “Người Anh Vĩnh Bình”, “Chiều Qua Tuy Hòa” và tập trầm ca đã kết thúc bằng “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ,” trong ý của ông, sau những bài ca với những tậm sự buồn, đau thương khắc khoải với vận nước, ông muốn đóng bằng một hình ảnh của hứng khởi, của tương lai.

Nguyễn Đức Quang không hề nghĩ mình nổi tiếng hay tài năng, dù ông là ngừơi đầu tiên sáng tác nhạc trong “lứa” nhạc sĩ thời ấy. Ông bắt đầu từ năm 1965, Trịnh Công Sơn 1967, Lê Uyên Phương 1969, Từ Công Phụng, Vũ Thành An cũng thuộc thế hệ viết nhạc của miền Nam thời ấy. “Tôi ít khi nào lường được là tôi được nhiều người biết đến. Có lẽ là do tình yêu mến hơn là tài năng. Với các người bạn nhạc sĩ nổi tiếng cùng lứa (kể trên) tôi là “ngoài luồng”, tôi không đứng trong luồng sáng tác của các anh em đó, dù tôi chơi với tất cả, quý mến tất cả và tất cả đều quý mến tôi. Loại thể nhạc của tôi không phải nhạc cho thu âm, mà là những bài hát về thanh niên, dành cho những sinh hoạt cộng đồng. Tiếng nói của tôi là tiếng lòng chung của người cùng thế hệ …

Trước những câu hỏi cũng như gợi ý về thực hiện lại một phong trào du ca trong hiện tại, ông thẳng thắn cho rằng du ca đã qua rồi. Với những người trẻ hiện tại chưa chắc họ đã hiểu. Họ đã có những biểu tỏ khác, suy nghĩ khác … Ông cho rằng hãy cho qua những ý tưởng của du ca ngày xưa. Và cần tìm hiểu xem những người trẻ hiện tại thích gì, muốn gì. Và về cuối đời ông đã có mong ước được trở lại viết một loạt bài cho tuổi trẻ, nhưng vấn đề tìm tòi để đồng cảm và hiểu đúng được tiếng nói của tuổi trẻ ngày nay vẫn còn là một vấn đề sinh tử với ông. Ông cũng cho rằng du ca không có đất sống ở hải ngoại, nhưng nếu ông được các bạn trẻ Việt Nam mời về hát cho tuổi trẻ và được phép hát như ý ông sẽ rất sẵn sàng.

Nguyễn Đức Quang và những suy nghĩ về thời sự

Có lẽ đa phần chỉ biết về Nguyễn Đức Quang của một thời tuổi trẻ, của những tha thiết về quê hương đất nước qua những dòng du ca sôi nổi một thời. Người viết xin được dùng đoạn sau này tường thuật lại những suy nghĩ và của ông về các vấn đề thời sự của đất nước và con người Việt Nam, cũng như những mơ ước riêng cuối đời, theo như những bộc bạch của ông trong cuộc phỏng vấn với nhóm vietyouth.net vào năm 2006.

Ông đã giã từ làng báo, vì cho rằng thời thế đã khác. Làm báo không còn cần thiết như là một thiên chức để cung cấp văn hoá tư tưởng cho người đọc như xưa nữa. Đã có quá nhiều tổ chức và phương tiện cung cấp những nhu cầu đó, làm báo giờ trở thành như là một nghề kiếm cơm. Ông đã nghỉ ngơi, làm một số tour trên nước Mỹ, sáng tác lại, và dự định sẽ quay về lãnh vực sáng tác của thời tuổi trẻ.

Một số tình ca đã được sáng tác, dù theo nhiều người nghe phê bình rằng chúng không giống tình ca, nhưng đối với ông là “tình”, là kỷ niệm như: Về Con Phố Xưa, Một Lần Thôi, Về Đây Nhé, Có Những Khi, Mùa Thu Lại Đi …

Tập nhạc mới sau này với chủ đề “Quê Hương Mênh Mông”, ông mở rộng “quê hương” ra tới hải ngoại, nhưng cũng vẫn bao hàm những trăn trở cũ, những điệu đượm buồn về mối hận thù Nam Bắc của quê hương xa xưa chưa hề được cởi, với những tựa đề như: Trên đường phố San Francisco, Quân Nam – Quân Bắc … Và ông đặc biệt tâm đắc với Trên đồi Arlington, nói rất nhiều về bản nhạc này. Ông đã đến nghĩa trang Arlington trong chuyến tour Washington, D.C. năm 2004, và ngậm ngùi so sánh cuộc nội chiến của Mỹ qua đi không để lại chút dấu vết hận thù như cuộc nội chiến của Việt Nam, ngậm ngùi cho những người lính Việt của hai phe đã chết oan uổng vì cái chết của họ vẫn không đưa lại một đất nước thống nhất lòng người. Ông hát trong ước mơ cho một ngày Việt Nam cũng có được tình người này: Bắc Nam cùng mạch sống, thắng thua đều anh hùng, bốn mùa hoa nở rộ, dưới mộ đài hùng tráng, chung dòng “Tổ quốc Ghi Công” (chỉ Arlington của Mỹ), và Nay mộ phần rào quanh thành oán thù, sống hay là đã chết, đành mất lối bơ vơ … Sao gọi là vinh quanh? Cuộc sống vùi sâu dân tộc, khơi dậy những hờn căm …. (chỉ Nghĩa Trang Quân Đội của VNCH và thời hậu chiến VN)

Trước những mâu thuẫn trong cộng đồng hải ngoại cũng như quốc nội, Nguyễn Đức Quang đã đưa ra một nhận định rất sắc bén. Ông cho rằng ở hải ngoại có những đối nghịch tư tưởng về phương cách chống Cộng, cũng như trong nước có những tiếng nói phản kháng từ trong hàng ngũ CS, đều là những dấu hiệu tốt. Cả hai bên đều cần những rạn nứt để tiến đến trưởng thành cho khối của mình. Và từ đó mới thay đổi để nói chuyện, làm việc chung, đi tới một điểm khó hơn.

Lời nhắn nhủ cho tuổi trẻ Việt Nam cũng rất phóng khoáng phản ánh tâm hồn cởi mở của người nghệ sĩ du ca một thuở: Hãy tham gia/involve, với tổ chức, với đám đông, bất kể là tả hay hữu, vì tả/ hữu thường chỉ là tương đối, nhưng điều quan trọng là để tâm huyết vào một việc chung hơn là chỉ biết riêng mình. Ông cũng băn khoăn nghĩ đến tuổi trẻ của hải ngoại, xa rời quê hương và làm thể nào có được những tổ chức tạo cơ hội cho tuổi trẻ trong ngoài đến gần với nhau thì mới tạo được những nối kết và chất Việt Nam được phát triển.

Cuối cùng, người nhạc sĩ không nghĩ tới một danh hiệu nào cần để khắc trên mộ bia của mình. Ông xin tan nhẹ nhàng vào cơn gió, trở về cát bụi. Người thương mến, nếu có, có thể dành chỗ cho ông trên một trang giấy nào đó….

Người viết hy vọng đôi trang cuối này đáp lại được suy nghĩ khiêm nhượng và giản dị của người nhạc sĩ khả kính. Ông đã thanh thản ra đi, tan vào trong gió, để lại mãi mãi một ước mơ không bao giờ tan, ước mơ về một Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.””

oOo

Email kêu gọi quý ACE, như nhạc sĩ Trần Quang Hải (Paris), đồng sáng lập viên diễn đàn Tình Nghệ Sĩ, nhạc sĩ Phan Ni Tấn (Toronto), đồng sáng lập viên diễn đàn Tin Văn Nghệ Sĩ, và các quý thân hữu của 10 forums trong nhóm liên kết các diễn đàn trên internet.

Anh Hải, anh Tấn cùng quý anh chị,

Tôi xin quý anh chị nếu ai muốn tham gia bài viết chung đưa tiễn nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, xin cho tôi một cảm nghĩ về anh Quang như quotes (*) của 2 vị Võ Đình Tuyết (Pennsylvania) và Nguyễn thanh Bình (Massachussetts), tôi sẽ đúc kết thành một bài tưởng niệm về người nhạc sĩ mà ca khúc "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" của anh đã từng vang rền phố sá Saigon, Boston, San Francisco, Los Angeles, Munich, Paris, Toronto, Sydney, Melbourne,… vì khóc hận Hoàng Sa.

Tôi nhờ anh Bùi Mạnh Hùng chuyển lời mời đến anh Võ Thành Nhân cho lời phát biểu cảm tưởng nhe, tôi không có địa chỉ email của anh Nhân trên DC.

Xin cám ơn anh Trần Trung Đạo cho tôi xử dụng bài viết của anh.

Mong email của quý thân hữu từ các nơi gởi về sớm.

Việt Hải Los Angeles

*Góp ý (trích đăng từ website Người Việt Boston):

1/ Nguyễn thanh Bình:

Thưa quý vị,

Những năm tháng trước 1975, bài hát Việt-Nam Quê Hương Ngạo Nghể (VNQHNN) trong tập nhạc Khai Phá đã vang bóng trong moị môi trường sinh hoạt chính trị, kinh tế, xã hội và cả sau 1975. Có thể nói là dân Việt biết đến bài hát nầy hơn là nhạc sĩ Nguyễn đức Quang!

Tôi may mắn làm việc tại Tuy-Hòa 1973-1975 nên mổi lần nghe bài ” Chiều qua Tuy-Hoà” cũng mang lại nhiều xúc cảm!

Trong thời gian tạm trú ờ trại tỵ nạn, dĩ nhiên lại ngêu ngao VNQHNN vì câu cuối cùng ” Còn VN, triệu con tim nầỳ còn triệu khối kiêu hùng”!

Năm 1981(?), anh Quang có đến Boston và trình diển tại Đại học MIT cũng như văn nghệ Tết. Điêù vui vui là nhiều vị tuởng tượng bài ” Vì tôi là linh mục” theo nghĩa đen nên hiểu nhầm nhưng rồi sự giải thích cũng mang lại hoà khí!

Năm 1989, khi đi dự Đại hội Thể thao Bắc-Mỹ tại Califoirnia, chúng tôi lại có dịp găp anh Nguyễn đức Quang, anh vẩn hăng say như thuở nào và đang làm Chủ nhiệm Báo Kinh-Tế như nghề tay trái!

Cầu xin Thượng Đế thương xót anh cũng như con dân Việt và cũng cầu mong maĩ maĩ chúng ta như ” Nước dâng, dâng tràn có bao giời tràn” cho quê mẹ yêu dấu và cho anh Nguyễn đức Quang!

2/ Võ Đình Tuyết :

Anh Trần Trung Đạo viết bài “Khi Bài Hát Trở Về” không lâu lắm,nhưng trước ngày nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang vào bịnh viện,và đó là bài viết tôi cho hay nhất về nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang.Anh Đạo đã viết trong tinh thần sáng tạo tươi mát của một tuổi trẻ ngày anh mới lớn nồng nàn yêu quê hương của mình,của lớp trẻ thời chiến tranh.

Phần đông những người viết về nhạc sĩ thường hay viết về dời tư và ít khi đi sâu vào tư tưởng và thông điệp của tác giả muốn gởi gấm đến cho đời bằng ký hiệu âm nhạc.Con người không ai hoàn hảo.Nguời nghệ sĩ thường tặng cho dời những tác phẩm nghệ thuật bằng chính con tim khối óc của họ chứ không phải thân xác. Cầu nguyện cho nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang qua cơn hiểm nguy.

Cầu nguyện luôn cho những người viết về những tác gỉả nghệ thuật bằng thăm thẳm nhất của trái tim nuôi dưỡng tình tự nhân bản, đồng hành với tác gỉa, và bao dung với chính mình như anh Trần Trung Đạo.

Võ Đình Tuyết

Hatfield, PA

Ref links:

http://aitubinhdien.aimoo.com/T-C-GI-T-C-PH-M-M-NH-C/Nh-c-S-Nguy-n-c-Quang-1-487597.html#nguyenducquang_03

http://danviet75.blogspot.com/2011/03/nhac-si-nguyen-uc-quang-qua-oi-tai.html

http://traitrunggioi.blogspot.com/2010/04/ca-khuc-viet-nam-que-huong-ngao-nghe.html

http://www.ducavn.com/duca_files/VanNghe_files/SinhHoat/DemNhacNDQ1.htm

Nam tài tử điện ảnh Đặng Hùng Sơn, người rất sốt sắng theo dõi và báo cáo lên diễn đàn mỗi khi có ACE văn nghệ sĩ lâm nạn. Anh củng hai người bạn nghệ sĩ Trần Quốc Bảo và Lâm Mai Thy cho lời chúc tiễn đưa và một tiểu sử của nhạc sĩ

Nguyễn Đức Quang, theo trang nhà Du Ca Việt Nam

Đặng Hùng Sơn, Lâm Mai Thy và Trần Quốc Bảo kính chúc anh lên đường bình yên. Đây là một chút gì anh còn để lại…

Tiểu sử và Tác phẩm

Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây.

Theo gia đình vào Nam năm 1954.

Sinh sống tại Ðà Lạt từ năm 1958.

Tốt nghiệp đại học Ðà Lạt phân khoa Chính Trị Kinh Doanh khóa 1.

Bắt đầu sáng tác nhạc năm 1961. Ca khúc đầu tay dành cho Hướng đạo với tên Gươm Thiêng Hào Kiệt.

Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam năm 63, bắt đầu cảm hứng về nhạc Thanh niên và những vấn đề đất nước.

Năm 1964, chuyển qua hẳn những ca khúc có chủ đề Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc.xây dựng những đề tài mới cho tập Trầm Ca, hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên và thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam năm 1966 .

Năm 1979 cùng gia đình đến Hoa Kỳ, hoạt động liên tục trong nghành truyền thông tại hải ngoại. Hiện vẫn định cư tại Little Saigon, California USA.

Mục Lục Những Ca Khúc Tiêu Biểu

Măi đến sau 1965, một số những bài hát của Nguyễn Đức Quang mới xuất hiện rải rác trên một số ấn phẩm sách, báo và vài tuyển tập sơ sài do Tình hình thiếu thốn phương tiện và điều kiện lúc bấy giờ, người ta đã thấy có các tập nhạc in bằng ronéo như : Trầm ca, Những bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Thỏ Thẻ Loan Phòng v..v.

Năm 1995, Ngô Mạnh Thu và Nguyễn Thiện Cơ trong nhóm Đồng Vọng thu gom lại hầu hết bả nhạc trong các tập nhạc chính và ấn hành tuyển tập Dưới Ánh Mặt trời gồm 69 bài. Duới đây là những nét chính và 9 tập nhạc đã được tác giả hình thành trên suốt quãng đường sinh hoạt và sáng tác của anh. ( Trích trong " về những ca khúc Nguyễn Đức Quang đă viết" trong tuyển tập "Dưới Ánh Mặt Trời" )

* Quí vị có thể vừa NGHE và XEM bản nhạc , trong phần MỤC LỤC NHẠC DU CA trên cột bên trái .

Ấn Phẩm Đã Phát Hành:

1.- Chuyện Chúng Mình :

52 ca khúc, viết từ 1960 đến 1964,thời kỳ đầu sáng tác,

hầu hết là các khúc tình ca tuổi học trò và thời gian sinh sống tại Đà lạt . Một số bài như : Chuyện Người Con Gái , Khôn Hồn Có Cánh Thì Bay, Trẫm Nhớ Ái Khanh Không ( phổ thơ Nhất Tuấn) , Lửa Từ Bi ( Thơ Vũ Hoàng Chương).

2.-Trầm Ca :

10 ca khúc cho thanh niên và thời cuộc,

những thao thức lớn nhất về con người, đất nước.

Những ca khúc này tạo nên cả một cao trào tuổi trẻ

nhập cuộc vào các sinh hoạt.

Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Người Anh Vĩnh Bình, Tiếng Hát Tự Do,

Chiều Qua Tuy Hòa, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ

là dấu ấn chưa phai mờ trong nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam từ đó đến nay .

3.- Những Bài Ca Khai Phá :

trên 40 ca khúc sinh hoạt đặc biệt cho tuổi trẻ , sinh viên, học sinh

dùng trong các buổi họp mặt công tác xã hội,

các hoạt động đám đông, là tiếng kêu gọi tuổi trẻ đến với nhau cùng xây dựng một đất nước và niềm tin :

Không Phải Là Lúc , Về Với Mẹ Cha, Đưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Một Giấc Chiêm Bao, Về Miền Gian Nan v..v..

Khởi động phong trào hát cộng đồng , hát chung khắp mọi nơi,

sau này được lan truyền sang nhiều địa hạt và nhiều giới khác,

kể cả tôn giáo .

Du Ca trở thành hình ảnh mẫu mực con người xã hội mới, đi vào phim ảnh Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương.

4.-Cần Nhau :

12 tình khúc được biết đến nhiều với :

Bên Kia Sông, Vì ́ Tôi Là Linh Mục, Cần Nhau, Như Mây Trên Cao, Vỗ Cánh Chim Bay …

5.- Thỏ Thẻ Loan Phòng (hay Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc) :

18 bài sinh hoạt trong ngày hạnh phúc lứa đôi, hình thành 1969 ,

nhiều bài hì́nh như đă thành nếp trong các đám cưới như:

Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc, Đám Cưới Chúng Mình,

Lũ Chén Diã Có Tội Tì́nh Gì, Đường Đến Hạnh Phúc .

6.- Khúc Nhạc Thanh Xuân :

Khoảng 40 bài nhạc sinh hoạt thanh niên quốc tế.

Nhiều nhất là các ca khúc trong thời lập quốc Do Thái, phong trào Kibbuz,

những bài hát nhân quyền, tự do từ Âu sang Á và Mỹ như:

Về Miền Gian Nan, Bài Ca Hải Tặc , Quân Đoàn Thức Tỉnh, Không Ai Là Hoang Đảo …

được chuyển qua lời Việt để sử dụng trong nhiều sinh hoạt tuổi trẻ.

7.- Hương Đồng Quê :

Các khúc Dân Ca và nhạc đồng quê nổi tiếng trên thế giới

chuyển dịch sang lời Việt,

gần 200 bài như Bài Ca Sông Hồng, Những Bụi Hoa Dại, Em Yêu Dấu Hỡi, Bên Bờ Sông Ohio, Tâm Sự Chú Lừa …

hầu hết bị thất lạc năm 1975.

8.-Phúc Ca Mùa Lễ :

25 bài đồng dao quốc tế hát trong mùa Gíáng sinh như : Jingle Bells, The Christmas Tree, Silent Night…

được coi là những khúc hát vui trong mùa an bình của nhân loại .

9.-Ruồi Và Kên Kên :

Hoàn tất năm 1970, gồm 11 bài,

là những ca khúc bi phẫn về những vấn đề lớn nhất

trong một khung cảnh chính trị và xă hội đen tối nhất của cả 2 miền đất nước:

Im Lặng Là Ðồng Lõa, Ruồi Và Kên Kên, Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi, Phòng Thí Nghiệm Công Cộng, Vụ Án Cuối Cùng…

Những ca khúc này vẫn được yêu chuộng cho đến nay .

10.-Dưới Ánh Mặt Trời :

gỗm những sáng tác trong tập

Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Chuyện Chúng Mình,

Cần Nhau, Khúc Nhạc Thanh Xuân, Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc….

Bìa: Nguyễn Ðồng, Nguyễn Thị Hợp

Hý họa : Tạ Tỵ, Chóe, Hiếu Ðệ

Chân dung: Lê Phúc

Kẻ nhạc: Phạm Xuân Ðài

Trình bày: Nguyễn Thiện Cơ, Ngô Mạnh Thu

Hình ảnh sưu tập: Trần Ðại Lộc

Hình bìa: Hồ Ðăng

Xuất bản Ðồng Vọng 1997 tại Cali- USA

oOo

Nhà văn Lê Văn Phúc, qua bút hiệu Châu Ngân, một người bạn thân thiết từ trước năm 1975 của Nguyễn Đức Quang viết về Nguyễn Đức Quang như sau:

"Du Ca Nguyễn Đức Quang!

Ngày 27 tháng Ba – 2011, nhạc sĩ du ca sau 17 ngày nằm trong phòng cấp cứu vì tai biến mạch máu não, đã lặng lẽ ra đi không một lời giã biệt, thọ 68 tuổi…

Với số tuổi ấy, thời buổi bây giờ khoa học hiện đại, vẫn coi là còn quá trẻ.

Nhưng một cuộc đời từng trải, xông pha không khác những chiến sĩ anh hùng, lăn lộn trên nhiều chiến tuyến thì phải coi Nguyễn Đức Quang là đã sống nhiều, sống lâu trên thế gian này.

Mang trong người dòng máu hào hùng, tham gia Hướng Đạo ngay từ thời niên thiếu, anh đã hun đúc một tinh thần phấn đấu, tự thắng để chỉ huy ; tự cường để xông pha trên nhiều lãnh vực ; tự lực cánh sinh để vượt mọi khó khăn như tinh thần và tôn chỉ cao quý của Hướng Đạo.

Những mục đích ấy, anh đã làm trọn vẹn trong suốt cuộc đời mình…

***

Năm 1956, khi được 12 tuổi, anh gia nhập Hướng Đạo vùng Lâm Viên,

dần dần lên tới cấp Hướng Đạo Hạng Nhất là đẳng hiệu cao quý nhất của HĐVN.

Qua các khóa huấn luyện, anh trở thành Bầy Trưởng Ngàn Thông năm 1964.

Khi vào Saigon, anh tham gia sinh hoạt với Ban Trầm Ca – tiền thân của Phong Trào Du Ca – cùng với Toán Sóng Việt gồm hầu hết Hướng đạo sinh đang theo học tại Viện Đại Học Dalat.

Khi Phong Trào Du Ca được thành lập năm 1966, anh đã hoạt động trong Phong Trào này cho đến tháng Tư 1975.

Khi định cư tại Hoa Kỳ năm 1979, anh đã dấn thân vào các sinh hoạt của Liên Đoàn hướng Đạo VN trong các chương trình văn nghệ, họp bạn Hướng Đạo VN, tổ chức nhiều buổi hát nhạc rất thành công tại Úc Đại Lợi.

Anh sáng tác từ năm 17 tổi (1961) với nhạc phẩm « Gươm thiêng hào kiệt » dành cho Phong Trào Hướng Đạo.

Năm 1963, sau những biến chuyển chính trị lớn tại miền Nam, anh sáng tác những nhạc phẩm mang chủ đề về tuổi trẻ, quê hương, dân tộc, thân phận con người, nhạc tranh đấu cho một Việt Nam bất khuất…

Ngoài phần sáng tác, anh còn là Tổng Giám Đốc công ty Người Việt trong 4 năm (1984-1988), sáng lập nhật báo Viễn Đông, lập công ty báo chí QMS Media, xuất bản báo Chí Linh, Phụ Nữ Diễn Đàn, đài phát thanh và truyền hình VOC.

***

Nguyễn Đức Quang sinh năm 1944 tại Sơn Tây, theo gia đình di cư vào Nam năm 1954, định cư tại Dalat. Anh tốt nghiệp đại học Dalat, phân khoa Chính trị Kinh doanh khóa 1.

Một chi tiết nhỏ ít người biết đến là Nguyễn Đức Quang có thời gian làm việc tại Ngân hàng Phát Triển Nông Nghiệp Trung Ương, số 7 Bến Bạch Đằng Saigon. Thời đó, Tổng giám Đốc là ông Nguyễn Đăng Hải.

Ngân hàng mở khóa thi tuyển dụng Tham vụ Ngân hàng để có thêm nhân sự giữ chức vụ Giám Đốc Ngân hàng tại các địa phương. Anh ứng thi và vì đậu cao trong số mấy hạng đầu nên được chọn phục vụ tại Sở Kế Hoạch.

Tôi cũng là nhân viên tại Ngân Hàng Trung Ương, có được một nhân tài âm nhạc phục vụ cùng ngành thì mừng lắm, kết thân ngay. Anh cũng là người vui vẻ, dễ tính, cởi mở nên chúng tôi chơi với nhau thoải mái.

Những dịp khánh thành Ngân hàng Nông Thôn tại các Vùng, tôi đều rủ anh đi để quan sát, học hỏi về ngành chuyên môn này.

Hồi làm việc tại Saigon, sáng sáng chúng tôi đến sở sớm, hay la cà bên quán cà phê cạnh trụ sở, nơi qui tụ các ông tài xế, lao công, nhân viên ngân hàng hay ngồi uống cà phê, đấu hót.

Anh cũng tham gia như mọi người, ngoại trừ là không ôm cây đàn để hát cho nhau nghe, vì sắp đến giờ làm việc.

Anh em, ai cũng quý mến Nguyễn Đức Quang vì anh ấy quá nổi danh đi rồi…

Bẵng đi một thời gian sau khi mất nước, chúng tôi lại gặp nhau bên Cali. Anh làm báo Người Việt, tôi cũng viết báo Người Việt với bút hiệu Lê văn Phúc nên thân tình càng thêm đậm đà. Anh là nhạc sĩ du ca nổi danh, còn tôi thì loe hoe dăm bản nhạc viết chung lời với nhạc sĩ Tuấn Khanh gọi là văn nghệ văn gừng…

Khi nào sang Cali, tôi cũng gặp anh trò chuyện, ăn nhậu. Khi nào anh qua vùng DC, tôi cũng rủ anh đi chơi thủ đô, có lần đưa anh đi thăm nghĩa trang Arlington để anh thấy nghĩa trang buồn trắng xóa, im lặng như tờ, nơi an nghĩ của biết bao chiến sĩ anh hùng hiến thân cho tổ quốc.

Anh đã coi cảnh các quân nhân đổi gác rất uy nghi, ngày đêm canh thức bên cạnh đài tưởng niệm tử sĩ .

Nguyễn Đức Quang đã viết bài « Chiều trên nghĩa trang Arlington » sau chuyến thăm Hoa Thịnh Đốn.

***

Nói về các sáng tác của Nguyễn đức Quang, khuôn khổ tờ báo không cho phép nên tôi chỉ xin trích đoạn một vài bản nhạc đã được nhiều người biết.

Trong Tập Ca « Dưới ánh mặt trời » gồm những sáng tác trích từ các tập : Trầm ca, Những bài ca khai phá, Ruồi và kên kên, Chuyện chúng mình, Cần nhau, Khúc nhạc thanh xuân, Lòi nguyện cầu hạnh phúc, gồm 69 bản nhạc viết về quê hương, thân phân, tuổi trẻ, đồng bào, tự do, tình yêu, vượt biển, chiến tranh, hy vọng…

Trước hết hãy nói về tình yêu, chúng ta nhớ ngay đến bản « Bên kia sông » tác giả phổ từ thơ Nguyễn Ngọc Thạch :

Này người yêu, người yêu anh ơi !

Bên kia sông là ánh mặt trời

Này người yêu, người yêu anh hỡi !

Bên kia đồi cỏ hoa đan lối

Bên kia núi, núi cao chập chùng

Bên kia suối, suối réo lạnh lùng

Là bài thơ toàn chữ hư vô…

Năm 1970, anh viết « Vì tôi là linh mục », thơ Nguyễn Tất Nhiên. Một linh mục không mặc chiếc áo dòng, có được một tín đồ là người tình, là ác quỷ, bỏ tôi đi trong chuông chiều dài lê thê. Nên tôi là một linh mục rất dại khờ…

Vì tôi là linh mục, không mặc chiếc áo dòng

Nên suốt đời hiu quạnh, nên suốt đời lang thang.

Vì tôi là linh mục, có được một tín đồ

Nhưng không là thánh thần nên tín đồ đi hoang…

Và kết cục là xôi hỏng bỏng không nên than thở một mình :

Vì tôi là linh mục, vì tôi là linh mục

Người ơi ! Một linh mục rất dại khờ…

Năm 1966, anh viết một ca khúc lừng lẫy, đó là « Việt Nam quê hương ngạo nghễ », nhịp điệu hùng mạnh, lời đanh thép sống động, ca tụng một quê hương ngạo nghễ anh hùng, qua bao nhiêu thời đại vẫn kiêu dũng hiên ngang…Sau gần 40 năm, bài hát đã thấm sâu vào lòng dân tộc :

Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm

Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang..

…Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại,

Xưong da thịt này cha ông miệt mài

Từng ngày qua, cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.

Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang

Trên bàn công hát cười đùa vang vang.

Còn Việt nam, triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng…

Nhạc phẩm này có lời 2 của đoạn 1 cũng rất kiêu hùng :

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng

Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm

Da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi

Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người

Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam

Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian

Hỡi những ai gục xuống ngoi dậy hùng cường đi lên…

Năm 1967, anh viết « Hy vọng đã vươn lên » như ngọn đuốc giữa đêm đen, soi sáng những con đường quê hương, những tấm lòng rộng mở để cùng nhau đi tới :

Hy vọng đã vươn lên trong nhà hoang bên ruộng cằn

Hy vọng đã vươn lên trên nương buồn, dòng sông vắng

Hy vọng đã vươn lên trong lòng thuyền còn xa bến

Hy vọng đã vươn dậy như triều dâng cho buồm căng xuôi trường giang.

Khi nói lên tâm sự về gia đình, anh viết « Người anh Vĩnh Bình » năm 1967, kể chuyện nhà. Người anh ra đi biền biệt không nói năng câu gì, bỏ lại bà mẹ già, vợ trẻ, con thơ. Một bài ca buồn lặng lẽ, ưu phiền. Có đoạn :

Khi anh tôi đi, không nói năng câu gì.

Đem theo ba lô, cây viết xanh nhỏ bé

Mai nơi xa xôi, anh sẽ biên thư về

Cho mẹ, cho bà con, cho vợ với cậu bé.

Nhưng hai năm qua, không thấy thư anh về

Con thơ năm xưa nay đã thôi bồng bế

Đêm nghe xa xôi có tiếng ai ngang lệ

Con chờ nhé, đợi nhé, con chờ mốt ba về…

Năm 1968, Nguyễn Đức Quang đi qua một tỉnh miền Trung, anh viết bài “Chiều qua Tuy Hòa”.

Bản nhạc “gam” Mi thứ, nhịp ¾ êm nhẹ, vương vấn một nỗi buồn mênh mang.

Ai có dịp đi đường bộ từ Nha trang lên Ban Mê Thuột, nửa đường dừng lại trên đèo Ma Drak, đứng nhìn về hướng Tuy Hòa sẽ thấy bóng núi vọng phu trong sương mờ lạnh lẽo. Nhìn cảnh đó, ta cũng dâng lên một nỗi buồn vời vợi.

Tác giả đã đến tận nơi, nhìn tận mắt núi đá chơi vơi giữa cảnh núi đồi trong cảnh chiều tà.

Anh viết:

Ngày xưa tôi đã đi qua Tuy Hòa,

trời xanh le lói bao mộng mơ.

Đàn chim tung cánh bay bay đầu gió

và đâu đây tiếng sông bồi phù sa.

Ôi, những chiều mây vắt ngang lưng đèo,

vọng phu đưa mắt cũng buồn theo…

Cách đây 20 năm, khi anh về Houston trình diễn, có ở nhà tôi vài hôm.

Cả nhà tôi được nghe anh hát bài này. Riêng tôi, rất đắc ý với hai câu chót của đoạn trên:

“Ôi những chiều mây vắt ngang lưng đèo

vọng phu đưa mắt cũng buồn theo.

Tôi khen anh là có tuyệt chiêu, ít ai sánh kịp.

Anh cười, nói rằng: Ông Phạm Duy nghe bài này đã phải “chửi” ầm lên là làm sao mà nó lại viêt mấy câu hay đến thế!

Bài ca trên, tôi thuộc nằm lòng nên mỗi khi trò chuyện viễn liên với anh, tôi thường lên tiếng bằng cách hát đoạn đầu của bài này.

Nhưng phải nghe, phải thấy anh xử dụng tây ban cầm, phải nhìn vóc dáng nghệ sĩ và tâm hồn Nguyễn Đức Quang khi ca hát thì mới thấy dược những vẻ say mê, tâm hồn nghệ sĩ, tình yêu quê hương mà anh tâm sự trong những ca khúc độc đáo này.

Viết một bài hát, nhạc điệu, tiết tấu là quan trọng, mà phần lời cũng không kém để năng cao giá trị của bài hát.

Trong giới nghệ sĩ, tôi thấy Đức Huy rất thận trọng và chú tâm trong việc đặt lời.

Nguyễn Đức Quang viết hàng trăm ca khúc, mỗi bài là một lời nhắn nhủ anh em ta, đồng bào ta hãy cùng nhau gìn giữ quê hương, trân quý tình gia đình, bè bạn, đóng góp cho đất nước sớm được hùng cường, rạng danh một Việt Nam oanh liệt.

Những ngày cuối trong cuộc đời khi Nguyễn Đức Quang đứt mạch máu não, bất tỉnh trong phòng cấp cứu thì bên Toronto, Canada, một người bạn trong nhóm Du Ca, cũng là nhạc sĩ/nhà thơ Phan Ni Tấn đã có bài thơ gửi bạn như thế này:

A ha! Ê hê!

Sáng nay nghe tin người bạn già của tôi

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vừa bị đứt mạch máu não

nằm mê man như cây đàn vừa đứt một giây trầm

Sáng nay câu thơ tôi thả bay trong nắng

hỏi tôi còn nhớ từng ngày xưa

Ừ thì nhớ người du ca muôn thuở

người du ca đi vào lòng người, những lúc nắng và mưa

Trời sinh anh ra đôi chân lặn lội

đi tác động khắp nẻo quê hương

bản du ca mở ra những con đường đất

gọi người về sống với yêu thương

Trời sinh anh ra một đôi môi hát

tiếng hát bay xa đến tận lòng người

nhìn vào câu ca đã trông thấy phố

thấy cả nông thôn nhà máy vươn mình

Câu anh hát mọi người cùng hát

hy vọng vẫn vươn lên như khói lan xa

hát khúc du ca mắt người thắp lửa

sáng trong long cứ mãi hát ra

Đẹp đến nỗi em bé đánh giầy bên hè phố cũng biết hát

chị bán lạc soong nghe cũng nở môi cười

anh xích lô hát bằng đôi chân chở khách

chị nông dân thắm tháp khúc tình người

Đẹp đến nỗi cây lúa thở ra khói trắng

cũng biết kêu và hát nghêu ngao

em rót câu ca chị gặt khúc hát

người gọi người dựng một phong trào

Đứng cạnh người nghệ sĩ du ca

Ôm cây đàn cùng cao tiếng hát

Câu thơ tôi ngày xưa cũng trôi theo dòng nhạc

Trái tim xanh thắp lửa niềm tin

Sáng nay lục lại ngày thơm trang bản thảo

thấy dòng đời lặng lẽ trôi qua

thấy máu nhỏ xuống nền bệnh viện

loan thành tin người nằm bệnh phương xa

Nghĩ mà giận người bạn già thiệt ngặt

giận mà mong anh sớm được bình an

thức dậy lần này chẳng còn ai thèm nghe bạn hát

mà chính lần này chúng tôi hát anh nghe

Này huynh trưởng, này bạn gìà, bạn lớn

là người yêu của mọi đồng bào

đất nước lâm nguy như người lâm trọng bệnh

lại còn nghe văng vẳng khúc hư hao

Nghe gì đây – khà khà …nghe chúng tôi hát bản du ca cuối cùng:

Nguyễn Đức Quang, Người yêu tôi bệnh….

Phan Ni Tấn

Những người biết anh, yêu anh đều cầu mong cho anh qua cơn bệnh hiêm nghèo.

Nhưng như một định mệnh đã an bài, anh lặng lẽ ra đi không một lời giã biệt.

Để lại chốn nhân gian biết bao nhiêu nhớ thương, luyến tiếc ngậm ngùi…

Châu Ngân/Virginia

( 30 tháng Ba, 2011)

Kế tiếp là tác giả Trần Trung Thuần, bạn thân với hai thân hữu là nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và giáo sư Nguyễn Đình Cường, GS Cường ăn nói hoạt bác, kể chuyện duyên dáng mà tôi có dịp gặp cũng 2 lần khi GS Lê Hữu Mục từ Montreal sang thăm Little Saigon, nhưng nghiệt ngã thay GS Cường đã ra đi trước anh Nguyễn Đức Quang không bao lâu theo bài viết sau:

"Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang Tạ Thế

Trần Trung Thuần

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang không còn nữa! Ông đã thở hơi cuối cùng lúc hơn 4 giờ sáng ngày Chúa Nhật 27 tháng 3 năm 2011, tại California, Mỹ, sau sáu mươi tám năm sống trên cõi đời này ông thật sự ra đi vĩnh viễn!

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang nguyên quán tỉnh Sơn Tây, sinh năm 1944. Mười năm sau đó, ông mới mười tuổi, Hiệp Định Genève ký kết giữa Pháp và Việt Minh, trước sự chứng kiến của Mỹ, Anh, Liên Xô và Trung Cộng, ngày 20 tháng 7 năm 1954, một cõi đời mới phải chọn lựa, ở với Cộng Sản Việt Minh miền Bắc (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) hay vào Nam với Quốc Gia (Quốc Gia Việt Nam/Việt Nam Cộng Hòa). Gần triệu người miền Bắc đã bỏ miền Bắc, trong đó có gia đình Nguyễn Đức Quang, vào Nam, bằng đủ thứ phương tiện, máy bay của hãng Cosara, xe lửa Bắc Nam…và tàu thủy của Mỹ, của Pháp. Với tuổi lên mười, Nguyễn Đức Quang theo cha mẹ lên đường…Qua các trại tạm cư cho đồng bào di cư ở duyên hải Trung Phần, gần bốn năm, gia đình Nguyễn Đức Quang dời lên Đà Lạt sinh cơ lập nghiệp, xây dựng “bền vững” một cuộc sống mới.

Năm đó là năm 1958. Cậu học trò bé bỏng nhưng thông minh đỉnh ngộ được nhận vào trường Nam Trung Học Trần Hưng Đạo. Nguyễn Đức Quang học giỏi, chăm chỉ và lấy dễ dàng các bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, Tú Tài I, Tú Tài II và đi thẳng vào trường Chánh Trị Kinh Doanh của Giáo Sư Phó Bá Long thành lập, mượn cơ sở Viện Đại Học Đà Lạt làm giảng đường. Nguyễn Đức Quang là sinh viên ngay từ khóa I và sau bốn năm học tập Nguyễn Đức Quang cầm trong tay mảnh bằng tốt nghiệp…để đi làm! Văn bằng tốt nghiệp Chánh Trị Kinh Doanh được Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa công nhận tương đương với Văn Bằng Cử Nhân Đại Học Quốc Gia. Ở đây, tôi cũng xin bạn đọc để ý: tên trường là Trường Chánh Trị Kinh Doanh. Chữ Chánh có nghĩa là Công Việc, Việc Làm, chữ Pháp là Travail, chữ Chánh này giống như chữ Chánh của Trường Quốc Gia Hành Chánh, Bộ Tài Chánh, Bộ Giao Thông Công Chánh. Sau năm 1975, trong nước coi chữ Chánh và chữ Chính giống nhau nên chúng ta cứ hay nói lộn trường Chánh Trị Kinh Doanh ra trường Chính Trị Kinh Doanh. Để xác định từ ngữ này, tôi xin nhắc lại đây câu tuyên bố của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn văn Thiệu, năm 1972, nói với Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, Kissinger khi ông này muốn Việt Nam Cộng Hòa chịu “lép vế” Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc Miền Nam Việt Nam, bằng lòng ký vào bản Hiệp Định Ngưng Bắn tại Paris, Pháp, để quân đội Mỹ rút về trong-danh-dự và miền Nam có hòa bình. Hiệp Định Paris kéo dài dây dưa từ năm 1968 đến năm 1972. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không vui vẻ gì khi nghe Kissinger phán, ông nói thẳng thừng: “Chúng tôi muốn có Hòa Bình nhưng phải là Một Nền Hòa Bình Công Chính”, đấy, hai chữ Công Chính và Công Chánh rõ ràng là không đồng nghĩa. Nếu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Chúng tôi muốn có Hòa Bình nhưng phải là Một Nền Hòa Bình Công Chánh”, nghe thật buồn cười, thời đó Công Chánh đồng nghĩa với Lục Lộ/Làm Đường Sá Trên Đất Liền. Giáo Sư Phó Bá Long rất tinh tế trong việc dùng chữ…và chính chữ ông dùng cũng nhằm mục đích “đánh lừa” sinh viên : “Ai đời học bốn năm mà không viết đúng tên trường mình học!”. Hiệp Định Paris được bốn bên, Việt Nam Cộng Hòa, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Bắc Việt và Mỹ ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, tạo ra một bước ngoặt mới cho đất nước và dân tộc ta, đi đến chỗ miền Nam lọt trụm lũm vào tay quân miền Bắc ngày 30 tháng 4 năm 1975! Ngày đó, ai ở miềnNam cũng đổi đời…

Bây giờ trở lại với bản tin về sự từ trần của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang. Ông nằm bệnh viện khá lâu, cũng hơn một tháng, phòng cấp cứu. Ông bị té và bại liệt não. Ông ở suốt trong phòng coma/hồi sức và các bác sĩ chuyên khoa tài giỏi đều không chữa trị được! Tại đây, hơn một tuần lễ sau, người ta cũng đưa vào một người để cấp cứu, người đó quen biết Nguyễn Đức Quang, cũng ở Đà Lạt, cô giáo Đỗ Thị Tiến, dạy tại trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân có chồng là Giáo Sư Nguyễn Đình Cường dạy tại trường Nam Trung Học Trần Hưng Đạo, trường của Nguyễn Đức Quang từng theo học. Cô Giáo Đỗ Thị Tiến được định bệnh nhanh chóng và nằm tại phòng coma chỉ hai ngày rồi phải đưa về nhà…chờ năm ngày sau thì mất! Tất cả sững sờ trong đau đớn, ngày nào tôi từng gặp Nguyễn Đức Quang tại nhà anh chị Nguyễn Đình Cường, ngày nào chúng tôi họp mặt nhau chào mừng Giáo Sư Tạ Tất Thắng đến Mỹ dạy tại Đại Học Alabama trong chương trình trao đổi về giáo dục giữa hai nước Việt Nam và Mỹ, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và anh chị Nguyễn Đình Cường luôn luôn chuyện trò thân thiết…thế mà ngỡ ngàng chưa, người đến sau đi trước, người đến trước ngoắc ngoải đớn đau rồi đi sau gần nửa tháng! Họ sẽ gặp nhau hay không gặp nhau? Người thì được chồng con chôn cất (chị Đỗ Thị Tiến), người thì sẽ hỏa thiêu ( nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang) vào ngày 4 tháng Tư này. Tôi cùng dạy chung một trường với chị Đỗ Thị Tiến, tôi đã không cầm nước mắt đươc. Nay, tiếp nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, thêm một lần nữa lệ tuôn. Buồn ơi! Mới hôm nào, hai tháng trước đây thôi, Nguyễn Đức Quang vào quán Lan Hương của anh Hào Đà Lạt ăn dĩa phở xào, anh ngồi chung bàn với tôi và anh Nguyễn Đăng Sửu. Anh vạm vỡ, hồng hào, đẹp trai, nói cười vui lắm…Anh mới về Việt Nam qua lại, anh có về thăm Đà Lạt, anh lạc quan một ngày hồi hương khi nước nhà tươi sáng thật sự. Anh tin tưởng. Và anh rất yêu đời. Bà xã anh mất gần hai năm rồi, nỗi buồn trơ trọi của anh hình như có phần nguôi ngoai. Tôi nhìn anh ănuống ngon lành. Anh sung sức lắm. Anh nói chuyện gì cũng có tiếng cười. Ăn phở xong anh còn uống với chúng tôi một ly cà phê đá đen. Màu cà phê sóng sánh. Màu tóc anh cũng sóng sánh. Anh như người hồi xuân và tràn trề nhựa sống!

Vậy mà…anh đi rồi! Anh đi lúc 4 giờ hơn sáng sớm ngày 27 tháng 3 năm 2011. Tôi hét to cách nào, anh cũng không nghe nữa dù lúc anh ra đi thành phố chưa thức dậy để có xe cộ ồn ào…

*

Nguyễn Đức Quang ra đi để lại rất nhiều tiếc nhớ. Tiếc anh còn nhiều công trình dang dở, nhớ anh một người tài hoa, một tấm gương sáng trong sự học hành, nhớ anh nhất là dòng nhạc oai hùng mà êm ả, sáng trưng trong từng lời từng nhịp sáng tác cho Hướng Đạo Việt Nam, sáng tác cho Phong Trào Du Ca làm nức lòng người yêu thêm Tổ Quốc.

Có thể nói sơ lược “hành trình văn hóa” của Nguyễn Đức Quang như sau:

1, Tác phẩm đầu tay làm ra từ năm 1961 tại Đà Lạt (nơi anh gia nhập Hướng Đạo Việt Nam), bản nhạc này anh làm để làm “nền” cho Hướng Đạo: Gươm Thiêng Hào Kiệt.

2, Nguyễn Đức Quang chính thức “nổi đình đám” kể từ sau cuộc chính biến 1963 (Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết chết, sụp đổ chế độ Công Hòa Việt Nam đệ nhất). Nguyễn Đức Quang “dấn thân” hẳn vào cuộc đổi thay của thời cuộc, anh sáng tác những tác phẩm mang chủ đề thanh niên và những vấn đề nóng bỏng của đất nước. Nội dung những nhạc phẩm của Nguyễn Đức Quang có điểm ngộ là không kếu gọi Thù-Báo-Thù mà chỉ thôi thúc Tình Yêu Nước, Tình Nghĩa Người Với Người, Ca Ngợi Lịch Sử Hào Hùng của Dân Tộc. Có thể vì anh nặng lòng với Đà Lạt – một thành phố hiền hòa, mát mẻ, người đối xử nhau dịu dàng, thân ái…

Bản nhạc “để đời” của Nguyễn Đức Quang là Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Sau 30 tháng 4 năm 1975, các trại Cải Tạo thiết lập bởi chế độ mới, nhạc Nguyễn Đức Quang không bị xếp vào loại “nhạc vàng” mà được cho hát vang bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Nhiều bài hát của Phạm Thế Mỹ, của Phạm Đình Chương cũng vậy. Đặc biệt nhạc Trịnh Công Sơn thì không được nói đến!

3, Các bản nhạc nổi tiếng khác của Nguyễn Đức Quang thường được nhắc đến (chính tác giả cũng thường tự trình bày trong các cuộc hội ngộ anh em): Bên Kia Sông, Chiều Qua Tuy Hòa, Vì Tôi Là Linh Mục, Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương. Nguyễn Đức Quang sáng tác không “mạnh” lắm, chỉ trên dưới một trăm bài…

4, Sau 30 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Đức Quang sống âm thầm và cũng âm thầm trốn khỏi đất nước. Anh và gia đình vượt biển, tới Mỹ năm 1979. Nguyễn Đức Quang chúi mũi vào việc kiếm sống. Việc anh quan tâm là làm báo. Anh đóng góp tài lực, trí lực cùng với bạn bè dựng ra báo Người Việt, ban đầu là tuần báo, sau đó ra năm tờ mỗi tuần và cuối cùng là nhật báo cho đến ngày nay. Nguyễn Đức Quang từng làm Giám Đốc Trị Sự và Chủ Bút báo Người Việt và giữ chức Tổng Giám Đốc của Công Ty báo Người Việt từ năm 1984 đến năm 1988. Hình như ở Mỹ, Nguyễn Đức Quang coi âm nhạc như kỷ niệm, anh tha thiết với ngành Thông Tin Đại Chúng hơn (bây giờ thì gọi chung là Truyền Thông). Nguyễn Đức Quang sáng lập báo Viễn Đông và “làm chủ” báo này một thời gian cho đến khi nó vững vàng đi vào thương trường chữ nghĩa. Nguyễn Đức Quang hợp tác với Phạm Phú Minh, Phan Mỹ Sương dựng ra Công Ty Báo Chí Quang Minh Sương viết tắt là QMS Media, xuất bản báo Phụ Nữ Diễn Đàn, Chí Linh và đài Phát Thanh/Truyền Hình VOC.. Chừng ba năm gần đây, Nguyễn Đức Quang trở về lại với âm nhạc. Anh đi đây đi đó hát Du Ca. Anh đang vui vẻ thì bà xã anh bị bệnh và mất, đã gần hai năm nay. Nguyễn Đức Quang gần như đứng chựng trong chặng sau của đời người, nhưng nhờ tình anh em bằng hữu, tình quyến luyến của Hướng Đạo, Nguyễn Đức Quang lại…hồi sức và đang có nhiều dự định cho tương lai, tập trung cho âm nhạc. Trời không thương anh nữa, anh ra đi vào một ngày Chúa Nhật không ai hẹn hò…Ngày đó, 27 tháng 3, 2011. Giờ đó 4 giờ hơn giờ Thái Bình Dương!

Trong buổi chiều 27 tháng 3, 2011, tại nhà hàng Emerald Bay, thành phố Santa Ana, Nam California, lúc 3 giờ 30, một nhóm thân hữu của Nguyễn Đức Quang có tổ chức “Chiều Nhạc Du Ca Nguyễn Đức Quang”, một chương trình dự trù thực hiện để “cầu an” cho anh nhưng không dè đó là chương trình dành để nói lên những lời vĩnh biệt. Tại đây Hội Hướng Đạo Việt Nam trao cho anh Huân Chương Bắc Đẩu Bội Tinh – một Huân Chương Cao Quý Nhất của Hội Hướng Đạo Việt Nam trao tặng cho người Trưởng có công lớn trong việc gìn giữ và xây dựng một Phương Pháp Giáo Dục Thanh Thiếu Niên. Huân chương đó được trao cho…người nhận là con trai của Nguyễn Đức Quang. Được biết Nguyễn Đức Quang từng gia nhập Hướng Đạo Việt Nam từ năm 1966, anh sinh hoạt rất đều đặn và đắc lực khi lên định cư tại Đà Lạt. Nguyễn Đức Quang đã là Trưởng và là Linh Hồn của Liên Đoàn Lê Lợi. Chắc anh mãn nguyện…Ít ra sống ở đời, mình cũng đã làm-được-chuyện-gì-ích-lợi cho đời.

*

Nguyễn Đức Quang ra đi khi thành phố chưa thức dậy. Anh ra đi nhẹ nhàng và tan theo sương khói. Kính chào anh! Tôi vẫn ngậm ngùi nhớ lại lần gặp anh cuối cùng tại một quán ăn có uống…Cái bắt tay nồng ấm, bây giờ lạnh ngắt!

Vĩnh biệt chào Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang!

Trần Trung Thuần"

Trước khi khóa sổ vào thứ 25, email của chị Bùi Ngọc Nga, tức K’Nga, một thân hữu của Du Ca trưởng Nguyễn Đức Quang trên Bắc Cali gửi xuống, mời anh K’ Quang và các "K’ X,Y,Z" thưởng lãm bài viết dí dỏm, đượm nét hóm hỉnh về một khung trời kỷ niệm nơi miền cao nguyên xứ Thượng..

Bước chân tuổi trẻ…

Vĩnh biệt Du Ca Nguyễn Đức Quang!

Tôi nhớ đã quen với Minh Thông, vợ Nguyễn Đức Quang năm học lớp Đệ Nhất trường Gia Long. Tôi ở lớp B1 Anh Văn, Thông ở B2 Pháp Văn. Chúng tôi cùng vào Gia Long năm cuối của Trung học nhưng những buổi biểu tình bãi khóa, bầu cử ban đại diện trong trường đều không thiếu vắng hai chúng tôi.

Lên Đàlạt gặp lại Minh Thông, những ngày ở trại Suối Thông tôi nghe các bạn chọc ghẹo anh Nguyễn Đức Quang với Minh Thông. Trại công tác Suối Thông tại Đàlat (cách Đà Lạt 30 km) được tổ chức vào mùa hè năm 1966 bởi hội Thanh Niên Thiện Chí, Viện Đại Học Đàlat. Nhờ anh Nguyễn Tường Cẫm , Nguyễn Khải, anh Minh đi xin tiền tài trợ từ Tòa Tỉnh, Asia Foundation, USIS, Cha Viện Trưởng, …hội Thanh Niên Thiện Chí Đà Lạt có thể tổ chức hai trại dài hạn, mỗi trại một tháng xây dựng nhà cho đồng bào tỵ nạn mà nhân lực là bàn tay và sức lực của những sinh viên của Viện Đại học Đà Lạt.

Nhóm chủ lực của trại Suối Thông gồm anh Nguyễn Đức Quang làm trại trưởng, các anh Lỉnh, Châu, Thảo, Ý… đều là những Hướng Đạo sinh tại Đàlạt, rất có kinh nghiệm đi trại công tác. Tôi và chị Khánh Tuyết là hai người nữ ở trong trại suốt thời gian, lo việc ẩm thực cho tòan trại. Ban ngày các anh trại viên phụ trách công việc xây dựng nhà. Công việc rất nặng nhọc như vác tre, vác gỗ, trộn hồ, chuyển hồ, dựng mái, lợp mái…. Tối về sau bửa cơm tất cả chúng tôi quây quần bên nhau ca hát ; trời lạnh và mưa ngồi trong nhà (nhà sàn cao cẳng), nếu không mưa chúng tôi đốt lửa ngồi ngoài trời, có khi đến một , hai giở sáng (tuổi trẻ có khác !) Anh Quang đàn hát liên miên, chúng tôi hát những bài ca của trẻ em, của Hướng đạo và những bài ca lịch sử (Bạch Đằng Giang, Bóng Cờ lau,……,), nhac tiền chiến. Mặc dù chỉ có hai người nữ (có khi chỉ có một mình tôi, khi chị Tuyết cần về Đàlạt lấy thêm tiền, mua thêm thức ăn) chúng tôi luôn tham dự sinh hoạt cùng các anh. Riêng tôi vì đã là đòan sinh Gia Đình Phật tử đã tham dự rất nhiều trại sinh hoạt ở học đường, cũng như trại công tác vệ sinh, trại Cứu thương, trại Cứu hỏa với đoàn hướng đạo Đạo Cửu Long ở Saigon, nên tôi rất thông thạo, dạn dĩ khi tham dự trại công tác của sinh viên Viện Đại Học Đà Lạt. Lại nữa tôi thuộc lòng và rất mê hát những bài hát lịch sử, những bải hát thanh niên, nhạc tiền chiến nên không bao giờ chịu bỏ cuộc những buổi hát hò tập thể này. Ngoài ra tôi có đưa cho anh Nguyễn Đức Quang mượn tuyển tập nhạc những bài dân ca Mỹ (một IVS đã tặng tôi trước khi về Hoa Kỳ). Tôi nhớ anh Quang thường đem ra đàn và tập cho chúng tôi hát. Tôi có đòi anh Quang quyển tập nhạc này, nhưng lần nào anh cũng quên trả và tôi cũng quên đòi luôn. Có điều chắc chắn là tập nhạc này có giá trị và hữu ích cho anh Nguyễn Đức Quang hơn là ở trong tay tôi.

Điều đáng nói về trại công tác là chúng tôi sống cả tháng trời trong làng Thượng, không hề về lại Đàlạt; sống trong tiện nghi tối thiểu, thức ăn, nước uống rất hạn chế, chẻ củi, lặt rau, nhóm lửa (viết đến đây tôi nhớ anh Nghiêm Hữu Ý, đã mất khi vượt biên, chổng mông thổi lữa phù phù)…làm việc rất nặng, thời tiết vừa lạnh, vừa mưa, đất bùn, đất đỏ, trơn trợt… nhưng tôi không hề nghe một lời than vãn, gây gổ hay cãi vã nhau. Nam nữ sống chung trong căn nhà sàn không hề có những sàm sỡ hay bậy bạ, có trêu ghẹo nhau nhưng không bao giờ quá lời, rất vui vẻ và thân ái với nhau trong tình anh em một nhà.

Kết thúc những ngày trại anh em chúng tôi mỗi người có một tên mới : K’Quang, K’Lĩnh, K’Châu, K’Tuyết, K’Ý, K’Nga… (theo cách thức đặt tên của một làng Thượng, K là họ của một giòng tộc, sinh sống rải rác tại Đà Lạt, Pleiku…)

Trại Suối Thông là một trong những trại thành công của Thanh Niên Thiện Chí Đàlạt, công đầu của anh Nguyễn Đức Quang và có thể nói chính nơi đây cũng là cái nôi sản xuất ban Trầm Ca và sau này là Nhóm Du Ca do anh Quang làm trưởng, họp cùng nhóm các anh trại sinh của trại Suối Thông dựng nên.

Năm 1972, nhóm Du Ca của Nguyễn Đức Quang cùng với anh Hoàng Ngọc Tuệ có dự tính chương trình phát động phong trào Du Ca rầm rộ hơn để đáp ứng nhu cầu của thế hệ thanh niên, sinh viên nơi học đường cũng như ngoài xã hội. Việc đầu tiên là in ấn và phổ biến rộng rãi những sáng tác của Nguyễn Đức Quang và ban Trầm Ca, cùng những bài nhạc thanh niên, tuổi trẻ, dân ca của các quốc gia khác ca ngợi tự do, nhân quyền khi giới thanh niên, sinh viên Việt nam chúng tôi có dịp tham dự những trại hội nghị, công tác quốc tế. Anh Ngô Mạnh Thu và tôi được giao phó làm Thủ quỹ của Phong trào.

Tiếc thay năm 1975 tan hàng, chúng ta đã tan tác mỗi người một nơi, một chốn. Nhưng không ai có thể phủ nhận rằng thế hệ chúng ta đã được hun đúc từ một môi trường tự do, nhân bản đạo đức từ tiểu học, trung học cho đến đại học, trong gia đình, cũng như ngoài xã hội. Chúng ta, một lớp người sống có lý tưởng, một thế hệ mà khát vọng tràn trề sẵn sàng ‘đứng lên đáp lời sông núi’ qua những ca khúc của Trầm Ca , của Du Ca vừa hùng hồn, vừa mời gọi, để xây dựng, để góp lời, cho quê hương , cho dân tộc….

Năm 1980, anh Nguyễn Đức Quang có ghé thăm chúng tôi tại Portland; nói chuyện về làm báo và Du Ca….

Năm 1996, chồng trước của tôi, anh Dương Mạnh Hùng mất. Anh Lê Đình Điểu an ủi : Trần Đại Lộc và Dương Mạnh Hùng đi trước là để tìm đất trại, tổ chức trại, chúng ta sẽ cùng tham dự một trại thật lớn.

Lê Đình Điểu đã đi, Đỗ Ngọc Yến đã đến nơi, nay Nguyễn Đức Quang lên đường…. vẫn là để nhận công tác làm Trại trưởng (chăng ?), một công việc mà Nguyễn Đức Quang đã từng vác nga voi rất nhiều lần ở cõi Ta Bà…

Tiễn Anh Nguyễn Đức Quang lên đường … anh đi, anh Quang nhé, ‘đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang’….. nơi đến MIỀN CỰC LẠC MIÊN VIỄN.

Nam mô Tiếp Dần Đạo Sư A Di Đà Phật

K’NGA

Bùi Ngọc Nga

San Jose, mưa bão tháng ba, 2011

Nối tiếp là nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, cũng là người của đất Bắc Cali, viết bài "Nhạc Nguyễn Đức Quang, Tuổi Trẻ, Mặt Đất và Hiện Tại", tác giả kể về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang của những ngày quá khứ và những sinh hoạt dành cho âm nhạc, và quê hương Việt Nam. Nguyễn Xuân Hoàng và Nguyễn Đức Quang là hai bằng hữu thân thiết trên hai dịa hạt văn chương và báo chí. Nhận định về Nguyễn Đức Quang, tác giả cho là một nhạc sĩ thành công cần 2 yếu tố tài năng và nhân cách; Với Nguyễn Đức Quang, tác giả không những thích nhạc Nguyễn Đức Quang, nhưng có thể ông còn thích nhiều hơn ở nhân cách của người nhạc sĩ đáng kính phục này. Nguyễn Đức Quang là một con người nhân cách. Xin hãy theo dõi toàn bộ bài viết của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng:

"Cho dù các ca khúc của Nguyễn Đức Quang được viết cách đây hơn 30 năm ở trong nước, âm nhạc của anh mỗi khi vang lên bao giờ cũng thổi đến trong lòng người nghe hơi nóng của một trái tim bốc lửa.

Tuổi trẻ, đó là hơi thở trong toàn bộ những sáng tác của anh. Và quê hương là hình ảnh đẹp đẽ trong tiếng nói của anh. Các ca khúc của Nguyễn Đức Quang có thể nói tràn ngập những lời tình tự dân tộc.

Có người nói, âm nhạc của Nguyễn Đức Quang không thiếu những tình khúc. Điều này không sai, nếu tình khúc được hiểu như những khúc ca viết cho một mối tình khổ đau, chia ly, tan vỡ. Những Vì Tôi Là Linh Mục, Thiên Thu (phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên)… chỉ là một chút màu xanh trong bức tranh hoành tráng của tuổi trẻ trong âm nhạc của anh.

Nguyễn Đức Quang viết và hát và anh biết rõ anh đang viết gì, hát gì!

Vào giữa thập niên sáu mươi, bẩy mươi, trong khi Sài Gòn và các tỉnh trong nam vang lên một số những ca khúc não nuột, sướt mướt, những khúc bi ca nấc lên từ một trầm tư siêu hình, bốc hơi từ một thứ triết học trên mây,… Nguyễn Đức Quang – dù mới vừa bước vào tuổi hai mươi – đã chọn mặt đất, thực tại xã hội, dân tộc và quê hương làm hướng đi của anh.

Nhạc Nguyễn Đức Quang đã đánh thức một tuổi trẻ bị chìm đắm trong cơn mê dài của những dòng nhạc ru ngủ. Những ca khúc của anh mang tên Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương, Xương Sống Ta Đã Oằn Xuống, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, Không Phải Là Lúc…, Hy Vọng Đã Vươn Lên…, Đã làm nên một Nguyễn Đức Quang khoẻ mạnh và vạm vỡ.

Không phải là lúc ngồi đặt vấn đề nữa rồi, phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới… Nguyễn Đức Quang đã nói như thế với những người cùng trang lứa với anh, và cái thông điệp ấy không phải chỉ riêng cho một tuổi trẻ Việt Nam. Thông điệp ấy anh đã gửi đến cho toàn thể con người Việt Nam trong một xã hội đang tan rã, trong một đất nước đang bị chia cắt từ đất đai đến tấm lòng…

Nếu xem những khúc bi ca làm đẫm ướt trái tim là bóng tối thì những ca khúc của Nguyễn Đức Quang là ánh sáng.

Nếu xem những tình khúc nức nở, nghẹn ngào là quá khứ thì nhạc của Nguyễn Đức Quang bao giờ cũng là của hiện tại.

2-

Tôi muốn nói nhạc của Nguyễn Đức Quang sẽ thuộc về hiện tại và mặt đất bao lâu mà xã hội chúng ta vẫn còn những con buôn (ở khắp nơi), còn những em bé ngồi khóc bên vĩa hè, còn những đứa trẻ lang thang ngoài đường phố, không nhà cửa, không người thân; bao lâu vẫn còn quanh quẩn đâu đây những ruồi nhặng và kên kên… thì nhạc Nguyễn Đức Quang vẫn còn tác động trên cuộc sống chúng ta.

Hãy nghe Nguyễn Đức Quang hát:

Anh ơi, mau đi coi món hàng chúng bán

Trên Bến Chương Dương,

Bên đường Tự Do, giữa nơi rừng già,

Buôn trong Chùa, Phật không tha,

thần không qua, buôn cả Thánh Chúa.

(Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi)

Một lời phỉ báng đốt cháy một đời như là cây đuốc

một lời đàm tiếu cũng khiến họ hàng xa gần nhơ nhuốc

vậy mà một nước có mỗi ngày hàng trăm tờ tin tức

toàn lời nhục nhã mắng nhiếc phẩm bình chê bai không dứt

đó anh!

Xem đây quê hương tôi một thùng rác lớn

Nơi đây đang vây quanh một đàn ruồi xanh

Đàn ruồi xanh

ruồi xanh….

(Ruồi và Kên Kên)

Nhưng nhạc Nguyễn Đức Quang không chỉ đưa ra những mặt tiêu cực của cuộc sống. Nhạc của anh còn chứa đựng một tình yêu tràn trề về quê hương và hy vọng cho những ngày tới. Đó là những khúc hoan ca Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương, Bầu Trời Quê Hương Ta, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ… cho thấy một Nguyễn Đức Quang tích cực trước cuộc sống:

Này người yêu, người yêu tôi ơi,

Bên kia sông là ánh mặt trời

Này người yêu người yêu anh hỡi,

Bên kia đời cỏ hoa đan lối…

(Bên Kia Sông – Thơ My Sơn)

Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền

Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến

Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn, tràn nước mắt

Hy vọng đã vươn lên như làn tên

Đang rực lên trong màn đêm….

(Hy vọng Đã Vươn Lên)

Và một trong những ca khúc đã làm Nguyễn Đức Quang trở nên người của quần chúng, của đám đông, có lẽ là Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Ở ca khúc này, âm nhạc của Quang như một cơn lũ cuốn phăng đi mọi rác rưới, phá tan đi xích xiềng, đốt cháy đi ô nhục….

Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn

đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm

đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang…

(Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ)

Tôi hiểu âm nhạc của Nguyễn Đức Quang phải gắn liền với xã hội, con người, quê hương, đất nước của chúng ta. Âm nhạc của anh phải được đập theo nhịp đập của những trái tim sôi nổi của một tuổi trẻ không bằng lòng với hiện tại. Âm nhạc của anh phải được vang lên trên vĩa hè thành phố từ Bắc chí Nam, vang lên trên các sân trường đại học, trên cánh đồng, trong khu rừng bập bùng ánh lửa, ở những nơi mà đồng bào ta cần những bàn tay, những cánh tay… Có thể nói nhạc của Nguyễn Đức Quang không thích hợp trong không khí của một phòng trà, nơi mà những ly cà phê đắng, những mịt mù khói thuốc và hơi rượu cay đốt cháy một đời tuổi trẻ….

Như tên một ca khúc của anh, nhạc của Nguyễn Đức Quang là những tiếng rống của những đàn bò:

“Sao chúng tôi phải làm mãi thân bò sát, trườn mình đi trong vũng tối mất tương lai?

Sao chúng tôi phải làm mãi loài lạc đà, mang niềm đau của một người nô lệ già?…”

(Tiếng Rống Đàn Bò)

Nguyễn Đức Quang không phải là người nói nhiều. Anh tin người và yêu đời.

Trong những năm ở Quận Cam, chúng tôi từng có những buổi sáng thứ Sáu ngồi bên nhau trong tiệm ăn có tên Spires ở góc đường McFadden-Brookhurst – và lúc đó tôi thấy một Nguyễn Đức Quang hoạt bát khi anh nói về quê hương, xã hội và âm nhạc. Tôi nói, nhạc của anh chưa mất tính hiện tại, nhạc của anh vẫn còn nguyên vẹn tính chất thời sự của nó khi được vang lên trên đường phố Việt Nam hiện tại.

Tôi cho rằng sở dĩ nhạc của Quang đi vào trái tim người trẻ dễ dàng và mạnh mẽ như vậy bởi vì nhạc của anh đi thẳng từ một trái tim lọc qua một khối óc tinh nhạy. Nguyễn Đức Quang suy nghĩ trên lời nhạc trước khi ghi lại những suy nghĩ ấy bằng âm thanh. Và cũng có thể ngược lại. Tôi nhớ có lần nhạc sĩ Phạm Duy nói với tôi: Nếu Lê Uyên Phương viết bằng da thịt thì Nguyễn Đức Quang viết bằng lý tưởng. Tôi không hiểu nhận định ấy của Phạm Duy đã gây cho Lê Uyên Phương và Nguyễn Đức Quang những suy nghĩ gì? Tôi chỉ có thể lập lại một điều: Nhạc của Nguyễn Đức Quang trước hết thuộc về Mặt Đất và Hiện Tại.

Là học trò của nhạc sĩ Lê Thương, nhưng âm nhạc của Nguyễn Đức Quang là một kết hợp kỳ lạ của ba dòng sông: âm hưởng của Nga qua những khúc dân ca, như Hò Kéo Gỗ Trên Sông Volga [lời Phạm Duy], những bài nhạc Do Thái [He-Sha-Luz] sáng tác cho những kibbutz, và sau cùng cốt lõi của nó chính là dân ca Việt Nam.

Những buổi sáng thứ Sáu, từ quán ăn Spires trong thị xã Garden Grove, California, chúng tôi đã hình thành một tình bạn không bằng lời nói. Cũng như những dấu lặng trong âm nhạc, sự im lặng trong tình bạn chính là một thứ ngôn ngữ chứa nhiều ý nghĩa nhất.

Tôi thích nhạc Nguyễn Đức Quang, nhưng có thể tôi còn thích anh nhiều hơn ở nhân cách của anh.

3-

Bắt chước một nhà nghiên cứu phê bình văn học, chúng ta có thể nói: Nhân vật trung tâm của âm nhạc là người nhạc sĩ, nhưng sự phát triển của âm nhạc tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác. Đó là tài năng và nhân cách. Tài năng là cái trời cho, chỉ có thể bồi đắp chứ không thể đào tạo. Nhưng nhân cách thì ai cũng cần phải có. Đôi khi nhân cách còn quan trọng hơn cả tài năng. Và người ta chỉ thật sự có nhân cách khi biết sống vì những lẽ phải lớn, biết giữ được lòng trong sáng, và biết trung thực trước mỗi thử thách của cuộc sống. Không có nhân cách thì sẽ hoặc ngông nghênh vô lối, hoặc khúm núm xu thời….

Nguyễn Đức Quang, hơn là một nhạc sĩ tài năng, anh là một con người nhân cách.

Điều đó làm âm nhạc anh lớn hơn cái chiều cao nó vốn có.

Điều đó làm cho người ta càng quý Nguyễn Đức Quang hơn và yêu âm nhạc của anh nhiều hơn. [NXH]

Nhà văn Vĩnh Liêm ở Santa Ana chuyển đến tôi bài thơ gồm nhi62u thơ họa của các thân hữu trong văn học, trong dó tôi tìm thấy bài thơ ngắn 4 câu của anh Nguyễn Ðức Quang. đó là Bài Thơ Trốn Tuyết:

Giã từ cung bậc âm ba,

Nhớ thời dĩ vãng Du-Ca cho đời.

Bây chừ Người Việt khắp nơi,

Trông Ông Giám Ðốc nụ cười quen quen.

Nhạc sĩ Trần Quang Hải từ Paris chuyển email tiễn đưa người quá cồ qua bài viết ngắn:

"Kỷ niệm với nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang.

Năm 1969, Nguyễn Đức Quang sang Pháp để trình diễn những sáng tác mới cho sinh viên Việt Nam . Tôi rất phấn khởi khi nghe bản "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" mà anh đã hát và làm sôi động lòng yêu quê hương và làm tăng tinh thần tranh đấu vào thời điểm lúc đó. Hai anh em có thì giờ tâm sự và hiểu được vai trò của anh Quang trên đường đấu tranh qua những ca khúc Du Ca mà anh là chim đầu đàn . Nay anh ra đi nhưng đã lưu lại cho hậu những ca khúc hùng tráng sống mãi trong lòng người Việt cộng hòa.

Trần Quang Hải, Pháp"

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa, một thân hữu trong giới âm nhạc của Nguyễn Đức Quang cho lời viết:

"Nhớ về Nguyễn Đức Quang

Anh Nguyễn Đức Quang và tôi vẫn có sự tương kính và có một số kỷ niệm với nhau, kỷ niệm về làm báo cũng như kỷ niêm về âm nhạc. Khi anh làm Tổng thư ký nhật báo Người Việt, vì tôn trọng ý kiến, anh cho phép đăng bài viết của tôi dù biết bài đó có thể làm buồn lòng một vài anh em. Qua nhật báo Viễn Đông, tôi cộng tác với anh trong mục nhiếp ảnh hằng tuần cho đến khi báo đổi chủ. Về sau thỉnh thoảng tôi có gặp anh ở Lily Bakery, bên cạnh Reflection Photo Studio của nhiếp ảnh gia Thái Đắc Nhã, ở Garden Grove, California, trao đổi vài câu chuyện rồi đi vì ít khi tôi ngồi lại lâu. Đặc biệt nhất là đêm nhạc 11-10-2008 ở Carpenter Performing Arts Center, Long Beachanh Quang là diễn giả chính trên sân khấu nói về con người và nhạc của Lê Văn Khoa. Tôi rất cảm động về nhiệt tình của anh đối với cá nhân tôi cũng như đối với bạn bè.Chén thù chén tạc chưa xong anh đã mau chân đi trước. Tôi thua anh một bước, nhưng cũng sẽ theo anh.

Chúc anh thượng lộ bình an. Xin được gửi ảnh này đến anh để anh thấy có cả một trời âm nhạc đang chờ đón anh."

image011.jpg

image012.jpg

Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng, cũng là một thân hữu của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang chuyển lời cám ơn và tiễn đưa như sau:

"Cám ơn anh Nguyễn Đức Quang những gì anh đã làm và để lại cho dân Việt. Coi như anh Quang đang đi một chuyến đi dài để trở về với đất Việt .

Chúc anh yên nghỉ.

Phạm Anh Dũng"

image007.jpg

Nhạc sĩ Phan Anh Dũng trên vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, phụ trách trang website văn nghệ Cỏ Thơm quy tụ tại liệu về nhiều văn nghệ sĩ, trong có nhiều bài về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, mà anh email cho bài viết chung này. Sau đây anh viết bài tiễn với chữ "tạm biệt" trong tựa đề, vì nơi chốn anh Quang đến có thể chúng ta đoàn tụ về sau…

"Tạm Biệt "người yêu quê hương" Nguyễn Đức Quang

Hồi trung học, tôi thường đến chơi trụ sở CPS – Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Sinh Viên Học Đường – vì anh họ tôi Phan Văn P., giáo sư Toán cùng thày Trần Đại Lộc, dạy Việt văn ở Petrus Ký, là 2 thành viên của CPS hay "ăn dầm ở dề" ở trụ sở đó. Tôi được nghe các đàn anh, đàn chị đầy nhiệt huyết, hát hò vui vẻ với những cây đàn guitar thùng và tổ chức những buổi trình diễn văn nghệ sinh hoạt cộng đồng cho giới trẻ, học sinh và sinh viên.

Lúc ấy, tôi cũng tham dự vào Hướng Đạo VIệt Nam và thỉnh thoảng có dịp đi "công tác từ thiện" quanh Sài Gòn – kỷ niệm không thể quên là công tác giúp đỡ dọn dẹp ở Chợ Lớn và Phú Lâm sau Tết Mậu Thân. Chúng tôi thường hát với nhau các bản nhạc trong tập in ronéo, trong đó có một số bản nhạc của Nguyễn Đức Quang như: "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ", "Về Với Mẹ Cha", "Đường Việt Nam", "Hy Vọng Đã Vươn Lên" … Các bản nhạc của anh Quang với tiết điệu rộn ràng và lời lẽ yêu nước hùng mạnh làm chúng tôi hăng hái vô cùng!

Sau khi biết chơi đàn guitar và vào Đệ Nhị Cấp, tôi yêu mến các tình khúc của các tác giả "trẻ" lúc ấy như Trần Tú, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Vũ Đức Sao Biển và đặc biệt là 2 bản nhạc của Nguyễn Đức Quang: "Bên Kia Sông" và "Như Mây Trên Cao".Giai điệu của "Bên Kia Sông" dễ nhớ, khá hay và lời của "Bên Kia Sông" trữ tình, lãng mạn, lồng trong một khung cảnh thật lý tưởng (theo thơ của Nguyễn Ngọc Thạch). Hình ảnh tươi sáng trong "này người yêu, người yêu tôi ơi, bên kia sông là ánh mặt trời", ta có thể hình dung 2 người yêu, đồng chí hướng, sẵn sàng lên đường giúp người, giúp đời … Lời của bài "Như Mây Trên Cao" cũng có nét tương tự như thế, "anh sẽ lên trên ngọn Hồng Lĩnh hái cho em một đóa hoa rừng, thầm khắc tên em vào phiến đá rêu xanh, rồi vây quanh bằng trái tim anh …" tạo cho người hát, người nghe một cảm giác lãng mạn, nhẹ nhàng, tình yêu thánh thiện trong sáng …

Tháng 3 năm 2005 anh Nguyễn Đức Quang có ghé về miền Đông Hoa Kỳ để giúp tay với Hướng Đạo trong vùng Hoa Thịnh Đốn. Cựu giáo sư Mạc Đỉnh Chi là thi nhạc sĩ Nguyễn Tường Vân cùng anh Bùi Mạnh Hùng đã tổ chức một họp mặt tiếp đón anh Quang với sự tham dự một số văn thi ca nhạc sĩ trong vùng như: Hoàng Song Liêm, Hà Bỉnh Trung, Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Tuân, Vĩnh Liêm, Nguyễn Minh Nữu, Bạch Mai, Bùi Mạnh Hùng, Nguyễn Văn Đặng, Kiều Nga … Tâm Hảo và tôi có đến gặp anh và đêm ấy, tôi hân hạnh được phụ đệm đàn vài bài chung với anh Nguyễn Đức Quang. Tuy phải dùng một cái ghế ngồi thay cho giá nhạc và một "camera stand" làm "micro stand" cho anh, nhưng người du ca vẫn vui vẻ, hát hết lòng, giọng sang sảng với những bản nhạc nổi tiếng của anh và đặc biệt nhất là bài mới sáng tác đầu năm 2005, đó là ca khúc "THÈM" (toàn bài ở dưới). Trong lúc anh hăng say trình bày, vài thính giả nghe lời hát có những ý "mới lạ": cười khúc khích …

Dù ở tuổi gần 70 nhưng anh vẫn còn nhiều nhiệt huyết, hoài bão, vẫn "thèm" được sức khỏe và năng lực như lúc còn sinh viên, đi rong ruổi đó đây với cây đàn guitar thùng, để được hát lên những lời kêu gọi giúp đỡ người kém may mắn, đầy tình tự quê hương. Thỉnh thoảng đọc tin anh đi ngao du ở Úc, Pháp, Hoà Lan và một số tỉnh ở Hoa Kỳ … đi đến đâu anh cũng được đón tiếp nồng hậu.

Nghe tin anh bị stroke nặng khi lên San Jose sửa soạn trình diễn vào tháng 2 và đã nằm trong phòng cấp cứu ở một bệnh viện từ lúc đó, tôi và nhiều người đã cầu nguyện mong anh được qua cơn hiểm nghèo. Chủ nhật vừa qua, 27 tháng 3, 2011, anh đã vĩnh viễn thanh thản rong chơi, theo lời của một Trưởng Hướng Đạo là "anh đã lìa rừng".

Đầu tuần này, tôi đã soạn một trang để tưởng nhớ anh ở website Cỏ Thơm với nhiều bài viết về anh từ thân hữu khắp nơi:

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=932&Itemid=47

Theo tôi, thính giả mê thích nhạc của anh vì lời lẽ rất thật, rất gần, không màu mè, luôn chứa đựng những thông điệp cao đẹp, không bao giờ buồn rầu và ủy mị.

Cảm ơn "người yêu quê hương" Nguyễn Đức Quang đã đem đến cho Tân nhạc Việt những đóa hoa đẹp. Tôi tin chắc rằng anh ra đi mãn nguyện vì ngọn lửa du ca đã bùng lên trở lại đến mọi Cộng Đồng người Việt trên thế giới – cũng như thập niên 60 ở Việt Nam vậy.

Phan Anh Dũng-Tâm Hảo

Richmond, Virginia USA

30/3/2011

PS: Gửi kèm:

Tên bài hát: THÈM

Nhạc và lời: Nguyễn Đức Quang

Khởi soạn tháng 10/04 – Hoàn tất tháng 1/05

Thèm – đầu ngày cất tiếng yêu đời

Thèm – giọt cà phê đắng Paris những ban mai

Thèm – trèo lên cao ốc chơi vơi kinh thành

Gọi một tiếng lớn tên quê hương mình

Truyền đi ngàn hướng – lời tôi rung bao trái tim

Thèm – nhìn sâu đôi mắt thấy hiền

Thèm – được nghe nhắc đến tên nhau ngọt êm

Thèm – cuộc đời mở những chân thang rất đều

Để em lên xuống khoan thai dặt dìu

Thèm mùi son mới – thèm câu nói tình yêu

Thèm hương mồ hôi đẫm – những lòng phố chen chúc con người

Thèm trông bờ môi xinh tha thiết nhiệt tình nói miết tương lai

Thèm mới nửa câu kinh đã thấy quanh mình nở hoa trắng trong

Thèm xem đoạn phim hay em cười trong vắt nụ hôn kéo dài

Thèm – chạm làn khói trắng lưng trời

Thèm – ngồi bên nhau hát miên man lời vui

Thèm – ngồi co chân sát vai nhau bên đồi

Nửa vòng tay ấm đốt cháy lưng người

Nửa vòng hờ hững chờ có tiếng ai gọi mời

Thèm – nửa đêm nghe tiếng oan cừu

Gọi bằng đường giây nóng xin bôi xóa chuyện xưa

Thèm – ngồi trên phiến đá chân mây cao vời

Gập ghềnh lăn bánh nhân sinh ngọt bùi

Hoàng lan thơm ngát, chiều quê ơi, em và tôi."

Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi viết marathon bài cho kịp thời hạn, tôi nghe chị thức khuya. Tác giả này xuất thân từ gia đình văn chương và âm nhạc, chị vốn dĩ thích 2 phạm vi này, trong bài viết, nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi về kỷ niệm tham dự nghe những buổi ca hát với nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, tác giả dùng lối xưng hô bằng tên LN, tức Lan Nhi. Bài "Một Chút Tâm Tình Với Anh Nguyễn Đức Quang":

"Khi được cháu Minh Phú cho biết tin anh Nguyễn Đức Quang bị coma, Lan Nhi (LN)thật sự đã lặng im, vì không biết phải nói gì lúc này.

Mới đây tt lại cũng nhắc đến anh:

" Chị LN ơi, em có nghe tin nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vừa lâm trọng bệnh, phải nhập viện tuần trước, hiện nay tuy đã qua cơn hôn mê nhưng nửa thân người vẫn còn bị liệt…"

Ông Trời chắc cũng điếc tai vì những lời cầu xin của những người ái mộ nhạc du ca của anh, và thế nào ông cũng cho anh mau khỏi để còn sáng tác nhạc và hát cho mọi người nghe nữa chứ!

Với anh Quang, có thể LN biết anh, chắc chắn anh không biết LN là ai, dù rằng, gần như lần nào anh Quang tổ chức hát, khi thì ở nhà người bạn, khi thì ở Phòng sinh hoạt Người Việt, LN đều có dự.

Người mà rủ LN đến nghe anh Quang hát tại nhà một người bạn, chính là vợ chồng hmh. Căn nhà khang trang rộng rãi, nhưng chính lại nhờ vườn sau rộng rãi, có cây lớn cho bóng mát, đã chứa được mấy chục người ái mộ nhạc du ca của anh Quang. Tới đó, LN không quen biết ai ngoài hmh và Hiền. Sau này, khách đến càng ngày càng đông, LN mới có được vài người bạn quen đã lâu tình cờ hôm đó được gặp lại.

Một bàn dài bày rất nhiều thức ăn, nước uống. LN chỉ nhớ là nhiều món ăn lắm. Làm sao nhớ để kể ra đây được, vì thời gian cũng khá lâu rồi… Thường thì có soup, chả giò, bánh cuốn Thanh Trì, bánh lá, bánh nậm, gỏi đu đủ, gỏi cuốn…hình như còn có thịt bò tái…

Chương trình bắt đầu khoảng 3 giờ, và anh đã một mình với cây đàn guitar hát cho đến 6 giờ mới tan…

hmh và Hiền ơi, lâu quá chị em mình chưa gặp lại nhau đó nha. Chị LN đang nghĩ đến một hôm nào họp ở nhà chị, hy vọng sẽ được gặp lại các em Gia Long một thuở mới quen.

Khi anh Quang tổ chức ở Người Việt, thì người đến đón LN tới dự nhạc du ca của anh Nguyễn Đức Quang lại là cháu Minh Phú.

Anh đã hát say sưa những bản nhạc do anh sáng tác, và chỉ với một cây đàn guitar, anh đã hát say mê và không ngừng.

Thời gian vẫn lướt trôi. Bây giờ, xác thân anh Quang đang nằm yên nơi gian trần khổ ải này, nhưng hồn anh đang bay bổng cõi xa. Có thể anh đang hàn huyên cùng chị Quang, có thể anh đang lang thang nơi rừng sâu, ven suối, đi tìm vần nhạc…

LN cầu chúc anh được thảnh thơi nơi cõi vĩnh hằng, để lại cùng những người ái mộ, anh vừa đàn, vừà ca những bài nhạc nói lên tình yêu nước, yêu người..nơi .bên kid thế giới …

Với riêng LN, LN rất mê bài Bên Kia Sông, và lần nào cũng thế, khi tiếng đàn guitar vừa dạo vài nốt nhạc đầu, LN đã thấy lòng xôn xao theo giọng ca trầm bổng của anh:

Này người yêu, người yêu anh ơi!

Bên kia sông là ánh mặt trời

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên kia đồi, cỏ hoa đan lối

Bên kia núi, núi cao chập chùng

Bên kia suối, suối réo lạnh lùng

Là bài thơ, toàn chữ hư vô …

Nghe những lời ngưoi yêu ru êm…và thật lãng mạn, tình tứ, LN cảm thấy như có người yêu thương đang ngồi bên cạnh thầm thì với mình những lời nồng nàn, âu yếm…

Này người yêu anh ơi!

Cho anh nồng ấm cuộc đời

Hoa thơm có ánh mặt trời

Như núi mừng – vì mây đến rồi

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Yêu nhau mình đưa nhau tới

Bước nhẹ – và nói bên môi

Nói cho vừa.. mình anh nghe thôi!

Còn gì dễ yêu hơn lời:

– nói cho vừa… mình anh nghe thôi!

LN cứ nghĩ đó là một hờn ghen nhẹ nhàng, đáng yêu, bởi anh không muốn em nói với ai cả, ngoài anh, chỉ một mình anh thôi nha.

Này người yêu, người yêu anh ơi!

Bên kia sông đường vẫn còn dài

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên kia đồng cỏ non đan lối

Trong cơn gió – thoáng nghe nụ cười

Trong khe núi – thánh thót lòng người

Lòng đòi tình vật vã khôn nguôi

Này người yêu anh ơi!

Đêm đêm lòng vỗ tình dài

Dây xanh quấn quít vào đời

Cho trái tình nở trên tiếng cười

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên trong lòng người êm ái

Rắc nhẹ từng cánh hoa rơi (*)( cánh sao rơi)

Sẽ âm thầm mình em nghe thôi!

Và cuối cùng, anh cũng hứa như một lời đoan quyết thủy chung, khi trái tình nở trên tiếng cười, đó là lúc:

– Sẽ âm thầm mình em nghe thôi.

LN lại thích thú khi nhớ đến câu: Chỉ hai đứa mình thôi nhé, khi hết chỉ mình anh nghe, rồi lại chỉ mình em nghe…

Cám ơn lời thơ của thi sĩ Nguyễn Ngọc Thạch, cám ơn dòng nhạc của nhạc sĩ kiêm ca sĩ Nguyễn Đức Quang.

Bỗng nhiên LN lại ví anh với nhạc sĩ Văn Giảng. Bởi 2 người cùng đa số có những bản nhạc hùng. Khi nghe nhạc hùng mạnh, LN không ngờ trong thâm sâu tận cùng của tâm hồn, anh Giảng cũng như anh Quang vẫn giữ được nét nhạc tình thơ mộng, lãng mạn, tình tứ đến vậy.

Tuy nhiên LN có nghĩ đến lời bóng bẩy với ý nghĩa như muốn vẽ cho ngườì bên này sông, hình ảnh một cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc, tự đo của đời sống bên kia sông…

Anh Giảng có bài Ai Về Sông Tương. Anh Quang có bài Bên Kia Sông… Cả hai bài tình ca cùng hay, cùng sống mãi với thời gian.

Lê Hữu Mục, Lê Hiền Minh, Lê Thị Hồng, Phạm Kim Long, Hồng Vũ Lan Nhi và Cát Ngọc xin vĩnh biệt chia tay"

Thân hữu Không Gian Mây Ngàn – Phân Ưu:

Sự ra đi của Nhạc sĩ Du ca Nguyễn Đức Quang là một điều buồn, môt mất mát lớn cho làng âm nhạc Việt Nam, Chúng tôi chân thành cầu nguyện cho anh sớm về nơi vĩnh hằng.

LS Thành Thanh Hiệp, GS Nguyễn Xuân Vinh, GS Nguyễn Ngọc Bích, LS Đoàn Thanh Liêm, GS Nguyễn Thanh Trang, GS Nguyễn Quốc Khải, LS Đỗ Thái Nhiên, BS Nguyễn Tri Phương, Phiến Đan, Khúc Minh, Khúc Lan, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Đỗ Tiến Đức, Huỳnh Lương Thiện, Chu Bá Yến, Đoàn Hữu Định, Phạm Đình Long, MS Trần Văn Oan, Đỗ Thị Thuấn, các Diễn đàn Thân hữu, Không Gian Mây Ngàn – (TP-NXV).

Tôi được bái viết trích đoạn sau từ trang Cỏ Thơm do nhạc sĩ Phan Anh Dũng chuyển link. Nhà văn Giao Chỉ San Jose cho cảm nghĩ về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang:

" … Nhưng thực sự phải xem Nguyễn Đức Quang hát mới thấy rõ sự quyến rũ của Du Ca.

Tham dự văn nghệ ta thường nói là đi nghe hát, nhưng với Nguyễn Đức Quang thì phải là đi xem hát. Dân Sinh Media có thu được rất nhiều lần Nguyễn Đức Quang trình diễn, nhưng đã chọn lọc được một lần xuất thần hơn tất cả nhưng lần khác. Các bài “Đường Việt Nam”, “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” trình diễn trên sân khấu nhỏ đã được thu hình trong giây phút nghệ sĩ để hồn vào lời ca, tiếng hát, bằng tay chân, bằng dáng điệu và bằng cả tấm lòng. Quí vị có thể tìm thấy và cảm thông với giây phút huyền diệu trong đĩa DVD số 2 của bộ phim San Jose 35 năm nhìn laị qua 3 kỳ biến động.

Phiếm về du ca Nguyễn đức Quang

Tôi không phải là nhà phê bình âm nhạc, nhưng gọi là phiếm luận thì ai cũng có thể. Xin phiếm như sau. Trịnh Công Sơn kêu gọi ngồi xuống thì Nguyễn Đức Quang thôi thúc đứng lên. Cùng trong cuộc chiến, Trịnh Công Sơn than thở thì Nguyễn Đức Quang chấp nhận.

Trịnh Công Sơn nhìn thế giới trong hoàng hôn thì ánh bình minh rọi sáng với Nguyễn Đức Quang. So sánh cả với du ca Phạm Duy sống trong thế giới mùa Thu thì du ca Nguyễn Đức Quang vĩnh viễn là mùa hè. Nếu Phạm Duy tuyệt vọng trong cuộc chiến bi thảm thì Nguyễn Đức Quang luôn luôn thấy hy vọng đã vươn lên. Nếu Phạm Duy và Trịnh Công Sơn soạn nhạc cho cuộc đời ca hát thì Nguyễn Đức Quang soạn nhạc để chính mình cùng ca hát với cuộc đời …"

Mời xem: Để Nhớ Nhạc Sĩ "Việt Nam quê hương ngạo nghễ" Nguyễn Đức Quang – Giao Chỉ San Jose"

Nhạc sĩ Dương Viết Điền có dịp gặp nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang tại Việt Nam và tại Mỹ, tác giả thuật kỷ niệm đầu tiên gặp anh Quang tại Huế:

Một Kỷ Niệm Với Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang

Tôi nhớ vào khoảng năm 1971, 72 gì đó, Nhac Sĩ Nguyễn Đức Quang dẫnTrung đội Chính huấn từ Trung ương ra ở lại tại Đại Đội 101 Chiến Tranh ChínhTrị thuộc Tiểu Đoàn 10 CTCT, trú đóng trong Thành Nội thuộc thành phố Huế để đi sinh hoạt ở vùng Hoả Tuyến. Năm ấy, tôi cũng giữ chức vụ Trung đội trưởng Chính huấn của Đại đội 101 CTCT nên đã đại diện Đại đội 101 tiếp đón anh ấy để rồi hai anh em chúng tôi cùng ngủ chung một phòng trong đơn vị. Sau mấy ngày công tác tại các binh chủng ở vùng Hoả Tuyến, vào những ngày nghỉ, tôi đã hướng dẫn Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang cùng tất cả các nữ Huấn Đạo thuộc Trung đội Chính huấn từ Trung ương ra, đi thăm một số Lăng tẩm của các vua Chúa nhà Nguyễn ở đất Thần Kinh. Sau chuyến thăm viếng nầy, anh Nguyễn Đức Quang nói với tôi rằng, anh ta tỏ ra rất thích thú vì không ngờ chuyến công tác ở vùng Hoả Tuyến nầy lại được một dịp may là biết được một số Lăng tẩm của những nhà vua Triều Nguyễn.

Vào một chiều thứ bảy, anh Quang nói với tôi:

-Chiều nay anh Điền đi chơi với tôi nhé

Tôi hỏi anh Quang :

-Đi đâu vậy hở anh?

-Đi xuống biển Thuận An hóng mát.

Tôi ngạc nhiên nhìn anh:

-Anh ở tận trong Sài Gòn mới ra Huế mà lại biết bãi biển Thuận An?

Anh Quang vừa cười vừa trả lời:

-Thì anh cứ đi với tôi, tôi bảo đảm anh sẽ có một buổi vui chơi thoả thích cơ mà!

Mặc dầu trong đầu tôi lúc bấy giờ bán tin bán nghi, nhưng tôi vẫn lái xe chở anh Nguyễn Đức Quang đi theo sự hướng dẫn của anh ấy!

Khi ra tới đườngTrần Hưng Đạo ( lâu ngày quá tôi có thể nhớ lộn đường), anh Quang chỉ đoàn xe GMC khoảng 4 chiếc chở đầy cả người đang đậu sát lề đường ở đằng kia rồi bảo tôi :

-Khi nào đến sau đoàn xe đó thì anh dừng lại nhé.

Tôi vừa ngạc nhiên vừa lái xe đi theo sự hướng dẫn của anh Quang. Vừa đến sau đoàn xe, tôi liền dừng lại. Khi anh Nguyễn Đức Quang vừa bước xuống xe, anh ta liền đưa tay ngoắt rồi vừa cười vừa vẫy tay chào những người ngồi trên xe GMC. Vừa nhận ra Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang, tất cả những người ngồi trên 4 chiếc xe GMC liền đưa tay vẫy chào lại và reo hò thật to như đã thấy được thần tượng :

-Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đến rồi, Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đến rồi !

Nhìn lướt nhanh những người ngồi trên bốn chiếc xe GMC, tôi thấy tất cả đều thuộc vào lứa tuổi thanh thiếu niện, thiếu nữ. Và mọi người đều bận đồng phục: bộ áo quần bà ba màu nâu. Thì ra đây là đoàn du ca ở miền Trung. Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đã cùng họ sắp xếp đâu từ lâu rồi để chờ dịp Nguyễn Đức Quang ra công tác ở vùng Hoả Tuyến sẽ cùng nhau đi du ngoạn và trình diễn một chuyến!

Nguyễn Đức Quang liền nhìn tôi vừa cười vừa nói:

-Anh dẫn tôi đi du ngọan trên núi, bây giờ tôi dẫn anh đi du ngoạn dưới biển thôi.

Tôi cũng vừa cười vừa nói:

-Tôi xin thua ông! Ông kín đáo quá, làm tôi đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác !

Thế rồi hai anh em chúng tôi ôm nhau cười xoà.

Sau đó tôi lái xe chở Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đi đầu, hướng dẫn đoàn du ca ngồi trên 4 chiếc xe GMC trực chỉ xuống bãi biển Thuận An để thực hiện chương trình văn nghệ của đoàn du ca đã vạch sẵn.

Đêm ấy, đúng như lời anh Quang nói với tôi, tôi “đã có một buổi vui chơi thật thỏa thích”. Chương trình văn nghệ của đoàn du ca nầy thật hấp dẫn, sống động, kỳ thú vàvui tươi.

Dưới ánh trăng mờ ảo trong đêm, anh chị em trong đoàn du ca đã đốt lửa trại sáng rực cả một góc trời và họ ngồi quây quần bên nhau quanh bếp lửa hồng rồi vừa đàn vừa hát suốt đêm thâu thật vui tươi và ấm cúng. Người nổi bật nhất đêm ấy dĩ nhiên là Nhạc Sĩ Ngyễn Đức Quang, một trong những người sáng lập ra Phong Trào Du Ca ViệtNam từ thập niên 1966.

Cứ mỗi khi anh Quang hát xong một bài do anh sáng tác, những tràng pháo tay tán thưởng nhiệt liệt vang dội cả một góc trời, át luôn cả tiếng sóng biển ở đằng xa đang vỗ rì rào trong đêm tối. Có lẽ vì lâu ngày và có một số ”fan”chưa bao giờ được nghe và thấy Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang hát bao giờ nên đêm ấy, họ đã thấy rõ ràng thần tượng của họ bằng xương bằng thịt đang đứng hát trước mặt nên khoái chí quá đã vỗ tay liên hồi không muốn ngừng lại.

Chương trình đêm hôm ấy đủ các tiết mục: song ca, hợp ca, tam ca, tập thể ca v v…

Riêng Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang, anh ta vừa đánh đàn vừa hát. Với giọng hát khi bổng khi trầm, anh ta khi đi tới, khi đi lui, khi nghiêng bên trái, khi nghiêng bên phải, khi cúi xuống khi ngững lên như muốn diễn tả những ý nghĩ của anh nằm trong những bản nhạc mà anh ta đang hát. Đây là lần đầu tiên ( năm 1971), tôi thấy Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang trình diễn những bản nhạc do chính anh sáng tác. Tôi nghe tiếng tăm Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang từ lâu nhưng chưa bao giờ gặp anh ta vì tôi ở ngoài miền Trung, anh ấy lại ở trong Nam mặc dầu cả hai chúng tôi đều cùng ở trong ngành Chiến Tranh Chính trị.Và đúng là danh bất hư truyền nếu nói đến nội dung của từng bản nhạc và bộ tịch diễn tả lúc anh ta đang trình diễn! Thảo nào khi tôi lái xe dừng lại sau đoàn xe GMC, khi anh Quang vừa bước xuống xe đưa tay lên vẫy chào, gần cả trăm thiếu niên thiếu nữ la oang oang trên xe như tỏ vẻ quá vui mừng rồi reo hò như họ được thấy một thần tượng đã ấp ủ trong giấc mộng từ lâu. Tôi bỗng buột miệng nói nho nhỏ:

– Không ngờ Nguyễn Đức Quang nổi tiếng đến thế!

Nếu tôi nhớ không lầm, vì lâu ngày quá cách đây đã 40 năm, đêm đó cũng có Nhạc Sĩ Trần Đình Quân, tác giả của bản nhạc tình ca nổi tiếng vang bóng một thời là bài” KHÚC TÌNH CA XỨ HUẾ”. Nhạc Sĩ Trần Đình Quân, giáo sư dạy học tại Trường Trung Học Phan Châu Trinh ở Đà Nẵng, cũng là một trong những người sáng lập ra Phong Trào Du Ca thưở ấy.

Nếu tôi nhớ không lầm thì đêm ấy, Nhạc Sĩ Trần Đình Quân cũng có trình diễn một,hai bài gì đó.

Thế rồi đêm đã về khuya, chương trình văn nghệ cũng chấm dứt. Tất cả anh chị em trong đoàn Du Ca chia tay nhau ra về mà lòng ai cũng bâng khuâng tiếc nuối vì niềm vui qua mau.

Tôi liền chở Nhạc Sĩ Ngyễn Đức Quang trở về lại đơn vị trong Đại Đội 101 CTCT trú đóng sát phi trường Tây Lộc ở trong Thành Nội Huế để nghỉ ngơi .

Sáng hôm sau, Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang cùng toàn thể nữ Huấn Đạo trong Trung đôi Chính huấn của Trung ương từ giả tôi, từ giả đơn vị trưởng của Đại đội 101 CTCT để về lại Sài Gòn.

California, ngày 28 tháng 03 năm 2011

( Viết sau khi vừa nhận được e- mail của chị Bích Huyền báo cho biết, Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang vừa qua đời lúc 04giờ sáng).

Các thân hữu Bích Huyền, Quỳnh Giao, Phong Vũ Lê Anh Dũng, Vương Trùng Dương, Nguyễn Thanh Huy, Trần Trung Đạo, Vũ Hoài Mỹ, Hoàng Tiến Long, Nguyễn Đức Cường, Vũ Văn Tùng, Trần Thế Cung, Song Thuận, Nguyễn Phục Hưng, Nguyễn Ngọc Tuấn, Khiếu Long, Ngọc Hoài Phương, Xuân Điềm, Trần Đại Nam,Tâm An Đỗ Văn Học, Lê Bình, Phan Bá Thụy Dương, Võ Thạnh Văn, Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, Nguyễn Cao Can, Diệu Tần, Chinh Nguyên, Nguyễn Ngọc Linh và Dương Viết Điền xin đồng thành kính phân ưu cùng tang quyến.

Dương Viết Điền"

image008.jpg

Ca sĩ Thanh Lan viềt bài tưởng niệm, chị nhắc dến chuyến văn nghệ ở Âu châu, một văn thuở văn khoa với nhạc du ca Nguyễn Đức Quang…

"Tưởng nhớ anh Nguyễn Đức Quang.

Anh Quang mến,

Từ những năm 70 xa xứa, Thanh Lan đã luôn nghĩ đến anh như một người thanh niên đầy nhiệt huyết, yêu đời và yêu đất nước Việt Nam vô bờ bến.

Trong khi bao nhiêu thanh niên hứ hỏng vì hoài nghi cái tương lai của chính mình, bỏ học vì nghĩ rằng dù sao cũng sẽ bỏ mình ở chiến trường mà thôi, thì anh luôn vững tin vào một Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Anh có cái ý chí mạnh mẽ và trong sáng của một anh hùng dân tộc. Một bài hát của anh có hiệu quả hơn ngàn viên đạn đồng.

Đêm nay, hình ảnh anh trong chuyến đi Âu Châu mấy mươi năm trước lại trở về, rõ nét hơn bao giờ hết, khi nghe tin anh đã vĩnh viễn ra đi. Anh gầy gò vói cây đàn guitar, nhưng nét mặt luôn rạng rỡ. Khi anh hát, anh tặng cho khán giả tất cả sừc sống của ngúóì trai trẻ muốn gửi gấm một thông điệp cho đời.

Chỉ mời mấy tháng đây thôi, đến với anh trong đêm Nguyễn Đừc Quang tại sân khấu nhỏ của tòa sọan báo Người Việt, nụ cười của anh làm ấm lòng mọi người. Vẫn gầy gò, vẫn năng động, vẫn Nguyễn Đức Quang.

Nhớ lại một thõi sinh viên ………

Gửi anh vài dòng…….

Một người bạn cũ,

Thanh Lan"

Người nộp bài đầu tiên là anh Phan Tấn Ngưu, một người năng động trong các sinh hoạt cộng đồng tại Quận Cam, anh ôn về dĩ vãng xa xưa khi nhạc du ca của Nguyễn Đức Quang thịnh hành vang dội khắp phố phường, cũng như tại các sân trường đại học của thủ đô Sài gòn, hãy đọc:

"Đối với tôi, trong 3 năm, 1963 đến 1965, những bài hát của Nguyễn Đức Quang đã vang khắp phố phường cũng như trong các trường Đại Học của thủ đô Sài gòn mà tôi được góp tiếng với anh, chị em ngay sau khi vừa rời mái trường Petrus Ký. Đó là tiếng nói của lớp trẻ muốn đóng góp hoặc muốn làm gì đó cho đất nước trong thời điểm cuộc chiến tranh đang đến hồi ác liệt.

Kỷ niệm với Nguyễn Đức Quang là kỷ niệm của cả một đời, mà đến nay, trong số chúng tôi, ít ai dám quên. Không phải bài hát "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" đã chỉ được hát ở Sài Gòn hoặc sau này tại hải ngoại, mà ngay sau 1975, đã được anh em tù chúng tôi hát hàng đêm sau bản Quốc Ca VNCH, trong 6 buồng tại trại Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú khi được đưa từ trại Thủ Đức ra đây vào ngày 13 tháng 3 năm 1977 bằng tàu Sông Hương. Hậu quả sau đó, chắc mọi người cũng đã đoán được những gì dưới bàn tay sắc máu của kẻ thù, của bọn công an giữ trại. Tôi không thể không nhắc đến các anh: Nguyễn Hữu Hiệp (phi công F5), Đỗ Khương (Thủ Đức), Trần Hà Phỗ (Quận Trưởng), Hà Công Tư (Quận Trưởng), Bửu Uy (TH Sinh Viên), Trần Văn Nhuận (SĐ.7), Lê Văn Tính (hiện còn đang trong tù ở VN), và… (không nhớ hết).

Mong sao, nước cứ mãi dâng tràn, không bao giờ tàn…

Xin được góp lời cầu nguyện cho bạn Nguyễn Đức Quang.

Thành kính phân ưu:

Võ Văn Xét, Tiểu Tử Võ Hoài Nam, Nguyễn Hữu Của, Trần Quan An, Phan Tấn Ngưu"

Người nộp bài thứ hai là tiến sĩ Mai Thanh Truyết, cũng như anh Phan Tấn Ngưu, hai anh đều tốt nghiệp trường Petrus Ký, cùng mang gốc đồng hương Tây Ninh, những đàn anh của tôi vốn yêu thích nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, bởi vì phần chính trong lời nhạc của Nguyễn Đức Quang không ủy mị, yếm thế, thê lương, tắc trách, vì cuộc chiến dâng cao, nhạc tiêu cực khiến tuổi trẻ bơ vơ, hoang mang về cuộc sống, VNCH dễ dãi khi cho lưu hành những dòng nhạc ảm đậm đáng trách của đại bác ru đêm, của bom B-52, người chiến binh về với đôi nạng gỗ, hay trên chiếc trực thăng trắng,… Nhạc Nguyễn Đức Quang trong cũng thời điểm có phần đóng góp tích cực hơn cho lý tưởng VNCH, anh nhìn về khía cạnh xây dựng tuổi trẻ tích cực dấn thân, tuổi trẻ vì dân tộc, vì quê hương, nhạc anh ôn lại Việt Nam với lỉch sử kiêu hùng, tuổi trẻ là tương lai đất nước, hãy giữ niềm tin yêu quê hương, những giá trị cao quý cúa gia đình Việt Nam, ví dụ Không Phải Là Lúc, Về Với Mẹ Cha, Dưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Một Giấc Chiêm Bao, Về Miền Gian Nan, v..v.. Những điểm mà anh em chúng tôi đồng ý với nhau. (VH – LGT). Sau đây là lời của tác giả Mai Thanh Truyết:

"Nhớ về Nguyễn Đức Quang

Năm 1968, lúc đó tôi đang ở Besancon, Pháp. Hội đàm Paris gồm Việt Nam Cộng Hòa, Bắc Việt, Mặt Trận Giảo phóng miền Nam, và Hoa Kỳ bắt đầu nhóm họp vào tháng 5 tại Paris.

Các buổi họp hàng tuần thật gay gắt chỉ nhắm vào vị trí của từng phái đoàn, và hình thể chiếc bàn vuông hay bàn tròn… Sau cùng chọn bàn hình bầu dục…

Tinh thần sinh viên, đặc biệt là Tổng hội sinh viên tại Paris lúc đó rất hăng say. Tôi hầu như chạy lên Paris hàng tuần sau trưa thứ sáu, sau khi ra khỏi phòng thí nghiệm. Vì như cầu, tôi, lúc đó là Tổng thư ký Hội sinh viên Besancon, đề nghị thành lập tờ báo để góp mặt vào phong trào đấu tranh ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa.

Tờ báo có tên là TIẾNG NÓI, quay bằng rénéo mượn của một Cha giáo xứ tại đây (Anh Nguyễn Ngọc Lân phụ trách trình bày hiện đang ở tại Orlando). Báo hoàn toàn do anh chị em sinh viên cùng một số mạnh thường quân tức bà con cư ngụ trong vùng Franche Comté (là tỉnh và Besancon là thi xã của tỉnh). Thời đó, Người Việt mình chưa có business nào hết.

Tinh thần anh chị em sinh viên rất cao lúc đó, hàng tuần thường sinh hoạt tại giáo xứ hay tại câu lạc bộ của ký túc xá. Và bài hát khởi đầu luôn luôn là bài “Không phải là lúc…” của Nguyễn Đức Quang được tôi khởi xướng. Và cũng chính bài hát nầy, tôi đã đưa Gíao sư Nguyễn Ngọc Huy (Cố vấn của Phái đoàn VNCH) và BS Trần Văn Bình, bác sĩ riêng của Cụ Trần Văn Hương, lúc đó là Tùy viên Văn hóa của Tòa Đại sứ VNCH đi cùng khắp các tỉnh miền Đông nước Pháp như Colmar, Mulhouse, Strasbourg, Nancy…

Anh nhạc sĩ du ca ơi!

Tôi không quên anh, những lời “Không phải là lúc ta ngồi đặt vần đề…” tôi đã được nghe anh và Đinh Quang Anh Thái hát trong một buổi du ca tại nhựt báo Người VIệt cách đây không lâu vẫn còn văng vẳng đâu đây.

Tôi và những anh chị em sinh viên tranh đấu thời đầu 1960 sẽ không bao giờ quên anh đâu anh Quang. Anh ra đi, nhưng tối thiểu anh còn để lại cho những anh chị em cùng thế hệ với nhau ngọn lửa đấu tranh cho chính nghĩa thích ứng với dòng máu năng động và hăng say của tuổi thanh niến.

Và bây giờ và mãi mãi về sau, anh vẫn còn để lại cho hậu thế niềm tin sắt son để làm một cái gì cho tổ quốc là…”làm việc đi không lo khen chê, làm việc đi hãy say và mêcứ bắt tay gan lì chúng ta giải quyết. Mình chậm chân đi sau người ta, mà ngồi đây mãi lo viễn vông, thắc mắc ngại ngùng biết bao giờ….mới làm xong”.

Lời ca của anh đã là một kim chỉ nam cho tôi không những ngày còn là thanh niên, mà vẫn còn tiếp tục trong tôi, một “ông già” chỉ còn một tuổi nữa và được xếp vào “thất thập cổ lai hy”. Tôi không đặt vấn đề với anh em, nhưng chắc chắn tôi đặt vấn đề những người đang tàn phá Đất và Nước của chúng ta, thưa anh Quang.

Dù lớn hơn anh hai tuổi, tôi vẫn tiếp tục con đường anh đã vạch ra và cố gắng nuôi dưỡng tinh thần thanh niên khai phá cho tương lai của anh mà không nề hà, do dự, cũng như chùng bước trước mọi trở ngại.

Anh Nguyễn Đức Quang ơi! Ngồi trong office, mặc dù tôi đã đủ tuổi về hưu từ hơn 3 năm qua, mặc dù tôi không còn lo nghĩ về tài chánh cho tương lai nữa, nhưng tôi vẫn tiếp tục bước đi cho trọn con đường đời của một người trai thời loạn.

Anh Quang ơi!

Anh mất đi nhưng anh không chết!

Lịch sử Việt Nam sẽ mãi mãi ghi tên một người con nước VIỆT lúc nào cũng nặng lòng với non sông.

Vĩnh biệt anh,

Mai Thanh Truyết

West Covina, 29/3/2011

Nguyễn Thanh Liêm, Trần Văn Thuần, Phan Văn Song, Châu Văn Để, Phan Đình Minh, Phạm Gia Cổn, Phan Nhật Nam, Huy Phương, Paul Vân, Phạm Kim, Phạm Quốc Bảo, Đinh Quang Anh Thái, Chu Tất Tiến, Trần Minh Xuân, Trần Minh Nhật, Vi Anh, Đỗ Hải Minh, Mai Thanh Truyết, Lê Ngọc Điệp, Diễn đàn Từ Cánh Đồng Mây và Đồng Nai Cửu Long.

Đồng Thành Kính Phân Ưu"

Nhạc sĩ Ngọc Mai như nhạc sĩ Dương Viết Điền, như nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi, thức khuya cho xong bài, những nghệ sĩ của Tình Nghệ Sĩ, theo tinh thần một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ. Tôi xin cám ơn các tác giả hưởng ứng lời kêu gọi:

"Bên kia sông có ánh mặt trời …….*

Và rồi anh cũng đã buông bỏ bụi trần để về lại bên kia sông !

Tôi vẫn còn như nghe đâu đây tiếng hát anh trong buổi nhạc Nguyễn Đức Quang tại hội trường báo Người Việt năm vừa qua. Anh hát say mê nhiệt huyết như chàng thanh niên trẻ đã làm tôi hình dung lại được cái tuổi trẻ hăng hái , lý tưởng của một Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ mà vào thưở đó tôi còn rất nhỏ để không thể nào được phép tham gia phong trào du ca. Tuy nhiên, sau này, trong giờ sinh họat tại trường những bài hát du ca của anh được hát vang vang trong sân trường.

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm

Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng

(Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ)

Lời nhạc hùng hồn say mê mà khi hát lên đã dấy động được lòng yêu quê hương đất nước không những vào thưở đó mà mỗi khi bài hát đó được hát trên xứ người lúc nào cũng làm tôi rung cảm với một quê hương bỏ lại !

Nguyễn Đức Quang, chàng lãng tử của phong trào du ca đã dừng bước phiêu bồng của đời sống hiện tại . Anh đã về lại “ bên kia sông “ , nơi đó tôi mong rằng anh sẽ tìm thấy ánh mặt trời với đồi cỏ hoa đan lối , để trong cơn gió sẽ thấy anh thóang nụ cười của thánh thót trong lòng mọi người đang nở hoa trong lời ca tiếng nhạc của anh sẽ còn vang vang mãi của những người mang dòng máu Việt Nam ngạo nghễ với khí khái kiêu hùng với lòng yêu quê hương tha thiết.

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng

Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm

Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời

Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người

Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam

Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian

Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên

(Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ )

Âm nhạc như con người của anh : khí khái, kiêu hùng nhưng rất nhân bản vì chan chứa tình yêu thương . Tình yêu với quê hương dân tộc, tình yêu thương con người . Anh đã trở về bên kia núi cao chập chùng , bên kia suối reo lạnh lùng để câu ca còn văng vẳng nơi đây . Anh có hay chăng có tiếng nấc nhẹ khi tin anh rời cõi trần của mỗi người VN đã một lần vang câu hát của anh.

Tiếc thương cho Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang chưa kịp hát câu cuối trong đời , khi con tim vẫn còn nhiều hòai bão cho quê hương , cho âm nhạc ! Yên nghĩ anh nhé vì tin chắc rằng bên kia sông anh đã đến , nơi đó có ánh mặt trời với an bình , yên ả và còn lại đây chúng ta chỉ tìm anh trong bài thơ hư vô , trong câu hát muôn đời mà anh để lại .

Còn Việt Nam

Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng

( Việt Nam Quê Hươgn Ngạo Nghễ )

Trái tim người nhạc sĩ đã ngừng đập những nhịp yêu thương nhưng sức nóng của bầu nhiệt huyết cho một quê hương vẫn còn ngạo nghễ trong lòng mỗi người Việt Namcòn ở lại .

Này anh hỡi, bài thơ giờ chỉ còn hư vô , nhưng núi mừng vì mây đã đến rồi …..!

Yên nghĩ anh nhé .

Tạm biệt người nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang !

Ngọc Mai

032011

* Trích tựa bài Bên Kia Sông . Thơ Nguyễn Ngọc Thạch. Nhạc : Nguyễn Đức Quang"

Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện và nghệ sĩ Thanh Vân từ Paris gửi lời cho anh Nguyễn Đức Quang, hứa sẽ cùng nhạc sĩ Phương Oanh tham dự chương trình hát tưởng niệm nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang tại Paris:

"Quách Vĩnh Thiện xin cầu chúc anh Nguyễn Đức Quang ra đi bình an.

QVT

On Thu, 3/31/11, Vinh-Thien QUACH <… > wrote:

From: Vinh-Thien QUACH <… >

Subject: Re: Ngay Van Hoa Truyen Kieu – Tho va Nhac – 10 Juillet 2011

To: "phuongoanh voquang" <… >

Cc: "Viet Hai Tran" <viethai712>

Date: Thursday, March 31, 2011, 10:16 AM

Phương Oanh thân mến,

Thiện nhớ Nguyễn Đức Quang nhiều lắm.

Chính Thiện đệm đàn cho Nguyễn Đức Quang hát bài Chiều Qua Tuy Hòa ở Paris 1969 … Anh Nguyễn Đức Quang cùng tuổi, sanh năm 1943 với Thiện.

Thiện sẽ cố gắng có mặt ngày đó.

Thân mến

Quách Vĩnh Thiện.

2011/3/31 phuongoanh voquang <….fr>

Chào Thiện

Không biết Thiện nhớ Nguyễn Đức Quang không?

thứ bảy này 2-4, Phượng Ca – Du Ca làm buổi tưởng niệm tại trung tâm Paris Pour Tous , so 32, rue Javelot 75013 luc 14h…

Nếu Thiện có thì giờ, đến với tụi này.

Than men

PO.

oOo

Phương Oanh, Paris

Quang ơi

Hôm nay, tôi mở email chậm vì có một ông cha người da đen đến thăm.

Trần Quang Hải gửi tin về sự ra đi của Quang sau một thời gian dài nằm trong coma…..Tôi giậc bắn người…vì đêm hôm qua, ngày hôm qua, tôi vẫn còn đang mong chờ tin Quang hồi phục….

Thế là từ đây tụi mình sẽ chỉ còn gặp nhau trong mơ mà thôi…..

Cuộc đi thăm bè bạn hồi năm ngoái của Quang là một kỷ niệm đẹp đối với mọi người.

Tôi nhớ mãi khi gặp Quang ở cửa phòng sinh hoạt, câu đầu tiên Quang nói với tôi là tưởng đã chết năm trước rồi, chứ đâu có ngờ được gặp lại Oanh ở đâu. Hôm đó, tình thật tôi cũng rất bận, nhưng cũng cố thu xếp mọi việc nhờ con trai chở mẹ đến thăm bác Quang….và phải về ngay, vì có người chờ đợi tôi ở nhà.

Nhìn da mặt hồng hào, dáng người nhanh nhẹn của Quang, vẫn như cách đây 40 năm, tôi không nghỉ Quang bỏ cuộc chơi quá sớm, bỏ bạn bè quá nhanh để đi vào cõi vĩnh hằng.

Trong suốt thời gian Quang nằm ở bệnh viện, tôi vẫn hằng nghe ngóng tình hình Quang qua bè bạn, nhất là qua trang Du Ca để thông báo tin tức của Quang……

Tôi vẫn hy vọng Quang đứng dậy với mọi người, tôi vẫn hy vọng Quang nghe lời cầu nguyện của mọi người cho Quang mau tỉnh lại.Nhưng lần này, thì Quang đã bỏ cuộc hẳn, để làm cuộc hành trình mới với những bè bạn đã về bên kia thế giới…và Quang cứ việc tiếp tục rong chơi nhế, sẽ có ngày chúng ta lại gặp nhau và sẽ cùng nhau hát lại những bài ca khai phá tự thuở nào.

Khi tôi viết những giòng chữ này cho Quang, thì chắc là Minh Thông đã đến gần Quang, để hai người trở lại như lúc mới đầu yêu nhau.

Nhớ phù hộ cho con cháu và lôi cuốn các bạn du ca khắp nơi tiếp nối con đường Quang đã đi qua nhé.

Và mỗi khi du ca cất tiếng hát, thì Quang phải có mặt bên cạnh nhé.

Con chim đầu đàn của ban Trầm Ca đã tách rời nhóm để đi tìm một chân trời mới,

Phong trào Du Ca mất đi người trưởng sáng lập tài ba

Tất cả chúng ta tiếc nuối một người bạn thiệt thân vừa qua đời…

Thương yêu

Phương Oanh.

Kế tiếp anh Francis C. Khuc cùng bằng hữu gửi lời chia tay như sau:

Vô cùng xúc-động nhận được tin buồn

Anh/Nhạc Sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG

Tốt-nghiệp Khóa 1 Trường Chánh-Trị Kinh-Doanh

Viện Đại-Học Đà-lạt

đã vĩnh-biệt cõi trần lúc 04:00 sáng ngày Chúa Nhật 03-27-2011

tại tiểu-bang California, Hoa-Kỳ

Xin thành-kính phân-ưu cùng toàn-thể tang-quyến

và nguyện-cầu hương-linh anh Nguyễn Đức Quang được ngàn đời yên-nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

Gia đình Nguyễn Đình Dũng-Minh Lý,

Gia đình Nguyễn Văn Tâm-Thanh Thủy

Gia đình Hà Trọng Minh-Mai Phương

Francis C. Khuc

Email Hồ Ái Việt cùng các bạn trong forums ĐỜI SỐNG VUI và CLBTNS:

Anh VIỆT HẢI thân quý,

Nhờ Anh giúp VIET LOAN cùng ACE forums ĐỜI SỐNG VUI và CLBTNS gởi lời phân ưu và cầu nguyện đến gia đình Nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG. Sự ra đi của ANH QUANG là một mất mát to lớn cho mọi người còn mang giòng máu và tinh thần Dân tộc VIỆT NAM . "VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ " , " GƯƠM THIÊNG HÀO KIỆT " , " VỀ VỚI MẸ CHA " và rất nhiều bài khác đã là Động lực thúc đẩy VIỆT, LOAN và nhiều bạn hữu cùng thế hệ Hăng say họat động trong Sinh Họat HƯỚNG ĐẠO, trong Binh Chủng HAI QUÂN mà HỒ ÁI VIỆT đã phục vụ nhiều năm, và tiếp tục chuyển tiếp Tinh Thần Dân Tộc VIỆT NAM đến thế hệ kế tiếp.TINH THẦN DÂN TỘC VIỆT NAM của Anh NGUYỄN ĐỨC QUANG sẹ tồn tại mãi mãi.

Các thân hữu diễn đàn ĐỜI SỐNG VUI:

Trần Trọng Nhân, Trang Sĩ Phước, Trầm Lãng, Hoảng Trí Dũng, Don Hồng, Olivia Tú Trâm, Phương Nga, Annie Ngọc Ánh, Thanh Đào, Chiêu Lê, Nguyên Nhung, Thanh Loan,Hồ Ái Việt cùng các bạn trong forums ĐỜI SỐNG VUI.

Email Cao Minh Hưng – CLBTNS:

"Sáng hôm nay trên đường đến chỗ làm, tôi nghe lại giọng nói của Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang trong chương trình "Tản Mạn Văn Học-Chân Dung Tác Giả và Tác Phẩm" trên làn sóng phát thanh Little Saigon Radio. Giọng anh rất khoẻ, rất hùng hồn, say sưa nói về những kỷ niệm cho một số sáng tác của anh, trong đó có nhạc phẩm bất hủ "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ"…Vậy mà anh đã rời xa chúng ta đã một tuần rồi, dù tiếng nói của anh vẫn còn văng vẳng bên tai. "Còn Việt Nam, triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng!"….Mượn câu hát của anh, tôi xin được viết thêm, "Còn Việt Nam, chúng ta còn mãi nhớ đến người Nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang."

Cao Minh Hưng, Lê Thúy Vinh, Thy Linh, Minh Tuấn, Hồng Vân, TriNa Thu Hà, Lan An, Hạnh Cư, Lưu Mỹ Lan, Hà Trúc Mai, Quang Huy, Thúy Anh, Nguyên Vũ, Xuân Thanh, Lan Hương, Fatima, Giáng Ngọc, Ngọc Như Hoa, Cẩm Sa, Quốc Toản, Dạ Lan, Ngọc Hà, Nhã Lan, Ngọc Bích, Cao Minh Hưng, các bạn hữu Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ.

Email của Du Ca Chi Bảo Diễm Chi:

Anh Quang nay đã đi rồi

Diễm Chi kính điếu tới Trưởng Xướng Du Ca Nguyễn Đức Quang….

Anh Quang nay đã đi rồi,

Về nơi vĩnh cửu Ngàn đời Du Ca

Chúng tôi nước mắt chan hòa

Cùng nhau hát những bài ca anh làm

Hướng Đạo, Chính Huấn,Áo Lam,

Trầm Ca tư tưởng bao hàm mến yêu,

Du Ca vận nước tiêu điều

Những ngày tháng cũ bao nhiêu thăng trầm.

Anh đi bỏ lại dư âm….

Nhạc, ca, nghiệp viết, cõi trần còn đây

Chúc anh Tiến thẳng đường mây

An vui cõi phúc tháng ngày thênh thang

Diễm Chi, Dương Hữu Chương và An Nguyễn Kiều Mỹ Duyên

Đồng Thành Kính Phân Ưu

Ký giả Nguyễn Toàn từ Sydney gửi cảm nghĩ và chia buồn:

"Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã viết nhạc từ năm 16 tuổi .Đa số viết cho Hướng đạo.

Nhưng khi nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang trở thành nhạc sĩ Du Ca – anh đã sáng tác bản "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ". Tên tuổi anh đã thành danh – quần chúng khángỉa đã biết đến anh.

Phải công nhận mỗi khi được nghe hay hát bản nhạc "Việt Nam Quê hương ngạo nghễ " – máu trong người như chảy cuồn cuộn .

Bản nhạc dễ hát – nên mọi người chóng thuộc – bất cứ đâu – như đi Lửa trại – hay xuống đường Biểu tình chống Cộng -bản nhạc cũng được mọi người cất cao với tiếng vỗ tay nhịp nhàng theo bài hát- thậm chí trong Tù – bản nhạc cũng được hát .

Xin chia tay nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang . Chúc anh ra đi trong an bình.

Các bạn:

Nguyễn Toàn, Sydney, Huỳnh Kỳ Phát, Nam Lộc, Việt Dzũng, Nguyễn Xuân Nam, Duy Khiêm, La Anh Dũng.

Nhạc sĩ Thanh Trang, San Diego cho thơ tiễn đưa:

Thuyền đời xa bến

Bạn bè cũ còn bao người ?

Bạn tính cũ ngoài phương trời !

Cùng năm tháng như mái tranh chiều

nhạt màu nắng phai !

Một thời đó đã qua rồi !

Dù chẳng theo tiễn chân người

Một lần thuyền rời bến không lời từ biệt

rồi thôi !

Nói đi lời cuối cho vừa nỗi thiết tha !

Nói đi lời cuối đây rồi mai cách xa !

Tiễn nhau lần cuối mai này không thấy nhau !

Sóng đưa thuyền đó trôi về nới bến nào?

Thanh Trang

Nam Cali 26 tháng 03-2011

“Nhạc sĩ Ái Hoa, Palm Springs cho lời chia tay nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang:

Xin được cùng quý vị nghệ sĩ phân ưu với tang quyến về sự ra đi của NS Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn của Du Ca/Trầm Ca Việt Nam.

Nguyện cầu hương linh của NS Nguyễn Đức Quang thảnh thơi về nơi Cực Lạc cùng với tiếng đàn và những nốt nhạc Du Ca.

Xin cám ơn quý vị đã cho cơ hội để đóng góp lời phân ưu!

Các bạn: Nguyễn Minh Châu, Hoàng Thy, Diệp Thanh Thủy, Tiểu Thu, Múi Quý Bồng, Trương Ngọc Thạch, Khanh Phương, Phan Bái,Thanh Lan, Hồ Ai Việt, John Thụy, Nguyễn Cao Thăng NJ, Hồ Đăng, Nguyễn Văn Thành MN, Lê Hân SJ, Thái Đắc Nhã, Đường Sơn Aussie, Ái Hoa – Đồng Thành Kính Phân Ưu. Forum Đời Vui Sống"

Kế tiếp là bài do diễn đàn Hoa Tự Do của chị Trương Mỹ Loan chuyển sang, tác giả là nhà báo Phan Tấn Hải, cộng tác viên với báo Việt Báo:

"Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã ra đi. Nhạc sĩ đã đóng góp quá nhiều cho lịch sử, cho văn hóa, và cho âm nhạc Việt Nam — nhiều hơn những gì mà một đời người có thể làm.

Tôi tin rằng nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang là một người tiền định. Thời như thế, vận nước như thế, dân mình đau thương như thế… tất phải có một người như Nguyễn Đức Quang tới để hát lên những đau thương đó, và để ngợi ca những ước mơ và hy vọng về một ngày mai bình an, thương yêu, hàn gắn…

Anh đã trở thành một phần của lịch sử Việt Nam. Những ca khúc của anh tuy đang còn bị cấm hát tại Việt Nam hiện nay, nhưng điều chắc chắn có thể thấy rằng nhạc của Nguyễn Đức Quang sẽ không thể bị biến mất, bởi vì những dòng nhạc của anh đã len khuất sâu vào tim người nghe, bởi vì đó là những ước mơ đẹp nhất của tuổi trẻ Việt một thời nội chiến.

Tôi đã mơ hồ thấy như thế từ thời học trò. Lúc đó là sau Tết Mậu Thân 1968. Tôi trong nhóm các học sinh thiện nguyện trung học Chu Văn An nhận xây cất một phần trong khu tạm cư Lý Thái Tổ, một vùng đất nằm giáp giới quận 3 và quận 5, Sàì Gòn – nơi đây, phụ trách xây cất gồm học sinh nhiều trường trung học, và nhiều hội đoàn như Hướng Đạo, Nghĩa Sinh…

Giữa những ngổn ngang của cây, của ván, của các tấm bạt che mưa nắng, giữa các gia đình dân Việt mất nhà cửa vì các trận giao chiến Tết Mậu Thân… tuổi trẻ học trò đang ra sức dựng nhà tạm cư cho đồng bào. Chính trong những đêm thức lửa trại và rồi ngủ vì mệt vùi ở trại này, nhạc Nguyễn Đức Quang là những âm thanh không rời với một thời tuổi trẻ của tôi.

Sau năm 1975, khi còn trong nước, có những lúc đi xe đạp trên đường Sương Nguyệt Ánh, ngang qua ngôi nhà từng làm trụ sở Phong Trào Du Ca, tôi vẫn thắc mắc tự hỏi, không biết nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đang ở đâu và có vượt biên được không. Lúc đó, nhạc Nguyễn Đức Quang tất nhiên là bị cấm ở quê nhà, ai cũng hiểu như thế. Thế đấy, quê nhà lúc đó đã cấm mọi thứ.

Có những lúc lòng tôi xao xuyến, lo ngại về một tương lai bất định, lại bất chợt thoang thoảng trong đầu những lời nhạc Nguyễn Đức Quang:

“Hy vọng đã vươn lên

trong màn đêm bao ưu phiền

Hy vọng đã vươn lên

trong lo sợ mùa chinh chiến

Hy vọng đã vươn lên

trong nhục nhằn tràn nước mắt

Hy vọng đã vươn dậy

như làn tên

đang rực lên trong màn đêm…”

Thực sự, những lúc đó, tôi mở mắt thật to, nhưng vẫn không thấy hy vọng nào “đang rực lên trong màn đêm” như lời ca, chỉ thấy quê nhà đầy những bạo lực căng thẳng.Nhưng cũng ở những giây phút đó, lòng tôi mang ơn người đã viết lên những dòng nhạc đó; không mấy ai nói về một “hy vọng” đầy tha thiết như Nguyễn Đức Quang.

Nhiều năm sau, vào nghề báo, được gặp và quen với anh Nguyễn Đức Quang tại Quận Cam, California; tuy vẫn nhìn anh như một nghệ sĩ đàn anh, tôi vẫn không kể những chuyện thời học trò như thế. Nói ra, “thì là hơi cải lương,” tôi tự nhủ như thế, mỗi khi nghĩ về những gì cảm động. Thêm nữa, tôi biết rằng nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang là một người đơn sơ, không bận tâm những chuyện linh tinh, thậm chí không ưa kiểu có vẻ như chiều chuộng, xu nịnh…

Nguyễn Đức Quang là người phục vụ đồng bào, và không hề bận tâm chuyện khác.

Một điều nữa, đã có quá nhiều người ca ngợi nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang. Ca ngợi thật tâm, không phảỉ khách sáo. Mà nói cho cùng, cũng không cần phải chọn lời trau chuốt nào cả, chỉ cần trung thực kể những việc mà anh Nguyễn Đức Quang đã làm, thế cũng là một cách ca ngợi tuyệt vời. Đơn giản, những việc anh làm đã nhiều hơn một đời người có thể làm, bất chấp rằng có rất nhiều năm anh đã gác đàn vào một góc, như dường là “một kiểu nhập thất của nhạc sĩ.”

Trong bài “Viết cho Du Ca Nguyễn Đức Quang” mới hồi tháng 2-2011, nhà văn Giao Chỉ, San Jose, đã viết:

“…Du ca trở thành con đường lý tưởng của thanh niên. Tuổi 20 đi trên “Đường Việt Nam. Đi dựng lấy huy hoàng, giống da vàng này là vua đấu tranh.”

Ai cũng có thể vào một buổi sáng thức giấc nghêu ngao : “Đường Việt Nam ôi vô cùng vô tận, Đường ngang tàng ngoài biển Nam, giữa Trường Sơn”.

Nguyễn Đức Quang là người viết nhạc hùng với những lời ca lý luận hết sức thực tế. Đó là bài “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề.” Hãy đứng dậy đón chào bình minh với “Hy vọng đã vươn lên. Trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong mồ sâu quá ưu sầu.”…”(hết trích)

Tương tự, nhà báo Phạm Trần cũng nhận xét về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang: “Anh Nguyễn Đức Quang là người hoạt động và dấn thân cho tuổi trẻ Việt Nam rất tích cực và đáng ghi nhớ với những đóng góp cho Phong trào Du ca. Nếu không có bước đi khởi đầu của Nguyễn Đức Quang thì chưa chắc đã có những ca khúc gắn liền tuổi trẻ thành phố với xóm làng miền Nam trước năm 1975.”

Trong tiểu sử ngắn gọn về Nguyễn Đức Quang, trang nhà Du Ca www.ducavn.com viết:

“Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây.

Theo gia đình vào Nam năm 1954.

Sinh sống tại Ðà Lạt từ năm 1958.

Tốt nghiệp đại học Ðà Lạt phân khoa Chính Trị Kinh Doanh khóa 1.

Bắt đầu sáng tác nhạc năm 1961. Ca khúc đầu tay dành cho Hướng đạo với tên Gươm Thiêng Hào Kiệt.

Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam năm 63, bắt đầu cảm hứng về nhạc Thanh niên và những vấn đề đất nước.

Năm 1964, chuyển qua hẳn những ca khúc có chủ đề Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc.xây dựng những đề tài mới cho tập Trầm Ca, hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên và thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam năm 1966.

Năm 1979 cùng gia đình đến Hoa Kỳ, hoạt động liên tục trong nghành truyền thông tại hải ngoại. Hiện vẫn định cư tại Little Saigon, California USA.”(hết trích)

Trong tiểu sử Nguyễn Đức Quang ở Wikipedia (http://vi.wikipedia.org), cũng ngắn gọn gần như thế.

Một điều để suy nghĩ, trong cả 2 tiểu sử ở 2 trang nhà này, đều tránh nói tới những năm phục vụ trong quân lực VNCH của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang — thời mà nhạc sĩ là một sĩ quan chiến tranh chính trị. Tại sao các trang này tránh nói tới thời nội chiến của một nhạc sĩ lớn như Nguyễn Đức Quang? Có phải là để cho trang web không bị tường lửa? Hay có phải, dòng nhạc của anh lớn hơn những biên giới chính trị? Không thể đoán chính xác các chuyện này.

Hôm Chủ Nhật 27-3-2011, Hướng Đạọ VN đã thực hiện nghi lễ Trao Bắc Đẩu Huân Chương đến nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang tại Quận Cam.

Bản văn của Hội Đồng Trung Ương Hướng Đạo Việt Nam giảỉ thích:

“…Bắc Đẩu Huân Chương là huy chương cao quý nhất của phong trào Hướng Đạo Việt Nam được trao tặng cho quý Trưởng Hướng Đạo có công gìn giữ và xây dựng một phương pháp giáo dục thanh thiếu niên do Huân Tước Baden Powell thành lập từ năm 1907 tại Anh Quốc.

Quý Trưởng nhận được Bắc Đẩu Huân Chương có những thành tích phục vụ tha nhân và luôn đeo đuổi lý tưởng Hướng Đạo. Quý Trưởng này còn là những nhân tố góp phần trực tiếp vào công cuộc gầy dựng các thế hệ thanh niên Việt Nam nối tiếp nhau dấn thân vào các công xã hội từ tromg nước cho đến sau này tại hải ngoại.

Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang gia nhập Hướng Đạo năm 1956, thuộc Đội Voi, Thiếu Đoàn Lê Lợi, Đạo Lâm Viên, là đội sinh của Trưởng Hoàng Kim Châu. Trưởng Hoàng Kim Châu hiện đang sinh hoạt với Liên Đoàn Đất Việt và Tráng Đoàn Nguyễn Trải Hướng Đạo tại Houston Texas. Sau này Trưởng Nguyễn Đức Quang thay Trưởng Châu và trở thành Đội Trưởng Đội Voi….”(hết trích)

Nghi lễ trao đã diễn ra xúc động. Một người con của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã thay cha vừa từ trần để nhận Bắc Đẩu Huân Chương.

Một sự thật để nhìn thấy rằng, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vẫn không hề rời cõi này. Bởi vì dòng nhạc của anh vẫn còn âm vang, còn ẩn tàng trong tim chúng ta. Và đã trở thành một phần của lịch sử dân tộc, bất kể rằng nhà cầm quyền có muốn hay không.

Cũng tương tự như thơ Nguyễn Du đã trường tồn, đã trở thành tài sản văn hóa của dân tộc, bất kể không mấy ai nhớ chính xác rằng Nguyễn Du có “lập trường chính trị” thế nào trong thời Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, thời Lê Mạt, thời Tây Sơn Nguyễn Huệ, thời Nguyễn Ánh Gia Long, thời mà chàng trai trẻ Nguyễn Du dấy binh làm loạn và rồi trốn về quê vợ, ăn rau tới xanh cả mặt…

Cũng y hệt như thơ Nguyễn Du, như bài “Lời Mẹ Dặn” của Phùng Quán, như cuốn “Nhật Ký Rồng Rắn” của Tướng Trần Độ, như tác phẩm “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội” của Nguyễn Văn Trấn… nhạc của Nguyễn Đức Quang sẽ còn mãi. Bởi vì, những gì viết bằng trái tim sẽ không thể biến mất, bất kể mọi trở lực của lịch sử.

Nguyễn Đức Quang đang trở thành tài sản văn hóa cho cả nước. Du Ca và Hướng Đạo có thể đang bị xóa sổ trên cả nước, nhưng dòng nhạc của Nguyễn Đức Quang vẫn được nghe trân trọng trên YouTube, và cả trong các buổi cắm trại tại quê nhà của Gia Đình Phật Tử, Thiếu Nhi Thánh Thể… Và rồi, chế độ cộng sản hiện nay chắc chắn sẽ biến mất, nhưng tôi tin rằng nhạc Nguyễn Đức Quang sẽ vẫn còn được hát.

Những ca khúc lưu trữ nơi đây:

http://www.ducavn.com/duca_files/VanNghe_files/TacGia/NDQuangB.htm

chắc chắn là sẽ còn được hát nhiều thập niên sau, thậm chí nhiều thế kỷ sau…

Và dòng chữ cuối bài này, xin thành kính chia buồn cùng gia quyến nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, người đã trao cho các thế hệ trẻ quá nhiều ước mơ và hy vọng.

Nhà thơ Nhược Thu gửi vào diễn đàn Tình Nghệ Sĩ bài "Tiễn Biệt Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang…", nội dung gồm kỷ niệm gặp gỡ người nhạc sĩ sắp rời chúng ta…

"Anh đi đi thật rồi sao ?

Bỏ quê bỏ cả mộng đào dở dang

Nghe tin thoáng những ngỡ ngàng

Mùa xuân vừa chớm đã bàng hoàng đau

Anh đi đi thật rồi sao ?

Quê hương ngạo nghễ chợt nhầu tiếng ca

Anh vừa mới bỏ đi xa

Hay đang hát khúc du ca tìm về ..?

Nhược Thu

Mar – 29 – 2011

Tôi được gặp Nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG rất muộn màng dù ngưỡng mộ tài danh anh từ thưở còn đi học …

Vài năm trước đây tôi mới hân hạnh lần đầu được diện kiến anh tại nhà Thi nhạc sĩ HOÀNG THY , San Diego , trong một buổi Họp mặt ..

Lần sau cùng , trước ngày hiền nội anh ấy qua đời vài tháng , tôi lại được hân hạnh gặp lại anh tại nhà Thi nhạc sĩ THY LINH trong buổi Họp mặt nhân dịp anh chị Nhạc sĩ NGUYỄN MINH CHÂU từ Pháp qua .. Phong thái của anh vẫn làm tôi rất ngưỡng mộ trong 2 lần gặp khi anh ôm đàn hát những ca khúc do anh mới sáng tác ..

Lần gặp sau này , nhìn anh vẫn còn rất phong độ và mạnh khỏe .. Thế mà thoáng cái nghe tin anh đã ra đi ..Tôi không nén được bàng hoàng xúc động vì cuộc đời quả rất vôthường …

Xin chân thành cầu nguyện hương linh anh sớm được về cõi vĩnh hằng …..

Kính

Nhược Thu"

Nhà thơ Tâm Vô Lệ, chủ nhân của website Thư Viện Toàn Cầu gửi sang 4 bài của bốn tác giả, mà anh là một trong những tác giả của những bài chia tay nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang:

* Nhà thơ Sóc Lanh Lợi :

"Lời ru non nước ngày xưa,

Vang vang xiềng xích đã vừa ra đi,

Tiếng ca quật khởi xuân thì,

Hận lời vong quốc từ khi đổi đời,

Đức Quang ơi! Đức Quang ơi!

Giả từ nhau những nghẹn lời từ ly!

Sóc Lanh Lợi"

Tác giả Hoàng Lan Chi:

"Anh, sẽ bất tử như “Quê Hương Ngạo Nghễ”

Thế là chuyện phải đến. Anh đã ra đi thật rồi. Khi anh nằm bệnh viện, người bạn chuyển tin anh ra đi, tôi buồn. Rồi không phải. Dù đa đoan công việc, tôi cũng cố gắng cầu nguyện cho anh. Anh ra đi hơi sớm so với tuổi bây giờ.

Nhớ lại …

Thuở sinh viên, không biết từ đâu tôi nghe được bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”. Khỏi nói, tôi mê mẩn ngay tức khắc. Vì tôi yêu nhạc hùng, dân hùng và chí khí hùng. Tôi ghét ủy mị sướt mướt nên những câu như “Lê sau bàn chân gông cùm của thời xa xăm, đôi mắt ta rực sáng ..” mê hoặc tôi vô cùng.

Một bài khác cũng làm tôi xúc động không kém là “.. Không phải là lúc chúng ta ngồi mà cãi suông. Không tin nơi nhau thế ta định nhờ ai bắc cầu?”

Tuy mê nhưng tôi bận học và không tham gia cái gì ngoài xã hội nên không hề biết tác giả là Nguyễn Đức Quang. Phong trào du ca ra sao, tôi cũng không tỏ tường.

Năm 2005, tôi gặp NĐQ đầu tiên khi anh đến Virginia để tham dự chương trình nhạc gây quỹ cho trẻ em gì đó ở Việt Nam. Ấn tượng sâu đậm nhất là khi tôi hỏi rằng đa số nhạc sĩ về già, hay có khuynh hướng nghiêng về đạo có thể Phật, Chúa hay Thiền thì NĐQ trả lời, không bao giờ NĐQ viết những loại nhạc đó! Nghĩa là trái tim NĐQ lúc nào cũng thế, cũng rất trẻ trung, sôi nổi và luôn yêu đời, trong đời, chưa bao giờ muốn thoát đời..

Cũng trong 2005, tôi viết bài về một nhạc phẩm của NĐQ. Tiếc là tôi bị thất lạc bài đó. Chả hiểu web duca còn lưu lại không.

Nghe youtube ĐQAT phỏng vấn Quang, tôi mỉm cười. Rất ngang tàng khi Quang nói “Tôi thích thiên tả vì ..”.

Tôi không biết du ca nhiều nhưng nói rằng NĐQ phản chiến tức thiên tả theo nghĩa thích cộng sản thì tôi nghĩ có lẽ không phải. Những con người sống động, thích họat động xã hội thì luôn như thế. Anh đã đóng góp nhiều và nhạc phẩm “Quê Hương Ngạo Nghễ” của anh là một hùng ca bất tử. Cho tuổi trẻ Việt Nam ngày xưa. Cho tuổi trrẻ Việt Nam ngày nay. Và cả cho tuổi trẻ Việt Nam ngày mai.

Ngủ yên, bình an nhé.

Anh, sẽ bất tử như Quê Hương ngạo nghễ..

Hoàng Lan Chi"

Tác giả Tâm Vô Lệ:

"Thần tượng Nguyễn Đức Quang của tôi

Văn phòng Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu nằm rất gần với bệnh viện Fountain Valley, ngày nào tôi tự lái xe đến văn phòng cũng đều ghé bệnh viện. Thỉnh thoảng gặp người quen, thỉnh thoảng gặp người lạ. Quen hay lạ đều có cùng một sợi dây nối: Xem Trưởng Hướng Đạo, linh hồn Hưng Ca Nguyễn Đức Quang đã đỡ chưa.

Ngày nhận được tin đăng trên Diễn Đàn Chào Nhau Thân Ái của Thư Viện Toàn Cầu "Anh Quang đã ra đi", tôi sững người. Bỏ ngang việc, chạy vội xuống cầu thang, vừa lái xe vừa gọi cho Trưởng Sóc Lanh Lợi để xác định tin buồn này mà không ai trả lời. May, anh Quang vẫn còn năm trên giường bệnh; thế là về lại văn phòng, vui vô cớ. Cầm đàn ghi ta lên hát nghêu ngao "Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn …"

Hôm nay lái xe từ Reseda về lại Fountain Valley mới biết anh đã "lìa rừng" – cách nói của dân Hướng Đạo chúng tôi chỉ người quá vãng -. Ngồi trong xe hát lẩm bẩm "Người tình bỏ tôi đi, thiêu hủy lời kinh xưa …" và nhớ đến Nguyễn Đức Quang.

3 giờ 30 chiều, ghé nhà hàng Emerald để webstreaming live lễ trao tặng Bắc Đẩu Huân Chuơng cho Trưởng Nguyễn Đức Quang, sau đó mang lên 300 trang nhà chuyên host về video. Đây là một hành động rất nhỏ để trân trọng tưởng nhớ thần tượng quê-hương-ngạo-nghễ của tôi.

Trưởng đã lìa rừng nhưng đời không lìa Trưởng.

Tâm Vô Lệ"

Và người sau cùng là nhạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa:

"Nghĩ về anh, Nguyễn Đức Quang

Tôi nhỏ hơn Nguyễn Đức Quang 7 tuổi, gọi anh bằng “anh”, xưng “em”, từ khi tôi mới được 15. Tôi học ở Tây Ninh, cuối tuần về Sài Gòn sinh hoạt du ca. NĐQ từ Đà Lạt về, và ở luôn Sài Gòn, thỉnh thoảng mới về Đà Lạt thi cử ở trường Chính Trị Kinh Doanh và thăm gia đình. Hai anh em ngụ ở cái gác xép trong nhà để xe của anh Hoàng Ngọc Tuệ, số 114 đường Sương Nguyệt Anh.

Con đường này ngộ lắm. Đường nhỏ và ngắn, song song với đường Bùi Thị Xuân (có nhà anh Đỗ Ngọc Yến) và Hồng Thập Tự, nối hai đường Lê Văn Duyệt và Bùi Chu (có trụ sở Hướng Đạo Việt Nam). Cái ngộ nhất của đường này là phía bên Bùi Chu, bảng tên đường ghi là “Sương Nguyệt Ánh”, trong khi phía bên Lê Văn Duyệt, bảng ghi “Sương Nguyệt Anh”. Đâu mất tiêu cái dấu sắc, và kiểu chữ, cỡ chữ cũng khác, rõ ra là bảng được thực hiện vào hai lúc khác nhau, do hai người khác nhau.

Tôi thắc mắc hỏi anh Quang: “Anh hay Ánh?” Có lẽ đang bực điều gì đó, hoặc nghĩ rằng tôi còn con nít mà đã lẩm cà lẩm cẩm, nên anh lầm bầm đáp bừa: “Chả biết là con mụ nào!” Lát sau, anh trả lời nghiêm chỉnh: “Sương Nguyệt Ánh”.

Cho đến ngày nay, rất nhiều người vẫn nghĩ như anh Quang. Ngay trong cuốn “Sài Gòn Vang Bóng” (2011) mà tôi đang lên trang giúp ông Hoàng Hải Thủy, cũng ghi là “Sương Nguyệt Ánh”, mặc dù tác giả biết “con mụ nào đó” là con gái cụ Đồ Chiểu, và viết rằng (đại ý): Con gái ở đây mà ông bố (tức đường Nguyễn Đình Chiểu) ở tuốt bên Tân Định, làm sao mà đi thăm!

Nhân đây, cũng xin nói lại cho đúng: Sương Nguyệt Anh, không có dấu sắc, tên thật là Nguyễn Xuân Khuê, con gái thứ năm của Nguyễn Đình Chiểu, bút hiệu là “Nguyệt Anh”, sau khi chồng mất, bà ghi thêm chữ “Sương” (goá phụ) vào trước bút hiệu. Sương Nguyệt Anh là bà chủ báo đầu tiên của Việt Nam, tờ “Nữ Giới Chung”.

Đường Sương Nguyệt Anh rợp bóng mát của hai hàng cây rất cao rất to. Hỏi “cây gì?”, có người bảo là cây sao, có người nói là cây dầu; sau tôi mới biết, “sao” hay “dầu” cũng vẫn là một cây, “sao” là chi, “dầu” là họ, tên khoa học của nó là Hopea Odorata. Mùa lá rụng, tôi thường thơ thẩn nhìn lá khô đuổi nhau bay lăng quăng trên mặt đường, nhìn quả khô “nhảy dù” xuống với hai nhánh quay tít như chong chóng. Nhưng, thích mắt nhất không phải là lá bay hay quả rụng, mà có lẽ là những tà áo trắng trường Nguyễn Bá Tòng bên đường Bùi Thị Xuân, tan lớp Chủ Nhật, chiều chiều lũ lượt về ngang…

Trở lại với anh Quang và gác xép nhà để xe ở đường Sương Nguyệt Anh.

Anh có một chiếc Veloz Solex làm chân. Khi anh về Đà Lạt hay đi đâu xa, tôi lấy xe anh đi chơi khắp Sài Gòn, Chợ Lớn,.. cho tới khi hết xăng thì kéo cần máy lên, biến thành xe đạp, è ạch đạp về. Ít khi tôi có đủ tiền để đổ xăng. Sau đó anh Quang lại phải è ạch đạp xe ra đường Lê Văn Duyệt mua xăng, khi anh cần tới nó. Anh không rầy rà gì cả, chỉ ghim một tờ tiền vào mảnh giấy, để lên chiếc bàn nhỏ: “Chỉ được dùng để đổ xăng!” Từ đó không ai phải tháo mồ hôi ra đạp xe nữa.

Anh Quang chỉ có một cậu em – Vinh, ở Đà Lạt. Anh có rất nhiều bạn và rất nhiều đàn em, nhưng có lẽ thân với tôi hơn cả, vì ở chung “nhà”. Tôi dùng xe anh, thỉnh thoảng mặc áo của anh, xài tiền anh cho và … đọc trộm nhật ký của anh (nói ra thì mắc cỡ với mọi người, nhưng không nói ra, tôi mắc cỡ với chính tôi!). Nhật ký anh để ngay trên bàn, và ít khi gấp lại; khi cần bàn viết, tôi lại “phải” giở ra đọc. Đọc đi đọc lại, đọc tới đọc lui, thuộc lòng còn hơn thuộc Kiều. Tất nhiên là tôi không bao giờ tiết lộ những điều anh Quang viết; tôi chỉ có thể nói rằng văn chương của anh trong sáng, lạc quan, yêu đời, kể cả những lúc anh buồn, giống như thơ tình Nhất Tuấn mà anh rất thích.

Cũng năm 15 tuổi, tôi bắt đầu viết ca khúc, và anh Quang là người sửa cho tôi những bài đầu tiên: Một Ngày Công Tác, Lời Một Ánh Lửa,.. Anh sửa tài ở chỗ là giúp cho bài hát hay hơn mà không làm mất bản sắc của nó. Có lần tôi thử đưa cùng một bài cho hai người sửa, bài Cờ Dân Chủ, phổ thơ Quách Thoại. Kết quả, bài anh Quang sửa hay hơn bài do Phạm Duy cải biên. Tôi giữ cả hai bài, khi thì trình diễn bài này, khi thì sinh hoạt bằng bài kia; nhiều người cũng bảo tôi, bài do anh Quang sửa “hay hơn.”Đến lúc vượt biên, tôi mất cả hai bài. Anh Quang cũng vượt biên, bài của anh cũng mất, cứ gì bài của tôi. Có lúc đến chơi nhà Phạm Duy khi ông chưa về Việt Nam, hỏi, ông bảo “Còn giữ chứ, để anh tìm xem”; nhưng sau đó không thấy ông nói gì nữa.

Ít ai biết NĐQ làm thơ. Tôi biết. Tôi phổ bài “Em Đã Đến” của anh thành ca khúc. Nhiều người hỏi anh Quang: “Em nào vậy?” Anh cười cười, nói lảng. Hỏi tôi, tôi lặp lại câu nói mà anh từng lầm bầm về cái tên đường: “Chả biết con mụ nào!”

Bóng hồng cai trị đời anh là chị Minh Thông, bạn cùng lớp và cùng nhóm với anh ở Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt. Anh Quang sinh hoạt thanh niên thì hăng hái nhưng học thì lười … gần bằng tôi. Bài làm tập thể, có chị Minh Thông lo. Đi thi thì, như anh kể, có “thằng” Nguyễn Đức Quang khác “học khiếp lắm” ngồi bên cạnh gà bài. Đúng là thân cư thê và cung nô bộc, bằng hữu toàn sao sáng tụ hội! Rồi anh và chị Minh Thông cùng tốt nghiệp. Tôi chúc mừng anh, dò dẫm: “Đậu là quý rồi, cầm đèn đỏ thì đã sao!” Anh chống chế: “Đâu có tệ thế! Ít nhất cũng trên dăm ba người chứ!”

Chị Minh Thông được sở làm gửi đi Phi Luật Tân tu nghiệp một năm. Năm đó, chúng tôi sống rất kỷ luật theo đúng chương trình chị đã soạn sẵn cho 365 ngày: Ngày nào, giờ nào làm việc gì, ăn cơm ở đâu, cuối tuần xem xi nê rạp nào, v.v. và và v.v. Hai anh em rất thuộc bài. Tới giờ, nhìn nhau hô lên một lượt: “Cơm tấm Trần Cao Vân!” hay “Xi nê Vĩnh Lợi!”. Thế là phóng lên xe, cứ thế mà đi, khỏi phải nghĩ ngợi, sắp xếp làm chi cho lôi thôi mệt óc!..

Anh Quang nhập ngũ trước, làm quản ca trong đại đội SVSQ, và trưởng ban Văn nghệ của tiểu đoàn, ra trường về Cục Chiến Tranh Chính Trị. Tôi nhập ngũ sau, cũng làm quản ca trong đại đội SVSQ, và trưởng ban văn nghệ tiểu đoàn, về tác chiến ở Kiến Hoà, chờ giấy tờ gọi về làm Ty Dân Vận như Vũ Thành An, Đỗ Việt Anh. Chưa về đâu cả thì tới ngày miền Nam sụp đổ, tôi từ chiến trường về Sài Gòn, trốn cho tới ngày xuống thuyền, mang bà ngoại và vợ con vượt biên…

Cái nhà xe của anh Tuệ, ngoài anh Quang và tôi, đôi khi có thêm các anh Trần Trọng Thức (sĩ quan Hải Quân, ký giả Việt Tấn Xã, sau này có lúc là chồng của kịch sĩ Kim Cương), Trương Lộc (ký giả, sau 1975 tôi mới biết là cán bộ nội thành) ngụ ở tầng dưới. Khách khứa thì lu bù, toàn là chính khách và ký giả, ở nhà trên là khách của anh Tuệ, sau nhà xe, là khách của anh Thức. Anh Quang ít giao du với khách của anh Thức, nhưng qua lại thân mật với khách của anh Tuệ. Anh Thức gọi anh Quang là Nguyễn Đứt Cu. Có gì đâu, chữ Q, người miền Nam đọc là “cu” để khỏi phải chúm môi chúm miệng chi cho vất vả, còn /đức/ hay /đứt/, Trung và Nam kỳ phát âm như nhau!

Cũng ở cái nhà xe, Trịnh Công Sơn và Tôn Thất Lập thỉnh thoảng tới chơi, rủ rê tôi làm nhạc cách mạng, nhưng thấy không hợp, tôi không làm. Khác với cách tôi xưng hô “anh, em” với NĐQ, không hiểu sao tôi không xưng “em” với TCS và TTL, dù tuổi tác của hai người này lớn hơn anh Quang 5, 6 tuổi. Họ gọi tôi bằng tên, xưng tên hay xưng “mình”, và bảo tôi cũng xưng hô như vậy. Có lần Tôn Thất Lập khoe với tôi một bài hát anh mới viết xong, đã chép lại tử tế; nhưng không phải khoe bài hát, mà khoe thứ mực đen anh dùng, màu mực đen nhánh, khi khô thì nổi lên, và đặc biệt, không bao giờ lấm lem. Để chứng minh, anh dấp nước bọt lên đầu ngón tay, bôi lên mực cho xem. Quả thực không lem, không nhoè! Tôi khen mực tốt, nhưng đùa: “Ai lại đi phun nước bọt lên tác phẩm của mình như thế!” Anh Quang quay mặt chỗ khác, phì cười…

Nhà trên của anh Tuệ chỉ có hai phòng, một phòng cho anh và một phòng cho hai người: Em gái và cháu gái của anh. Khi hai cô xuất giá, phòng trống; và anh Quang đã nhập ngũ, anh Tuệ lấy lại nhà xe để cất xe, gọi tôi lên ở trong khuê phòng trước đây của hai cô. Khi tới phiên anh Tuệ cưới vợ, tôi dọn về căn gác của anh chị Ngô Mạnh Thu, cùng ngụ với nhạc sĩ Giang Châu, một bạn thân của anh Thu, cho tới ngày tôi nhập ngũ.

Từ khi NĐQ vào lính, ít khi tôi gặp lại anh. Từ khi tôi vào quân trường, rồi ra chiến trường, chẳng bao giờ tôi gặp lại anh. Cho tới sau 1975, anh đi tù Cộng Sản, rồi ra tù, anh em mới bàng hoàng gặp lại nhau. Anh Quang và anh Tuệ mua xe đò, chở khách kiếm sống. Tất cả chúng tôi đều tìm đường vượt biên, nhưng mỗi người một lối. Anh Quang mang tặng tôi cây tây-ban-cầm 12 giây mà anh thích và anh biết thuở nhỏ tôi cũng thích. Tôi hiểu là anh sắp đi, và chúc anh may mắn. Rồi tới phiên tôi, mua giấy tờ người Hoa, mang cả nhà xuống Cà mau nằm chờ, qua nhiều sự lôi thôi, cuối cùng rồi cũng ra khơi, sang tới đảo Bidong. Tôi gặp lại gia đình anh Quang, chị Thông cùng các cháu Tường và Nhiên, ở đó. Anh được nhận sang Mỹ. Gia đình tôi đi Gia Nã Đại. Lại một lần nữa chia tay.

Khi biết tin anh Quang bị lao phổi cấp tính, tôi và Nguyên Hương đến thăm, nhân dịp đi California. Rồi anh khỏi. Sau đó, trong một lần cùng Hưng Ca sinh hoạt 30 tháng 4 ở Sacramento, ngụ ở nhà bạn du ca Hoàng Gia Hùng, tôi gặp lại anh Quang. Đó là lần cuối cùng tôi gặp lại anh.

Tôi thấy anh khoẻ mạnh, nhiệt tình dù hơi mệt mỏi về tinh thần, nhưng không có dấu hiệu gì sẽ lìa nhau ở tuổi 68, dù trước đó, những người bạn du ca của anh, và là bạn bè hay đàn anh của tôi, như Giang Châu, Lê Đình Điểu, Trần Đại Lộc, Trần Đình Quân, Lý Văn Chương, Trầm Tử Thiêng, Ngô Mạnh Thu,.. đã ra đi khá sớm, chưa ai tới tuổi 70, thậm chí, phần lớn chưa tới 60!

Viết về anh, chỉ bấy nhiêu, nhưng lòng tôi ở với anh. Đường đời muôn vạn nẻo, nhưng chỉ có một nẻo để chúng tôi, chúng ta, mọi người, gặp lại nhau. Hẹn gặp lại anh, anh Quang!

Nguyễn Hữu Nghĩa"

Nhà thơ Cát Biển, một thành viên trong hệ thống liên diễn đàn, anh là đồng sáng lập diễn đàn Tin Văn Nghệ Sĩ cho bài kỷ niệm và mô tả cá t1ình niềm nở vui vẽ của nhạc sĩ Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang trong tâm khảm của anh. Nhận xét của nhà thơ Cát Biển đổng thuận với nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, trên cao của mọi lãnh vực mà anh Nguyễn Đức Quang họat động thì nhân cách của anh hay phong cách giao tế, xử sự của anh là nổi bật hôn cả:

"Nụ Cười Nguyễn Đức Quang

Năm 1985 một cơ duyên bất ngờ đã tạo cơ hội cho tôi biết đến anh Nguyễn Đức Quang, mà mãi sau này khi biết anh là tác giả bài hát Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ tôi mới thấy bất ngờ và càng quý anh hơn. Trong tôi anh luôn có hình ảnh của một nụ cười. Dù là thời mà anh làm Giám Đốc Công Ty Người Việt khoảng 1985, được yêu quý là nỗi danh, hay thời anh mới trở ra làm tờ báo mới có tên Viễn Đông tại 1 góc nhỏ đường Bolsa gần đường Beach, trước khi dọn về đường Moran, cuộc đời trầm bổng vẫn cho anh một nụ cười thân tình với bè bạn. Anh quả là có tài giao tiếp, có lẻ bẩm sanh từ tánh sinh hoạt quay quần cùng bao nhiêu bè ban.

Năm 1985 lúc báo Người Việt trên đà phát triển, văn phòng đường Moran lúc nào cũng nhộn nhịp với bao nhiêu con người, không, phải nói là bao nhiêu “quả tim” và “ước mơ” mới đúng. Các anh chị cùng lứa sồn sồn đầy hi sinh cùng cặm cụi hằng ngày chăm bón cho mảnh vườn truyền thông Người Việt càng lúc càng đơm hoa. Hai nhân vật chính yếu biểu tượng linh hồn báo Người Việt lúc ấy chính là Nguyễn Đức Quang và Đỗ Ngọc Yến, người thứ ba là anh Lê Đình Điểu nhưng phải nói mọi việc quán xuyến đều do anh Nguyễn Đức Quang cả.

Dạo đó báo Người Việt hợp tác với chú Lương Văn Tỷ để làm chương trình Truyền Hình Việt Nam, và nhóm 4 người xướng ngôn viên chúng tôi gồm tôi (Quảng Linh), Thùy Hương, Kim Lan và Vũ Chung cùng tụ tập thu hình vào mỗi chiều Thứ Tư kéo dài đến khuya. Anh Trầm Tử Thiêng vừa sang Hoa Kỳ đảm nhận quán xuyến soạn thảo phối hợp chương trình này với chú Lương Văn Tỷ lo về kỹ thuật. Các nhạc sĩ Trần Đình Quân, Lý Văn Chương, Nguyễn Thiện Cơ vẫn thường xuyên ghé qua thăm chúng tôi. Thời gian đó thật vui, bên Người Việt luôn có các dịp sinh hoạt lễ lộc và cứ liên tục đón tiếp các nhân tố thành viên du ca từ VN sang Mỹ định cư, trở thành đại gia đình Người Việt cả. Mọi người đều hi sinh không quản khó khăn.

Có những tháng đầu tiền lương hơi chậm, anh Nguyễn Đức Quang xuất hiện với những nụ cười chịu đựng, chúng tôi vui trong công việc nên cũng không hỏi, cho đến ngày nhận được cái check đầu tiên mới biết lương của mình là bào nhiêu. Các dịp Tết, công ty Người Việt luôn có khoản “lương đặc biệt” để cùng chia sẻ tình thâm. Chúng tôi có những tiệc vui riêng với nhóm truyền hình, và cũng có tổ chức mấy lần tại tư gia anh chị Nguyễn Đức Quang. Các bản nhạc mới nhất của anh Trầm Tử Thiêng vừa sáng tác chúng tôi đều được nghe đầu tiên.

Ngày anh Nguyễn Đức Quanh rời công ty Người Việt chúng tôi nhận tin như một cú sốc.

Bẵng đi mấy năm sau mới gặp lại anh ở tòa soạn nhỏ lúc anh mới ra lò tờ báo Viễn Đông. Dù cuộc đời đưa anh lên cao hay hất anh xuống vực Nguyễn Đức Quang vẫn có một nụ cười thân tình khiến mọi người quý mến. Trời cho anh khả năng giao tế mà tôi cho là nổi bật hơn mọi tài năng khác của anh.

Nguyễn Đức Quang trong xã hội là một nhạc sĩ tài danh từng sánh vai cùng các nhạc sĩ nỗi tiếng khác nhưng trong lòng tôi và những người thương anh quý anh, thì anh là một con người bản lảnh, giàu tình bạn, đầy phấn đấu, ngang nhiên ngạo nghễ đi giữa luân hồi.

Trong thân tình xin gửi về anh vài hàng cảm tạ sự hiện hữu của anh trong cõi đời này.

Cát Biển

http://catbien1.blogspot.com/

(29-03-2011)"

Tác giả Trần Trọng Nhân là sáng lập viên của Diễn Ðàn Huyết-Hoa và đồng sáng lập viên những diễn đàn khác trong hệ thống liên kết diễn đàn, anh góp ý kiến về bài ca "Quê Hương Việt Nam Ngạo Nghễ":

"" Còn Việt Nam…triệu con tim là còn triệu khối kiêu hùng" …

những lời ca đó: đã, đang vang lên trên Quê Hương Việt Nam và Hải Ngoại trong năm thập niên qua và sẽ còn lưu mãi đời đời trong lịch sử Nhạc Ðấu Tranh của Dân Tộc Việt.

Nguyễn Ðức Quang: anh đã ra đi rồi… " Chết đi là một việc dễ dàng hơn là đã chết ở nơi tự mình một lần rồi sống lại với thai cốt mới". Nguyễn Ðức Quang đã ra đi…nhưng Nguyễn Ðức Quang vẫn sống mãi mãi nơi lòng mọi người Dân Việt trong "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ"

Chân thành chia buồn cùng Gia-Ðình Nhạc-Sĩ Nguyễn Ðức Quang.

Trần Trọng Nhân"

Anh Bùi Thạc, thành viên của diễn đàn Không Quân Việt Nam đồng ý với ý kiến của anh Trần Trọng Nhân: "Còn Việt Nam…triệu con tim là còn triệu khối kiêu hùng. Xin thành kính phân ưu cùng tang quyến.

Bùi Thạc và Trần Văn Ngọc, diễn đàn Không Quân Việt Nam"

Nhà văn, nhạc sĩ Hà Thúc Sinh viết về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang:

"… Năm 1995, mấy ông trong Hội Người Việt và nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang có tổ chức đêm 30 năm hát cộng đồng có mời Hà Thúc Sinh hát, mong gặp Phan Ni Tấn mà không thấy. Quang viết vài dòng về mình và mình thấy… bâng khuâng.

Dù sao bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ sẽ là một trong hnững sáng tác phẩm sống mãi.

Đời nghệ sĩ thế là tạm yên tâm đi rồi, đúng chứ?

Hà Thúc Sinh"

Nhạc sĩ du ca Phan Ni Tấn, một người bạn nhạc của du ca trưởng Nguyễn Đức Quang viết những về sinh hoạt hướng đạo cùng với ba than hữu gửi dòng tiễn đưa người huynh trưởng, đính kèm lời của 2 bài nhạc kỷ niệm của anh Nguyễn Đức Quang

"Tin nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn của Ban Trầm Ca và Phong Trào Du Ca Việt Nam vừa tạ thế vào ngày 27-03-2010 tại Nam California, với tôi là môt nỗi bàng hoàng, sửng sốt, đây là một mất mát lớn trong cộng đồng. vì anh là một thành viên lâu đời của Phong Trào Du Ca, và tôi có rất nhiều kỷ niệm sinh hoạt vui buồn với anh từ hồi trong nước ra đến ngoài nước. Tôi đang viết một bài về anh. Còn bây giờ tôi thành thật chia buồn cùng gia đình nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và cầu xin Thượng Đế thương xót anh khi về nước Chúa.

Trưởng Nguyễn Đức Quang lìa rừng vào lúc 4 giờ sáng Chủ Nhật ngày 27 Tây tháng Ba năm 2011 tại bệnh viện Fountain Valley, Nam California, Hoa Kỳ. Ban Thường Vụ Hội Đồng Trung Ương Hướng Đạo Việt Nam đã tổ chức nghi thức Trao Bắc Đẩu Huân Chương đến nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang tại buổi sinh hoạt văn nghệ "Chiều Nhạc Du Ca Nguyễn Đức Quang" tổ chức vào lúc 3 giờ 30 chiều Chúa Nhật 27 tháng 3 năm 2011 tại Emerald Bay Restaurant.

Đây là môt nghi thức được phối hợp của Ban Tổ Chức "Chiều Nhạc Du Ca Nguyễn Đức Quang và quý Trưởng thuộc HĐTƯ-HĐVN tại Nam California. Bắc Đẩu Huân Chương là huy chương cao quý nhất của phong trào Hướng Đạo Việt Nam được trao tặng cho quý Trưởng Hướng Đạo có công gìn giữ và xây dựng một phương pháp giáo dục thanh thiếu niên do Huân Tước Baden Powell thành lập từ năm 1907 tại Anh Quốc. Quý Trưởng nhận được Bắc Đẩu Huân Chương có những thành tích phục vụ tha nhân và luôn đeo đuổi lý tưởng Hướng Đạo. Quý Trưởng này còn là những nhân tố góp phần trực tiếp vào công cuộc gầy dựng các thế hệ thanh niên Việt Nam nối tiếp nhau dấn thân vào các công xã hội từ trong nước cho đến sau này tại hải ngoại.

Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang gia nhập Hướng Đạo năm 1956, thuộc Đội Voi, Thiếu Đoàn Lê Lợi, Đạo Lâm Viên, là đội sinh của Trưởng Hoàng Kim Châu. Trưởng Hoàng Kim Châu hiện đang sinh hoạt với Liên Đoàn Đất Việt và Tráng Đoàn Nguyễn Trải Hướng Đạo tại Houston Texas. Sau này Trưởng Nguyễn Đức Quang thay Trưởng Châu và trở thành Đội Trưởng Đội Voi.

Chúng tôi, các bạn hữu: Cao Thọai Châu, Nguyễn Thanh Trí, Diệp Mỹ Linh và Phan Ni Tấn xin đồng thành kính phân ưu.

– Đính kèm hai nhạc phẩm của Nguyễn Đức Quang

Chiều Qua Tuy Hòa

Ngày xưa tôi đã đi qua Tuy Hòa

Trời xanh le lói bao mộng mơ

Đàn chim tung cánh bay bay đầu gió

và đâu đây tiếng sông bồi phù sa

Ôi, những chiều mây vắt ngang lưng đèo

Vọng Phu đưa mắt cũng buồn theo!

Chiều nay lơ lững tôi ngang Tuy Hòa

Ngồi đây nhưng thấy như còn xa

Trường xưa hoang vắng, hiu hiu bên ruộng lúa

Một con chim én nô đùa ngoài kia

Ôi, bước dài ngao ngán bên nương buồn

Nhìn quanh trơ đứng bao đồng nương!

Rồi khi tia nắng phía non Tây tàn

(Thì) Người đây như cũng như dần tan

Nhịp đêm tiếng súng đong đưa ngoài ngõ

Người qua song chắn hé nhìn trời xa

Ôi đỉnh trời lấp lánh trong đêm dài

(mà) mình tu chưa chín nên nào hay!

Đường đi đưa tới phía Nam nhưng lòng

triền miên ray rứt theo miền Trung

Cầu xưa xơ xác sau cơn bão tố

(còn) người dân tan tác bên đường ngẩn ngơ

Ôi, bước buồn theo mãi không gian buồn

Một đêm qua biết bao sầu thương!

BÀI DU CA CUỐI CÙNG

Tôi đến từ núi lạ

Hát mấy lời tăm tối

Mang dấu buồn trên dòng cuồng lưu

Trong suốt cuộc sinh tồn

Anh có đợi lời tôi

Dù úa tàn mấy ngọn trầm hương

Tôi buồn cuối ngày khiêng lời anh nằm hấp hối

Qua vùng đất xưa du hồn bay về chốn bụi

Quê hương bây giờ chắc cũng buồn vì một tiếng ca

Thầm nuôi lại trái tim ngậm những lời mệt mỏi

Này người du ca muôn thuở

Anh có nghe gì không

Quê hương đang lắng nghe

Và đồng bào đang lắng nghe

Người ta nghe văng vẳng ở khắp nơi trên mặt đất đầy đau khổ này

Những người du ca đang hát bản du ca cuối cùng như một lời cầu nguyện

Tôi đã thấy những tấm lòng nhân ái băng bó vết thương cho tiếng hát

Tôi đã thấy những bàn tay cứu rỗi cho cây đàn vang vọng

Tôi biết người tìm về phía hư vô

Nghiêng câu hát buồn như viên gạch cũ

Theo đoàn người chậm bước qua con phố

Dàn kèn đồng nghẹn những khúc âm ma

Tôi muốn hát cho cây cỏ nghe

Những chữ viết bằng âm đầu tình tự

Còn sót trên tường vôi một thời quá khứ

Những bàn chân trôi giạt vào cuộc lữ

Cũng dừng bên quán nhớ bùi ngùi

Tôi có những niềm vui nằm trong tủ sách

Những niềm vui âm ỉ đời người

Và những vẻ đẹp của những nét đớn đau đốt cháy mọi tiếng cười

Tôi có những niềm vui treo ngoài lồng ngực

Nép mình sau những rặng trường xuân

Sau cánh cửa cuối cùng lòng anh vừa khép lại

Ôi cuộc đời

Ôi nhân loại

Để đắp đổi đợi chờ từ năm tháng

Ới tôi là kẻ bổng mừng

Vói tay gỡ anh ra xa khuất mái ưu phiền

Buổi sáng ở Sài Gòn

Mặt trời không còn đẹp nữa

Chốn quê người gió tháng ba vẫn còn thổi lạnh.

PHAN NI TẤN

03/2011"

Anh Bùi Bảo Sơn từ bên Canada chuyển bài viết của bào huynh là nhà báo Bùi Bảo Trúc viết bài tiễn đưa nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, sự so sánh tương phạn giữa hai nhạc sĩ cùng thời, Trịnh Công Sơn và Nguyễn Đức Quang, họ sáng tác nhạc, nhất là khi đặt lời nhạc, hai ý hướng khác nhau. Xin xem bài dưới đây:

"Có thể nói chắc rằng ở Việt Nam, không có một thế hệ nào kém may mắn bằng thế hệ của những người ra đời trong những năm cuối của thập niên 30 bắt sang đầu thập niên 50.

Thế hệ này vừa ra đời thì đã phải chạm mặt ngay với hai cuộc chiến lên tiếp ở Đông Dương của những năm 50 , rồi những năm 60 và 70. Họ lớn lên, để tử trận nhiều nhất, góa bụa nhiều nhất và mồ côi nhiều nhất.

Mồ côi trong cuộc chiến Đông Dương thứ nhất. Tử trận và góa bụa trong cuộc chiến Đông Dương thứ hai.

Trong đời sống với cái chết cận kề rình rập như lúc nào cũng sẵn sàng ghé vào thăm, người ta vẫn cần, hay có thể nói là rất cần đến âm nhạc. Âm nhạc để vỗ về, an ủi, để khóc, để đau đớn cho những bất hạnh của thế hệ.

Kháng chiến có âm nhạc của kháng chiến trên những chiếc banjo, những chiếc mandoline, những Hạ Uy cầm, Tây Ban cầm trên vai của những thanh niên thành phố lên đường đổ máu cho quê hương với những bản nhạc của Hoàng Quý, Việt Lang, Văn Cao, Hoàng Giác, Tử Phác … quay quay thương nhớ quyến vào tơ, quay quay may áo rét dâng chàng… Những ca khúc hết sức lãng mạn của thành thị từ chàng ra đi lưng khoác chiến y, mà lòng vương bóng quốc kỳ… Ai qua miền quê binh khói, nhắn giúp rằng nơi xa xôi … lờ lững đôi chim giang hồ bay.. dưới ánh trăng mơ màng, ngồi kề bên nhau nối tơ lòng, của Ngọc Bích, Nguyễn Thiện Tơ , Đào Thừa Liệt …

Cuộc chiến Đông Dương thứ nhất kết thúc với cảnh đất nước bị chia cắt. Thanh bình tạm bợ ở với chúng ta vài ba năm thì lại một trận đao binh khác ập tới. Những khúc ca thanh bình của Lam Phương, Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Nguyễn Văn Khánh … bỗng thấy không còn hợp thời nữa. Thơ lãng mạn tiền chiến trở thành vô nghĩa, ngượng nghịu trên môi người đọc Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Thế Lữ, Xuân Diệu.. .

Tuổi trẻ Việt Nam lúc ấy thỉnh thoảng lắm mới tìm được một hai bài hát cho họ.

Một buổi sáng mùa đông, một đứa bé ra đồng, đạp trái mìn nổ chậm, chết không còn đôi chân…. Về đây nghe em, về đây nghe em, mặc áo the đi guốc mộc, kể chuyện tình bằng lời ca dao …

Họ hát để quên đi những ca khúc đầy bi thảm, chết chóc : trực thăng sơn mầu tang trắng, em ngại ngùng dạo phố mùa xuân , viên đạn đồng đen, em sang ngang cho làm kỷ niệm…

Không có mặt ở Việt Nam mấy năm, đến lúc về nước, thì tôi đã thấy có một phong trào nhạc đang lớn mạnh.

Đó là phong trào Du Ca. Du là đi đây đó. Du ca là vác đàn đi hát ở đây đó. Đây đó là những buổi lửa trại, là sân trường đại học, ở trường Văn Khoa đường Nguyễn Trung Trực, ở đại học Đà Lạt, ở trụ sở sinh viên đại học quốc tế đường Duy Tân, Hồng Thập Tự.

Nhạc khí là những chiếc ghi ta với những accord giản dị. Và giọng hát là những tiếng hát bằng tâm tình, bằng lòng thành, bằng tất cả tấm lòng cho cái quê hương có một thời ngạo nghễ ấy, cho giống dân mà gọi là vua đấu tranh… .

Ở một quán nước trên đường Tự Do, tôi gặp hai người, hai tác giả có những ca khúc đặt cạnh nhau chỉ để nói lên những tương phản, nhưng lại cũng nói lên được những ưu tư, những quan tâm, khắc khoải của cái hế hệ bất hạnh ấy.

Trịnh Công Sơn và Nguyễn Đức Quang.

Trịnh Công Sơn đụng vào nhiều khía cạnh hơn Nguyễn Đức Quang. Những viên thuốc an thần của Trịnh Công Sơn được gửi đến người nghe, đồng thời vẽ ra một đất nước tan hoang với người yêu chết trận Pleime, đại bác ru đêm, đàn bò ngu ngơ vào thành phố, ngươi con gái Việt Nam da vàng đi trong đêm đầy tiếng súng…

Nguyễn Đức Quang viết những ca khúc khác hẳn của Trịnh Công Sơn.

TCS viết "em chưa hát ca dao một lần, em chỉ có con tim căm hờn."

Nguyễn Đức Quang viết những ca khúc như thế này: "Đường Việt Nam ôi vô tận đường ngang tàng ngoài biển Nam giữa Trường Sơn. Đường ngày qua đầy vết kinh hoàng mỗi xóm làng một dở dang…"

"Từ Nam Quan Cà Mau từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam quay về với xóm làng .Tiếng reo vui rộn ràng trong lòng. Gặp nhau do non nước xây cầu… Cùng đi lay Trường Sơn. Cùng đi xoay Hoành Sơn …"

Hay: "Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn. Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang. Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm. Đôi mắt ta rực sáng theonhịp xích kêu loàng xoàng."

Rồi lại: Ta còn những người ngồi quanh đây trán in vết nhăn. Đêm nằm nghe lòng quặn sôi lên giữa cơn chiến tranh. Ôi cùng đau thương cùng hoang mang giữa khi khó khăn. Xin chọn nơi này làm quê hương….

Nguyễn Đức Quang như thế đấy. Không đứng ngoài để đi hành quân làm lính cậu như Nguyễn Bắc Sơn… Không một lời thù hận bên này hay bên kia. Nguyễn Đức Quang là tiếng hét nhân bản, là lời réo gọi của nguyên một thế hệ sắp bị mất đi những giá trị của một xã hội đang bốc cháy.

Nguyễn Đức Quang không phòng trà não ruột, không tình ái bi thảm, không chính trị một chiều, không thù hận đằng đằng.

Nguyễn Đúc Quang đến với người nghe và nhất là những người hát nhạc của ông bằng tất cả chân tình của một thanh niên Việt.

Sự quyến rũ của Nguyễn Đức Quang là ở đó.

Mấy chục năm đã qua, nhưng Nguyễn Đức Quang không bao giờ rời xa hẳn chúng ta. Vẫn còn có những buổi sáng, hai ba câu hát của chàng vẫn tiếp tục ám ảnh chúng ta.

Và như thế, có nói là thế hệ này đã tìm được người phát ngôn thì cũng không sai. Nguyễn Đức Quang nói hộ chúng ta biết bao nhiêu điều chúng ta loay hoay nói không được và có nói cũng không hết.

Nguyễn Đức Quang qua đời sáng hôm Chủ Nhật nhưng ông vẫn sống tiếp bằng âm nhạc của ông, chừng nào mà quê hương Việt Nam còn ngạo nghễ, chừng nào mà còn những người đi trên những nẻo đuờng Việt Nam, chấp nhận đó là quê hương.

Nguyễn Đức Quang, ông đang nằm đó. Nhưng chúng tôi biết ông đang nghe chúng tôi. Ông sẽ còn nghe mãi những bản nhạc ông viết cho thế hệ này. Chúc ông thanh thản về cõi vĩnh hằng.

Vĩnh biệt Quang.

Bùi Bảo Trúc

27/3/2011"

Tác giả sau cùng là nhạc sĩ Nguyễn Quyết Thắng cho bài viết thật cảm động, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang có những dự tính, những ước mơ, những chương trình cuối đời, nay dang dở, mơ ước không trọn vẹn… những lời tâm sự cùng con chim đầu đàn du ca: Nguyễn Đức Quang:

"Anh Nguyễn Đức Quang qúi mến,

Không có một điều gì đau buồn hơn là phải nói lời vĩnh biệt nhau , chỉ mới vài tháng trước đây mình chỉ nói lời chia tay và hẹn sẽ gặp lại thôi mà, suốt hơn 4 tuần lễ ngày và đêm bên nhau, em đã được nghe anh nói , nghe anh hát, nghe những lời tâm sự thật thầm kín thật qúi báu mà dường như anh chưa thổ lộ với ai, mình đã hứa với nhau những điều phải làm, và anh đã hứa với em những công việc sẽ phải thực hiện trong năm nay, giờ anh nằm thờ ơ, lặng lẽ, làm bộ quên…

Anh Quang kính, ngày xưa biết anh qua tiếng hát trên đài phát thanh, với những bản nhạc “ Anh Em Tôi – Đường Việt Nam-Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của những năm 1965, với 16 tuổi đời em chẳng biết yêu nước là gì ? thế nhưng em đã theo anh từ đó . Lần đầu tiên từ chốn xa trở về , được nhìn và nghe anh hát từ một góc nhá nhem tối bài “ Nỗi buồn nhược tiểu “ lòng em đã trùng xuống bởi tiếng kêu gào thống thiết của tình yêu-thân phận và quê hương mãi mãi vẫn đen tối không lối thoát :

“ Tôi chót sinh ra làm dân nhược tiểu , nỗi nhọc nhằn trĩu nặng đôi vai”

“ Tôi chót sinh vào nước chia cắt – tình anh em máu chẩy thành dòng”

“Ơ hay Thượng Đế có buồn chứng dám dùm những linh hồn “

“Người dân tôi nhìn tương lai nước mắt tuôn tràn đầy “

bất chợt nước mắt tự đâu rơi xuống , em đã cảm thông với anh .. Và 45 năm sau , được nhìn và nghe anh hát lần cuối cùng “ Trên Đồi Arlington “ cũng vẫn mãi tấm lòng quặn hiu đó, vẫn hơi thở thống khổ và trái tim vỡ nát đó, lòng em đã được mở ra với tiếng gọi tình người trong con người :

“ Này bạn, cùng chiến đấu,

cùng gục ngã viên đạn ngược đường bay

Về đây, cùng tới đây, chia nhau nghĩa trang này

không lời hờn oán đắng cay

Bắc Nam cùng mạch sống!

Thắng thua đều anh hùng !

Bốn mùa hoa nở rộ, dưới mộ đài hùng tráng

chung dòng “Tổ Quốc Ghi Công”

Xin giới thiệu hồn này từ cầu Đồng Hới,

hồn kia cuối Trường Sơn

Đồng lúa xanh, có lắm anh đi nhẹ nhàng,

có người thịt nát xương tan

Nay mộ phần, rào quanh bằng oán thù,

một lần thành thiên thu,

sống hay là đã chết đều mất lối bơ vơ.

……

Triệu linh hồn oan khuất-

Chiều nay xa quê nhà

Còn chỗ không người lính gác,

chúng tôi về đây nằm,

trên đồi Arlington

Và bây giờ, anh đã thực sự về nằm nơi đây, nơi xứ lạ quê người này , không mang theo “lời chê, tiếng khen, không mang theo hờn oán đắng cay “ anh đã để lại nguyên khối óc cho bằng hữu của anh, anh đã để lại nguyên con tim cho người yêu của anh , và hơi thở nhọc nhằn cho người dân Việt của anh. Anh đã để lại những hịch truyền qua những tác phẩm anh viết , về nhân tính anh đã nói ,em đã học được của anh về tình yêu nhân loại như : “Từ Nay Gánh Vác”, tình yêu đằm thắm “ Chiều Qua Tuy Hòa “, tình yêu rực lửa “ Về Đồi Hoang “, tình yêu dại khờ “ Vì Tôi Là Linh Mục “,tình yêu tự hào bất khuất “ VN Quê Hương Ngạo Nghễ “ tình yêu dân tộc “ Cho Đồng Bào Tôi “ tình yêu bằng hữu “ Anh Em Tôi “, Tình yêu Đồng Đội “Đuốc Hồng Tuổi Trẻ “, tình yêu lứa đôi “ Cần Nhau “, tình yêu chia sẻ “ Người Yêu Tôi Bệnh “, tình yêu đằm thắm : “ Bên Kia Sông “, tình yêu hiến dâng “Đoàn Ta Ra Đi”, tình yêu phẫn nộ “ Ruồi Và Kên Kên”, tình yêu mời gọi “ Tìm Về Công Trường “, tình yêu thân phận “ Xương Sống Ta Đã Oằn Xuống”, tình yêu tủi hổ “ Nỗi Buồn Nhựợc Tiểu”, tình yêu phẫn uất “ Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi “, tình yêu hoài niệm “ Tình Tôi Con Dốc Nhỏ”, và tình yêu dung thứ, thức tỉnh “ Trên Đồi Arlington” v..v..

Tất cả tình yêu của nhân loại đều hiện hữu trong anh, anh tỏ tình mạnh mẽ bằng tiếng hát, và trao tình bằng nụ cười.

Lần cuối ngồi bên anh bên qúan café ở Place Itali, Paris đột nhiên anh đề nghị: “Chiến chụp cho anh và Thắng chung một tấm ảnh ở đây đi ! biết đâu nó chẳng “đi vào lịch sử” hi …hì “. Không ngờ nó “đi vào lịch sử “ của anh em mình thực sự, một kỷ niệm em không thể quên được . Cám ơn anh đã nuôi lớn tâm hồn em, cùng được rong ca bên nhau trên con đường Việt Nam vô tận, hôm nay tiếng hát của anh vụt bay nhanh lên cao, nhưng chắc chắn dư âm của nó sẽ còn vang vọng mãi trên mặt đất này, anh đi để lại niềm thương tiếc cho bao người, với riêng em, anh để lại cho em thật qúa nhiều điều dặn dò qúi báu lẫn những khó khăn em chắc sẽ không chu toàn nổi, qúi mến anh bao nhiêu , em lại giận anh bấy nhiêu .. anh à !

anh đi vội vã qúa, mình còn qúa nhiều việc phải làm mà….

Nguyễn Quyết Thắng"

oOo

Xin cám ơn tất cả tác giả, quý thân hữu ở xa, không đến Little Saigon đưa tiễn anh Nguyễn Đức Quang. Tôi muốn dùng câu nói cuối cùng trên của nhạc sĩ Nguyễn Quyết Thắng cho kết luận một sự chia tay hầu như không như ý. Tất cả chúng ta bùi ngùi trước một người đồng hương Nguyễn Đức Quang, hay chính xác hơn, một nhân tài của đất nước Việt Nam, bao năm miệt mài đóng góp cho xứ sở bằng lòng xả thân không quảng ngại cực nhọc, khó khăn khi hướng dẫn tuổi trè hướng về tương lai của sự hữu dụng cho quốc gia, anh trải rộng lòng nhiệt tâm, bầu nhiệt huyết xây dựng tuổi trẻ Việt Nam;

Thưa anh Quang,

Tuổi trẻ chúng tôi noi gương đóng góp cho xứ sở từ bậc đàn anh như anh, dùng hình thức này hay hình thức khác, có người theo học chính trị, kinh doanh hay kinh tế, như email của anh Francis Khúc cùng bạn bè từ trường Chánh Trị Kinh Doanh mà anh theo học, những tuổi trẻ ngày xưa chọn những ngành mà anh và họ đã kinh qua tại quê nhà một thuở, có người như HQ Hồ Ái Việt tâm sự anh chọn đi hải quân VNCH, sau này HQ VNCH đã hiên ngang bảo vệ bờ cõi, ngăn cản xứ ngoài xâm lăng đất nước chúng ta; hay anh Dương Viết Điền của ngành Chiến tranh Chính Trị, họ thường ca hát nhạc của anh. Và rồi anh, bạn bè anh, tuổi trẻ chúng tôi đồng ca khắp nơi vang vang "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ", bài ca này gắn liền với biến cố Hoàng Sa 1974 mà nhiều người mang nỗi uất hận Hoàng Sa theo kiếp này, chúng tôi cám ơn anh, bằng âm nhạc, anh nhắc nhở thanh niên về dòng sử xanh oai hung của dân tộc ta, về lòng yêu nước vô biên; Và nói đến Nguyễn Đức Quang không phải người ta chỉ quý trọng tài năng âm nhạc của anh mà thôi, nhưng trên cao tất cả, một Nguyễn Xuân Hoàng, một Cát Biển Nguyễn Sáng cùng với nhiểu người nhận định điều quý nhất của Nguyễn Đức Quang là nhân cách. Nhân cách là điểm mà bạn bé anh trân quý anh, gắn bó với anh, quyến luyến qua bao bài viết tiễn đưa anh.

Thôi anh Quang nhé, chúng tôi xin bắt tay anh lần cuối, lên đường đoàn viên lại với chị Minh Thông cùng bao bạn bè cũ mới của anh trên cao ấy, hãy bảo trọng và sống an bình …

Như cháu hướng đạo Bùi Bảo Kim của LĐ Hướng Đạo Thăng Long, Arlington, Virginia, là tác giả bé nhất xin tiễn đưa chào vĩnh biệt bác Trưởng Nguyễn Đức Quang. Tất cả chúng tôi xin sửa lời của cháu lại là:

"Anh Quang,

You are a talented composer, a respected friend as well as a great leader for many of us. Above all, you are the best man, anh Quang.

And we all will miss you…

Farewell with your pleasant journey heading high up there, the destination that you chose at peace!"

All your friends, here.

image009.jpg

Nhận được tin buồn:

Nhạc sĩ Du ca Nguyễn Đức Quang dã ra đi

Chào Vĩnh Biệt

Xin thành kính phân ưu cùng các cháu, con anh Nguyễn Đức Quang,

cùng tang quyến, nguyện cầu nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang ra đi về miền

vĩnh cửu, để yên nghỉ ở chốn an bình ngàn thu.

Xin một lần cuối chào vĩnh biệt tiễn đưa anh!

Trường Sa, Nguyễn Đức, Nhật Ngân, Song Ngọc, Huỳnh Anh, Ngọc Chánh, Đỗ Kim Bảng, Lam Phương, Tuấn Khanh, Lê Mộng Nguyên, Bích Xuân Paris, Lê Văn Phúc, Đan Thọ, Phó Quốc Lân, Linh Phương, Phạm Khải Tuấn, Thanh Thúy, Mai Châu, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh, Lệ Thu, Lệ Thanh, Phương Hồng Quế, Trang Mỹ Dung, Mạnh Quỳnh, Lê văn Khoa, Bà Hoàng Lan, Bà Nghiêm Phú Phi, Bà Văn Phụng, Bà Lê Trọng Nguyễn, Xuân Điềm, Anh Bằng, Việt Hải và Lê Dinh.

ĐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

image010.jpg

Posted in văn nghệ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

RFI. Công du Mỹ và nhân quyền : Bộ trưởng Quang « đặc biệt » hơn TBT Trọng

Nguồn RFI
Đăng ngày 18-03-2015 Sửa đổi ngày 21-03-2015 21:53

Thụy My
mediaNhà bình luận Phạm Chí DũngRFI/Capdevielle

Một trong số những sự kiện gây nhiều chú ý mới đây là chuyến công du Hoa Kỳ của Bộ trưởng Công an Việt Nam Trần Đại Quang, trong bối cảnh hồ sơ nhân quyền lâu nay vẫn là vấn đề gai góc nhất trong quan hệ Mỹ-Việt.

RFI Việt ngữ đã trao đổi với nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở Saigon về vấn đề này.

RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã nhận trả lời phỏng vấn. Thưa anh gần đây đã có một số hoạt động khá nhộn nhịp trong quan hệ ngoại giao Việt – Mỹ, đặc biệt năm 2015 là dịp kỷ niệm 20 năm tái lập quan hệ, bên cạnh đó là những hy vọng về hiệp định TPP. Nhưng riêng chuyến thăm Mỹ của Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang được dư luận rất chú ý ?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Chuyến đi của ông Trần Đại Quang sang Hoa Kỳ rất đặc biệt, thậm chí đặc biệt hơn cả chuyến đi dự kiến của ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam được thông tin vào cuối tháng 5/2015.

Nếu chuyến đi của ông Trọng nghe nói là được vận động từ đầu năm 2014, và Ban Đối ngoại Trung ương cố gắng làm sao để cho Tổng thống Obama tiếp ông Nguyễn Phú Trọng tại Phòng bầu dục với nghi lễ cao nhất, thì chuyến đi của ông Quang lại khá đột ngột. Thông tin này chỉ mới xuất hiện sau chuyến đi của bà Rose Gottemoeller, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đến Việt Nam vào đầu tháng Ba.

Tôi muốn nêu kỹ thế này : bà Rose đến Hà Nội làm việc vào đầu tháng Ba, khoảng ngày 3 tháng Ba năm 2015. Sau đó đến ngày 5, bà gặp ông Tô Lâm, Thứ trưởng Bộ Công an phụ trách về an ninh chính trị. Không biết là cuộc gặp này đã diễn ra một cách thuận lợi như thế nào mà ngay sau đó hai ngày, ông Ted Osius, tân đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội đã thông báo ngay lập tức về một chuyến đi của tướng Trần Đại Quang, Bộ trưởng Bộ Công an, tới Hoa Kỳ trong một thời gian gần. Và ông còn nói thêm là sẽ làm việc với nhiều quan chức, nhiều cơ quan về nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề nhân quyền.

Đặc biệt là tin tức mà ông Ted Osius đưa ra không phải tại một cuộc họp báo hay trong một cuộc họp ngoại giao chính thức, mà ngay tại giảng đường của Đại học Quồc gia Hà Nội, khi ông đến nói chuyện.

Đó là một tin rất thú vị, cho thấy dường như là lần đầu tiên một viên tướng, một Bộ trưởng Công an Việt Nam, đại diện cho một ngành bị quốc tế chỉ trích, công kích, lên án khá nhiều vì những vi phạm về nhân quyền ; lại xuất hiện tại Hoa Kỳ. Và chỉ một tuần sau khi có thông tin do ông Ted Osius nêu ra, thì ông Quang đã có mặt ở Hoa Kỳ rồi.

Có thể nói đó là một chuyến đi vừa đột ngột, vừa đặc biệt. Và quả đúng như lời ông Osius, ông Quang đã làm việc với một loạt các cơ quan, các quan chức của Hoa Kỳ. Từ Bộ Ngoại giao cho đến Bộ Tư pháp, Bộ An ninh Nội địa, Cơ quan Điều tra Liên bang FBI, kể cả Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA, và cuối cùng không quên gặp những thượng nghị sĩ tiếng tăm của Hoa Kỳ, đặc biệt là ông John McCain, chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ.

RFI : Theo như anh phân tích ở trên, chuyến đi của ông Trần Đại Quang đúng là rất đáng quan tâm…

Điều đặc biệt thứ hai mà tôi muốn nêu, là chuyến xuất hành đầu tiên của các quan chức đảng cầm quyền Việt Nam lại bắt đầu bằng một Bộ trưởng Công an, trước cả chuyến đi Úc của ông Nguyễn Tấn Dũng. Còn vào năm 2013, chuyến xuất hành đầu tiên đến Vatican là của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đến tháng 7/2013 ông Trương Tấn Sang đi Mỹ gặp Tổng thống Obama. Sau đó mới là những chuyến đi con thoi của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến New York, Hoa Kỳ.

Năm nay rất đặc biệt là ông Quang xuất hiện ! Và điều đó làm dấy lên khá nhiều dư luận về mục đích của chuyến đi này. Theo tôi, mục đích chuyến đi trước hết vẫn là mối quan hệ đi dây giữa Việt Nam với Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Và những gì mà ông Quang đề cập với thượng nghị sĩ John McCain, về vấn đề Hoa Kỳ nên linh động dành cho Việt Nam quy chế thị trường đầy đủ, hay là thông qua Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và một loạt vấn đề khác, có thể cho thấy ông Quang đã nhận lĩnh những chỉ đạo của Bộ Chính trị, đặc biệt là của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hay Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Nhưng thực ra những vấn đề đó cũng không khác gì những nội dung mà trong chuyến đi Hoa Kỳ vào tháng 7/2014 ông Phạm Quang Nghị, ủy viên Bộ Chính trị và là Bí thư Thành ủy Hà Nội đã phát biểu. Tất cả những vấn đề đó chỉ là chung nhất thôi.

Vấn đề còn lại chúng ta cần tìm hiểu là những nội dung sâu sắc nhất trong chuyến đi của ông Quang có thể là những gì ? Và điều đó có liên quan mật thiết tới vấn đề nhân quyền mà phía Hoa Kỳ đã đặt ra như là một điều kiện tiên quyết, then chốt để có thể giải quyết hồ sơ TPP hay không ?

Một vấn đề khác thuộc về chính trị nội bộ của Việt Nam : Liệu chuyến đi này có phải là một chuyến « diện kiến » như là ông Phạm Quang Nghị đã từng ra mắt giới chính khách ở Mỹ vào tháng 7/2014 hay không ?

Vì hiện nay trên chính trường Việt Nam thì tướng Quang được coi là một trong những nhân vật có thể kế thừa tại Đại hội 12, diễn ra vào năm 2016 của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người ta cũng bàn tới khả năng ông có thể đảm nhiệm một chức vụ cao hơn chức Bộ trưởng Bộ Công an. Chẳng hạn như vai trò Chủ tịch nước, thậm chí còn có thể cao hơn nữa. Mà cao hơn Chủ tịch nước thì chúng ta biết là chức vụ nào rồi, tức là có thể thay thế vị trí của ông Nguyễn Phú Trọng hiện nay.

Nếu dư luận đó là đúng, thì chuyến đi của ông Quang còn hàm chứa một mục đích khác ngoài việc đi tiền trạm cho ông Nguyễn Phú Trọng và dọn đường cho một ngã rẽ về phương Tây. Rằng mục đích đó có lẽ liên quan tới động cơ cá nhân của ông Quang.

Tại vì bất kỳ một chính khách nào ở Việt Nam hiện nay cũng đều hiểu rằng tên tuổi, vị thế của họ trong tương lai, phần lớn sẽ được xác định không chỉ bởi Ban chấp hành Trung ương hay Bộ Chính trị, mà còn bởi thế đứng của họ trên trường quốc tế. Hay nói cách khác, là được sự chấp nhận của cộng đồng các nước G7.

Vì vậy tôi nghĩ rằng chuyến đi của tướng Quang có hàm ý về cả cái chung lẫn cái riêng. Và nếu như điều đó là đúng, thì trong thời gian tới, cụ thể trong năm nay chúng ta sẽ nhận ra một số vấn đề liên quan đến những động thái dịch chuyển nội bộ ở Hà Nội.

Một điều không kém quan trọng là vấn đề nhân quyền cũng vì thế có thể được xem xét theo quan điểm cởi nới hơn. Chúng ta vừa mới thấy một ví dụ khá sống động, khi một giám đốc Công an Hà Nội là Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung lần đầu tiên đã đứng ra nói về những đối tượng dư luận viên đã phá buổi lễ tưởng niệm Gạc Ma 1988 tại Hà Nội ngày 14 tháng Ba vừa qua. Tướng Chung đã gần như phủ nhận vai trò của nhóm dư luận viên này, khi nói rằng không phải do Công an hay Ban Tuyên giáo tổ chức, và còn nói có thể sẽ xác minh để xử lý đối với nhóm dư luận viên ấy.

RFI : Báo chí nhà nước lại còn gọi những người biểu tình chống Trung Quốc trong dịp tưởng niệm Gạc Ma là « người yêu nước »…

Đó là hiện tượng đặc biệt của báo chí « lề phải » – báo chí nhà nước Việt Nam. Vì trước đây, những thông tin đưa ra từ Ban Tuyên giáo Trung ương và hệ thống Bộ Thông tin Truyền thông, Sở Thông tin các tỉnh thành, ít nhất cũng gọi những người đi biểu tình chống Trung Quốc như vậy là những người « gây rối trật tự ». Hoặc cao hơn nữa là những « bè nhóm phản động », thậm chí quy cho họ cái tội « tuyên truyền chống Nhà nước » hoặc « lật đổ chế độ ».

Nhưng còn lần này tôi không cho là Ban Tuyên giáo Trung ương chủ xướng hoặc bật đèn xanh cho hàng loạt tờ báo Việt Nam lên tiếng gọi thẳng những người đi tưởng niệm Gạc Ma là những « người yêu nước ».

Trong khi đó từ năm 2011 tới giờ báo chí nhà nước hầu như im tiếng. Họ không hùa theo Ban Tuyên giáo Trung ương hay Bộ Thông tin Truyền thông đã là điều tốt rồi, nhưng họ không dám phản đối những chính sách, chủ trương hoặc những từ ngữ áp đặt từ Ban Tuyên giáo của Đảng.

Nhưng lần này, hàng loạt tờ báo lớn từ VnExpress, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi Trẻ…đều lên tiếng. Một số tờ báo dù sao vẫn còn tỏ ra thận trọng. Điều rõ ràng nhất là họ gọi những người đi biểu tình là « người yêu nước », và không đồng tình với số dư luận viên quá khích, kiêu binh kia.

Còn có những tờ báo can đảm hơn, chẳng hạn tờ Giáo dục Việt Nam, coi hành động của số dư luận viên quá khích như vậy là « không thể chấp nhận được ». Và còn đòi hỏi Công an thành phố Hà Nội phải điều tra xác minh cho rõ, để đưa những người này ra tòa án dư luận, nhằm làm rõ việc họ đã phản lại tinh thần dân tộc, bảo vệ chính nghĩa của người dân Việt Nam.

Đó là hiện tượng mà theo tôi lần đầu tiên từ trước đến nay, báo chí quốc doanh và truyền thông xã hội đã có một sự hòa nhịp trong bài ca mang tinh thần dân tộc. Tôi cho rằng điều đó cũng xuất phát từ những điều bất hợp lý, bất cập mà trước Tết nguyên đán năm 2015 chúng ta đã chứng kiến : vụ báo Người Cao Tuổi, một trong số ít những tờ báo được coi là chống tham nhũng mạnh mẽ nhất Việt Nam bị khởi tố, và ông Kim Quốc Hoa (Tổng biên tập) cũng bị khởi tố theo.

Tôi cho là báo chí nhà nước, tinh thần họ luôn luôn có, nhưng họ ở vào một tâm thế không thể mở miệng được. Đến lúc này, cảm thấy mọi việc đã đi quá xa, nhân chuyện ông Trần Đại Quang đi Mỹ, và nhân chuyện ông Nguyễn Đức Chung buộc phải thanh minh về việc Công an Hà Nội không đứng sau nhóm dư luận viên quá khích, báo chí Việt Nam đã đồng loạt lên tiếng. Hiện tượng đặc biệt này là sự giao thoa giữa truyền thông xã hội và báo chí quốc doanh.

RFI : Theo anh, chuyến công du của Bộ trưởng Công an Việt Nam sẽ có những tác động về mặt nhân quyền, và có lẽ cụ thể là trong dịp Đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ sắp tới ?

Đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ được thông tin là vào tháng 5/2015, cũng trùng với thời điểm dự kiến ông Nguyễn Phú Trọng sẽ sang Hoa Kỳ làm việc. Đó là một cái mốc theo tôi là rất quan trọng. Còn liên quan đến hiệu quả giải quyết những vấn đề nhân quyền tồn đọng ở Việt Nam, thường xuyên bị vi phạm ở Việt Nam, có lẽ chúng ta cần nhìn lại lịch sử.

Biểu hiện gần nhất là năm 2014 : tôi muốn nhắc lại chuyến đi của bà Wendy Sherman. Có một điểm trùng hợp giữa năm 2014 và 2015 là hai nữ Thứ trưởng Hoa Kỳ đều đến Hà Nội vào tháng Ba. Thậm chí là vào cùng ngày luôn, tức là ngày 3 và ngày 4, năm 2014 và năm 2015.

Chuyến đi của bà Wendy Sherman, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đến Hà Nội đã giải quyết một vấn đề là sau đó ông Nguyễn Hữu Cầu, cựu đại úy quân lực Việt Nam Cộng Hòa, được coi là « người tù xuyên thế kỷ » khi đã ở nhà tù cộng sản tới 38 năm, được thả vô điều kiện. Và mở đầu cho một chiến dịch thả tới 14 tù nhân lương tâm trong năm 2014 ở Việt Nam. Sau đó chúng ta biết là kể cả những nhân vật nổi tiếng như Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Vi Đức Hồi và cuối cùng là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải cũng đã ra tù.

Tôi cũng cho rằng nếu mà lịch sử lặp lại, thì cũng có hy vọng sau chuyến đi của bà Rose Gottemoeller, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ đến Việt Nam vào tháng 3/2015, và đặc biệt là làm việc với Bộ Công an về nhân quyền ; tiếp theo đó là chuyến làm việc của tướng Trần Đại Quang ở Hoa Kỳ, có thể dẫn tới một chính sách thả người rộng rãi, cởi mở, hoạt náo hơn của chính phủ Việt Nam trong năm 2015.

Tôi cũng có cảm giác – một chút thôi – rằng độ mở ở Việt Nam dường như đang có nét lặp lại những biến động chính trị và thả tù nhân chính trị ở Miến Điện vào khoảng giữa năm cho đến cuối năm 2011. Tôi chỉ dám so sánh tình hình ở Việt Nam với nửa cuối năm 2011 ở Miến Điện mà thôi, vì thời gian đó Tổng thống Thein Sein vừa chấp chính.

Cuối năm 2010 ông đã phóng thích nữ lãnh tụ của đảng đối lập là bà Aung San Suu Kyi, để đến giữa năm 2011 thì Miến Điện bắt đầu thả tù nhân chính trị. Họ thả một lúc tới vài ba chục người chứ không phải là ít. Cho đến năm 2012 thì họ thả đại trà hơn, và làn sóng thả người của Miến Điện chấm dứt vào cuối năm 2013. Có nghĩa là thả toàn bộ các tù nhân chính trị ở Miến Điện !

Tôi cũng thấy rằng ở Việt Nam đang chấp chới, nhập nhoạng một nét nào đó của Miến Điện. Tất nhiên không thể trùng hợp hoàn toàn với Miến Điện, nhưng chúng ta có thể hy vọng rằng trong tình thế khó xử như hiện nay – khó xử về kinh tế, xã hội, chính trị và đặc biệt là mối quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ, thì Hà Nội bắt buộc phải chấp nhận cởi mở hơn. Phải duy trì một độ mở nhất định nào đó, không chỉ là độ mở đối ngoại mà còn là độ mở về nhân quyền.

Trong độ mở nhân quyền thì họ phải tính tới những danh sách mà phía Mỹ đã yêu cầu ròng rã trong nhiều năm qua. Danh sách mà Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và hơn 220 đề nghị của các nước trong Hội đồng Nhân quyền đã yêu cầu Việt Nam, đặc biệt là việc thả tù nhân lương tâm, trong đó có các blogger và giới nhà báo.

Thành thử tôi hy vọng là năm 2015 Nhà nước Việt Nam phải thả và có thể thả tù nhân lương tâm nhiều hơn so với năm 2014. Không những thế, họ còn có thể làm những động tác trả lại quyền tự do đi lại, tự do tôn giáo, kể cả quyền tự do báo chí đối với mọi người dân trong nước, đặc biệt là với các nhà báo.

RFI : Nếu đã có những nhượng bộ về nhân quyền theo như như nhận định của anh, có lẽ đổi lại thì việc gia nhập TPP của Việt Nam sẽ được thuận lợi hơn ?

Về xu thế thì TPP chắc chắn sẽ phải thuận lợi hơn. Có đến 95% hy vọng hoặc hơn thế nữa, là TPP có thể được ký kết ngay trong năm nay, 2015. Và nếu xét theo hệ quy chiếu của tân đại sứ Mỹ Ted Osius, thì trong tháng Ba này, tức thời điểm chúng ta đang bàn luận, có thể chứng kiến một sự kiện nào đó liên quan đến TPP.

Theo thông tin mới nhất mà tôi nhận được, cuộc đàm phán về TPP cấp bộ trưởng ở Hawai, Hoa Kỳ từ ngày 9 tới ngày 15 tháng Ba dường như chưa kết thúc, chưa giải quyết được những vấn đề then chốt. Những vấn đề then chốt đó là gì thì người ta chưa công bố.

Nhưng chúng ta có thể hiểu, một trong những điều kiện tiên quyết mà phía Mỹ đưa ra ròng rã suốt mấy năm vừa rồi. Đó là muốn vào TPP thì Việt Nam phải chấp nhận mô hình công đoàn độc lập và đưa mô hình này vào thực tiễn chứ không phải chỉ trên lý thuyết.

Thứ hai là rào cản kỹ thuật. Hiện nay một số nước trong TPP cũng đang bàn v ấn đề gỡ bỏ những rào cản kỹ thuật, chẳng hạn xuất xứ hàng hóa, nhãn mác, nguồn gốc nhiên liệu, nguyên vật liệu, nguyên tắc « từ sợi trở đi » đối với hàng dệt may của Việt Nam.

Một vấn đề khác cũng rất quan trọng, nếu thiếu thì Việt Nam cũng không thể vào TPP, đó là quyền đàm phán nhanh mà chính phủ Hoa Kỳ đang yêu cầu Quốc hội trao cho.

Nếu những vấn đề chính của TPP được giải quyết trong tháng Ba hoặc tháng Tư năm 2015, thì có hy vọng vào cuối năm nay chính phủ Hoa Kỳ sẽ đệ trình một sắc lệnh đề nghị Quốc hội trao cho quyền đàm phán nhanh. Nếu mọi chuyện thuận lợi thì có hy vọng là trùng với thời điểm Tổng thống Obama dự kiến sang Việt Nam vào tháng 11/2015, vấn đề TPP sẽ được giải quyết xong. Có nghĩa là được ký chính thức, và Việt Nam lúc đó sẽ trở lại như thời kỳ năm 2007, khi được vào Tổ chức Thương mại Thế giới.

RFI : Nếu đúng như dự báo, tháng 5 tới ông Nguyễn Phú Trọng sẽ là Tổng bí thư đầu tiên sang thăm nước Mỹ, và đến tháng 11 Tổng thống Mỹ Obama sẽ sang thăm Việt Nam, không chừng quan hệ Mỹ-Việt sẽ có những bước chuyển mới, hay đây vẫn chỉ là hình thức ?

Không dám chắc là quan hệ Việt-Mỹ sẽ bước hẳn sang một chương mới như thời điểm năm 1995, khi bắt đầu bình thường hóa. Vì có một điểm đặc thù là cả Tổng thống Obama lẫn Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đều đã gần hoàn thành nhiệm kỳ cuối của mình.

Chỉ còn ít tháng nữa thôi, là cả hai người đứng đầu hai nước sẽ kết thúc nhiệm kỳ. Mà như vậy khó thể nói rằng ê-kíp tiếp theo, những người kế thừa ông Trọng và ông Obama sẽ duy trì một đường lối, hoặc ít nhất là hình ảnh giống như những người tiền nhiệm của họ muốn tạo ra. Nhưng ít nhất trong năm 2015 này về mặt quan hệ ngoại giao họ đang cố gắng làm cho hình ảnh kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ trở nên xán lạn và rõ ràng hơn.

Bản thân tôi nghĩ rằng mọi chuyện nếu diễn ra cách đây khoảng sáu, bảy năm, thì tôi sẽ cho đó là chuyện thuần túy hình thức, và Việt Nam vẫn giữ quan điểm bảo thủ của mình tuy vẫn duy trì những động thái bắt tay với Mỹ, với Liên minh Châu Âu.

Nhưng có một điểm khác biệt đối với cách đây sáu, bảy năm. Như chúng ta đã phân tích, đó là vấn đề kinh tế chính trị xã hội nội bộ và kinh tế đối ngoại của Việt Nam hiện nay đã khác rất nhiều trên trường quốc tế. Hiện nay trong nước người ta đang bàn tới việc có nên bỏ cụm từ « định hướng xã hội chủ nghĩa », và « nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa » hay không.

Đây là vấn đề rất lớn, đã đưa ra bàn thảo ở một số Đại hội lần trước. Dự thảo báo cáo Đại hội Đảng lần thứ 12 sắp tới cũng đưa vấn đề này ra. Theo chúng tôi được biết, nội dung này đã được đưa về một số các trường đại học, các cơ sở đào tạo, và thậm chí ngay tại một số ban cán sự đảng đã xuất hiện những ý kiến cho rằng, hóa ra mục tiêu « định hướng xã hội chủ nghĩa » là mục tiêu còn rất xa lạ, chưa thể áp dụng vào Việt Nam. Tốt nhất là tạm gác lại, hoặc là bỏ đi !

Nếu bỏ đi thì cuối cùng chỉ còn lại « nền kinh tế thị trường » mà thôi. Và nếu chuyển đổi hoàn toàn từ « nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa » sang « nền kinh tế thị trường », thì không những Việt Nam sẽ có được quy chế thị trường đầy đủ – ít nhất là lý thuyết, mà còn chuyển sang một mô hình có vẻ hợp thời hơn. Đó là mô hình tư bản chủ nghĩa.

Có nghĩa là không đốt cháy giai đoạn, không "bỏ qua tư bản chủ nghĩa để đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội", mà phải duy trì đất nước này, chế độ này trong một giai đoạn nhất định, là chủ nghĩa tư bản. Dư luận đang tranh luận về vấn đề này.

RFI : Trong bối cảnh chạy đua ráo riết cho Đại hội Đảng lần thứ 12 sắp tới, nội tình Việt Nam dường như cũng rất sôi động ?

Nội bộ của Việt Nam hiện nay rất căng, đặc biệt từ sau sự xuất hiện của blog Chân Dung Quyền Lực vào cuối năm 2014, đầu 2015 ; dẫn đến sự kiện đình đám liên quan tới một người đã khuất là nguyên Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh.

Năm 2015 sẽ là cuộc đấu gay go giữa các ứng cử viên chức vụ Tổng bí thư trong thời gian sắp tới. Tất cả những ứng cử viên đó dĩ nhiên đều muốn tôn tạo hình ảnh của họ trên trường quốc tế. Cũng giống như tình hình ở Ukraina thôi, không có một ứng cử viên nào thắng lợi nếu không có sự ủng hộ của phương Tây.

Tôi cho là ở Việt Nam họ đang buộc phải nghĩ tới việc đó. Và không phải ngẫu nhiên mà ngay sau chuyến đi của ông Quang, kể cả chuyến đi của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Úc và New Zealand – mặc dù chỉ là vấn đề thương mại thôi, và cũng có lên tiếng một cách chung chung rằng cần phải kềm chế ở Biển Đông, là những vấn đề mà Thủ tướng đã nhắc đi nhắc lại một cách nhàm chán ở Việt Nam – còn có một chuyến đi khác mà có vẻ như dư luận không để ý.

Đó là chuyến đi của ông Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tới Miến Điện. Để làm gì ? Ông Nhân đến để gặp gỡ đảng Đoàn kết Liên bang Miến Điện, tức đảng cầm quyền, và lại vào thời điểm Trung Quốc đang đưa quân áp sát biên giới nước này, với cái cớ là máy bay Miến Điện thả bom làm chết từ 4 đến 6 người Trung Quốc.

Nhưng việc ông Nguyễn Thiện Nhân, ủy viên Bộ Chính trị Việt Nam xuất hiện tại Miến Điện vào một thời điểm được coi là nhạy cảm trong quan hệ Miến Điện và Trung Quốc như thế này, có thể được hiểu rằng Việt Nam dường như đang muốn bắt tay với Miến Điện để trở thành một đồng minh trong tương lai. Cũng như một số động thái để kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, mà Việt Nam đã bày tỏ một cách kín đáo với người Philippines.

Đó là những động thái cho thấy năm 2015 sẽ là một năm đặc trưng cho hai xu thế. Một là xu thế đấu tranh phân hóa trong nội bộ và ly tâm chính trị nội bộ ở Việt Nam. Xu thế lớn thứ hai là xu thế đối ngoại và mở cửa, nói thẳng ra là mạnh ai người đó đối ngoại.

RFI : Chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở Saigon đã vui lòng dành thì giờ trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ hôm nay.

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng_Saigon20/03/2015 – Thụy MyNghe

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Đoan Trang : “Cẩm nang” làm việc với CA – dành cho các bạn trẻ trong chiến dịch bảo vệ c ây

Nguồn phamdoantrang

Monday, March 23, 2015

Trong chiến dịch bảo vệ cây xanh ở Hà Nội những ngày qua, chúng tôi được biết là đã có một vài bạn sinh viên bị công an cản trở, sách nhiễu, hoặc lôi về đồn làm việc.

Số trường hợp sinh viên bị làm việc kiểu này chắc sẽ tăng lên trong những ngày tới. Do đó, chúng tôi xin cung cấp cho các bạn bài viết mang tính chất hướng dẫn pháp lý sau đây. Nó chắc chắn chưa đầy đủ để có thể trở thành một cuốn cẩm nang, tuy nhiên, chúng tôi hy vọng nó sẽ giúp các bạn có thêm hiểu biết về pháp luật và cách sử dụng pháp luật để bảo vệ mình.

Bài viết được trình bày dưới dạng câu hỏi và trả lời, dựa trên các nguyên tắc luật pháp phổ quát và “đặc thù” pháp luật Việt Nam.
* * *

1. Công an có thể “mời” bọn mình về đồn không?

Thực ra, hành động cậy số đông, cậy sức mạnh thể chất và cậy thế công vụ để đưa những sinh viên lẻ loi, không mang vũ khí và không có dấu hiệu tội phạm, vào đồn, là “bắt” chứ không phải “mời”, bất kể công an và/hoặc dân phòng gọi đó là gì.

Cho nên, đề nghị các bạn hãy gọi sự vật hiện tượng bằng đúng tên của nó, thay vì tìm cách bóp méo từ ngữ như thói quen lâu nay của tuyên giáo. Đó là bắt, không phải là mời. Còn nếu là mời thì bạn có quyền từ chối.

2. OK, thì gọi là “bắt”. Vậy công an có thể bắt bọn mình về đồn không?

Bắt người là một trong những biện pháp ngăn chặn do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo, hoặc người chưa bị khởi tố nhưng bị bắt khẩn cấp. Mà các bạn thì chẳng ở dạng nào trong số này cả, đúng chưa?

3. Đúng rồi… nhưng “bắt khẩn cấp” là gì, nghe sợ thế? Như kiểu bắt Trang Trần ấy hả?

Ừm, đúng là nếu không hiểu luật pháp thì nghe cụm từ “bắt khẩn cấp” sợ thật. Theo Điều 81 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì có 3 trường hợp công an được phép bắt người khẩn cấp, các bạn thử xem các bạn, hay là o Trang Trần, có thuộc diện nào không nhé?

– Trường hợp thứ nhất: Khi có căn cứ để cho rằng người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thắt ruy-băng lên cây hoặc đi biểu tình mà là tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng hử? Bạn có tự tin về độ nguy hiểm của mình quá không đấy?

– Trường hợp thứ hai: Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đó đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.

Ờ, nếu bạn cho là bằng hành động thắt ruy-băng lên cây hoặc đi biểu tình, bạn đã hại một ai đó, thì có nghĩa là bạn tự cho rằng mình phạm tội. Nhưng kể cả như thế đi nữa thì bạn có định trốn không?

Tuy nhiên, dù sao thì cụm từ “xét thấy cần ngăn chặn” cũng khá mơ hồ. Có khi chúng ta chẳng hề định chạy trốn, nhưng mà cả lô công an vẫn ụp vào bắt, vì họ “xét thấy cần ngăn chặn” chúng ta trốn. Nhưng bạn yên tâm, chỉ có thắt nơ lên cây và đi biểu tình thì bạn chưa đủ độ nguy hiểm để lọt vào diện này đâu.

– Trường hợp thứ ba: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cớ.

Bạn rõ ràng không thuộc trường hợp này rồi nhé.

4. Ôi phức tạp, phức tạp… Thế bắt khẩn cấp thì khác gì bắt thường?

Thì vừa nói đấy: Bắt là biện pháp ngăn chặn, áp dụng đối với bị can, bị cáo, hoặc người chưa bị khởi tố nhưng bị bắt khẩn cấp.

Nghĩa là, bắt khẩn cấp là dành cho người chưa bị khởi tố (không phải bị can, bị cáo), càng chưa bị kết án. Việc bắt khẩn cấp cho phép công an tiến hành bắt ngay lập tức một người nào đó mà chưa cần làm thủ tục bắt người theo trình tự thủ tục do luật định, tức là không cần phải có lệnh bắt do viện kiểm sát phê chuẩn.

Nói vậy chứ bắt khẩn cấp là cần thiết chứ các bạn, trong trường hợp bắt đối tượng bị truy nã hoặc bắt quả tang tội phạm. Lúc ấy, tình thế khẩn cấp như vậy mà đòi hỏi công an phải có lệnh bắt, xin viện kiểm sát phê chuẩn, thì sao mà kịp. Nhưng các bạn (và, nhân tiện, cả Trang Trần) đều không ở diện đó.

5. Công an có thể ép bọn mình phải làm việc với công an không? Nếu bọn mình từ chối, họ lại bảo “chỉ là làm việc bình thường thôi mà, có gì đâu”.

Trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử án hình sự), chẳng có hoạt động nào của công an được gọi là “làm việc” cả. Đấy là họ cứ nói thế để tỏ ra nguy hiểm, để dọa bạn đấy thôi.

Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự thì hoạt động của cơ quan điều tra là khởi tố vụ án và điều tra. Mà bạn chỉ đi buộc nơ lên cây hoặc biểu tình thì làm gì có vụ án nào được khởi tố cơ chứ.

Đó là chưa kể điểm này rất quan trọng: Công an phường, an ninh thường phục không có thẩm quyền khởi tố vụ án và điều tra.

Tóm lại, công an không có cơ sở pháp lý nào để “làm việc” với bạn được.

SV.jpg
Ảnh chụp tại sự kiện Tree Hugs, sáng 22/3, Hà Nội.
Nguồn ảnh: FB 6,700 người vì 6,700 cây xanh.

6. Họ hỏi bọn mình về tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp, gia đình, họ tên cha, họ tên mẹ, địa chỉ và hộ khẩu… Bọn mình có quyền từ chối trả lời không?

Công an hỏi thế là vi phạm nhân quyền quá lắm. Như đã nói ở trên, họ không có cơ sở pháp lý nào để “làm việc” với bạn, cho nên thẩm vấn bạn đã là sai phạm rồi, nói gì đến chuyện hỏi thông tin cá nhân, thông tin đời tư của bạn.

Chưa kể, khi hỏi như thế, công an cũng vi phạm một nguyên tắc căn bản của pháp luật: Ai làm thì người đó tự chịu trách nhiệm, không liên quan đến gia đình. Chỉ có thời phong kiến mới có kiểu một người bị tội thì cả nhà vạ lây thôi. Đấy, bạn cứ nói vậy với công an. Mà này, bạn có thấy khó chịu không, khi “biên bản làm việc”, “biên bản lời khai” lại nêu cả tên bố, mẹ, anh, chị của bạn như thế?

Quên mất một điều nữa: Theo các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền, thì mọi công dân đều có quyền im lặng nữa cơ. Bạn chẳng có nghĩa vụ gì với công an trong quá trình làm việc” của các chú ấy cả, nhất là khi chính công an làm sai.

Quyền im lặng được thể hiện bằng nhiều cách: Bạn có thể chẳng nói gì cả, hoặc đơn giản nói: “Tôi không biết”, “Tôi không có ý kiến”, “Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi này”, “Tôi không có quan điểm gì”, v.v. Bạn chỉ cười cũng là một cách thực thi quyền im lặng rồi đấy.

7. Dán khẩu hiệu, thắt ruy-băng lên cây có vi phạm luật gì không?

Không. Các bạn hãy yên tâm: Việc làm đó của các bạn không vi phạm pháp luật về quản lý hành chính, mà càng không vi phạm pháp luật hình sự.

8. Bên công an và dân phòng bảo bọn mình “làm mất mỹ quan đô thị”…

Luyên thuyên, đáng vả cho mấy cái vào mồm! Chẳng có văn bản pháp luật nào quy định thắt nơ lên cây là phạm pháp hay “làm mất mỹ quan đô thị” cả. Có một số nghị định hơi hơi liên quan đến trật tự đô thị, nhưng chỉ toàn nói về chuyện bán hàng rong, xây nhà trái phép, kinh doanh dịch vụ lấn chiếm lòng đường và hè phố.

Mà cứ giả sử là việc thắt ruy-băng lên cây là làm mất mỹ quan đô thị thật, thì công an hay dân phòng đều không có thẩm quyền xử lý. Thẩm quyền thuộc về cơ quan quản lý đô thị cơ, các chú ạ.

9. Đi tuần hành, biểu tình có vi phạm luật gì không?

Có thể công an sẽ quy kết các bạn “tụ tập đông người trái phép”, vi phạm Nghị định 36/CP. Tuy nhiên, các bạn chú ý này: Nghị định 36/CP vi hiến, vì nó xâm hại quyền tự do hội họp và quyền biểu tình của các bạn, mà quyền ấy đã được quy định tại Điều 25 Hiến pháp Việt Nam sửa đổi năm 2013.

Hoặc cũng có thể, họ buộc tội bạn “gây rối trật tự công cộng”. Thực ra, họ cố đánh đồng hành động biểu tình với hành vi gây rối trật tự công cộng đó thôi, chứ giữa biểu tình và gây rối, có sự khác biệt chứ. Theo nguyên tắc chung, gây rối trật tự được hiểu là sự phá vỡ một trật tự hợp lý ở không gian công cộng, ví dụ bật nhạc nhảy ở nơi đang yên tĩnh như đền, chùa… Nhưng bạn đi tuần hành ôn hòa chứ đâu có hò hét, mở nhạc lớn ở đền, chùa, phải không?

Công an có muốn đè các bạn ra mà xử phạt hành chính, thì cũng phải cung cấp cho bạn biên bản sự việc hay biên bản vi phạm lập tại hiện trường.

Nếu đủ cứng, bạn cứ nói thẳng vào mặt các chú công an: “Cáo buộc mơ hồ, vô căn cứ, muốn bắt lỗi phải có bằng chứng. Tại sao các chú dám nói cháu gây rối trật tự công cộng? Bằng chứng đâu? Biên bản tại hiện trường đâu?”. (Các bạn chú ý là, biên bản lập ngoài hiện trường không có giá trị, bởi lẽ nó không còn tính trung thực, khách quan và trực tiếp nữa).

10. Công an thường bảo bọn mình là “Ai cho phép biểu tình mà biểu tình? Làm gì đã có luật biểu tình?”.

Các bạn đừng quên: Hiến pháp là luật nguồn, là gốc của mọi loại luật khác. Hiến pháp Việt Nam quy định công dân có quyền biểu tình, thì công dân đương nhiên có quyền biểu tình. Các đạo luật được làm ra phải nhằm giúp dân chúng thực hiện quyền biểu tình, phải cụ thể hóa, hiện thực hóa quyền ấy, chứ không phải để ngăn cấm dân dưới chiêu bài “quản lý”.

Chưa có luật biểu tình thì chúng ta cứ theo luật nguồn, luật gốc mà làm, tức là tuân theo Hiến pháp. Bất cứ sự cản phá, bắt bớ nào cũng đều là vi hiến và vi phạm luật hình sự (phạm tội bắt giữ người trái phép).

Ngay cả khi có luật biểu tình rồi, nhưng luật ấy không giúp dân chúng thực hiện quyền biểu tình mà chỉ nhằm hạn chế quyền này của dân, thì tức là luật đã vi hiến và phải bị bác bỏ.

n%C6%A1.jpg
Ảnh: Nguyễn Lân Thắng


11. Khi bị hỏi là ai tổ chức, nếu là mình tổ chức thì có nên nói thật không? Nếu là người khác tổ chức thì có nên nêu tên người đó ra không?

Như đã nói ở trên, về nguyên tắc, các bạn có quyền im lặng, có quyền nói: “Cháu chẳng biết”. Riêng việc công an bắt các bạn về đồn để làm việc đã là sai ngay từ đầu rồi, nên các bạn càng chẳng cần phải hợp tác, cung cấp thông tin gì cho họ. Tốt nhất, nên cương quyết phản đối việc ép cung, mớm cung, dụ dỗ và khiêu khích để bạn phải buột miệng trả lời (kiểu như “thằng cu này hèn thế, dám làm dám nhận chứ, hay là cháu cũng nghĩ việc cháu làm là sai?”).

12. Khi bị hỏi là ai xúi giục, ai cho tiền để làm việc này, mình nên trả lời sao?

Mắng thẳng vào mặt mấy chú công an, nếu bạn cảm thấy họ đang xúc phạm nhân cách và khả năng tư duy độc lập của bạn.

Cương quyết phản đối việc ép cung, mớm cung, dụ dỗ và khiêu khích: “Các chú bỏ cái trò ấy đi nhé, người lớn cả rồi, không phải chơi cái kiểu khích bác ấy”.

13. Công an đưa ra một loạt giấy tờ bắt bọn mình ký la liệt, sợ lắm. Phải làm thế nào?

Các bạn nhớ này: Khi công an đưa cho bạn loại giấy tờ có tên “biên bản lấy lời khai”, bạn từ chối thẳng thừng, không ký. Bạn chẳng phải nghi can, bị can, bị cáo gì mà phải khai báo cả – riêng cái tiêu đề đã thấy xúc phạm rồi.

Chưa kể, “biên bản lấy lời khai” là loại văn bản được sử dụng theo Bộ Luật Tố tụng Hình sự, dùng cho việc điều tra các vụ án hình sự. Trong khi đó, gây rối trật tự công cộng chỉ là lỗi hành chính mà thôi. Chính công an mới đang phạm luật, chứ không phải bạn! Họ thường lôi loại giấy này ra để hăm dọa bạn, khiến bạn lo sợ vướng vòng lao lý mà thành thật khai nhận hết cả.

Nếu công an lập “biên bản làm việc”, bạn cũng có quyền không ký (bên cạnh những quyền như giữ im lặng, hoặc nêu quan điểm phản đối, hoặc thể hiện lập trường rằng bạn không sai, họ mới sai). Bạn còn có quyền buộc họ phải lập thành hai bản, bạn phải được giữ một bản. Nếu công an không đồng ý, bạn từ chối ký.

14. Công an bắt mình viết cam kết đủ thứ, đại loại “tập trung học tập, không đi gây rối nữa”…

Và trước đó, các chú còn tặng cho bạn cả một bài giáo huấn, rao giảng đạo đức dài phải không, haha…

Nhưng sau tất cả những gì được trình bày ở trên thì các bạn đã thấy ai mới là người làm sai pháp luật, rất thiếu hiểu biết về nhân quyền, và cần được giáo huấn rồi chứ?

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Ngô Thị Hồng Lâm: Những món nợ phải trả của ngành Tư pháp Việt Nam

Nguồn boxitvn

22/03/2015

Ngô Thị Hồng Lâm

Biền biệt đằng đẵng xa con sông Thương đã lâu. Nay trở về với một tâm trạng buồn, khi mà người dân quê tôi đang phải sống với bộ luật của đảng độc quyền – một bộ luật “do dân, vì dân” mà không hiểu sao lại cứ giáng xuống đầu dân mọi thứ tai họa trời ơi đất hỡi! Trong khi người thực thi pháp luật là những người cầm cân nảy mực, thì lại cũng chính họ lại là người ung dung ngồi xổm lên trên pháp luật, ung dung ngồi xổm trên đầu dân.

Người đầu tiên tôi đến là thầy giáo Nguyễn Danh Ngọc. Đối diện với tôi là một thanh niên cao, to, khỏe mạnh, điềm đạm. Anh là giáo viên bộ môn thể dục của Trường phổ thông trung học Đồi Ngô, Bắc Gang.

clip_image003

Là một người thầy tâm huyết với nghề, không đồng ý với căn bệnh dối trá, thành tích một cách trầm kha, năm 2012, thầy giáo Nguyển Danh Ngọc đã tổ chức quay clip tố cáo về gian lận trong thi cử, tố cáo về việc cấu xén tiền bảo hiểm và tiền hỗ trợ học sinh nghèo của ngành giáo dục cho các em học sinh trường Đồi Ngô (xem đây).

Cũng như trong một lần thi đấu, Ban Giám hiệu Trường phổ thôngĐồi Ngô đã thuê các vận động viên thể dục về để thi tuyển lấy giải, điều đó cũng gây sốc cho Nguyễn Danh Ngọc. Đạo đức truyền thống của người giáo viên trong anh không thể nào chấp nhận nổi khiến anh phải lên tiếng. Và tất cả những đơn tố cáo ấy của thầy giáo Nguyễn Danh Ngọc đã được báo chí và truyền hình đưa tin. Thế nhưng, cho đến nay chúng vẫn rơi vào “im lặng”!!!

Kết quả thường thấy ở xứ ta đối với những người dám chống lại gian dối và tiêu cực là việc thầy giáo Nguyễn Danh Ngọcđã bị nhà trường phổ thông trung học Đồi Ngô, Bắc Giang, sa thải ngay năm đó. Đặc biệt là sau đó, nơi nào trong tỉnh cũng từ chối nhận thầyvào làm việc.

Thậm chí còn có bọn giả danh côn đồ thường xuyên uy hiếp tấn công thầy giáo Nguyễn Danh Ngọc.

Để kiếm kế mưu sinh thầy giáo Ngọc xin đi làm công nhân tại Nhật. Nhưng rồi việc xuất cảnh của thầy cũng đã bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Đối với một con người không thỏa hiệp với một nền giáo dục dối trá thì bộ máy chuyên chế đã lập tức buông ngay xuống quanh người đó cả một mạng lưới vô hình. Đi đến đâu anh cũng không thoát khỏi cái mạng bùng nhùng vây bủa này.

Xin hỏi: bao giờ những người có thẩm quyền ở Bắc Giang mới trả lại sự công bằng cho thầy giáo Nguyễn Danh Ngọc???

Người thứ hai tôi gặp là ông Nguyễn Thanh Chấn ở thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Tìm vào ngôi nhà của ông, nơi đây đã từng là tổ ấm của một gia đình hạnh phúc. Giờ đây trước mắt tôi là một ngôi nhà xập xệ, cũ kĩ, ẩm mốc… lâu ngày không có bàn tay chăm chút sửa sang của người đàn ông.

clip_image005

Chỉ gặp một cháu trai con ông đang xay thóc cho khách hàng. Cháu cho biết: mẹ cháu bị tâm thần đi nằm bệnh viện. Hậu quả do sự kéo dài của những ngày khổ công đi kêu oan cho bố khắp nơi. Còn bố cháu đang đi xin cây chuối ở trong làng về cho heo ăn. Mấy con heo con thả rông, thấy có người lạ thì thi nhau chạy trốn.

clip_image007

Con chó mẹ thấy có người lạ cũng tha từng con giấu vào trong bếp. Chúng tôi đang chờ thì ông Chấn chở một cây chuối to về tới.

clip_image009

Thoạt gặp người lạ, một phản xạ hoảng loạn vô thức xuất hiện ngay trong ông mà tôi nắm bắt được. Lúc đó trông ông như một người không còn hồn vía. Tôi chạy nhanh ra cùng đỡ cây chuối ra khỏi xe cho ông và giới thiệu về tôi, để ông yên tâm.

clip_image011

Ông bắt đầu kể cho chúng tôi nghe về cái ngày đen tối ập xuống với ông, kéo theo sự sụp đổ tan hoang về danh dự cũng như vật chất cho người vợ, cho mẹ già (là vợ của một liệt sĩ) và những đứa con còn rất nhỏ không thể thiếu đi sự chăm sóc của ông – người đàn ông duy nhất và là người cha của các con. Còn ông thì tuổi trẻ bị “bọn thảo khấu” cảnh sát điều tra Bắc Giang vùi dập man rợ trong nhà tù của trại giam Kế ở Bắc Giang.

clip_image013

clip_image015

Trước khi bị bắt nhà ông là con liệt sĩ, một nhà có kinh tế khá giả trong làng. – có một hiệu bán tạp hóa ở chợ và lắp đặt điện thoại công cộng cho dân trong làng đến gọi, cùng một cỗ xe ngựa để chở hàng thuê và một chiếc máy xay xát gạo ăn công; trong chuồng khi nào cũng có một đàn lợn hơn mười con. Bỗng nhiên ông bị công an tình nghi gọi lên điều tra về vụ chị Hoan bị giết trong đêm. Tài sản đội nón ra đi, con cái thất học, gia đình thì tan tác.

Ông kể tiếp trong nước mắt với gương mặt vẫn không giấu được sự hoảng loạn đuổi theo dòng hồi ức: “Họ còng tay tôi lên song sắt cửa sổ, rồi họ đặt ghế lên chân tôi, họ ngồi hỏi cung tôi nhiều giờ liền. Tôi trả lời tôi không giết chị Hoan! Thì họ dùng tay tát, chán rồi họ lấy dép Lào quật vào mang tai và đấm đá. Họ hù dọa sẽ chích thuốc lú, v.v. Họ thay nhau tra hỏi tôi suốt 24 giờ trong nhiều ngày liền, không cho nghỉ. Khi bị họ đánh lên đầu, tôi giơ tay đỡ, thì chân họ đi giày, họ đá vào tay, khiến tay tôi bị gãy và thành tật tới bây giờ. Họ nhốt tôi vào nhiều phòng giam cho đầu gấu làm nhục. Chúng bắt tôi hát, đang hát thì bắt phải khóc, đang khóc thì bắt phải cười. Một phòng có một thằng “đại bàng” hung ác nhất trong những phòng tôi bị nhốt. Nó tụt quần bắt tôi quỳ xuống chơi trò “thổi kèn” bỉ ổi!

Vì không chịu nổi đòn tra tấn của họ, nên tôi phải nhận đã giết chị Hoan để sớm thành án cho tôi được đi tù, thoát khỏi cảnh hỏi cung tra tấn dã man. Tôi là con người bằng da, bằng thịt chứ đâu phải sắt thép. Tôi liên tục kêu oan. Nhưng đơn kêu oan của tôi đều bị bác bỏ.

Đến đây ông đưa tôi xem quyết định Tái thẩm của Tòa án tối cao ngày 9/11/2014: tuyên hủy hai bản án hình sự của hai cấp tòa Bắc Giang xét xử oan sai với ông.

Ông kể tiếp: “Kể từ ngày tôi bị bắt, các con tôi đi học thì bị bạn bè nguyền rủa và phải bỏ học. Mẹ tôi thì bị dân làng xỉ mắng. Đứa con trai lấy vợ, sinh được hai đứa cháu thì cũng vì áp lực dư luận, nên vợ nó đã ly hôn. Vợ tôi cùng gia đình thì liên tục đi gõ cửa kêu oan cho tôi khắp nơi, dẫn đến kiệt sức và chuyển sang thần kinh nặng, nay phải nằm viện. Tài sản thì đội nón ra đi”.

Sự việc oan sai của ông Chấn đã rõ, đã kỷ luật Giám đốc và Phó Giám đốc Công an tỉnh Bắc Giang, cho nghỉ sớm (đó là Đại tá Phạm Văn Minh và Đại tá Nguyễn Văn Dư). Khởi tố, bắt tạm giam ông Trần Nhật Luật (nguyên Thượng tá, Phó công an huyện Việt Yên, Bắc Giang) và ông Đặng Thế Vinh (nguyên Trưởng phòng 10, Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Bắc Giang) để điều tra về hành vi cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án. Thẩm phán Phạm Tuấn Chiêm bị khởi tố với tội danh: “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã ban hành. Thế nhưng những cơ quan có trách nhiệm thi hành việc bồi thường lại đặt ra những yêu cầu rất thiếu “thiện chí” mà những tội ác của các cơ quan tố tụng đã gây ra với gia đình ông Chấn: “người tù oan phải chứng minh được tổn thất tinh thần bằng những chứng từ”.

Câu hỏi được đặt ra là, trước khi vào tù ông Chấn là một người đàn ông khỏe mạnh, không bệnh tật. Ở trong tù ông Chấn từng bị cán bộ điều tra ép cung, đánh đấm, đá, tát, hậu quả để lại là gãy một cánh tay nay đã thành tật, hai lỗ tai nay đã nghễnh ngãng. Sức lao động bị suy giảm nghiêm trọng. Ông Chấn bị cảnh sát điều tra dẫn đi nhốt bốn phòng trong ngày cho “đại bàng” trong trại giam bắt hát, bắt khóc, bắt cười, làm nhục. Bốn đứa con ông Chấn phải bỏ học. Mẹ già một quả phụ vợ liệt sĩ không ai chăm sóc. Con trai thì bị vợ ruồng rẫy vì có cha là hung thủ “giết người” đã bỏ và ly hôn.

Còn chứng từ nào cụ thể hơn những chuyện sờ sờ như thế nữa. Mà điều tra để thu thập những chứng từ ấy thì đó đâu còn là việc của ông Chấn. Nó trước hết phải là việc của các cơ quan pháp luật muốn thực sự trả lại sự công bằng cho ông Chấn chứ! Sao lại “thọc gậy xuống nước” mặc kệ ông Chấn trong hoạn do chính mình gây ra với một sự bắt buộc kỳ lạ là “ông Chấn phải tự mình tìm ra chứng từ” cho mình?

Gây ra những hậu quả đau lòng này cho ông Chấn, nào có ai khác là công an điều tra Bắc Giang!!!

Vậy công an điều tra Bắc Giang có dám dũng cảm chứng thực sự thực này cho ông Chấn không???

Phải đâu ông Chấn tự cạy cửa trại giam Kế để vào đó ngồi tù? Để rồi nay ông Chấn tự sinh sự… ăn vạ Tòa???

Thế thì, một lôgic đơn giản là cần phải đưa ông Chấn đi giám định thương tật và sức khỏe để sớm bồi thường thỏa đáng cho gia đình ông Chấn. Nếu không, dù có bắt bớ người này người kia, cho nghỉ hưu sớm quan này quan nọ, thì dư luận dân chúng vẫn “đóng đinh” lên cái đầu chuyên chế không chỉ của ngành tư pháp Bắc Giang mà của cả một đất nước vốn nhìn vào đâu người ta vẫn cảm nhận được sự hiển hiện vô hình của hai chữ “chuyên chế” làm cho ai cũng khiếp hãi ấy.

Thiết nghĩ, những tổn thất đau đớn về thể xác cũng như vật chất của gia đình ông Chấn liệu 10 tỉ đồng bồi thường của Tòa với ông Chấn liệu có lấy lại được sự bình yên cho gia đình ông khi ông bị tù oan sai 10 năm trời???

Qua sự việc này chúng tôi có điều tra thêm một số việc ít nhiều có liên quan, và bỗng cảm thấy có điều gì kỳ lạ, hình như luật nhân quả là chuyện có thật trên đời.

– Ông Nguyễn Hữu Tâm, cảnh sát điều tra tỉnh Bắc Giang, sau cuộc hỏi cung ép cung ông Chấn, trên đường từ cơ quan về nhà đã đâm vào ô tô chết bất đắc kì tử!

– Ông Thân Văn Sắc, là công an xã Nghĩa Trung, sau vụ việc đẩy ông Chấn vào tù, bị ung thư vòm họng và chết sau đó!

– Ông Hoàng Văn Vui, Phó thôn Me, sau khi ông Chấn đi tù cũng bị ung thư gan và chết!

– Ông Nguyễn Minh Năng, Chủ tọa phiên tòa xử sơ thẩm ông Chấn, ngay hôm sau phải đi viện cấp cứu!

Phải chăng trên cao kia, Ông Xanh vẫn còn có mắt? Tất nhiên đấy chỉ là một chuyện mơ hồ, chẳng ai dám tin là thật, nhưng trong một tình trạng xã hội nhập nhoạng như hiện nay thì nghĩ về một đấng Cao Xanh có lẽ cũng là cách duy nhất để giữ được không gục ngã cho rất nhiều, rất nhiều con người bé cổ thấp họng hiện đang sống trên mảnh đất gọi là Việt Nam.

Người thứ ba tôi đến là chị Đỗ Thị Hằng trú tại số 21, tổ 12 phường Mỹ Độ, Bắc Giang. Chị nguyên là một giáo viên dạy toán và có năm con nhỏ. Vào thời kỳ kinh tế khó khăn 1980, chị xin nghỉ dạy để chạy chợ nhằm có thêm thu nhập trong việc nuôi các con.

Nhưng từ khi chuyển sang chạy chợ chị đã bị kẻ xấu lừa bán sang Trung Quốc hai lần (lần thứ hai là do người đàn ông tên Ngọ lừa bán chị). Nhưng vì chị đã biết tiếng Trung, nên trong một lần công an Trung Quốc đến kiểm tra, chị tố cáo và công an Trung Quốc đã đưa chị về lại Việt Nam.

Khi bán được chị Hằng trót lọt, bọn buôn người (tên Ngọ) lại tiếp tục tìm cách lừa bán một chị tên Liễu qua Trung Quốc. Khi chúng đưa chị Liễu sang đến biên giới, chúng để chị Liễu ở nhà một người cũng tên Hằng để chờ mối lái đến ngã giá bán tiếp.

Sau này việc làm của Ngọ bị bại lộ. Ngọ bị công an Bắc Giang bắt. Ngọ nghĩ rằng chị Hằng sẽ không thể trở về Việt Nam được nữa, nên Ngọ đã khai đồng bọn là chị Đỗ Thị Hằng ở Mỹ Độ, Bắc Giang cộng tác với Ngọ để bán chị Liễu sang Trung Quốc. Cho nên khi chị Hằng vừa thoát được khỏi tay bọn Tú Bà trở về Mỹ Độ, Bắc Giang, chị liền bị công an Bắc Giang bắt giam với tội danh “buôn bán phụ nữ qua biên giới”. Trước đó trong giao dịch dân sự, chị Hằng có vay mượn tiền của anh Phương và bà Mỹ. Mặc dù anh Phương và bà Mỹ không có đơn kiện chị Hằng, Thế nhưng công an điều tra Bắc Giang cũng đưa việc vay mượn dân sự này của chị Hằng cấu thành tội danh “lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” mà người bị hại lại không có đơn khởi kiện đương sự!!! Thời gian này thì Ngọ đã chết trong trại giam. Nên việc minh oan cho chị Hằng là mò kim đáy bể.

Trong thời gian tạm giam để lấy lời khai, chị Hằng cho biết đã bị công an tát và chị bị rụng liền một chiếc răng. Bằng nhiều thủ đoạn dụ dỗ khác, họ dụ chị Hằng khai nhận để cho ra tại ngoại, họ đưa tờ giấy trắng bảo chị ký lúc tranh tối tranh sáng; vì nhẹ dạ chị đã ký vào một tờ giấy khống để rồi họ phù phép biến thành tờ khai nhận tội của chị và oan nghiệt ập xuống đầu với chị từ đó.

Phiên tòa hình sự xử sơ thẩm chị ngày 24/3/1998, một phiên tòa mà người nắm pháp luật đã vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Không có luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo và phiên tòa cũng không có người bị hại nào tham dự phiên tòa. Thế nhưng phiên tòa vẫn xử và tuyên án chị Hằng tổng hợp hình phạt tù cho hai tội danh là 5 năm 6 tháng. Vào 24/ 3/2002, do cải tạo tốt nên chị được giảm 12 tháng.

Sau khi chị Hằng thụ án xong thì bất ngờ chị Liễu trở về từ Trung Quốc. Chị Liễu xác nhận: chị Hằng không phải là người chủ nhà mà Ngọ đã gửi chị Liễu để bán cho đàn ông Trung Quốc. Và chị Liễu cũng không hề quen biết chị Hằng.

Từ xác nhận của nhân chứng là chị Liễu với các cơ quan công an, công việc điều tra đã được tiến hành và ngày 19/8/2014 Tòa án Tối cao đã mở phiên xét xử Giám đốc thẩm, tuyên hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xét xử lại từ đầu.

Từ đó đến nay tiếp xúc với nhân chứng, cảnh sát điều tra Bắc Giang Đoàn Văn Canh đã gọi chị Liễu ra uống cà phê nhiều lần và dọa nạt chị Liễu bắt phải nói là “trong chuyến xe đưa chị Liễu sang Trung Quốc có chị Hằng ngồi ở hàng ghế sau”. Thông tin này đã được chị Liễu tố giác, bị chị Hằng phản đối, nên nay đã phải thay một cảnh sát điều tra khác!

Các báo Người lao động, ĐS &PL, Phụ nữ VN đã viết và đề cập nhiều lần về chuyện “tù oan” của chị Hằng. Nhưng cho đến nay câu chuyện oan trái nhiều năm vẫn chưa có hồi kết! Dễ đã hơn cả thời gian lưu lạc của nàng Kiều.

Những bản án “oan” cho chị Hằng và gia đình chị Hằng đã đưa đến hậu quả đẩy một gia đình có năm đứa trẻ đang tuổi lớn cần có sự kèm cặp, dạy dỗ của người mẹ, thành ra cầu bơ cầu bất, trong khi người cha của các cháu vì phẫn uất với nỗi oan ức của vợ đã lao đầu xuống ao tự tử. Không chỉ thế. Điều đau lòng không tránh được còn kế tiếp xảy ra: ba đứa trong số năm đứa con của chị Hằng dính vào pháp luật.

Những nỗi đau cùng tột trên đây ai trả cho ông Chấn? Ai trả cho chị Hằng và gia đình của chị? Và cán cân công bằng khi nào mới đến với thầy giáo Nguyễn Danh Ngọc? Khi mà dưới gầm trời này, bất kỳ đâu, từ lâu rồi vẫn hầm hập một không khí “công an trị” lan tỏa khắp Nam cùng Bắc? Khi mà đến đâu trong các dinh thự to lớn của các loại công sở từ huyện lên tỉnh, lên đến trung ương, người ta cũng chỉ gặp rặt những khuôn mặt giống nhau, những khuôn mặt hoàn toàn lạnh lùng vô cảm, mà muốn tìm ở đó một chút tia sáng của lòng nhân thì thực là hiếm như tìm một giọt nước trên sa mạc – nếu như trong túi mình không nghe thấy, ngửi thấy, rổn rảng tiếng kêu cũng như mùi tanh của… hơi đồng ?

N.T.H.L.

Tác giả gửi BVN.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment