Đến đã đủ lâu! Giờ cũng sẵn sàng để… ra đi! (… về với Chúa)

– Phổ biến thông tin đa chiều, và lên tiếng vì những bất công xã hội là việc làm cần thiết và đúng đắn. – Tự do thông tin là bước khởi đầu để có được dân chủ thực sự, giúp đưa đất nước đi lên và thoát khỏi khốn khó đói nghèo.

– Đừng lầm lẫn giữa : thứ tha những lỗi lầm đã qua, với việc nuôi dưỡng những sai phạm đang diễn ra để chúng cứ tiếp tục tồn tại và trầm trọng hơn nữa! – Đó là ác chứ không phải ái!

– Đừng để bị nhập nhằng giữa “Đất Nước, Tổ Quốc” với đảng cầm quyền! “Đất Nước, Tổ Quốc” là mãi mãi, còn đảng cầm quyền chỉ là nhất thời!

Theo dõi các links tin từ twitter, được cập nhật thường xuyên ở cột phải

Posted in khề khà | Tagged , | 1 Comment

Trần Huỳnh Duy Thức : Thay đổi và cơ hội (Thư 39B)

Nguồn tranfami

Posted on 17/05/2015 by Admin

39B-Cover

Xuyên Mộc, 15/3/2015

Xin chào cô sinh viên Trần Lê Bảo Trâm xinh đẹp ,

Hì hì, con gái có giật mình, phổng mũi hôn? Ba còn định chào “bà chủ tịch Hội sinh viên quốc tế SFU” nữa kìa, nhưng mà nghe “ngầu” quá nên thôi. Năm ngoái, có lần ông nội lên thăm ba và thông báo con đã được bầu vào chức vụ trên mà lắc đầu luôn. Ông nội nói: “Nó có máu lãnh đạo giống con”. Ba thấy con còn giống ba nhiều thứ nữa, cái này chắc mẹ rõ nhất. Hai bên nội, ngoại đều rất tự hào về con.

Còn đúng nửa tháng nữa là sinh nhật 21 của con rồi. Mấy hôm rồi ba làm thơ tặng cho con. Ba đã làm xong một bài rất dài từ cảm xúc khi ba đọc thư con viết: “Giấc mơ Mỹ không nhất thiết phải thành hiện thực ở Mỹ” và “trái tim con không thuộc nơi đó”. Con gái biết không, cảm xúc ấy dâng trào và theo ba mãi tới hôm nay vẫn chưa hết. Bài thơ tặng SN21 của con lần này chỉ là một phần của cảm xúc đó. Ba sẽ tiếp tục thể hiện nó thành nhiều bài thơ khác. Đó là những điều quý giá mà con đã mang đến cho ba. Ba vốn xem mọi thứ nhẹ tơn. Đọc thư con ba thấy càng nhẹ hơn nữa. Con hiểu vì sao không? Những điều ý nghĩa nhất, giá trị nhất không nằm ở những thứ phù phiếm, hình thức, không phụ thuộc vào những không gian bị câu thúc hay rộng mở, không bị quyết định bởi nghịch cảnh. Trước khi ba xa nhà, điều ba quan tâm nhất là hai con, lúc đó chưa đầy 14 và 15 tuổi. Biến cố xảy đến sớm hơn những gì ba dự định khiến kế hoạch chuẩn bị cho mẹ và hai con đều dang dở và bất thành. Vào tù ba không trăn trở nhiều về Con đường mình đang đi vì ba đã có dự liệu khá rõ ràng và biết mình sẽ bước tiếp như thế nào. Điều làm ba lo lắng và thức trắng nhiều đêm là sẽ hướng dẫn cho hai con như thế nào trong một bối cảnh mà ba biết chắc chắn sẽ xa gia đình một thời gian dài. Mẹ cho tụi con tình yêu, sự che chở, tránh cho hai đứa những cú sốc tâm lý và dạy cho tụi con đức hạnh. Nhưng hai con đang và sẽ phải sống trong một thế giới toàn cầu hóa, sẽ chứng kiến một giai đoạn lịch sử bước ngoặt của đất nước mà nếu không được chuẩn bị tốt kỹ năng và tầm nhìn trong giai đoạn cấp 3 và đại học thì sẽ khó mà nắm bắt được những cơ hội tốt. Dù ba mẹ đã cố gắng cho tụi con được hưởng nền giáo dục tốt nhưng ba rất hiểu rằng có nhiều điều quan trọng không thể học từ nhà trường. Chưa kể tầm quan trọng của sự gần gũi cha-con mà sự xa cách về không gian có thể làm cho ảnh hưởng của người cha với con mình giảm đi một cách rất tự nhiên, sự hạn chế về thông tin, liên lạc trong tù là một thách thức khiến hều hết những người tù có ý định dạy con đều phải bỏ cuộc. Nhưng ba đã tận dụng tất cả những gì có được, thời gian và hai lần gửi thư một tháng, để duy trì sự liên hệ và chia sẻ với tụi con những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Thật sự ba chưa bao giờ rảnh cả. Ba mà nói với các chú, các bác trong tù rằng ba luôn phải sắp xếp thời gian thì họ gần như không thể hiểu được vì sao trong tù mà lại thiếu thời gian . Có những đêm ba thức trắng để viết mà không thấy mệt. Chính sự tiến bộ theo thời gian của hai đứa là động lực cho ba. Tụi con vượt qua được từng chặng đường thách thức ngày một tự tin hơn. Ba luôn tin rằng tụi con sẽ làm được. Nhưng đọc thư Trâm vừa rồi ba vẫn bất ngờ vì con đã đi được rất xa so với lứa tuổi của mình, so với cả những gì mà ba nghĩ. Ba vui lắm vì thấy được thành quả ấy có phần từ nỗ lực của mình. Ba tin chắc rồi Quân cũng sẽ làm được như thế. Cuộc đời con người có gì ý nghĩa hơn, giá trị hơn là nhìn thấy con trưởng thành. Với ba nó còn hơn thế nữa vì ba làm được điều này và vẫn tiếp tục được sứ mệnh của mình, không phải đánh đổi . Một chút thiệt thòi bản thân chẳng là gì cả. ý nghĩa của cuộc đời không nằm ở danh lợi, nhất là khi những thứ này đạt được trong một hoàn cảnh phải đạp lên người khác để có. Hưởng lợi là bản chất của con người nhưng danh lợi chỉ mang đến ý nghĩa cho ta khi chúng là kết quả của sự cống hiến ta đạt được lợi ích cho mình thông qua việc tạo nên lợi ích cho cộng đồng. Đầu tiên cộng đồng ấy là gia đình và sẽ lớn dần, lớn dần thành xã hội cùng với sự trưởng thành về trí tuệ, tình yêu và bản lĩnh của mình. Đây là tiến trình tự nhiên, hợp quy luật, không mênh mang và chông chênh với những đối tượng nghe thì to tát nhưng sáo rỗng, không có nền tảng từng bước. Ba thấy được Trâm đã phát triển theo tiến trình này và có sự hòa quyện cân bằng giữa con tim và khối óc. Quân cũng sẽ như thế. Không vui sao được phải hôn?

THDT'sFamily2

“Cuộc đời con người có gì ý nghĩa hơn, giá trị hơn là nhìn thấy con trưởng thành. Với ba nó còn hơn thế nữa vì ba làm được điều này và vẫn tiếp tục được sứ mệnh của mình, không phải đánh đổi . Một chút thiệt thòi bản thân chẳng là gì cả “

Cơ hội nào sẽ xuất hiện ?

17/3/2015

Như ba hứa trong thư 38A, bây giờ ba viết về những cơ hội và thách thức liên quan đến những công việc có thể được mở ra ở VN và thế giới trong xu hướngcủa Dòng chảy sắp tới.

Về kinh tế, ba tin rằng trong vòng 15 năm tới VN sẽ thành nước có tỷ trọng dịch vụ chi phối, công nghiệp hàng hóa sẽ co lại đáng kể, nông nghiệp cũng sẽ giảm mạnh về tỉ trọng nhưng sẽ tăng về quy mô và mức độ hiện đại và sẽ đóng góp vào những ngành chiến lược chủ lực của quốc gia. Từ 10 năm trước ba đã thấy rằng VN không có thế mạnh gì để cạnh tranh vươn lên trong thị trường hàng hóa công nghiệp toàn cầu, ngay cả tại thị trường nội địa thì lĩnh vực này cũng thiếu sức cạnh tranh nghiêm trọng. Mong muốn bảo hộ để nó vươn lên và vươn ra thế giới đã không thành hiện thực. Thực trạng hiện nay của nền sản xuất công nghiệp VN là khó mà trụ được khi các rào cản bảo hộ buộc phải dỡ bỏ trong vài năm tới bởi cộng đồng kinh tế ASEAN, Hiệp định thương mại tự do VN – EU, TPP, … Một làn sóng ào ạt mà con sẽ chứng kiến trong 1 – 2 năm tới là các doanh nghiệp sản xuất của VN sẽ được bán cho các công ty nước ngoài, đặc biệt là từ Mỹ. Kinh tế Mỹ đã phục hồi và đang mạnh lên, USD đang lên giá chóng mặt. Chắc chắn FED sẽ nâng thêm lãi suất trong thời gian tới để hút dòng vốn về Mỹ. Từ đây các doanh nghiệp Mỹ sẽ dùng vốn ấy để tăng mạnh đầu tư ra ngoài, nhất là vào các nước thuộc TPP. VN chắc chắn sẽ là điểm đổ bộ tập trung của làn sóng đầu tư này của Mỹ vào các thành viên TPP. Khi đồng bạc xanh tăng giá thì xuất khẩu trực tiếp từ lãnh thổ Mỹ sẽ bị ảnh hưởng theo chiều giảm nhưng nhập khẩu sẽ tăng. Các doanh nghiệp Mỹ tất nhiên sẽ tận dụng cơ hội này, đầu tư vào TPP để làm hàng hóa rồi bán ngược trở lại Mỹ. Hơn nữa, trụ cột của nền kinh tế Mỹ là tiêu dùng nội địa nên đây sẽ là cơ hội bùng phát nhu cầu mạnh mẽ ở Mỹ. Điều này sẽ tạo sức hút cho cả TQ và AĐ (Ấn Độ) gia tăng sản xuất hàng hóa xuất khẩu vào Mỹ. Ba tin rằng chiến lược “Là công xưởng của thế giới” của TQ tới đây sẽ gặp thách thức ghê gớm từ chiến lược “Hãy sản xuất tại AĐ” của AĐ. Trong xu thế tốc độ tăng trưởng của TQ đang giảm còn của AĐ thì tăng, sẽ có một sự chuyển dịch đáng kể dòng vốn FDI, thay vì chảy vào TQ thì sẽ đổ vào AĐ để làm hàng xuất khẩu vào Mỹ và thế giới. Sự dịch chuyển này cũng do nguyên nhân từ quan hệ Mỹ – AĐ đang ấm lên còn Mỹ – TQ thì không có gì tiến triển đặc biệt. Điều đáng lưu ý là sự cạnh tranh này của AĐ và TQ sẽ càng gây áp lực và khó khăn lên lĩnh vực công nghiệp hàng hóa của VN. So sánh lợi thế cạnh tranh thì VN sẽ thua xa cả hai đối thủ này. Chỉ có những doanh nghiệp nước ngoài tại VN trong lĩnh vực này mới duy trì được lợi thế nhờ các mối liên kết với thế mạnh sẵn có của họ từ bên ngoài. Tuy nhiên giá trị gia tăng mà quốc gia được hưởng từ các loại doanh nghiệp này sẽ không cao vì họ luôn có khuynh hướng giữ lại lợi nhuận bên ngoài (mà gần đây trong nước mình hay gọi là sự chuyển giá). Các nhà máy kiểu như của Coca Cola, Samsung dù là quy mô rất lớn và tạo nên nhiều việc làm nhưng sẽ không đóng góp được gì cho sự đột phá phát triển của VN. Còn các doanh nghiệp trong nước làm chủ nếu có tồn tại được trong lĩnh vực sản xuất thì cũng chủ yếu là gia công hoặc cung cấp các sản phẩm phụ trợ rẻ tiền nên giá trị gia tăng chẳng khá gì hơn. Xét trên bình diện toàn cầu lẫn trong nước, ba không thấy được khả năng đột phá gì cho đất nước từ công nghiệp hàng hóa. Tuy nhiên nó vẫn sẽ là ngành có sự phát triển mạnh mẽ trong 1- năm tới nhưng sẽ là sân chơi chủ yếu của các doanh nghiệp nước ngoài. Nó sẽ tạo ra nhiều cơ hội công việc, nhất là liên quan đến đầu tư.

Đã qua rồi nên kinh tế Nông - Công nghiệp và dịch vụ. Thời đại ngày nay là thời đại của nền kinh tế tri thức

Đã qua rồi nên kinh tế Nông – Công nghiệp và dịch vụ. Thời đại ngày nay là thời đại của nền kinh tế tri thức

Ba lại thấy khả năng đột phá của lĩnh vực dịch vụ là rất lớn và có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh vượt trội nếu tập trung vào đặc tính kinh tế tri thức. Con nhìn vào sự bức phá thần kỳ của Viettel trong thời gian ngắn vừa qua, đó là một minh chứng thuyết phục cho năng lực của người Việt về dịch vụ kinh tế tri thức trong một môi trường cạnh tranh gay gắt cả trong nước lẫn quốc tế. Nhu cầu về dịch vụ trong nước lẫn thế giới hết sức đa dạng và liên tục tăng cao. Các hãng như Apple, Nike thực chất là doanh nghiệp dịch vụ chứ không phải hàng hóa. Giá trị của họ là ở khâu thiết kế, tiếp thị, làm thương hiệu, … chứ không nằm ở dây chuyền sản xuất, lắp ráp mà hầy hết là họ thuê ngoài (out – source) ra các nước có nhân công và tài nguyên rẻ. Kinh doanh như vậy chính là làm kinh tế tri thức. Ngay cả các hãng sản xuất hàng tiêu dùng đại trà như P & G, Uniliver, họ đâu có chú trọng sản xuất. Sản xuất dây chuyền chỉ là một công đoạn nhỏ ít giá trị nên họ thiết lập các nhà máy tại chính các thị trường địa phương để tận dụng chính sách ưu đãi, nhân công rẻ và giảm chi phí vận chuyển. Một trong những dịch vụ vượt trội của họ là mua lại các sản phẩm đã có chỗ đứng tại các nước rồi gia tăng giá trị cho nó bằng cách gắn thêm thương hiệu toàn cầu của họ. Thực chất họ cũng là các doanh nghiệp dịch vụ mà giá trị lớn nhất được tạo ra từ tri thức. Trong môi trường kinh doanh được cải cách mạnh mẽ về kinh tế và chính trị sắp tới, ba cho rằng người Việt sẽ tìm thấy lợi thế trong lĩnh vực dịch vụ và sẽ tập trung mạnh vào đó. Nếu VN có thêm được chiến lược quốc gia đúng đắn nữa thì dịch vụ sẽ bùng nổ và sẽ trở thành ngành kinh tế chủ lực của đất nước, mang hàm lượng tri thức cao, trong khoảng 15 năm tới. Một mũi nhọn mà chiến lược này cần đột phá là năng lượng xanh nói riêng và tăng trưởng xanh nói chung. Như ba đã viết cho ông nội trong các thư 32A, 37A, đây cũng chính là mũi đột phá trong chiến lược xoay trục của Mỹ vào Châu Á TBD. Với sự hợp tác của Mỹ, VN hoàn toàn có thể trở thành người tiên phong trong lĩnh vực này. Nó chính là một trào lưu cần phải có của Dòng chảy Thời đại Kinh tế tri thức, đang lớn dần và đẩy kinh tế công nghiệp của thế giới từ từ vào dĩ vãng. Sau khoảng 10 năm nữa, sự dịch chuyển này sẽ rất mạnh mẽ, kéo theo những cơ hội công việc có thể giúp mình bức phá ngoạn mục. Tuy nhiên, đây là những cơ hội đòi hỏi phải theo đuồi dài hơi nên vẫn cần có ngắn nuôi dài. Thương mại, đầu tư trong công nghiệp hàng hóa là những cái ngắn rất tốt.

39B_Phat-trien-nong-nghiem

Nông nghiệp chỉ có thể phát triển mạnh khi có sự thay đổi lớn về quan điểm sở hữu đất đai, chính sách hạn điền và sự ưu tiên đầu tư hạ tầng nông nghiệp.

Thiếu quan tâm nông nghiệp là một sai lầm trong thời gian qua vì chủ trương ưu tiên cho công nghiệp. Gần đây chính phủ đã nhận ra tầm quan trọng của nông nghiệp và có sự quan tâm. Nhưng ba nghĩ ngành này chỉ có thể phát triển mạnh khi có sự thay đổi lớn về quan điểm sở hữu đất đai, chính sách hạn điền và sự ưu tiên đầu tư hạ tầng nông nghiệp. Ba cũng cho rằng những điều này sẽ đạt được sự tích cực trong cuộc cải cách thể chế kinh tế, chính trị đang và sẽ diễn ra quyết liệt sắp tới. Khi ấy thì nông nghiệp mới có thể thu hút được sự đầu tư về tiền vốn, công nghệ và chất xám để tái cấu trúc lại toàn bộ cách thức sản xuất nông nghiệp một cách quy mô và hiện đại. Nếu nông nghiệp VN không biến đổi tốt thì cũng không thể có được nguồn dịch vụ và công nghiệp phát triển tốt được. Vì tới hiện nay vẫn còn khoảng 70% dân số sống ở nông thôn và phụ thuộc vào những công việc về nông nghiệp, nếu lực lượng này không tăng được thu nhập lên đủ đề đầu tư vào giáo dục cho con cái thì đất nước mình sẽ không lấy đâu ra nguồn nhân lực chất lượng cho dịch vụ và công nghiệp. Số công nhân từ nông dân trên những vùng đất được biến thành nhà máy, khu công nghiệp trong thời gian qua không có sự chuyển đồi gì về chất cả. Họ cũng tiếp tục làm những công việc giản đơn không đòi hỏi có tri thức. Vì thế mà sự chuyển dịch kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp vừa qua chưa tạo ra được sự thay đồi gì đáng kể về hiệu suất lao động, làm sự tăng trưởng quốc gia chưa bền vững. Do đó chiến lược quốc gia phải đột phá vào nông nghiệp trước tiên. Từ đầu năm 2014 đến nay, ông Thủ tướng VN có nhiều phát biểu đúng đắn về nông nghiệp, vấn đề chắc phải còn chờ tháo gỡ các nút thắt cổ chai thì mới có thể thực hiện được các quan điểm đó. Nhưng đây là việc bất buộc, nếu không làm được thì cả nền kinh tế của VN sẽ vẫn kém chất lượng, hiệu suất thấp và giá trị gia tăng không đủ trả cho sự hủy hoại môi trường. Nên ba tin rằng nó sẽ được đột phá thành công đầu tiên trong cuộc chuyển mình tới đây của đất nước, giống như người Nhật đã tập trung hiện đại hóa nông nghiệp trong 10 năm đầu tiên của cuộc Minh Trị Duy Tân dẫn đến cuộc chuyển mình vĩ đại của họ giữa thế kỷ 19. Con người luôn là yếu tố quyết định. Nguồn nhân lực của một quốc gia mà không có chất lượng, có tri thức thì quốc gia ấy không thể phát triển tốt đẹp được cho dù nó có một nhóm lãnh đạo tinh hoa đi nữa. Rất nhiều người học hành giỏi giang nhưng vẫn mắc sai lầm cho rằng kiến thức của mình sẽ dễ dàng truyền đạt hoặc áp đặt xuống cho mọi người nếu mình nắm quyền lực. Nói gì thì nói, có thực mới vực được đạo, gia đình nông dân phải giàu có, ít ra là khá giả lên thì con cái họ mới được học hành tử tế. Không thể chỉ tự hào và trông chờ vào những trường hợp hiếm hoi nhà nghèo hiếu học để tin rằng nguồn nhân lực VN sẽ có tri thức. Mấy ngàn năm rồi chúng ta không thiếu những tấm gương như vậy, nhiều người trong đó đỗ đạt làm quan, trở thành những người nổi tiếng nhưng đất nước mình vẫn nghèo và lạc hậu, bị trải qua những thời kỳ nô lệ đen tối. Hàng triệu người thì mới có được một, hai người, làm sao mà đủ sức thay đổi được số phận cả một dân tộc. Con đồng ý hôn? Ba không nhìn thấy được cách nào khác để phát triển được nguổn nhân lực có tri thức cho VN bước nhanh và chắc vào nền kinh tế tri thức ngoài cách đột phá mạnh mẽ vào nông nghiệp cả. Người nông dân VN rất cần cù và chịu khó, chỉ cần gặp được những điều kiện đúng đắn thì họ sẽ bứt phá cho mà thấy, các ngành công nghiệp gia công chẳng là gì với họ đâu. Nhưng lâu nay họ không được tạo những điều kiện như thế, những nguồn đầu tư quốc gia được tập trung chủ yếu cho hạ tầng công nghiệp mà lại không tạo ra được giá trị cao. Ba tin rằng sự ưu tiên này sẽ thay đổi, tập trung vào cho nông nghiệp trong 10 năm tới. Việc này sẽ tạo nên những cơ hội công việc về thương mại, đầu tư hấp dẫn.

Nhìn chung, Dòng chảy Thời đại sẽ thúc ép những cải cách mạnh mẽ về kinh tế lẫn chính trị và sẽ dẫn đến một giai đoạn đột phá kinh tế mạnh mẽ chỉ trong một vài năm nữa. Nó sẽ dẫn đến sự dịch chuyển sâu sắc (dramatic shift) cấu trúc kinh tế VN và tạo ra rất nhiều cơ hội, hơn hẳn giai đoạn đổi mới gần 30 năm qua. Thực ra giai đoạn này chỉ mới là một sự tập dượt, chưa thể gọi là một sự đột phá đúng nghĩa. Ba dám nói rằng VN bây giờ, một là đột phá, hai là sụp đổ, chứ không có chuyện trùng trình đâu. Đương nhiên chẳng ai muốn lựa chọn khả năng thứ hai trừ khi không nhìn thấy. Nhưng ba tin là người dân đã thấy được và đang đòi hỏi cuộc Đổi mới sắp tới phải đột phá toàn diện. Những người có trách nhiệm, giới tri thức và chính giới cũng đã thấy rõ và biết phải làm gì. Cựu Thỉ tướng Anh Tony Blair trong chuyến thăm VN khoảng 10 ngày trước đã phát biểu rằng không có cuộc cải cách nào mà không gặp phải sự kháng cự quyết liệt. Con hãy tìm đọc các tài liệu về thời cải cách của bà đầm thép Thatcher từ 1979 để thấy sự chống đối những xu hướng đổi mới ở Anh ghê gớm như thế nào. Đây là những kiến thức rất hữu ích cho con và công việc của con sắp tới. Nước Anh trải qua mấy thập kỷ khủng hoảng và trì trệ vì sai lầm trong việc lựa chọn đường lối phát triển. Bà Thatcher đã thành công đưa nước Anh vào một con đường mà sau đó đã dẫn tới những thành tựu rực rỡ. Thế nhưng lúc ban đầu, bà bị chống đối và cả chống phá dữ dội, không chỉ từ các đảng đối lập mà từ chính trong nội bộ đảng Bảo thủ của bà, từ những người đã từng là bạn bè thân hữu của mình. Lúc đó ít ai nghĩ một phụ nữ xinh đẹp như Thatcher có thể vượt qua được. Vậy mà bà đã thành công ngoài sức tưởng tượng . Thành tựu của bà là một cuộc cải cách toàn diện về chính trị lẫn kinh tế cùng với các mặt văn hóa, giáo dục, … VN mình tới đây muốn thành công thì cũng phải cải cách như vậy thôi. Hôm qua (17/3/15) tại Sydney, ông Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu rằng: VN sẽ cải cách toàn diện về thế chế kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền để bảo đảm và phát huy mạnh mẽ quyền tự do về kinh tế lẫn chính trị để tạo động lực phát triển nhanh cho nền kinh tế VN. Sau kỳ Đại hội XII đầu năm 2016 này của ĐCS, con sẽ thấy xu thế này nổi lên mạnh về chính trị.

19/3

Con cũng sẽ chứng kiến những sự thay đổi chưa từng có tại VN. Nhưng như ba đã viết nhiều lần, đó là một sự thay đổi về nội dung chứ không phải hình thức – một cuộc cải cách thực chất. Giống như cuộc Duy Tân Minh Trị ở Nhật hay các cuộc cải cách ở Anh, hình thức chế độ chính trị của họ chẳng mấy thay đổi nhưng thực chất nền dân chủ của xã hội đã biến đổi sâu sắc dựa trên nền tảng QCN. Đó sẽ là một sự thay đổi bằng Dòng chảy để cuốn mọi thứ theo quy luật, nhờ vậy mà tích hợp và cộng hưởng được năng lượng trên Dòng chảy để bồi đấp phù sa cho phát triển chứ không phải là sự phun trào năng lượng tích chứa để hủy diệt rồi chật vật từ đống tro bụi, cuối cùng lặp lại bình mới rượu cũ. Đây là những con đường của Ai Cập, của Ucraina chứ không phải con đường của VN mình.

Con đường VN là con đường khoa học, không hận thù, là con đường của Dòng chảy của Thời đại – Thời đại kinh tế tri thức hay Thời đại QCN chỉ là một mà thôi. Như thư 37A ba viết. VN đã đặt những bước chân đầu tiên vào con đường này, phần còn lại sẽ chảy theo quy luật thôi, không thể đảo ngược được. Dọc trên Dòng chảy là gì và sẽ dẫn đến đâu thì ba đã viết rất nhiều trong các thư trước rồi, cần thì con tìm đọc lại nha. Ba cũng đã thấy những con người sẽ làm nên lịch sử, lịch sử của một cuộc chuyền mình vĩ đại đã xuất hiện vào đúng thời khắc lịch sử. Như ba vừa viết trong thư 39A về một quy luật từ Thuyết tiến hóa Darwin: khát vọng ngàn năm được lưu giữ và lưu truyền bằng bản năng người qua bao thế hệ, đợi gặp đúng điều kiện thì bản năng ấy sẽ trỗi dậy mạnh mẽ và biến thành sức mạnh của ý thức để hoàn thành khát vọng. Ba hiểu rõ quy luật ấy nên biết được điều kiện đó là gì và thúc đẩy nó để góp phần hiện thực hóa khát vọng Rồng Tiên của dân tộc như phát biểu sứ mệnh ba đã viết trong thư 29A. Cái gì cũng tồn tại theo quy luật, không phải ngẫu nhiên mà dân tộc ta có tên Lạc Hồng (nghĩa là Dòng chảy Khoa học) và có huyền sử Rồng Tiên lưu truyền hơn 4000 năm. Đó là khát vọng đã tồn tại ngần ấy thời gian bất chấp những giai đoạn tăm tối bị vùi lấp kéo dài hàng trăm, hàng ngàn năm. Khát vọng ấy đã và luôn hiện hữu trong bản năng của bất kỳ ai mang dòng máu Lạc Hồng. Cho dù có nhiều lúc họ phải bằng cách này hoặc cách khác vì bản năng sinh tồn, nhưng bản năng Rồng Tiên vẫn luôn túc trực và sẵn sàng trỗi dậy bất kỳ lúc nào hội đủ điều kiện. Thời điểm ấy chính là thời khác lịch sử mà ba vừa đề cập. Rồi con sẽ thấy sẽ có rất nhiều, rất nhiều người xuất hiện với cùng một sứ mệnh để đóng góp vào thời khác ấy – chính là sự hội tụ của những dòng năng lượng cùng tần số, cả trong lẫn ngoài nước. Vì vậy sự xuất hiện của những người làm nên lịch sử là tất nhiên thôi, tự nhiên theo quy luật. Họ sẽ lập nên công trạng to lớn được lịch sử ghi danh. “To everything there is a season and a time to every purpose under the heaven” – Một câu trong Kinh Thánh mà ba rất thích và tin: “Cái gì cũng có một mùa và một khoảng thời gian tương ứng với mục đích của nó dưới trần gian”. Mọi sự tồn tại đều có nguyên cớ của nó, vì vậy mà Đạo Ki – tô hướng người ta đến tương lai và bỏ lại đằng sau sự hận thù. Đạo Phật cũng vậy, oán thù sẽ gieo tiếp oán thù nên mãi không bao giờ dứt được, nên khuyên người ta cần chấm dứt nó bằng lòng vị tha để sống trọn với hiện tại và đừng bao giờ ngoảnh lại quá khứ mà tự thiêu đốt chính mình. Rồi con sẽ thấy, tại bước ngoặc lịch sử này của đất nước, những người đến từ những quá khứ khác nhau sẽ cùng nhau làm nên lịch sử của hiện tại và tương lai ngời sáng. Thách thức lớn nhất hiện nay cho công cuộc này là đòi hỏi sự hiểu biết để thiết kế một lộ trình để mọi nguồn năng lượng khác nhau sẽ tuôn trào vào Dòng chảy với một lưu lượng thích hợp và để chuyển hóa các năng lượng tích chứa từ hận thù, không phun trào thiêu đốt mà thành những nguồn năng lượng hòa hợp để xây dựng. Cái này rất khó nhưng đều có thể làm được nếu hiểu biết quy luật và tôn trọng sự khác biệt.

Dấu hiệu tích cực

Gần đây ba nhận thấy một số dấu hiệu tích cực. Trong các bài báo trên Nhân Dân hay phóng sự trên VTV nói về ngày 30/4 không còn dùng các từ ngụy quyền Sài Gòn, ngụy quân tay sai như các năm trước nữa, thay vào đó là Chính quyền Sài Gòn, quân đội VNCH. Thư36A ba đã nhận định rằng ĐCSVN đang chuyển dần mục tiêu từ độc tôn lãnh đạo sang cầm quyền vững mạnh. Xu hướng này đang ngày càng rõ ràng và là hệ quả tất yếu của việc tôn trọng QCN. Đảng cầm quyền (ruling party) thì phải chấp nhận cạnh tranh, phải thuyết phục người dân để duy trì sự cầm quyền nhằm phục vụ nhân dân, qua đó đạt được lợi ích chính đáng cho mình. Đảng lãnh đạo (leading party), cách thức này sắp kết thúc vai trò của lịch sử của nó tương ứng với mục đích tồn tại của nó đối với một giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước. Lịch sử sẽ sang một trang mới của một phương thức mới, không phủ định ai cả, mà sẽ trao cơ hội công bằng cho tất cả. Ba đoán từ 2016 trở đi sẽ có những cuộc tổng tuyền cử tự do. Với sự chủ động thay đồi như vậy, ĐCSVN sẽ duy trì được lợi thế để thúc đẩy xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Như ba đã viết nhiều lần, định hướng này cũng tương tự như định hướng dân chủ xã hội (tên ban đầu là xã hội chủ nghĩa dân chủ) rất phổ biến và thành công ở nhiều nước Bắc Âu như Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển, … Đây là những nước có mức độ tôn trọng QCN đứng đầu thế giới, vì vậy mà thu nhập bình quân đầu người cũng hàng đầu thế giới. Đường lối dân chủ xã hội có nguồn gốc từ chủ nghĩa Mác và được thực hiện bằng những cuộc cải cách dựa trên nền tảng QCN để thay đổi thực chất nền dân chủ của xã hội. Đường lối này luôn tránh xa các cuộc cách mạng bằng bạo lực, lật đổ mà thật ra chỉ là sự thay đổi hình thức của chế độ chính trị, rồi “mèo vẫn hoàn mèo”. Do đó con thấy các nước Bắc Âu nói trên đều giữ nguyên hình thức quân chủ lập hiến từ xưa đến nay, nhưng thực chất của xã hội thì thay đổi và phát triển nhanh chóng, thuộc hàng văn minh nhất thế giới. Các đảng Dân chủ Xã hội (có nguồn gốc từ trường phái Mac – xít xã hội chủ nghĩa dân chủ) cầm quyền gần như liên tục sau Thế chiến II đến giờ nên đã thúc đầy thành công định hướng xã hội theo đường lối dân chủ xã hội ở các nước này. Đó là cách thức cầm quyền để thực hiện thành công một lý tưởng, một định hướng xã hội nào đó của một chính đảng. Thành công vì nó thuận theo các quy luật phát triển như kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền. Gắn tên của định hướng xã hội vào các quy luật này chẳng giúp gì cho việc hoàn thành định hướng ấy cho xã hội.

Lúc nãy xem thời sự 19h trên VTV, lần đầu tiên ba nghe ông CTN Trương Tấn Sang nhắc đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền mà không gắn thêm vào từ xã hội chủ nghĩa. Vài tháng gần đây ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng thường xuyên đề cập việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, chứ không phải là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tại buổi họp Chính phủ cuối tháng 2/2015, ông ấy còn giải thích rất chính xác là: nền kinh tế thị trường là trước tiên phải tuân thủ quy luật kinh tế thị trường, còn định hướng xã hội chủ nghĩa là định hướng của xã hội. Nhận thức của các ông ấy rất đúng đắn và quý giá. Đó là những chỉ dấu cho thấy những cuộc cải cách về chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, … Sắp tới đây sẽ theo hướng thực chất, tôn trọng quy luật phát triển, cho nên phải tôn trọng và bảo vệ trên hết QCN – nền tảng của mọi quy luật phát triển như ba đã phân tích nhiều lần. Cho nên ba tin rằng cuộc Đổi mới tới đây sẽ là một sự thay đổi rất sinh động và tốt đẹp nền chính trị VN. Đó là cách thay đổi tốt đẹp nhất. Sẽ có người cho là ba quá lạc quan. Nhưng niềm tin của ba không chỉ dựa trên tích tất yếu của quy luật, mà còn dựa vào những dự cảm đặc biệt. Ba biết rằng con thường đồng cảm với ba mà, phải hôn ?

22/03/2015

Chiến lược ngoại giao của VN cũng sẽ thay đổi rất tích cực.

Đây có lẽ là điều con quan tâm nhất phải hôn, vì liên quan đến ngành học của con. Thực ra chiến lược này đã bắt đầu thay đổi rồi, 1-2 năm tới thì con sẽ thấy được sự biến đổi trên bề mặt của nó tạo ra những hiệu ứng xứng tầm toàn cầu. Nó đang trong giai đoạn chuyển đổi về chất. Ngoại trưởng Phạm Bình Minh từ cuối năm ngoái đã nhiều lần tuyên bố rằng VN sẽ chuyển từ tích cực hợp tác và hội nhập quốc tế sang chủ động dùng ngoại giao can dự để tạo lợi thế và lợi ích quốc gia. Điều này cũng có nghĩa rằng VN sẽ chấp nhận ngoại giao can dự như một cách chơi đương nhiên trên sân chơi chung – tức là chuẩn mực và luật pháp quốc tế. Con hãy đọc kỹ lại thư 34A, ba đã phân tích rõ về chính sách ngoại giao can dự, so sánh với chính sách ngoại giao chống can thiệp đã không còn phù hợp của ASEAN. Thế giới toàn cầu hóa ngày càng liên thuộc (inter-dependent) và tiến nhanh đến các cộng đồng, các liên hiệp quốc gia rộng lớn. Không chấp nhận ngoại giao can thiệp cũng đồng nghĩa với việc tự cô lập mình, bị bỏ lại hoang đảo trong khi chuyến tàu của thời đại đang tiến nhanh trên Dòng chảy mới. Rất hay là ngành ngoại giao VN đã sáng suốt và kịp thời bắt được chuyến tàu vận hội đó. Quan sát con sẽ thấy sự dịch chuyển chiến lược ngoại giao của VN tới đây như ba nói rõ ràng hơn. Tại chuyến thăm Úc và New Zealand của Thủ tướng VN từ 17/10/2015 cũng đã thể hiện xu thế ngoại giao này. VN hoan nghênh sự can dự sâu rộng hơn của hai nước này vào vấn đề Biển Đông và Châu Á TBD nói chung nhằm bảo đảm cho an ninh, hòa bình và thịnh vượng của khu vực, và tất nhiên nhằm tăng cường sức mạnh phòng vệ của VN trước sự đe dọa ngày càng tăng từ TQ. Đồng thời VN cũng sẽ tham gia mạnh mẽ hơn vào các hoạt động thuộc sứ mạng gìn giữ hòa bình của LHQ, chính là sự can dự của VN vào các vấn đề quốc tế. Ba đánh giá rất cao các bước đi này. Nó vừa tạo ra chính nghĩa, vừa tạo ra cái cớ chính đáng để Úc và New Zealand hợp tác và hỗ trợ VN tăng cường năng lực quốc phòng. Sắp tới nhiều nước khác cũng sẽ làm tương tự cới VN như Nhật. Các phát biểu chính thức của ông Dũng tại chuyến công du trên cũng không nhắc tới cụm từ “không can thiệp nội bộ” Khi nói về sự phát triển quan hệ hợp tác song phương và đa phương. Ngày 15/3/2015 Bộ trưởng công an VN đến Mỹ và hội đàm với phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á và Chấu Á TBD. Phía VN hoan nghênh chiến lược xoay trục của Mỹ vào khu vực này vì hòa bình và thịnh vượng trên cơ sở tôn trọng Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị. Cũng không đề cập đến “không can thiệp công việc nội bộ” như trước đây nữa. Bước chuyển này của ngoại giao VN sẽ dẫn đến nhiều thay đổi tích cực về kinh tế, chính trị của nước mình chỉ trong 1 – 2 năm tới thôi. Cục diện khu vực và thế giới cũng sẽ thay đổi sâu sắc bởi chính sách can dự mạnh mẽ của Mỹ vào Châu Á TBD mà con sẽ thấy trọng tâm của nó là VN. Tháng 11 năm ngoái Obama đã tuyên bố rằng đang tìm kiếm những cơ hội để hợp tác và can dự sâu rộng hơn với VN khi nói về tiến trình xoay trục.

23/3

Một điều quan trọng mà ba phải nhấn mạnh lại một lần nữa với con và tất cả các con cháu là: một quốc gia có tốt đẹp được hay không là do nội lực của nó quyết định, chứ không phải do ngoại lực. Nội lực thông minh sẽ làm cho ngoại lực phục vụ cho lợi ích quốc gia và hạn chế những tác động tiêu cực. Sự thông minh đó là biết tạc ra sự hợp lực để hai bên cùng thắng, không tạo nên sự đối kháng. Một nguy cơ về nhận thức ba thấy phổ biến ở nhiều nước tương tự VN mình là nhiều người chỉ biết trông chờ vào ngoại lực, nghĩ ngoại lực đương nhiên sẽ mang đến những điều tốt đẹp. Từ đó họ đồng nghĩa Mỹ là luôn tốt. Đây là nguồn gốc tai họa nhất của sự lệ thuộc dẫn đến sự chậm tiến. Chỉ có mình mới có thể làm cho mình tốt đẹp, ngay cả trong phạm vi một gia đình. Cha mẹ không thể làm cho con cái tốt, khỏe nếu chúng không tự biết chăm lo cho mình. Cha mẹ chỉ có thể là người hỗ trợ. Nhiều người không hiểu nên làm thay mọi việc cho con, kể cả cho chúng thật nhiều tiền, cuối cùng biến chúng thành những kẻ lệ thuộc và hư hỏng. Trong gia đình còn vậy, đừng nói đến quốc gia và toàn cầu. Người thông minh sẽ biết cách sử dụng năng lượng của người khác. Người giỏi nhất là biết cách làm như thế tốt nhất để tạo nên lợi ích cho mình và cho những người trao năng lượng cho mình. Đây là một chủ đề mà ba sẽ viết cho các con cháu. Ba còn nợ nhiều đề tài quá, hì hì.

Có một loại công việc mà ba nghĩ con có thể thích trong giai đoạn khởi sự mới ra trường. Đó là ngoại giao kinh tế. Nhưng đây là công việc kinh doanh chứ không phải việc ngoại giao của các chính phủ để hỗ trợ phát triển kinh tế. Ở VN đã có Văn phòng Tony Blair (T.B Office – TBO) chính là hoạt động về ngoại giao kinh tế. Thực chất là họ cung cấp các dịch vụ vận động, tư vấn chính sách đầu tư, thương mại ở tầm vĩ mô. Loại hình này đang rất cần và sẽ phát triển mạnh ở VN trong 1 – 2 năm tới để phục vục cho một sự hội nhập sâu rộng của VN với thế giới theo xu hướng của Dòng chảy. Hình như bà Charlence Barkskerfy (có thể ba viết không chính xác tên) – nguyên Đại diện thương mại Mỹ cũng đã thiết lập hoạt động này tại VN để hỗ trợ cho Chính phủ Mỹ và các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào VN sắp tới. Con hãy từ từ tìm hiểu mô hình kinh doanh này nhe. Nó có thể tạo cho con những cơ hội việc làm rất hay đó. Dịp khác ba sẽ viết thêm về nó.

24/3

Sau khi viết cho con thì cách đây vài ngày FED đã công bố sẽ tăng lãi suất USD rồi. Thời sự TV lúc nãy cũng bảo AĐ đang cạnh tranh quyết liệt với TQ về sản xuất chế tạo. ADB dự báo tốc độ GDP AĐ năm nay sẽ vượt TQ. Còn chỉ số sản xuất chế tạo của TQ rơi xuống thấp nhất 11 tháng qua. Ngày 20/3 tại NZ, ông Dũng cũng kêu gọi doanh nghiệp nước này đầu tư vào nông nghiệp VN và cam kết sẽ tháo các nút thắt và tập trung đầu tư vào hạ tầng nông nghiệp. Hè hè. Cô Hai bảo ba là nhà tiên tri nhưng ba chẳng thích nó tí nào, hì hì.

Con có một ước mơ

Từ trong tim

Từ dòng sữa mẹ

Từ những dòng thơ ba thao thức quê hương,

Từ những dòng đời còn nhiều trăn trở

Và những dòng sông còn chưa ra biển cả.

Ước mơ Việt Nam giữa trái tim bé nhỏ

Giữa miền đất hứa bao la

Chứa chan bao kỷ niệm giảng đường,

Giữa những cuộc đời trải rộng

Và những giấc mơ Mỹ của bao người.

Nhưng ba ơi !

Trái tim con không thuộc về nơi ấy

Con là cô gái Việt của mẹ, ba

Của em thơ luôn chờ con trò chuyện

Của con đường ba đã mở trầy vai

Và của những khát khao vọng về từ ngàn năm nguồn cội.

Ba có một giấc mơ

Con bước đi trên Con đường rộng mở

Bay lên giữa bầu trời tự do

Lướt nhanh trên những dòng sông đều vươn ra biển lớn.

Giữa đất trời bao la

Cây cỏ ngát xanh

Hoa lá vươn mình che chở những giọt sương mong manh

Nắng ban mai như thầm hiểu

Nép mình qua các răng mây lững thững, đồng tình.

Những giọt sương bé nhỏ

Lăn tăn giữa muôn sắc màu thân thiện

Không còn sợ, cố vương mình đón từng tia nắng ấm

Và gửi mình vào không khí dịu thơm

Hẹn đêm lại về, tíu tít với muôn hoa.

Những chú hoàng yến xinh xinh

Lanh lảnh vang vọng khắp núi rừng

Hát cho cây cỏ, cho mùa xuân và những hạt sương li ti

Cho những gì chim yêu và thích

Bằng lời ca mình thích và yêu

Không còn những chiếc lồng cao sang quyền quý

Và những cánh diều hâu giấu mình sau những tán cây xanh.

Ngày đó không xa

Ngày con về trên Con đường Việt Nam

Tung tăng với hành trang nhẹ gánh

Trao quê hương tình yêu và sức trẻ

Treo mẹ hiền những hạt dẻ Lọ Lem

Cho khát vọng không còn là cổ tích

Cho Việt Nam hóa thành giấc mơ Mỹ

Cho ước mơ cất cánh cuộc đời con –

Cô gái phương Đông đẹp rạng ngời.

25/3

Chúc mừng sinh nhật 21 con gái cưng. Quà tăng cho con đó, chắc là con sẽ thích. Tuổi 21 tươi đẹp và đầy mộng mơ. Hãy biến ước mơ thành hiện thực con nhá! Ba chúc con luôn xinh đẹp, có đầy đủ sức khỏe, trí tuệ và nhiệt huyết để một ngày không xa những dòng thơ trên sẽ đi vào cuộc đời tươi sáng của con, của gia đình và của đất nước. Ba, mẹ, em và đại gia đình yêu con thật nhiều. Con cũng sẽ nhận những món quà khác bất ngờ từ ba đó. Hôn con 21 cái. Đêm sinh nhật, tiệc mừng với bạn bè thì uống cho ba một ly nhen.

TB: Bé Quân đừng có cười tác phẩm hội họa này nghen, hì hì. Hôn con gái nhỏ và mẹ

Posted in chính trị, dân chủ, kinh tế, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến : Chuyện Ba Sàm & Bản Cáo Trạng Của V.K.S.N.D

Nguồn rfablogWed, 05/20/2015 – 06:58 — tuongnangtien

Tôi thấy chính sách thông tin như hiện nay, ta chỉ từ thua đến thua.

Nguyễn Công Khế

Cái gì chớ sách sử là tui né, và né tới cùng. Đọc chán thấy mẹ!

Né của nào, Trời trao của đó. Khi khổng khi không (cái) chị Trương Anh Thụy, người phụ trách nhà xuất bản Cành Nam, gửi cho một thùng sách to đùng. Nó nặng đến độ mà con mẹ đưa thư phải ôm bằng cả hai tay, chân đá cửa rầm rầm, vừa đá vừa lầu bầu văng tục chửi thề tá lả.

Tôi thì hớn hở tưởng rằng (dám) có người gửi cho thùng rượu. Thiệt là tưởng bở, và tưởng năng thối!

Mở ra (ôi thôi) ngoài mấy cuốn Những Lời Trăng Trối, vừa tái bản, của Trần Đức Thảo là “nguyên” một bộ sách (Nhìn Lại Sử Việt) của Lê Mạnh Hùng. Cả bộ dám gần chục cuốn, cuốn nào cũng khoảng 500 – 300 trăm trang. Ngó mà thiếu điều muốn … xỉu!

Và hình như tôi cũng đã ngất đi một lúc khá lâu vì đang bị cúm nên hơi mệt. Mở mắt ra, người ngợm rã rời, chả thiết bò dậy nữa. Tôi bật TV nằm xem cho đến khi chán rồi vớ đại một cuốn đọc chơi, và tin chắc rằng – chỉ vài phút thôi – là mình sẽ tiếp tục ngủ luôn cho tới mốt.

Vậy mà tôi đọc một mạch gần hết tập IV, tập viết về “Nhà Nguyễn Gia Miêu: Từ Gia Long Đến Cách Mạng 19/8.” Theo lời giới thiệu của NXB thì bộ thông sử Việt Nam của Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng “vừa cập nhật vừa đạt những tiêu chuẩn gắt gao nhất của sử học hiện đại.”

Bà nội mẹ tui cũng không biết “tiêu chuẩn gắt gao nhất của sử học hiện đại” nó “gắt gao” ra sao (và “gắt” tới cỡ nào lận) nhưng viết sử mà thứ thường dân vớ vẩn như tui đọc cũng thấy hấp dẫn là “hay” quá xá rồi.

Ông Lê Mạnh Hùng không cường điệu, không khoe khoang kiến thức, rất ít tư kiến, và hoàn toàn không có cái vụ … bình lọan hay bình sảng! Lâu lâu, ổng mới bình thản “chêm” thêm một câu ngăn ngắn rất thâm trầm và rất đáng đồng tiền bát gạo.

Riêng ở chương 17, tiểu mục 17.2 – viết về “Các đảng phái chính trị tiền phong của giai đoạn mới (1923-1927) – Lê Mạnh Hùng ghi nhận một số những sự kiện rất thú vị, xin được tóm lược:

"Trong lúc những người lưu vong bên ngoài tìm một con đường mới cho cách mạng Việt Nam qua Tâm Tâm Xã thì bên trong nước cũng xuất hiện một số đảng phái chính trị xã hội trong nước.

Đảng chính trị đầu tiên là Đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu. Đảng này có thể được coi như là đại biểu của tầng lớp đại địa chủ Pháp hóa tại miền Nam. Mục tiêu chính của Đảng này không phải là giành độc lập cho Việt Nam mà có tính cách khiêm tốn hơn: đó là đấu tranh để chính quyền Pháp phải cải cách đường lối cai trị, ban hành một số quyền tự do dân chủ và đôi xử với người Việt ngang hàng như đối với người Pháp…

Sau Đảng Lập Hiến, một số đảng khác cũng xuất hiện. Khác với Đảng Lập Hiến, các đảng sau này phần lớn có mục tiêu đấu tranh giành độc lập cho đất nước chứ không phải chỉ đòi thêm quyền lợi cho người Việt…

Đảng đầu tiên thành lập có tính cách chính trị là Việt Nam Nghĩa Đoàn mà sáng lập viên bao gồm một số những người hoạt động tích cực lúc bấy giờ như Nguyễn Văn Phùng, Tôn Quang Phiệt, Đặng Thái Mai, Phạm Thiều, Nguyễn Quốc Túy, Trần Thiệu Ngũ, Nguyễn Văn Ngọc v.v…

Sau Việt Nam Nghĩa Đoàn là Hội Phục Việt được thành lập từ những người hoạt động cũ trong phong trào Duy Tân bị bắt và nhốt chung với nhau trong nhà tù Côn Đảo…

Cũng trong giai đoạn này tại Hà Nội, Nam Đồng Thư Xã xuất hiện. Được thành lập cuối năm 1925 bởi một nhóm giáo viên và tiểu thương trong đó quan trọng nhất là Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm em của ông Phạm Hoàng Trân (tức Nhượng Tống),Nam Đồng Thư Xã có mục tiêu vừa thương mãi vừa chính trị…

Trong lúc Hội Phục Việt và Nam Đồng Thư Xã hoạt động ở Bắc và Trung Kỳ thì ở Nam Kỳ nhóm Jeune Annam hay đảng Thanh Niên được thành lập vào năm 1926. Khác với tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ nơi mà sự đàn áp của Pháp và Nam Triều gay gắt hơn, tại Nam Kỳ vì là một thuộc địa các quyền tự do có được bảo đảm hơn thành ra đảng thanh niên này có thể hoạt động một cách công khai mặc dầu không được chính quyền công nhận… (Lê Mạnh Hùng. Nhìn Lại Sử Việt. Vol. 4. Arlington, VA: Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2013. 5 vols.).

Chèng ơi! Sao đất nước còn bị đô hộ mà hội đoàn, đảng phái xuất hiện công khai, và tùm lum (khắp nơi) vậy cà? Thảo nào mà ông Nguyễn Chí Thiện, đã có lúc, phải la làng:

Ôi, thằng Tây mà trước kia người dân không tiếc máu xương đánh đuổi
Nay họ xót xa luyến tiếc vô chừng
Nhờ vuốt nanh của lũ thú rừng
Mà bàn tay tên cai trị thực dân hóa ra êm ả!

Sống với “lũ thú rừng” thì miễn có vụ hội đoàn và đảng phái, đã đành, chỉ lập vài trang mạng thôi mà cũng đã phải đi tù cả nút. Ngày 6 tháng 2 năm 2015, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao cho phổ biến bản Cáo Trạng quyết định truy tố ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy ra trước Tòa án NDTP Hà Nội theo khoản 2, Điều 258.

Inline images 1

Bản cáo trạng này gồm 8 trang, với rất nhiều chi tiết thừa thãi nên đã được blogger Người Buôn Gió “cô đọng” như sau:

– 3 trang đầu miêu tả việc các đối tượng lập blog, lập trang mạng, đây là việc quá bình thường trong một đất nước đang có hàng chục triệu ngươi sử dụng mạng internet. Việc liệt kê quá trình lập blog, bảo mật, đăng ký sử dụng mạng, lập thư điện tử….bất kỳ ai lên mạng đều làm như vậy. Có gì mà phải vẽ ra đến 3 trang như ly kỳ, âm mưu toan tính, hiểm hóc ?

– 2 trang chỉ liệt kê tên của các bài viết, chỉ liệt kê đúng cái tiêu đề.

– 2 trang nêu lý lịch bị cáo.

– 1/2 trang kết luận.

– 1/ 4 trang của bản cáo trạng liệt kê lượng người đọc, còm men.

– Chỉ có 1/4 trang trong 8 trang cáo trạng có vẻ đúng nghĩa bản cáo trạng, nhưng đó là kết luận giám định của bộ thông tin và truyền thông khẳng định các bài viết mà hai bị cáo đưa lên là xuyên tạc đường lối của Đảng, bôi nhọ cá nhân, xâm phạm lợi ích cá nhân tổ chức… còn xâm phạm thế nào, thiệt hại ra sao, cá nhân nào bị thiệt hại… không thấy nói đến.

Cả cái bản cáo trạng lẫn kết luận hồ sơ của Bộ Công An, Viện Kiểm Sát tối cao mà chỉ kể lể dài dòng chuyện lý lịch, việc đăng ký sử dụng mạng, lập hòm thư rồi nêu tên các bài viết. Sau đó ngắn gọn nói rằng giám định Bộ Thông Tin Truyền Thông nói là có tội, thế là thành có tội mang ra xử. Không thấy phân tích chứng cứ, lập luận khoa học kết tội. Rặt áp đặt chủ quan, cảm tính. Một bản cáo trạng và kết luận hồ sơ như vậy thì cần gì hai cơ quan tố tụng lớn nhất đất nước phải dùng sạch bách thậm chí quá hạn điều tra mới viết ra được.

Và tại sao Bộ Công An có cơ quan an ninh văn hoá không giám định các bài viết mà để cho một cơ quan dân sự, không liên quan gì đến việc tố tụng đứng ra giám định và kết luận việc có tội hay không có tội.

Xét về mạnh cạnh tranh độc giả, thì chính các bị cáo là đối thủ cạnh tranh với bộ Thông Tin Truyền Thông trong việc chiếm lĩnh thị trường thông tin.

Vậy vụ án này thật khôi hài và bỉ ổi. Kẻ được nêu tên là bị hại thì chính là kẻ khởi tố, điều tra vụ án. Đối thủ cạnh tranh thị trường lại được mời làm giám định thiệt hại, kết luận có tội. Một vụ án được những kẻ tham gia tố tụng như vậy trông mong gì minh bạch.

Cá nhân tôi không mong gì chuyện “minh bạch” trong vụ án này, hoặc bất cứ một vụ án nào, ở nước C.H.X.H.C.N Việt Nam. Tôi cũng không có máu “khôi hài” nên không nhìn ra những khía cạnh “riễu cợt” trong bản cáo trạng thượng dẫn.

Tôi chỉ thấy cách luận tội của V.K.S.N.D (“xuyên tạc đường lối của Đảng, bôi nhọ cá nhân…làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”) sao “cù nhầy” và “buồi dái”quá thôi. Coi: cả “tập đoàn lãnh đạo” hiện nay đều lấm lem bê bết từ đầu đến chân, có sót chỗ nào để mà “bôi nhọ” được nữa – mấy cha? Tương tự, còn có ai tin tưởng gì vào “Đảng, Chính phủ, Quốc hội, và Nhà nước…” đâu mà kết án con người ta “làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng” – hả Trời?

Vài tháng trước, trên trang thư tín của tuần báo Trẻ (phát hành từ Dallas, Texas – ngày 26 tháng 2 năm 2015) có vị độc giả phát biểu rằng: “CS chiếm miền Nam bằng cái miệng.” Ý tưởng này khiến tôi nhớ đến một cân nói của nhà báo Huy Đức: “Trong lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh rõ ràng là một trong những nhà lập ngôn xuất sắc nhất.”

Quả tình, Bác và Đảng đã chiếm được cả nước – chứ không riêng chi miền Nam – bằng mồm chứ còn gì nữa. Nhưng thời thế đã khác rồi. Bây giờ mà vẫn còn hy vọng giữ được quyền bính cũng chỉ nhờ vào cái miệng (mình) và bịt miệng kẻ khác thì quả là một chuyện rất viển vông.

Thử nghe Thông Tấn Xã Việt Nam “khoe hàng” chút xíu nha:

“Website của TTXVN tại địa chỉ http://news.vnanet.vn là một trong những trang thông tin chính thức và là trang duy nhất ở trong nước cung cấp những thông tin mới nhất, tin cậy bằng bốn ngữ (Việt, Anh, Pháp, Tây Ban Nha) về tình hình Việt Nam và thế giới, là cầu nối để độc giả khắp nơi trên thế giới hiểu về Việt Nam và con người Việt Nam…

“Với 63 phân xã tại tất cả các tỉnh thành trong nước và 27 phân xã nước ngoài ở cả 5 châu lục, cùng nguồn thông tin trao đổi trực tuyến liên tục 24/24 giờ với 42 hãng thông tấn và tổ chức báo chí quốc tế là một ưu thế mà không một cơ quan báo chí nào của Việt Nam sánh được …”

“Ưu thế” tới cỡ đó mà T.T.X.V.N lại không có độc giả. Thiên hạ chỉ đua nhau vào xem Thông Tấn Xã Vỉa Hè thôi. Và đây có lẽ đây mới là nguyên do (đích thực) khiến cho Trương Duy Nhất, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Ngọc Già, Hồng Lê Thọ, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Thị Minh Thuý … phải bị trừng trị – hay bị trả thù, theo như cách nhìn của Người Buôn Gió!

Sự kiện người dân tẩy chay mọi hình thức truyền thông của nhà nước không phải là lỗi (hoặc tội) của Ba Sàm và của giới T.T.X.V.H. Đây chỉ là hiện tượng (“vỡ trận”) tự nhiên, báo trước ngày tàn của chế độ thôi!

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

KHẢI ĐƠN : Ếch Phu Hồ – Nói chuyện tiền hay chuyện thủ dâm?

Nguồn khaidon

KHẢI ĐƠN • 19.05.2015

Tôi tò mò tìm đến Lưu Thị Quyên và Đăng Khuyến, một đội đã tạo ra kênh Ếch Phu Hồ trên Youtube và đang thực hiện một chiến dịch tên Tớ đố cậu biết (Todocabi:https://todocabi.vn/) – về chủ đề: Minh bạch ngân sách nhà nước, với clip Giếng 6: “Tiền về nơi đâu?” – Trong một phỏng vấn dài, tôi đã ngạc nhiên vì những sự quan tâm mà những người trẻ này chọn để “nhai” với bạn bè mình trên mạng.

Quyên hãy kể cho mình nghe, tại sao các bạn Ếch Phu Hồ lại chọn làm một chiến dịch về vấn đề “Công khai phương án phân bổ ngân sách nhà nước trước khi phê duyệt ở tất cả các cấp” để đặt lên trang Youtube của mình như thế?

Khi làm cái giếng 6:, tụi tôi đã đi phỏng vấn 1 số người là “bạn đã đóng thuế bao giờ chưa”, khi tôi hỏi sinh viên và những người không tạo ra thu nhập ổn định, câu trả lời thường thấy là “tôi chưa phải đóng thuế bao giờ cả!”, “chắc là tôi đang dùng tiền của nhà nước!” – Tôi bất ngờ về nhận thức của mọi người . Việc mọi người không nhận thức rõ về đóng thuế, dẫn đến việc xem câu chuyện ngân sách là rất to, chẳng hiểu liên quan quái gì đến cuộc đời mình cả.

11272212_10205004876215440_922522238_n

Bạn Lưu Thi Quyên – 1 trong 2 tác giả của Ếch Phu Hồ

Câu chuyện đó làm tôi nhớ đến 1 lần đi lên Mộc Châu, hỗ trợ xây sân chơi cho trẻ tôi ở đó. Bọn trẻ con ngồi xung quanh xin làm với. Có 1 anh bạn tôi cuốc 1 cái, trúng vào đầu 1 thằng bé, bị chạy máu đầu. Lúc đó 5 giờ chiều rồi, bố mẹ của tôi bé với đoàn đã đưa bé chạy đến trạm y tế tìm bác sĩ. Lúc đó ông bác sĩ đang chơi Pikachu, ông bảo là đợi tý nữa, trong khi thằng bé đang chảy máu đầu. Bố mẹ thằng bé thì khúm núm trước ông bác sĩ đấy! – Trong khi đó thì chị trưởng đoàn đi vào, và làm ông ấy phải khám ngay. Tôi thấy là khi mình nhận thức được mình đang đóng thuế, và những người như ông bác sĩ đang nhận lương là từ tiền thuế của mình, thì thái độ của mình để ứng xử với họ sẽ rất khác.

Thêm một câu chuyện khác, tôi quen 1 chị, chị đi khám bệnh, cô bác sĩ trong phòng nói giờ 4 giờ hơn rồi, sắp hết giờ rồi, thôi không khám nữa. Chị bạn tôi mới nói, thôi được rồi, không khám cũng được, nhưng tôi yêu cầu chị ghi rõ họ tên, và bây giờ là 4 giờ 15 phút, và chị không khám nữa vì lý do đã hết giờ hành chính. Vậy là cô bác sĩ phải khám. Ý tôi hiểu là, khi mình có ý thức rất rõ ràng là mình đang đóng thuế, mình là chủ nhân của cái rất to gọi là ngân sách nhà nước ấy, thì cách hành xử của mình sẽ khác. tôi nghĩ là lúc ấy mọi việc sẽ tốt hơn, khi mọi người được tham gia và nhận thức tốt về vấn đề đó.

Mục đích của dự án này ủng hộ khuyến nghị ấy, nhưng có 1 mục đích quan trọng hơn, đó là nhận thức, và đặc biệt của người trẻ về tiền thuế của họ đang được chi xài ra sao.

Điều gì đã dẫn các bạn đến sự quan tâm như vậy?

Tôi học về tài chính, nhưng đây không phải là lý do khiến tôi quan tâm đến vấn đề này. Tôi đã được nói chuyện với các chuyên gia của Oxfam, đọc các tài liệu của viện nghiên cứu kinh tế chiến lược. Bởi vì đặc trưng của Ếch Phu Hồ là khi làm 1 clip nào, thì trước đó có quá trình tìm hiểu khá dài. Chúng tôi cũng cầu toàn, đọc kỹ để chọn thông tin, tìm các loại tài liệu khác nhau. Có mấy tháng trời tôi chỉ ngồi đọc về nợ công, ngân sách, các khoản chi dùng công, lãng phí, tiến bộ… Các khảo sát về minh bạch ngân sách ở các nước khác. Sau khi đọc xong thì thấy là nếu vấn đề này không nói ra chắc chết luôn cho rồi! – Mình bị thôi thúc phải nói điều đó ra, chứ không phải là quan tâm từ trước đâu. Và chúng tôi đề nghị về dự án, Oxfam đã đồng ý tài trợ để tiến hành.

ech 4

Vấn đề này khá khô khan. Tự tôi đọc thì thấy hay, nhưng sợ là khi nói cho người khác chắc là chán lắm. Chính vì thế chúng tôi không tập trung vào các kiến thức mô phạm, mà chỉ tập trung nói rõ một ý “Thuế là tiền của mình”, vậy thôi! Chúng tôi chọn một cái rất nhỏ để nói đến thôi.

Quá trình làm việc và quá trình các bạn tư duy về chủ đề này ra sao?

Từ giếng 1 đến giếng 6 chỉ có tôi và 1 bạn nữa làm, bạn ấy là Ốc Lớn Xấu Xa, từ giếng 6 thì có thêm một bạn. Chúng tôi đọc, tìm hiểu, lên kịch bản, vẽ và bắt đầu ghi hình, ghi âm.

Ví dụ như những vụ quan xã ăn chặn cả gói mì tôm của một bác khuyết tật, cả vụ chặt 6700 cây tại Hà Nội. Tại sao người ta lại có thể làm thế? Tại sao lại có chuyện như thế xảy ra? – Như vụ quan xã ăn chặn gói mì tôm, tính ra số tiền thì ông bác bị tật ấy chỉ nhận được trợ cấp hàng tháng mấy trăm ngàn, chỉ đủ mua một số gói mì tôm mỗi tháng. Tôi không hiểu người thế nào mà có đủ lương tâm để lấy của người ta nữa. Người dân dễ bị bắt nạt quá. Như bác người khuyết tật, bác không có đủ kiến thức để bảo vệ quyền lợi của mình. Kiến thức và hiểu biết rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi của mình, chứ chưa nói gì đến việc lấn át ai đâu! Số tiền bác khuyết tật ấy được nhận trợ cấp cũng chính là ngân sách. Việc người dân không được tham gia vào quá trình quyết định ngân sách sẽ khiến họ không quan tâm nữa.

ech 1

Trong một báo cáo của Oxfam tôi đọc, ở Hòa Bình có một huyện có 9 xã, 8 xã đã xây nhà văn hóa rồi, còn 1 xã chưa xây. Có phong trào thi đua xây nhà văn hóa. Trong khi có 2 cái nhà văn hóa cách nhau chỉ hơn một trăm mét thôi, một cái cũ, một cái mới. Trong khi đó, khảo sát từ người dân thì biết họ muốn xây một cái cầu qua sông để tiện buôn bán, đi lại. Vậy, khi người dân không được tham gia vào quá trình quyết định cái tiền ấy được dùng làm gì, thì đôi khi không đáp ứng được nhu cầu của người dân, còn chuyện lãng phí quá phổ biến rồi!

Khi làm Giếng 6, chúng tôi muốn mọi người hiểu thêm, ít nhất mọi người hiểu tiền thuế là tiền của mình cái đã. Chúng tôi thích những thứ vui vẻ, lạc quan, có kiến thức tốt. Vì chúng tôi nghĩ quá trình thay đổi nhận thức phải từ từ, không thể nhanh được! Chỉ là cố gắng kiên trì làm thôi.

Bạn, gia đình bạn, hay người quen của bạn, có ai bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các sự vụ liên quan đến thuế hay ngân sách không mà bạn làm chiến dịch về vấn đề này?

Không! Tôi chẳng bị ảnh hưởng gì cả. Những chuyện về ngân sách có thể thấy rõ nhất ở nhóm đối tượng yếu thế, ví dụ như nông dân sẽ cảm nhận rất rõ, người khuyết tật nhận trợ cấp, người bị bệnh nặng sử dụng dịch vụ chăm sóc y tế công… mới cảm thấy rõ chuyện này. Chính người nghèo, người không có kiến thức là người dễ bị ảnh hưởng bởi vấn đề này nhất. Tôi chẳng bị ảnh hưởng gì hết, laptop có đầy đủ, ra đường cũng bình thường như ai. Bạn bè tôi cũng chẳng ai bị ảnh hưởng. Tôi chỉ ham mê, đọc và thấy, sau khi đọc cảm thấy không nói lại cho người khác thì hơi tệ, nên chúng tôi tìm cách nói lại với mọi người theo cách dễ tiêu hóa hơn, dễ hiểu hơn.

Khi cấu trúc câu chuyện, các bạn đã suy nghĩ thế nào để tiếp cận? Đây rõ ràng là một vấn đề “xương xẩu”.

ech 5

Với Giếng 6, chúng tôi đã bắt đầu với 1 vấn đề rất gần mà mọi người quan tâm, đó là tiền. Cứ đánh vào tiền đã! – Người dân quan hệ với nhà nước qua ngân sách – cũng là tiền. Họp quốc hội cũng bàn đến ngân sách đầu tiên. Khi chúng tôi nói chuyện với ông Dương Trung Quốc, ông cũng nói vậy. Nhà nước liên hệ với người dân qua thuế và phí. Nên đó là cách chúng tôi bắt đầu câu chuyện, cấu trúc video.

Hình tượng con lợn được chọn vì trùng với con lợn tiết kiệm, thuế cứ bỏ vào thì con lợn ngày càng to thêm, cũng giống ngân sách nhà nước ngày càng to thêm. Thế là lấy luôn hình tượng con lợn làm clip cho dễ, đỡ phải đổi vẽ thành nhiều con khác nhau.

Khi tôi theo dõi Fanpage của các bạn ( https://www.facebook.com/todocabi) , tôi phát hiện ra rất nhiều người comment thế này: “Bọn mày là một lũ ăn chưa no lo chưa tới mà bày đặt bàn chuyện chính trị!”, “phản động à?” , bạn cảm thấy thế nào trước phản ứng đó?

ech 2

Khi làm vấn đề này, chúng tôi cũng có những điều sợ. Nhưng mọi người nói nếu động cơ của mình là tốt, và hành động của mình không có gì mập mờ thì không cần phải lo! – Nó cứ minh bạch như thế thôi.

Trong quá trình làm, tôi có gặp bác Lê Đăng Doanh, bác Nguyễn Quang A, hay ông Đặng Hùng Võ… những chuyên gia chính thống cũng ủng hộ chiến dịch này. Còn những ý kiến đả kích, chửi rủa trên mạng là điều không tránh khỏi. Bởi vì đến khi nào mà chuyện ngân sách còn là một vấn đề nhạy cảm thì vẫn sẽ còn những sự đả kích đó xảy ra.

Với những nhóm đả phá mạnh trên mạng, đôi khi cảm xúc của họ nhiều hơn tri thức, nên sẽ có nhiều cái lên án vô căn cứ. Bọn tôi thì yêu tri thức, nên sẽ không đưa ra các nhận xét chỉ có cảm xúc cá nhân mà không có kiến thức, đã nói thì nói có sách mách có chứng. Bọn tôi cũng không muốn tập trung vào lãng phí, bất cập đâu, vì nói mãi cũng không được gì cả. Chúng tôi thấy kiến thức vui hơn! – Thay vì nói ngân sách đang bị lãng phí, chúng tôi sẽ nói bao nhiêu phần trăm ngân sách là từ thuế và phí. Chúng tôi chỉ cung cấp kiến thức thôi. Còn mọi người nhìn nhận ra sao là tùy góc nhìn của họ, chúng tôi cũng không muốn can thiệp vào việc người ta tiêu hóa kiến thức như thế nào.

Thế bạn nghĩ sao nếu người ta “dán nhãn” các bạn như thế, và mọi người sẽ sợ và tránh xa các bạn, không thèm để ý tới thông điệp các bạn nói nữa?

Bọn tôi cũng không muốn dùng mọi cách nài nỉ, lôi kéo mọi người tham gia vào cái gì. Chúng tôi chỉ muốn cung cấp kiến thức, và mọi người muốn hành động ra sao là tùy vào họ. Ai chia sẻ cùng giá trị với mình thì tham gia. Cách làm chiến dịch của bọn tôi chỉ có 3 bước thôi, rất đơn giản, đầu tiên là cung cấp kiến thức, bước 2 là dành cho khán giả một nền tảng để bày tỏ ý kiến, bước 3 là tổng hợp ý kiến và gửi cho đại biểu quốc hội trước tháng 6.

ech 3

Bản thân tôi cũng nghĩ các cộng đồng bạn trẻ quan tâm về kinh tế xã hội cũng rất nhiều. Tôi truyền thông điệp đến người đã quan tâm, và nếu nó chạm được vào người chưa có thông tin đầy đủ, thì đó là cái chúng tôi làm được. Không cần mọi người phải cam kết làm gì đâu, hướng đến giải pháp hơn là phê phán. Nó giống 1 nốt nhạc vui trong chỉnh thể một vấn đề.

Cũng phải nhìn vấn đề ở góc độ khách quan hơn khi cả một nhà nước phải làm phương án ngân sách cho 90 triệu người, đó thực sự là khó khăn của họ. Mỗi người có 1 quan điểm khác nhau. Ví dụ như tượng đài mẹ anh hùng ở Quảng Nam, giờ ta có thể nhìn nó là một thứ rất lãng phí, nhưng 50 năm sau biết đâu người ta lại nói đó là một quyết định rất đúng đắn chẳng hạn. Mỗi người lại có một nhu cầu, quan điểm khác nhau như giáo dục cũng muốn chi nhiều cho giáo dục, y tế cũng muốn chi nhiều cho y tế, nhưng sẽ phải có người quyết định cuối cùng. Đó là vấn đề niềm tin, liệu người đó có đủ tâm và tầm để đưa ra quyết định đúng đắn hay ko.

Nói đến chuyện công khai phương án ngân sách, nó cũng có những khó khăn nữa. Ví dụ công khai ra thì có lợi, tiền sẽ dùng theo đúng nhu cầu người dân, tránh lãng phí tham nhũng, chia sẻ bớt gánh nặng và quyền lực với nhà nước. Nhưng công khai phương án ngân sách ra có bất lợi gì? – Tốn thời gian nhiều hơn để đưa ra quyết định, tốn chi phí cho việc giải trình, cơ chế nào sẽ giải đáp cho tôi nếu tôi thắc mắc là công trình đó xây lấy tiền ở đâu ra.

4

Ý kiến riêng của tôi thì cho rằng công khai phương án ngân sách thì sẽ tiết kiệm hơn. Ví dụ như chuyện “con đường dát vàng” ở Bồ Đề, Gia Lâm, Hà Nội. Lẽ ra nếu con đường ấy đi thẳng qua cánh đồng, nó sẽ rất tiết kiệm chi phí giải phóng mặt bằng và tái định cư, nhưng không hiểu vì sao nó lại cong như vậy. Câu chuyện này đã lên chương trình “Người đương thời”, người dân ở đó bày tỏ họ không hề biết gì đến sự tồn tại của một con đường sắp được xây, cho đến khi có người đến nhà họ đo đạc đất đai. Người dân cảm thấy vô lý, tại sao con đường lại làm cong và đi vào nhà họ như vậy. Người dân có lên thắc mắc thì chính quyền nói đã duyệt rồi, miễn bàn. Sau đó, người ta có ví von là dùng số tiền giải phóng mặt bằng đó để dát vàng, thì dát vàng được 70 lần lên con đường ấy. Đó là 1 câu chuyện điển hình cho thấy có thể những quyết định được đưa ra có thể sẽ nhanh hơn đấy, nhưng không có sự đồng thuận, thì cũng không phải là cái gì bền vững lắm.

Ai quan tâm đến chuyện các bạn nói?

Có rất nhiều bạn cùng tuổi với tụi tôi quan tâm. Khi đọc những tin nhắn họ gửi, tụi tôi vui lắm. Khi gặp các họa sĩ, rất nhiều người ủng hộ. Chúng tôi mừng lắm. Trong khoảng mấy tháng trời, 3 đứa tụi tôi cứ như bọn tự kỷ ấy, cứ đọc, lên kế hoạch, chỉ làm một mình với nhau, cảm thấy bí bách, mệt mỏi, cãi nhau suốt. Đó là cuộc tranh luận liên tục, bị thay đổi nội dung liên tục. Nhưng khi nội dung được lên, và mọi người nhắn tin, tôi đã vui hết cả một ngày.

Bọn tôi vui không chỉ vì mọi người khen, mà còn vui khi nhận được những comment phản biện. Có bạn đã comment: “Tôi muốn các bạn đưa ra bằng chứng thuyết phục hơn về việc vì sao phải công khai phương án ngân sách!”, “Công khai thì lộ hết bí mật quốc gia à?”. Chúng tôi đã ghi các câu hỏi, và cố gắng tìm hiểu thêm để trả lời một cách đúng đắn, thuyết phục. Các bạn hỏi nghĩa là các bạn quan tâm rồi!

Cái Giếng 6 ấy xuất hiện đã có 4000 share rồi, cả bọn vui đến mức đã vô và like từng cái share ấy luôn! Đó là nguồn động viên lớn lắm.

“Ốc Lớn Xấu Xa” Đăng Khuyến và Lưu Thị Quyên – 2 tác giả của Ếch Phu Hồ

Thế rồi sau khi bạn đọc xong chừng ấy tài liệu, làm xong chừng ấy thứ về công khai phương án ngân sách, thái độ của bạn với xung quanh thay đổi thế nào?

Trong khi đang đọc tài liệu, tôi đi ở gần nhà thấy người ta lật các cống lên làm gì đó. Có một thay đổi khá vui là khi tôi nhận thức là tiền thuế do tôi đóng, và việc anh làm công trình công cộng là có một phần tiền của tôi đóng, tôi đã nhìn nhận là họ đã đào lên thì phải lấp lại cho đẹp, chứ không phải là cứ đứng nhìn họ làm như việc của người ta. Khi mình có nhận thức khác về những dịch vụ công xung quanh mình là do một phần tiền thuế của mình trả, thì mình sẽ không còn khúm núm, sợ sệt như bây giờ nữa.

Cảm ơn bạn vì sự chia sẻ này!

Khải Đơn

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Cuộc phỏng vấn trực tiếp Cựu hoàng Bảo Đại trước khi ông qua đời

Nguồn nghiencuulichsu

This entry was posted on Tháng Năm 11, 2015, in Lịch sử Việt Nam and tagged bảo đại, Trần Trọng Kim, vĩnh thụy.

Cuoc-phong-van-truc-tiep-Cuu-hoang-Bao-Dai

Tạp chí Xưa và Nay số 456 tháng 2 năm 2015

Trước khi Bảo Đại qua đời (1997), nhà sử học trẻ Fédéric Mitterand – cháu của Tổng thống Mitterand đã có cuộc phỏng vấn trực tiếp cựu hoàng tại nhà riêng (tầng trệt cao ốc 29 Presnel, quận 16 – Paris). Lần đầu tiên cựu hoàng nói về những kỷ niệm và thổ lộ ước vọng của ông về đất nước Việt Nam, trong đó có việc ông thành lập chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật và trong trường hợp nào ông đã thoái vị làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Cuộc phỏng vấn này đã được phát trên truyền hình Pháp nhiều lần, hoàng nữ Phương Thảo (con của bà Bùi Mộng Điệp và cựu hoàng Bảo Đại) đã thu được và cung cấp cho tôi, kỹ sư Bùi Hữu Lân (cựu sinh viên Đại học Bách khoa Pháp) và ông Nguyễn Đắc Xuân chuyển qua Việt ngữ. Xin trích một đoạn sau đây để bạn đọc tham khảo về những sự kiện cách nay 70 năm.

Frédéric Mitterand: Đây là một thời kỳ (1944-1946) lạ lùng: có một chủ quyền của nước Pháp Vichy, có đông đảo người Nhật, có vua Bảo Đại im lặng đứng nhìn tình thế, bên cạnh nhân dân Việt Nam. Nước Pháp được giải phóng, thay đổi chế độ chính trị, với tướng De Gaulle lên cầm quyền. Lúc ấy ở Việt Nam tình hình ra thế nào?

Bảo Đại: Người Việt chúng tôi mù tịt. Chúng tôi hoàn toàn không biết việc gì đã xảy ra. Chúng tôi có biết nước Pháp được giải phóng, chấm hết.

Frédéric Mitterand: Và người Nhật? Lúc ấy một thời gian sau họ làm đảo chánh?

Bảo Đại: Người Nhật làm đảo chánh vì người Pháp cho rằng, sau khi quân Nhật đã thua nhiều trận ở mặt trận Thái Bình Dương, nước Nhật đã đến thời tận số. Cho nên người Pháp mới bắt đầu tổ chức một loạt kháng chiến. Người Nhật, thấy đã hết thời, không muốn như vậy và đó cũng là một vấn đề thể diện. Họ đã làm đảo chánh và gạt bỏ chủ quyền của Pháp.

Frédéric Mitterand: Lúc ấy, ngài bất đắc dĩ cũng bị lôi cuốn phần nào trong cuộc ẩu đả đó?

Bảo Đại: Đó là một câu chuyện khá đầy kịch tính. Hôm người Nhật làm đảo chánh tôi không có mặt trong cung. Tôi đi săn. Đến khi trở về cung các cửa cung đều mở. Có tiếng súng nổ. Một sĩ quan Nhật đến trình diện với tôi, xin tôi chịu khó chờ một chút: “Chúng tôi đang giải quyết vài vấn đề”, và sau đó ông sĩ quan này dẫn tôi vào cung. Một thời gian sau, tôi vào trong cung, cũng ông sĩ quan ấy nói với tôi: “Ngày mai, có một nhân vật quan trọng, một đại sứ, đến trình diện với ngài”. Ngày hôm sau tôi tiếp đại sứ Yokoyama. Đại sứ trình uỷ nhiệm thư và nói với tôi rằng: “Thiên Hoàng cho tôi đến bên cạnh Ngài”. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với người Nhật.

Frédéric Mitterand: Trước đó ngài đã có suy nghĩ về hoàng đế Nhật Bản?

Bảo Đại: Chúng tôi biết hoàng đế Nhật, nhất là Minh Trị Thiên Hoàng, đã mở cửa nước Nhật cho thế giới hiện đại.

Frédéric Mitterand: Và ngài có quan tâm đến kinh nghiệm này?

Bảo Đại: Có, tôi có theo dõi khá sát lịch sử nước Nhật.

Frédéric Mitterand: Người Nhật tỏ ra rất kính trọng ngài, và ngay sau đó, đề nghị ngài tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Một tình trạng gay cấn vì thực sự không còn chủ quyền của Pháp lúc đó nữa. Chính tướng De Gaulle cũng đã nó: “Tôi thấy Đông Dương đã rời xa như một con tàu lớn”. Khoonhg có vấn đề duy trì chính quyền Vichy, còn người Nhật thì yêu cầu ngài tuyên bố độc lập. Và ngài lưỡng lự?

Bảo Đại: Trước hết, tôi nghi ngờ vì không biết nền độc lập này có giá trị đến mức nào.

Frédéric Mitterand: Đó là một cái bẫy?

Bảo Đại: Không phải là cái bẫy nhưng hai chữ ấy vô cùng kỳ diệu, đó là hai chữ thiêng liêng, hai chữ Độc Lập. Đối với thần dân tôi, tôi không thể từ chối Độc Lập, nếu tôi từ chối, thần dân tôi sẽ trách tôi. Đó là cơ hội ngàn năm một thuở để chứng tỏ rằng chúng tôi độc lập, dù cái độc lập ấy có hình thức thế nào. Điều kỳ lạ là khi tôi ký tuyên ngôn độc lập, tôi hỏi Đại sứ Nhật: “Có vấn đề trao đổi gì không?”. Ông trả lời: “Không, chúng tôi không đòi hỏi ngài bất cứ một điều gì; chúng tôi giải phóng quý quốc; có thế thôi”.

Frédéric Mitterand: Nhưng dầu sao, ngài không ngại trở nên một con bài trong tay người Nhật, và ngài không ngại làm cho người Pháp nghĩ rằng ngài đã bỏ rơi họ?

Bảo Đại: Không, hoàn toàn không. Tôi không muốn tôi là con bài trong tay người Nhật. Một hôm ông tướng chỉ huy quân đội viễn chinh Nhật ở Đông Dương xin tôi tham gia vào chiến cuộc để giúp nước Nhật, vì lúc đó Nhật đang ở trong một giai đoạn khó khăn, tôi trả lời: “Nay chúng tôi độc lập, không thể sai khiến chúng tôi điều gì nếu chúng tôi đã độc lập. Chúng tôi tự do làm điều gì chúng tôi muốn, các Ngài không có quyền can thiệp vào nội bộ chúng tôi”. Và người Nhật đã hiểu.

Frédéric Mitterand: Có cái ngại kia, ngại làm cho người Pháp nghĩ rằng ngài đã bỏ rơi họ?

Bảo Đại: Không những tôi đã nghĩ đến việc này, mà nhiều người Pháp đã cho rằng tôi đã phản bội họ. Khi tôi trở qua Pháp năm 1948, có một chiến dịch báo chí chống tôi, nói rằng: “Đó là một con người phản bội, ông ấy đã bỏ rơi chúng ta, ông ấy đi với bọn Nhật”. Tôi phải đưa Hiệp ước Bảo hộ ra. Nó đây, theo điều 11 hay 13, nước Pháp có trách nhiệm giữ an ninh cho nhà vua, chống lại kẻ địch bên ngoài cũng như nội loạn bên trong. Ai đã phá bỏ hiệp ước này? Không phải tôi. Ngày 9-3-1945, chủ quyền Pháp đã không còn nữa.

Frédéric Mitterand: Người Nhật có ngược đãi người Pháp không?

Bảo Đại: Không, quân đội của Thiên Hoàng không làm cái việc tàn ác. Thủ phạm là đội Kempetai, là một loại Lê Dương của Nhật. Đội Kempetai này đã làm các việc tàn ác đối với người Pháp.

Frédéric Mitterand: Bỗng nhiên ta lâm vào cái thế phức tạp. Vì ngài có nhiều quyến luyến với người Pháp. Ngài không thể bình thản mãi?

Bảo Đại: Đó là tình cảm cá nhân, nhưng tôi phải nghĩ trước hết đến quốc gia dân tộc. Người Nhật đã đem độc lập đến cho chúng tôi, tôi phải cụ thể hoá nền độc lập đó. Cho nên tôi đã lập một chính phủ. Các quan đại thần lúc ấy đã xin rút lui để chúng tôi có một chính phủ tân tiến.

Frédéric Mitterand: Lúc đầu tiên ngài thực hiện quyền lực của một ông vua lập hiến, của một ông vua thời hiện đại. Vậy chính phủ ấy có những ai.

Bảo Đại: Đó là những trí thức trẻ, nhiều người ở Pháp, những kỹ sư trường bách khoa, những tiến sĩ luật, những bác sĩ y khoa, họ thông hiểu cả Đông và Tây. Về chức Thủ tướng, tôi đã chọn một học giả thông hiểu cả Đông và Tây.

Frédéric Mitterand: Trước tình hình mới ấy, tâm trạng của dân chúng thế nào?

Bảo Đại: Có thể nói rằng dân chúng cảm thấy nhẹ nhõm.

bao dai quan phuc

Frédéric Mitterand: Nước Nhật sụp đổ. Bom nguyên tử nổ. Đế quốc Nhật Bản không còn. Vào khoảng đó, những người Cộng sản gây nên một áp lực ngày càng lớn?

Bảo Đại: Thật ra, lúc đầu không phải là những người Cộng sản, mà là những người quốc gia. Đồng bào tôi, nhất là giới trí thức, nghĩ rằng cần có một cuộc cách mạng. Đối với họ, nếu không có cách mạng thì không có tiến hoá. Tôi sợ họ làm một cuộc cách mạng. Nếu ông nhớ lại cái hiệp ước Yalta và Postdam, mặc dầu Nhật thua trận, nhưng Nhật có trách nhiệm phải giữ trật tự, tức là quân đội Nhật không bị giải giáp. Tôi sợ quân Nhật bắn vào dân. Tôi mới nói rằng: “Thần dân đã muốn một cuộc cách mạng, thì chính tôi đã làm một cuộc cách mạng đó rồi. Tôi sẽ ra đi như thế”.

Frédéric Mitterand: Và ngài thoái vị. Việc này đối với chúng tôi, quả là hơi khó hiểu?

Bảo Đại: Không, có thể khó hiểu đối với ông, nhưng không khó hiểu đối với người dân Việt Nam. Người dân Việt Nam đã hiểu. Chỉ có điều người dân Việt Nam không thấy một việc, đó chính là những người trong chính phủ mới là những người Cộng sản. Nhưng họ có biết một việc, là trong chính phủ ấy, nghĩa là người đứng ra lập chính phủ ấy, tức ông Hồ Chí Minh đã được người Mỹ vũ trang. Dân Việt Nam nghĩ rằng đã có người Mỹ đứng sau lưng họ, họ sẽ có nhiều thế lực hơn để giành độc lập từ tay người Pháp. Đến giờ, người Mỹ tự xem là những người chống Cộng.

Frédéric Mitterand: Tâm trạng của ngài lúc ấy thế nào?

Bảo Đại: Tôi hoàn toàn không bị bối rối với những vấn đề ấy. Tôi cảm thấy sự trỗi dậy ấy, trước hết là các người quốc gia muốn có thể cụ thể hoá nền độc lập, họ không muốn tôi ở vị trí lãnh đạo vì tôi không có đủ phương tiện để tranh thủ độc lập từ người Pháp; nhưng vì có một chính phủ được người Mỹ ủng hộ, nên dân Việt Nam cho rằng chính phủ ấy có nhiều phương tiện hơn tôi để tranh thủ từ người Pháp một nền độc lập thực sự.

Frédéric Mitterand: Và ngài đã thoái vị. Từ đây bắt đầu một giai đoạn thật ly kỳ trong cuộc đời ngài. Đó là giai đoạn quan hệ với Cụ Hồ Chí Minh và người cấp dưới của ông ấy. Ngài đã tiếp xúc với Cụ Hồ Chí Minh hay ai tiếp xúc?

Bảo Đại: Trước tiên các bộ trưởng của Cụ Hồ tiếp xúc với tôi, để tiếp nhận sự chuyển giao quyền lực.

Frédéric Mitterand: Luôn luôn đi theo nguyên tắc một sự kế tục hợp pháp. Nền Cộng hoà là cô gái do nhà vua sinh ra?

Bảo Đại: Có thể là như vậy.

Frédéric Mitterand: Và ngài đã chuyển giao quyền lực?

Bảo Đại: Chính tôi đã khai sinh ra cái nền Cộng hoà đó. Lúc đó đại diện Cụ Hồ Chí Minh nói với tôi: “Mời ngài đi Hà Nội, Cụ Hồ có thể quen biết ngài”. Rồi tôi đi Hà Nội.

Frédéric Mitterand: Ngài trở thành Vĩnh Thuỵ?

Bảo Đại: Vâng, tôi trở thành một công dân thường.

Frédéric Mitterand: Ngài không quá hối tiếc nền quân chủ đã chấm dứt, nền quân chủ ấy dầu sao cũng là một thể chế đã được tổ tiên ngài lập nên?

Bảo Đại: Có chứ, dĩ nhiên tôi còn cảm thấy nhiều hơn. Và hối tiếc nữa, nhưng nó là một trang sử đã được lật qua. Đó là định luật của nước tôi.

Frédéric Mitterand: Và ngài đã muốn để mình lật trang sử đó?

Bảo Đại: Tôi muốn để chính tôi lật, thay vì để cho một vũng máu lật trang sử.

Ảnh chụp hoàng gia và hội đồng quan lại tại điện Kiến Trung (kinh thành Huế) trong ngày Hoàng đế Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị – 25 tháng 8 năm 1945.

Ảnh chụp hoàng gia và hội đồng quan lại tại điện Kiến Trung (kinh thành Huế) trong ngày Hoàng đế Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị – 25 tháng 8 năm 1945.

Frédéric Mitterand : Và ngài đã đi Hà Nội để gặp cụ Hồ Chí Minh. Điều kỳ lạ là cụ Hồ Chí Minh đối xử với ngài với một sự cung kính đặc biệt?

– Bảo Đại : Vâng, xin đừng quên rằng cụ Hồ xuất thân từ một gia đình quan lại. Và cụ đã đối xử với tôi như tôi còn làm vua. Cụ cấm những người xung quanh cụ gọi tôi bằng đồng chí, bằng những tên gọi của giai cấp vô sản, và luôn luôn gọi tôi là Hoàng thượng.

Frédéric Mitterand : Cụ Hồ Chí Minh mời ngài làm cố vấn tối cao của Chính phủ?

– Bảo Đại: Vâng, lúc đó không một lý do gì để mà từ chối bởi vì mọi người Việt Nam đều theo Cụ. Điều chúng tôi muốn, là nước nhà phải được độc lập. Tôi muốn làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Mọi người Việt Nam đều muốn ủng hộ chính phủ ấy để tranh thủ một nền độc lập thật sự.

10393691_10205012262617699_1190851782175220524_n

Frédéric Mitterand : Ngài đã ở gần cụ Hồ Chí Minh, cụ ấy đã cho ngài cảm tưởng thế nào của cụ ấy? Nay đã qua một thời gian dài, cảm tưởng ấy có thay đổi nhiều không?

– Bảo Đại: Không, không thay đổi. Tôi luôn luôn xét cụ Hồ Chí Minh ngoài cái tư tưởng cộng sản của ông ấy. Ông hãy nhớ đại hội Tours, cụ Hồ ở Pháp lúc ấy. Rồi cụ đi Moscou để lập đảng Cộng sản Việt Nam.

Frédéric Mitterand : Nhưng đối với ngài, cụ Hồ cũng là một nhà ái quốc?

– Bảo Đại : Đối với tôi, còn hơn thế nữa, đó là một người có tinh thần quốc gia. Cụ là một người yêu nước. Tiếc thay sau lưng cụ có một ủy ban, là Xô viết tối cao, gồm có vài người Ba Lan, người Nga, bắt buộc cụ phải tiến tới.

Frédéric Mitterand : Trong cuốn sách của ngài, không thấy có một lời buộc tội khắt khe nào đối với cụ Hồ. Ngài quý trọng cụ Hồ? Và cũng thế, quả là rất ngạc nhiên khi thấy cụ Hồ không bao giờ công kích ngài?

– Bảo Đại : Không, không có lý do gì để tôi công kích Cụ ấy. Ban đầu, tôi còn ủng hộ Cụ ấy nữa. Cố gắng đưa nước nhà thoát khỏi chiến tranh, vì chúng tôi đã khổ vì chiến tranh.

Frédéric Mitterand : Một sự kiện lạ lùng. Có lúc cụ Hồ đã nghỉ đến việc trao lại quyền hành cho ngài?

– Bảo Đại : Nhưng việc này chính tự tay cụ Hồ. Một hôm cụ Hồ đến gặp tôi. Trước đó, cụ đã gọi điện thoại, Cụ nói sẽ đến gặp tôi. Tôi tưởng Cụ ấy ốm. Cụ nói với tôi: “Không có, tôi muốn ngài nắm lại chính quyền”. Tôi hỏi : “Tại sao?”. Cụ nói : “Tôi bị để ý quá, tôi quá đỏ, tôi cảm thấy không được Đồng minh tín nhiệm”. Tôi tưởng Cụ đùa. Cụ nói : ‘Không có, ngài hãy trình diện một chính phủ vào cuối ngày hôm nay”. Trong ngày tôi đã có nhiều cuộc tiếp xúc, cho đến chiều thì cụ Hồ gọi lại cho tôi. Cụ nói : “sau khi đã suy nghỉ kỷ lại, xin ngài bỏ qua cho tôi chuyện vừa qua. Trước cái khó khăn của hoàn cảnh này, tôi không có quyền đào nhiệm”. Tôi nói : “Vậy thì xin Cụ hãy tiếp tục”.

Bế mạc "Tuần lễ vàng" tại Nhà hát lớn Hà Nội, Cựu hoàng Bảo Đại lúc này là cố vấn Vĩnh Thuỵ lên cổ vũ đấu giá tấm hình Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khi đồng bào quần chúng nhân dân tề tựu ngoài quảng trường chờ đón kết quả

Bế mạc “Tuần lễ vàng” tại Nhà hát lớn Hà Nội, Cựu hoàng Bảo Đại lúc này là cố vấn Vĩnh Thuỵ lên cổ vũ đấu giá tấm hình Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khi đồng bào quần chúng nhân dân tề tựu ngoài quảng trường chờ đón kết quả

Frédéric Mitterand : Quả là quá ngạc nhiên., rất xúc động khi thấy có sự đoàn kết cao như vậy. Tại sao cuộc thương thuyết với nước Pháp bị bế tắc? Phải chăng lỗi hoàn toàn về phía Pháp?

– Bảo Đại : Hãy bắt đầu với Hiệp ước ngày 6-3. Ký giữa Sainteny và cụ Hồ. tôi biết rõ hiệp ước ấy vì tôi đã soạn thảo với cụ Hồ. Hiệp ước ký xong thì tôi đi Trung Quốc. Sau đó là Hội nghị Fontainebleau. Khi cụ Hồ sang Pháp. Hội nghị không đạt kết quả gì, vì mỗi bên đều giữ vững lập trường của mình. Không ai muốn thương lượng thật sự, phía Pháp cũng như phía Việt Nam.

Frédéric Mitterand : Tôi tưởng tượng có những trang “tít” trên các báo. Ngài đã trở nên một ông vua “đỏ”?

– Bảo Đại : Hoàn toàn không như vậy. Mọi người gọi tôi là công dân Vĩnh Thụy. Chỉ có thế.

Frédéric Mitterand : Lúc ấy ngài biết gì về chủ nghĩa cộng sản? Ngài đã nắm hết chủ nghĩa cộng sản?

-Bảo Đại : Không, tôi biết rất ít.

Frédéric Mitterand : Trong khoảng thời gian hai năm ấy, ngài đã ở bên cụ Hồ, và ngài đã giúp cho cụ Hồ nhiều việc quan trọng. Nếu phải lặp lại việc này hôm nay, ngài cũng sẽ lặp lại chăng? Ngày nay ngài đánh giá việc này thế nào?

– Bảo Đại : Còn tùy. Nếu là vì hạnh phúc của thần dân tôi, tôi cũng sẽ làm.

Frédéric Mitterand : Nhưng việc này có phục vụ dân không?

– Bảo Đại : Tôi không nghỉ như vậy.

Frédéric Mitterand : Chiến tranh thực sự bùng nổ giữa Pháp và Việt Minh, một cuộc chiến ác liệt, gian khổ. Ngài là một người lưu vong. Ngài không còn gì trong tay cả. Tuy vậy, lần hồi, ngài lại được công luận chú ý, nhất là các người Pháp đã biết ngài, và đông đảo người Việt Nam muốn độc lập, nhưng không muốn cộng sản?

– Bảo Đại : Để nói cho rõ hơn, sau khi đô đốc d’Argenlieu mãn nhiệm kỳ. Ông Bollaert sang Đông Dương với chỉ thị của Paris là gắng khôi phục hòa bình. Dưới hình thức nào? Kêu gọi tất cả những người đang chiến đấu chống Pháp, và những người quốc gia đang đứng ngoài cuộc chiến lúc ấy, có nhiều người Việt Nam đã nghỉ đến tôi. Ông Bollaert đã đứng ra kêu gọi qua bài diễn văn nổi tiếng đọc ở Hà Đông, trong bài diễn văn này ông đã nói đến hai chữ Độc lập, nhưng không nói bằng tiếng Pháp, mà bằng tiếng Việt. Lúc đó, tôi có tiếp một ông sứ giả của ông Bollaert, người này nói với tôi như sau : “Ngài phải đáp lại lời kêu gọi của ông Bollaert. Nếu ngài không trả lời, cụ Hồ Chí Minh sẽ trả lời và sẽ qua mặt ngài”. Tôi đáp :” Tôi rất muốn thế, tôi chờ cụ Hồ trả lời vì quý ông đã nhắm vào cụ Hồ mà kêu gọi”. Sau một thời gian, vì không ai đáp lại lời kêu gọi của ông Bollaert và vì đã có nhiều người quốc gia muốn tập hợp lại và khẩn khoản xin tôi tiếp xúc với đại diện nước Pháp, trong bối cảnh đó, tôi đã chấp thuận gặp ông Bollaert ở vịnh Hạ Long. Đó là lần tiếp xúc đầu tiên.

Frédéric Mitterand : Thời gian tiếp xúc có lâu không?

– Bảo Đại : Thời gian tiếp xúc là một ngày. Ông Bollaert muốn tuyên bố Thống nhất – Độc lập. Nhưng ngược lại, ông đưa ra nhiều tu chính án hoàn toàn không phù hợp với tôi.

Frédéric Mitterand : Và ngài đã bác bỏ?

– Bảo Đại : Do đó tôi đã từ giã ông ta. Tôi nói với ông ta rằng, tôi chỉ gặp ông với tư cách cá nhân. Nước tôi và nhân dân tôi không cho tôi một ủy nhiệm gì, để ký bất cứ điều gì cả. Ông Bollaert đáp : “Đây là lần tiếp xúc đầu tiên”.

Frédéric Mitterand : Điều gì đã khiến cho ngài trở về nước?

– Bảo Đại : Đối với tôi, đây là một cơ hội mà tôi có thể nói là lịch sử. Bởi vì có một điều mà ít người Việt Nam biết đến, đó là tôi phải chuộc lại lỗi lầm của tổ tiên tôi: để mất sáu tỉnh Nam Kỳ.

Frédéric Mitterand : Đất Nam Kỳ, đó là các vùng Alsace-Lorraine của nước Việt Nam?

– Bảo Đại : Đúng vậy.

Frédéric Mitterand : Sau cùng, ngài đã chấp thuận trở về nước. Kỳ này đã tranh thủ được Độc lập và Thống Nhất?

– Bảo Đại : Không, không phải ở vịnh Hạ Long mà tôi tranh thủ được Độc lập, mà chính là sau khi ông Bollaert ra đi, kể từ năm 1949, tôi đạt được các thỏa hiệp đầu tiên với Tổng thống Pháp Auriol. Không phải giống như các thỏa hiệp ngày nay, mà là trao đổi văn thư.

Frédéric Mitterand : Một tình trạng thật lạ lùng. Ngài đã là vua, ngài đã là ông Vĩnh Thụy, đại biểu quốc hội thời Hồ Chí Minh, và ngài đã trở về với tư cách đứng đầu một nhà nước. Nhà nước đó có hình thức thế nào? Ngài là Đức Bảo Đại – Tổng thống nước cộng hòa?

– Bảo Đại : Không, không phải tổng thống vì lúc ấy chưa xác định được thể chế. Tôi tự phong tôi là Quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam. Tôi nói với nhân dân Việt Nam rằng : Khi tôi đã làm xong nhiệm vụ của tôi, tức là cụ thể hóa nền độc lập, xây dựng lại đất nước, đến lúc đó, chính nhân dân sẽ chọn lấy chế độ mình muốn. Tôi không chủ trương một chế độ nào cả. Tôi chỉ tự phong một cách đơn giản là Quốc trưởng thôi.

Ảnh : Tháng 3/1949 Bảo Đại về nước và đến ngày 1/7/1949 thì được tấn phong làm Quốc trưởng trong Chính phủ Lâm thời của Quốc gia Việt Nam

Ảnh : Tháng 3/1949 Bảo Đại về nước và đến ngày 1/7/1949 thì được tấn phong làm Quốc trưởng trong Chính phủ Lâm thời của Quốc gia Việt Nam

Frédéric Mitterand : Nền độc lập đầu tiên, có người đã trách ngài rằng đó là nền độc lập của Nhật; còn lần này ngài sẽ không bị mang tiếng rằng đó là độc lập của Pháp?

– Bảo Đại : Hoàn toàn không. Người Pháp đã thương lượng thực sự với tôi. Độc lập. Thành lập quân đội Quốc gia. Tôi đã có đại diện ngoại giao ở nhiều nước khác. Rất nhiều nước đã thừa nhận chúng tôi.

Frédéric Mitterand : Ngài có nhiều bạn trong chính phủ Pháp. Ngài có những bạn trung thành với ngài không?

– Bảo Đại : Tổng thống Auriol là một người rất thông cảm với tôi và đã giúp tôi rất nhiều. Bộ trưởng ngoại giao, ông Bidault.

Frédéric Mitterand : Tổng thống Auriol, một đảng viên Đảng Xã hội, cựu Bộ trưởng trong mặt trận bình dân. Ngài có mâu thuẫn với những ai đã nắm được lịch sử?

– Bảo Đại : Ông ấy là đảng viên đảng Xã hội, việc này không có gì quan trọng với tôi cả, miễn là qua ông ấy, tôi đạt được các nguyện vọng của nhân dân tôi. Đó là điểm chính yếu.

Frédéric Mitterand : Ngài trở về Việt Nam, và trong vai trò của ngài, ngài đã được dân chúng đón tiếp nồng nhiệt. Ngài rất được lòng dân vào thời đó. Việc này diễn tiến ra sao?

– Bảo Đại : Tôi chưa bao giờ cần mưu sự đắc nhân tâm. Tôi trở về nước để làm một nhiệm vụ với đất nước và nhân dân Việt Nam.

Frédéric Mitterand : Thành lập Quân đội Quốc gia, đây là một việc rất quan trọng đối với ngài?

– Bảo Đại : Đáng tiếc là đã có một sự chậm trễ. Phải chờ cho đến lúc có tướng De Lattre mới thành lập được quân đội của tôi. Tướng De Lattre đã hiểu là phải có một quân đội Quốc gia.

Frédéric Mitterand : Giữa De Lattre với ngài, có một quan hệ đặc biệt?

– Bảo Đại : Ban đầu có một vài va chạm giữa De Lattre với tôi, nhưng sau một thời gian, khi tôi đã thuyết phục được De Lattre rằng ngoài quân đội viễn chinh Pháp, cần phải có một yểm trợ, tức là quân đội Quốc gia. Ông ta đã hiểu ngay, ông ta đã lập nên các thành phần đầu tiên của quân đội tôi. Ông đã cho con trai ông phục vụ ở một tiểu đoàn và anh này đã chết trận.

Frédéric Mitterand : Nhưng người Pháp trong quân đội viễn chinh đã không phải vì ngài mà chết trận?

– Bảo Đại : Những quân nhân đầu tiên, đến Việt Nam thời tướng Leclerc, nghỉ rằng họ đã chiến đấu cho nước Pháp. Dần dần, đầu óc của quân nhân Pháp cũng thay đổi. Họ đã hiểu rằng, không phải họ chiến đấu cho nước Pháp, mà họ chiến đấu cho một dân tộc, dân tộc Việt Nam, để dân tộc khốn khổ này không bị rơi vào tay cộng sản. Họ chiến đấu cho nhân loại.

Frédéric Mitterand : Nhưng ngài cũng xót xa vì cuộc chiến tranh này, vì người cộng sản Việt Nam cũng là đồng bào của ngài?

– Bảo Đại : Đương nhiên tôi cũng hiểu rằng đây là cuộc nội chiến khốc liệt.

Frédéric Mitterand : Cũng vào lúc ấy, phải chăng ta đã thua trên một mặt trận khác? Giới truyền thông đã hiểu rõ những gì ngài muốn làm không? Giới báo chí đã hiểu rõ những gì ngài muốn làm không? Cái thời mà người ta kể mọi thứ về vua Bảo Đại? (Biện minh)

– Bảo Đại : Tất cả điều đó đều không quan trọng. Điều quan trọng, theo tôi là giới truyển thông đã chỉ trích quân đội Pháp đang chiến đấu ở Đông Dương. Họ không hiểu vì sao các thanh niên lại đi đánh như thế. Tôi có cắt nghĩa rằng các thanh niên ấy chiến đấu vì chúng tôi. Báo chí Pháp hoàn toàn không hiểu. Thậm chí chính phủ Pháp thời đó cũng không hiểu.

Frédéric Mitterand : Lúc ấy, ngài hay trở về Pháp. Ngài có nhiều tiếp xúc với người Pháp. Ngài có cảm thấy rằng chính sách ấy đang suy sụp? Ngài có cảm tưởng thế nào khi thấy cuộc chiến không thể kết thúc?

-Bảo Đại : Chiến tranh thời đó không có lính “nghĩa vụ” Pháp. Chỉ có lính tình nguyện. Dư luận Pháp đã rất hiểu lầm về cuộc chiến này.

Frédéric Mitterand : Có thể thắng được cuộc chiến này không?

– Bảo Đại : Với điều kiện không phải tung ra tất cả mọi phương tiện. Tình hình khả quan cho đến lúc nước Pháp ở trong thế phải cầu hòa, từ đó mới có vụ Điện Biên Phủ. Vì sao lúc đó, đối với nước Pháp, người ta muốn chấm dứt chiến tranh. Xin ông nhớ lại chiến tranh Triều Tiên. Cần phải chấm dứt hai cuộc chiến. Từ đó, cần có cuộc họp thượng đỉnh, là Hội nghị Geneve.

Frédéric Mitterand : Trong cuốn hồi ký của ngài, ngài có nói : “bỗng nhiên có cảm giác một sự trống rỗng”.

– Bảo Đại :Lúc ấy, quân đội của tôi chưa có khả năng hoàn toàn tác chiến. Cần phải vài năm nữa, quân đội của tôi mới có thể thay thế quân đội Pháp. Vì vậy, tôi đã nói với tướng Salan là Tổng tư lệnh thời ấy : Không nên có những cuộc hành quân lớn; không nên hy sinh nhân lực; hãy tạo một loại bình phong để tôi có thể củng cố quân đội Quốc gia, tạo cho nó khả năng tác chiến. Khổ thay, nước Pháp muốn chấm dứt cuộc chiến; tiếp theo Hội nghị Berlin là Hội nghị Geneve; người ta muốn mở rộng các cuộc hành quân, trái với những gì tôi đã yêu cầu Salan; từ đó đưa đến Điện Biên Phủ; Điện Biên Phủ là một kế hoạch đã kết thúc trong sự thảm bại (của Pháp).

Frédéric Mitterand : Đã có quyết định đẩy nhanh trận Điện Biên Phủ. Trận Điện Biên Phủ thảm bại, khủng khiếp, nhưng có thể khắc phục được. Trên thực tế thì đã có quyết định bỏ rơi Việt Nam cho cộng sản?

– Bảo Đại : Không phải bỏ toàn thể nước Việt Nam, nhưng Geneve nước Việt Nam bị chia đôi, một phần cho cộng sản, một phần cho quốc gia. Ngoài ra, phe cộng sản được chia nhiều hơn là họ mong đợi.

Frédéric Mitterand : Chính vì lúc đó thì ông Diệm trở lại chính trường?

Bảo Đại : Vì Việt Nam bị cắt làm đôi, tôi không còn một vai trò nào nữa. Tôi mời ông Diệm ra cầm quyền. Vì sao ông Diệm? Vì ông Diệm đại diện cho một ý thức hệ : đó là một người công giáo có thể ngăn chặn được ý thức hệ cộng sản.

Frédéric Mitterand : Ông Diệm trước đó đã luôn luôn bày tỏ lòng trung thành đối với ngài? Nay đã có một bước ngoặt, điều gì đã xảy ra?

– Bảo Đại : Ông ta bị giật giây bởi toàn bộ gia đình ông ta, và cũng bởi các quan thầy Mỹ. Khi tôi yêu cầu ông Diệm cầm quyền, tôi có nói việc này cho Bộ trưởng ngoại giao Mỹ Foster Dulles. Lúc ấy ông ta không muốn ông Diệm. Một thời gian sau, tôi mới hiểu vì sao. Bởi vì người Mỹ chưa sẵn sàng nắm nước Việt Nam, họ muốn giữ lại vai trò ông Diệm làm dự phòng, để tung ra khi thuận tiện.

Frédéric Mitterand :Mục đích của ông Diệm? Một chế độ gia đình trị?

– Bảo Đại : Ông không có mục đích chính xác. Dẫu sao ông ta cũng không có tham vọng dựng lên một triều đại. Ông ta muốn cai trị theo một loại độc tài con, nói đúng hơn, đó là một chế độ độc tài gia đình trị.

– Frédéric Mitterand : Ở Triều Tiên thời đó có Lý Thừa Vãn?

– Bảo Đại : Và có Magsaysay ở Phi Luật Tân.

Frédéric Mitterand : Ngài có thấy người Mỹ chú ý đến Việt Nam? Ngài có thấy bóng dáng người Mỹ sau các sự kiện này?

– Bảo Đại : Tôi thấy rất rõ là người Mỹ muốn có mặt ở Thái Bình Dương. Chiến tranh Algerie đã bắt đầu. Người Mỹ đã làm một loại trao đổi : để cho nước Pháp giải quyết vấn đề Algerie, và nước Pháp rút chân ra khỏi Việt Nam, nhường chỗ cho nước Mỹ.

Frédéric Mitterand : Khi Hiệp ước Geneve được ký kết, và ông Diệm lần lần cũng có quyền lực ở Việt Nam, thì ngài ở Pháp. Ngài có nghỉ chuyện trở về Việt Nam?

– Bảo Đại : Không, hoàn toàn không. Đối với tôi, thế là hết. Tôi đã nói với các đồng minh của tôi và các nước ủng hộ tôi: Vai trò của tôi đã chấm dứt, hoặc tôi là chủ từ bắc chí nam, hoặc tôi là không gì hết. Vì quý vị đã cắt đất nước của tôi làm hai, tôi sẽ cử một người đứng ra, coi phần còn lại, do đó có ông Diệm.

Frédéric Mitterand : Ngài thấy thế nào khi ông Diệm tuyên bố nền cộng hòa sau một cuộc trưng cầu dân ý? Cảm tưởng của ngài thế nào?

– Bảo Đại : Tôi biết trước chuyện này sẽ xảy ra. Tôi hoàn toàn không bị bất ngờ, bởi vì mọi thứ đã được xếp đặt trước. Tôi không muốn nhảy xuống vũ đài để bảo vệ cái thế của tôi.

Frédéric Mitterand : Năm 1955, ngài có nghỉ rằng chắc chắn chiến tranh sẽ tái tục, hay có thể giữ nguyên trạng trong một thời gian dài?

– Bảo Đại : Tôi đã hy vọng giữ nguyên trạng như nước Đức : Tây Đức và Đông Đức. Tôi đã nghỉ rằng miền Nam giàu hơn miền Bắc, sẽ thu hút người miền Bắc. Xui thay, sự việc xảy ra đã không phải như thế. Tôi cũng biết người Mỹ có mặt trong vụ này.

Frédéric Mitterand : Người con bình thản trong cung điện Huế ngày xưa, bây giờ chịu đựng các phán xét tiêu cực hay sự im lặng, hay ngài đã đau khổ?

– Bảo Đại : Không, hoàn toàn không. Tôi đã trở lại thời thơ ấu, đây là một thái độ đúng. Chính nhờ cái giáo dục ấy mà tôi đã giữ được mọi sự thanh thản trong lòng.

Frédéric Mitterand : Bây giờ, ngài đã sống tại Pháp hơn 35 năm nay, một cuộc sống giản dị, rất đứng đắn nhưng không có nhiều phương tiện. Dẫu sao cũng có nhiều người biết ngài, và rõ ràng rất thích quan hệ với ngài. Ngài đã thích nghi với đời sống ở đây như thế nào?

– Bảo Đại : Tôi đã thích nghi rất tốt với đời sống ở Pháp. Tôi đã đến đất nước này khi còn rất trẻ. Tôi cũng có thể trở về nước tôi nhưng tôi thích ở Pháp hơn bởi vì tôi biết rõ tính tình người Pháp. Tôi cảm thấy ở đây, ở Pháp, hoàn toàn như ở quê tôi.

Frédéric Mitterand : Nhưng đồng thời hình ảnh nước Việt Nam luôn luôn hiện ra trong đời sống của ngài?

– Bảo Đại : Tôi luôn luôn nhớ đến thần dân khốn khổ của tôi.

Frédéric Mitterand : “Tôi xa quê cha đất tổ thế là 25 năm” – Ngài đã viết như thế cách đây 10 năm- “25 năm trên đất Pháp, trên mảnh đất đã đón nhận tôi, với bao nhiêu kỷ niệm thời niên thiếu- Từ khi hoàng hậu Nam Phương qua đời, tình thương đã bị cướp mất quá sớm, và từ khi các con tôi bay xa, tôi thường là một người đơn chiếc. Tôi đã nếm qua và tôi đã sống qua những gì mà nhân dân tôi đang nếm qua và đang sống trong lúc này – nơi thì lòng bao dung, tình bằng hữu, nơi thì hiểu lầm, ác ý; sự đầm ấm khi gặp lại bạn cũ, sự lạnh lẽo của cảnh cô đơn. Trong thời gian đó, tôi luôn luôn sống theo nhịp tim của những người sống trong lo âu, bối rối. Tự đặt mình vào hoàn cảnh của họ, lòng tôi luôn luôn ôm ấp cùng một nguồn hy vọng”. Rồi một ngày kia, khi vua Bảo Đại không còn nữa, ông Vĩnh Thụy không còn nữa, ở Việt Nam còn có những người tưởng nhớ đến công đức của ngài không?

– Bảo Đại : Không phải tôi là người nói đến việc này. Xin để cho nhân dân tôi phán xét, xin để cho lịch sử phán xét tôi.

Posted in chính trị, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến : Chút Lính Miền Nam

Nguồn rfablog

Wed, 05/06/2015 – 10:28 — tuongnangtien

Cho tôi thắp một nén nhang

Khóc người đồng chí

Mà bấy lâu nay tôi cứ đinh ninh là ngụy

Tha thứ cho tôi một thế hệ bị lừa !

Lê Phú Khải

Bạn tôi, tất cả, đều là lính ráo. Chúng tôi không chỉ có chung những năm cầm súng, và một quãng đời tù mà còn chia chung rất nhiều … cố “tật!” Hễ gặp nhau là uống, và câu chuyện trên bàn rượu trước sau gì rồi cũng xoay quanh kỷ niệm về đám chiến hữu hồi còn chinh chiến: những thằng đã chết, những đứa đang vất vưởng ở quê nhà, hay lưu lạc (đâu đó) nơi đất lạ xứ người.

Thỉnh thoảng, khi (quá) vui, chúng tôi cũng hay mang những vị thượng cấp cũ ra làm đề tài giễu cợt. Hai ông huynh trưởng thường bị nhắc tới để cười chơi là Trần Hoài Thư, và Phan Nhật Nam. Lý do: cả hai vị vẫn nhất định chưa chịu giải ngũ, dù cuộc chiến đã tàn tự lâu rồi!

Trung Úy Trần Hoài Thư vẫn thản nhiên đưa quân Qua Sông Mùa Mận Chín. Đại Úy Phan Nhật Nam vẫn cứ la hét um xùm qua máy truyền tin (giữa Mùa Hè Đỏ Lửa) như thể là cái mùa Hè năm 1972 đó vẫn còn kéo dài đến bây giờ, dù hơn 40 năm đã lặng lẽ trôi, với cả đống nước sông – cùng nước suối, nước mưa, nước mắt… – đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống.

Sau khi cạn mấy đầy, rồi đầy mấy ly cạn (và sau màn trình diễn “một ngàn bài Bolero”) tôi hay xin "trân trọng tuyên bố cùng toàn thể các chiến hữu các cấp" rằng :

  • Ai viết cái gì tôi cũng đọc tuốt luốt, trừ hai vị thẩm quyền (nhí) này thì khỏi!
  • Sao vậy cà?
  • Bởi vì thơ với văn của hai ổng có nhiều câu mà “lỡ” đọc một là nó bị kẹt luôn trong đầu, gỡ không ra, nên tui không dám đọc thêm nữa:

Trên đầu ta mũ rừng nhẹ hẩng
Trong túi ta một gói thuốc chuồn
Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm
Ðể thấy miền Nam lính hiền ghê gớm

Ta lính miền Nam hề, vận nước ngửa nghiêng
Ta cũng lênh đênh cùng cơn mạt kiếp
Ta trèo lên cây hỏi rừng cho biết
một nơi nào hơn ở Việt Nam ?
Có người lính nào bi tráng hơn lính miền Nam ?

Trần Hoài Thư (“Ta Lính Miền Nam”)

Nguồn ảnh:internet

Không chỉ bi tráng, bi hùng, hay bi phẫn mà (đôi khi) người lính miền Nam còn phải đối diện với lắm nỗi bi thương:

“Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chỏng hỗn độn bốc khói xám… Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẵng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch đôi mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi đi vào chị ta đứng dậy, đứng thẳng người như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác. Thằng bé theo tôi cùng cùng tên hiệu thính viên lẻn ngay vào bếp kiếm thức ăn. Tôi đi đến trước chị đàn bà…

– Làm gì chị ngồi đây, không biết đang đánh nhau sao?

Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẵng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như một người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên tôi đưa tay đón lấy… Hai bộ áo quần, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng dây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai.

– Của chị đây hả? – Vẫn im lặng. Nỗi im lặng ngột ngạt, lạ lùng.

– Con mẹ này điên rồi thiếu uý, chắc sợ quá hóa điên…

Tên lính xua tay đuổi người đàn bà đi chỗ khác. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng.

– Chị kia quay lại đây tôi trả cái này… Tôi nói vọng theo.

Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng đôi mắt bây giờ vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hỏang thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi… Chị ta còn trẻ lắm, khỏang trên dưới hai bảy, hai tám tuổi, da trắng mát tự nhiên, một ít tóc xõa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú.

Tôi đưa trả chiếc lẵng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẳng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta:

– Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bực tam cấp. Khi nào tụi tôi đi thì chị đi theo… Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ… Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa… Từ từ chị đưa bàn tay lên hàng nút áo trước ngực…

Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi… Người đàn bà đã hiểu lầm tôi…

Chị ta không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này.

Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này… (Phan Nhật Nam. Dấu Binh Lửa. Sài Gòn: Hiện Đại, 1969).

Ở thời điểm này, có lẽ, Phan Nhật Nam không hề biết rằng “sự ngộ nhận đớn đau tủi hổ” của dân chúng với những người lính miền Nam chả phải là “ngẫu nhiên” đâu. Nó đã được đối phương chuẩn bị rất kỹ, và tuyên truyền rất công phu – theo như nhận xét (gần đây) của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“Ngày xưa ở miền Bắc VN, tôi đoán người ta tuyên truyền nói xấu về chế độ miền Nam VN dữ lắm. Bộ máy tuyên truyền ngoài đó đã thành công gieo được vào đầu óc của người dân thường rằng chế độ Mĩ Nguỵ rất ác ôn; lính Nguỵ chỉ đánh thuê, rất ác ôn đến nỗi họ ăn gan uống máu người…”

Và đây cũng chả phải chỉ là chuyện “ngày xưa ở miền Bắc” đâu. Sau khi thắng cuộc “bộ máy tuyên truyền” vẫn tiếp tục bôi bẩn và xỉ nhục những người lính miền Nam, như thể họ vẫn còn là những kẻ thù ác độc và nguy hiểm.

Rảnh, thử xem qua vài đoạn trong một truyện ngắn (“Chuyện Vui Điện Ảnh”) của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Bà viết viết về “tai nạn nghề nghiệp” xẩy đến cho một tài tử nghiệp dư, chỉ vì lỡ thủ vai một thằng lính miền Nam:

Chú Sa diễn vai thiếu úy Cón (nghe cái tên thôi cũng thấy ghét rồi), một tên ác ôn giết vợ, hãm hại vợ người, tàn sát trẻ nít, huênh hoang phá xóm phá làng, sau chết vì bị chó điên cắn…

Khi chú mặc bộ đồ rằn ri vô mình rồi, ông đạo diễn không chê vào đâu được. Long Xưởng hô máy một cái là nét mặt chú Sa lạnh như người chết, con mắt trắng dã, lừ đừ, nụ cười bí hiểm. Lúc quay cận cảnh khuôn mặt chú còn ghê nữa, da sần sùi, u uẩn như da cóc, tay chân đầy lông lá, cái răng cửa gãy chìa ra một nụ cười chết chóc với lỗ trống sâu hun hút.

Hồi đầu mọi người còn khen chú mặc bộ đồ mắc toi đó coi oai thiệt, nhưng rồi sau đó nín bằn bặt, người ta quên chú Sa ở hẻm Cựa Gà đi, chỉ còn lại thằng Cón ác ôn. Thằng Cón cưỡng hiếp vợ một cán bộ Đảng mình đang mang thai.

Tới chừng biết đứa bé kia không phải con mình, hắn xé đứa nhỏ làm hai ngay trên giường đẻ, trước mặt người mẹ, cầm bằng đã giết chị ta. Phim bạo liệt, trần trụi. Thằng Cón chết, nó cũng không chết bình thường như người ta, nó chết trong dằn vặt.

Cái mặt lạnh tanh gớm ghiếc của nó co giật méo xệch, bọt mép sùi sụt. Nó cắn vô mấy thằng lính đứng quanh nó. Điên dại tới lúc bị bắn chết. Mọi người theo dõi thằng Cón chết, vừa hể hả vừa ghê tởm…

Chú Sa vẫn tiếp tục đi về trên con hẻm hẹp te mà nghe trống vắng thênh thang. Tụi con nít nghe tiếng xe đạp chú tè tè lọc cọc thì chắc mẩm đứa nào đứa nấy mặt xanh mặt tím chạy vô nhà trốn. Tụi nó hỏi nhau: "ổng đi chưa?", cũng tại má tụi nó nhát hoài, lì lợm, không ăn cơm là bị chú Sa ăn thịt. Rõ ràng là ấn tượng về thằng thiếu úy Cón mạnh mẽ quá sức tưởng tượng, rõ ràng là người ta bị giật mình bởi tội ác.

Bà con ngại ngần ác cảm giạt xa chú … Chú Sa thấy đây đúng là một tai nạn …

Cái “tai nạn” riêng của Chú sa chỉ xẩy ra trong phạm vi của một con hẻm nhỏ và sẽ không kéo dài lâu. Còn hàng triệu thằng lính miền Nam thật – cùng vợ con, thân nhân của chúng – không chỉ phải chịu đựng sự “ngại ngần ác cảm” của đám đông mà còn bị Nhà Nước Cách Mạng kỳ thị (và miệt thị) không biết đến bao giờ!

Mãi cho đến ngày 2 tháng 5 năm 2014, người ta mới nghe một viên chức ngoại giao của phe thắng cuộc, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, nói đôi lời tử tế:

Ngày xưa ta không thể nói là không có chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam. Đó là chính phủ cũng được quốc tế thừa nhận chứ. Đó cũng là một nhà nước có quân đội thực thi nhiệm vụ quốc gia của họ để bảo vệ chính nghĩa theo lý tưởng của họ.

Và đó cũng chỉ là sự tử tế ngoài miệng! Ngày 12 tháng 4 vừa qua, công an quận Hoàn Kiếm đã bắt giữ và buộc tội (“gây rối trật tự công cộng”) một số thanh niên đã mặc quân phục hay áo thun màu đen có biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, trong cuộc tuần hành vì cây xanh ở Hà Nội.

Các bạn trẻ mặc áo thun đen có biểu tượng QLVNCH. Ảnh: Nguyễn Lân Thắng

Hai tuần sau, sáng 27/4/2015, công an quận Hoàn Kiếm đã kết hợp với công an Nghệ An khám xét nhà của anh Nguyễn Viết Dũng (tức Dũng Phi Hổ) tịch thu quân phục lính VNCH của anh Dũng.

Việc gì mà phải hốt hoảng đến nỗi “khám nhà,” “tịch thu” và “vu vạ” tội trạng cho vài thanh niên chỉ vì y phục mà họ mặc trên người như thế? Chả lẽ cái chế độ hiện hành có thể bị rung chuyển chỉ bởi vài cái áo (“thun màu đen, có biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hoà”) sao?

Hơn nửa thế kỷ tuyên truyền lừa gạt, bôi bẩn, miệt thị những kẻ thua cuộc (bộ) chưa đủ nguôi ngoai thù hận hay sao? Nắm trọn quyền bính của cả một nhà nước trong tay mà sao có thể hành sử một cách đê tiện, và tiểu tâm đế́n thế?

Dù thế, thời gian đã không đứng về phe thắng cuộc, và đã dần hé mở dần chân dung của những người lính miền Nam:

Cho tôi thắp một nén nhang

Khóc người đồng chí

Mà bấy lâu nay tôi cứ đinh ninh là ngụy

Tha thứ cho tôi một thế hệ bị lừa !

Năm tháng đi qua

Gần hết cuộc đời tôi mới ngộ ra

Không giọt máu Việt Nam nào là ngụy

Trừ những thằng bán nước – đi đêm

Lê Phú Khải

Posted in chính trị, văn nghệ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Bùi Tín : Nhân ngày 30/4 : Cuộc chiến ‘cả nước là diễn viên’

Nguồn VOA

04.05.2015

Bài viết trước – “Cuộc chiến biệt vô tăm tích” – đã đề cập đến một nét đặc thù của cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Bài này lại nói đến một nét đặc thù nữa, chỉ người trong cuộc mới có thể nhận rõ, Đây là một nét không thể bỏ qua khi nghiên cứu, tổng kết về cuộc chiến tranh này.

Trước hết là những màn kịch của đảng. Rất điêu luyện, cao tay, tinh vi. Xin kể vài thí dụ.

Năm 1940, phát xít Nhật bắt đầu tiến công xuống phía Nam Châu Á, đe dọa Việt Nam. Đảng CS Đông Dương liền tổ chức ra Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh là tổ chức quần chúng của đảng CS, bao gồm các tổ chức Hội Thanh niên Cứu quốc, Hội Phụ nữ Cứu quốc, Hội Công nhân Cứu quốc…để che dấu kỹ bản chất CS của mình, thực hiện sứ mạng của Đệ Tam Quốc tế CS là nhuốm đỏ ba nước Đông dương thuộc Pháp.

Đây là màn kịch đầu tiên dấu kỹ tung tích CS, đề cao lòng yêu nước dành Độc lập để mở rộng thanh thế của đảng CS dưới chiêu bài chống Pháp đuổi Nhật. Lãnh đạo CS hiểu rất rõ là nếu trưng ra chiêu bài CS thì sẽ thất bại to vì nhân dân VN vẫn còn dị ứng với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, một phong trào tả khuynh nguy hiểm đề cao khẩu hiệu «chống trí-phụ-địa-hào, đào tận gốc, trốc tận rễ». Chính do màn kịch này mà phong trào Việt Minh lên cao, lên nhanh để Đảng CS cướp được chính quyền tháng 8/1945, lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân.

Khi thảo ra bản Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945, Hồ Chí Minh đã hoàn toàn có ý thức dấu kỹ tung tích CS và lập trường CS của mình, chỉ trưng ra tinh thần của cuộc cách mạng dân chủ tư sản, chỉ dẫn ra các tuyên ngôn cách mạng tư sản của Hoa Kỳ và Pháp, dấu kỹ Tuyên ngôn CS mà ông ta luôn coi là kim chỉ Nam cho mọi hành động của mình.

Đây là màn kịch cao thủ thứ 2, khi ông ta đóng kịch với nhà báo Pháp: «Tôi không phải CS, đảng tôi là Việt Nam». Trong 3 bức thư gửi Tổng thống Hoa Kỳ Truman để mong tranh thủ sự ủng hộ của nước Mỹ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đóng kịch như không dính dáng gì đến cộng sản. Thế nhưng phía Mỹ đã hiểu rõ Hồ Chí Minh là nhân viên kỳ cựu và trung thành của CS Quốc tế, không thể tin là người quốc gia, đó là nhân vật nguy hiểm cho cộng đồng quốc tế, cần xếp ở bên kia của trận tuyến «chiến lược be bờ chặn đứng chủ nghĩa CS» (Containment- of-Communist Strategy).

Ngày 11/11/1945 khi bị lộ tẩy đich danh là CS rồi , ông Hồ và lãnh đạo đảng CS lại dựng lên màn kịch «tự giải thể đảng CS Đông Dương», sự thật là chỉ rút vào bí mật và còn phát triển đảng CS mạnh hơn trước.

Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc, Đảng Lao động VN cũng là các màn kịch làm bình phong che dấu bản chất CS. Học thuyết Mác – Lê đề cao Đảng CS, giai cấp vô sản thế giới, tinh thần quốc tế vô sản, trong khi hạ thấp, coi nhẹ và phủ định các khái niệm quốc gia, đồng bào, tổ quốc, xã hội, gia đình, tôn giáo. Cho đến khi toàn thắng rồi họ mới hạ màn kịch, lại công khai tự nhận là Đảng Cộng sản. Mặt trận Tổ quốc bị phơi bày cái mặt nạ bằng mo không còn chút giá trị trước nhân dân, do một ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSVN chăn dắt một cách thô thiển vụng về sau khi kịch đã hạ màn.

Cho đến nay, vào ngày 30/4 lãnh đạo Dảng CS vẫn còn đóng kịch. Họ vẫn viết trên báo chí đây là «Ngày toàn thắng chống đế quốc Mỹ xâm lược», «Ngày kết thúc vẻ vang sự nghiệp chống Mỹ cứu nước», «Ngày đánh bại ngụy quân ngụy quyền tay sai Mỹ». Họ không nhầm lẫn đâu. Họ biết rõ Hoa Kỳ không xâm lược. Chính họ là kẻ rắp tâm thôn tính, xâm lược bằng vũ lực, chà đạp «quyền tự quyết của nhân dân miền Nam» do các Hiệp định Geneve và Paris đều long trọng khẳng định, mà chính họ đã ký tên cam kết. Họ phải bịa ra kẻ xâm lược để tự nhận là người chống xâm lược, phủi trách nhiệm, tự nhận là chính nghĩa, trong khi quân đội Mỹ chỉ hành động để bảo vệ thế giới dân chủ, trong đó có VNCH, theo chiến lược «be bờ chặn đứng thảm họa quốc tế cộng sản». Chính CS Việt Nam mới là một kiểu ngụy quân ngụy quyền do CS Moscow và CS Bắc Kinh nuôi dưỡng thành một tiền đồn của Quốc tế CS, một quân tốt thí. Lẽ ra lúc này họ phải bỏ đi cái trò đóng kịch nhầm vai, lộn vai như thế, nói lên đúng sự thật, khi chính họ đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ 20 năm chẵn và đang cần sự đầu tư và hỗ trợ của Hoa Kỳ và phương Tây.

Do CS chuyên nghề lừa dối và bịp bợm như thế nên cả xã hội VN một thời gian dài cũng nhiễm phải thói đóng kịch một cách trầm trọng và rộng khắp. Đây là một hiện tượng chưa được phát hiện, nêu lên thành hệ thống để nhận rõ thêm bộ mặt xấu xa của chủ nghĩa CS hiện thực. Nhà thơ Chế Lan Viên, người được coi là nhà thơ xuất sắc bậc nhất ở miền Bắc, khi chết đã để lại Di cảo nói rõ rằng ông ta đã lừa dối, đóng kịch ra sao. Trong bài «Trừ Đi» Chế Lan Viên viết: «Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ, Có phải tôi viết đâu, Một nửa cái cần viết vào thơ, Tôi đã giết đi rồi!». Trong bài «Ai? Tôi!» Chế Lan Viên viết: «Mậu Thân, 2000 xuống đồng bằng, Chỉ một đêm còn sống sót có 30, Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó? – Tôi !- người viết những câu thơ cổ võ Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi lúc xung phong… ». Đó là sự kiện ở Bình Định, Tết Mậu Thân đảng tung 2000 quân lính và cán bộ từ căn cứ xuống đồng bằng kêu gọi dân tổng khởi nghĩa và tổng nổi dậy, nhưng thất bại thê thảm, chết gần hết.

Chế Lan Viên viết Di cảo để lại, khi sống ông không dám nói ra. Ông có dũng khí nhận tội ác về mình, thật ra tội ác thuộc về lãnh đạo đảng CS đã coi sinh mạng thanh niên quân lính cán bộ như cỏ rác, ném vào cuộc chiến một cách mù quáng. Cả một lớp văn nghệ sỹ cũng như nhà báo của đảng đều đóng kịch như thế để có kế sinh nhai, về hùa với tội ác mà cứ ngỡ mình là chính nghĩa. Chính tôi cũng đã phải đóng kịch trơ trẽn như thế.

Người dân thường hồi ấy cũng đóng kịch. Tôi xin dẫn chứng sống về 2 bà chị tôi. Bà chị ruột tôi ở Hải Phòng có con trai cả là Hưng, sau khi học xong trung học, cháu 17 tuổi được gọi đi nghĩa vụ quân sự. Ở lớp cháu trước khi hết học kỳ cuối cả lớp hơn 30 nam sinh là đoàn viên Thanh niên CS Hồ Chí Minh đều làm đơn tình nguyện 100% đi nghĩa vụ quân sự. Trong đơn gọi là «tình nguyện» còn nêu rõ sẵn sàng đi đâu khi Tổ quốc cần, ngụ ý là sẵn sàng vào Nam chiến đấu. Thư tình nguyện còn được ghi thêm ý kiến cùng chữ ký của bố hoặc mẹ rất đồng tình với ý tự nguyện của con mình. Bà chị con ông bác ruột tôi cũng có con trai là Hiệp học rất giỏi, chuyên là lớp trưởng. Cháu cũng đến tuổi làm nghĩa vụ quân sự. Cháu cũng được quận đội Hoàn Kiếm tuyển mộ, lớp cháu hầu hết đều tình nguyện nhập ngũ, chỉ trừ các bạn quá nhẹ cân, có cố tật. Hai bà chị tôi đều lo âu, buồn khổ, nhưng tuyệt nhiên không dám lộ ra ngoài. Với láng giềng, với chính quyền khu phố cứ phải tươi cười đóng kịch trong khi nước mắt tràn ra khi đêm xuống. Các chị dò hỏi tôi có cách nào xin cho các cháu được miễn đi quân dịch để vào học tiếp Đại học, và nhất là làm sao nếu vẫn phải đi lính thì không phải đi Nam, vì câu chuyện «sinh Bắc tử Nam» là một cơn ác mộng khủng khiếp dai dẳng cho các bà mẹ đó. Có thể nói các bạn trẻ 10 đi chỉ chừng 2, 3 phần trở về lành lặn. Vậy mà các bà chị tôi vẫn thản nhiên đóng kịch dự lễ tuyển quân, rồi sau vài tháng lại dự lễ tiễn đưa đoàn quân có con mình lên đường vào Nam, với những vòng hoa vàng đỏ choàng quanh cổ. Đó là thời kỳ chiến sự miền Nam sôi động 1965-1970. Các bà chị tôi đau khổ biệt tin con mình hằng 3,4 năm trời, có khi được tin láng máng là cháu Hưng vào khu 5, Quảng Nam hay Quảng Ngãi, cháu Hiệp vào Tây Nguyên, Kontum hay Pleiku, để rồi cuối cùng 2 bà đều thót tim nhận giấy báo tử, chậm đến hơn một năm. Cháu Hưng hy sinh ở huyện Đức Phổ còn cháu Hiệp hy sinh ở chiến trường Tây Nguyên, cả hai đều mất xác, không biết chôn ở đâu. Sau này các bà đều đi vào Nam, lặn lội nhiều nơi, dùng cả những người có ngoại cảm đi tìm mộ, nhưng đành chịu. Các tấm bảng tuyên dương Liệt sỹ, tuyên dương Mẹ Liệt sỹ, Gia đình vẻ vang, được vỗ tay chào đón trong các cuộc họp khu phố không hề an ủi được các bà chị tôi. Nỗi xót xa đau buồn khôn nguôi kéo dài hàng chục năm, vẫn không thể biết 2 cháu hy sinh như thế nào, ở đâu, lúc nào, cũng không có một di vật dù nhỏ làm kỹ niệm. Hàng triệu gia đình, hàng triệu bà mẹ đau khổ dằn vặt khôn nguôi.

Có thể nói hàng triệu gia đình có con vào Nam chiến đấu đều bị cưỡng bách một cách tinh vi như thế, đều buộc phải cùng đảng và theo đảng đóng kịch như thế. Các thanh niên đều 100% bị «cưỡng bách tự nguyện» như thế để bị cho vào lò sát sinh, vào bộ máy nghiến thịt khổng lồ mang tên «cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm» phục vụ cho tham vọng quyền lực vô biên của Đảng CS tuân theo lệnh của Quốc tế CS do ông Hồ Chí Minh dắt dẫn suốt 85 năm từ khi thành lập Đảng CS năm 1930.

Cuộc đóng kịch dai dẳng về mọi mặt, cuộc lừa bịp chết người, hủy diệt oan uổng vô vàn sinh mạng trai tráng của dân tộc giữa tuổi thanh xuân cần kết thúc lúc này đã là quá muộn. Tất cả các «từ ngữ» liên quan đến màn kịch hủy diệt con người này cần xem xét và vĩnh viễn từ bỏ để thay vào những «từ ngữ» chính xác. Ai xâm lược, ai là ngụy quân ngụy quyền? Ai cứu nước hay gây tai họa cho nước? Ai chính nghĩa ai phi nghĩa? Toàn thắng cái gì? Giải phóng cái gì? Công lao nỗi gì? Vẻ vang, vĩ đại gì?

Sao tiếng nói riêng của Đảng CS lại vẫn cứ mang cái lốt giả là báo «Nhân Dân», sao Tòa án Nhân dân lại kết tội những người dân yêu nước chống bành trướng, sao Ủy ban Nhân dân quận Hoàn Kiếm lại có quyền cấm nhân dân thủ đô biểu tình bảo vệ cây xanh, sao Công an nhân dân lại ngang nhiên buôn sinh mạng người dân để kiếm cơ man nào là vàng khi bán bãi, bán tàu, thuyền, bán chỗ trên các tàu thuyền ọp ẹp trong thảm kịch «thuyền nhân» 40 năm về trước. Tất cả đã đến lúc phải sáng tỏ rõ ràng, minh bạch.

Cái tội cực lớn của Đảng CS là đã lấy dối trá làm lẽ sống của mình, rồi làm gương dối trá cho toàn xã hội – nhà nhà dối trá, người người dối trá, nhà trường dạy đối trá, học trò học dối trá – phá hoại nếp lương thiện, cương trực, chất phác của xã hội, phá hoại nền đạo đức và văn hóa thuần khiết của dân tộc, đến bao giờ mới hồi phục được.

Đảng CS phải hạ ngay các màn kịch đã kéo dài và nhân dân cũng không còn ai muốn cùng đảng đóng kịch trơ trẽn hay bi thảm ở mọi nơi mọi lúc như xưa nữa.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

TS Nguyễn Bách Phúc : “BÁO CÁO ĐẦU TƯ DỰ ÁN CẢNG HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ LONG THÀNH”: NH ỮNG BẤT CẬP VỀ PHÁP LUẬT

Nguồn boxitvn

02/05/2015

TS Nguyễn Bách Phúc

Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ & Quản lý TP.HCM HASCON

Viện trưởng Viện Điện – Điện tử – Tin học EEI

Chúng tôi may mắn được Văn phòng Quốc hội và Ủy ban Kinh tế của Quốc hội gửi cho trọn bộ Hồ sơ “Báo cáo đầu tư dự án cảng Hàng không Quốc tế Long Thành” (sau đây gọi tắt là Báo cáo) mà Chính phủ trình trước Quốc hội cuối năm 20014.

Sau khi nghiên cứu thận trọng, chúng tôi nhận ra nhiều bất cập lớn của Báo cáo, và hết sức ngạc nhiên khi thấy văn bản trình Quốc hội mà lại có quá nhiều lỗi nghiêm trọng về pháp luật. Xin được viết thành các bài bình luận.

Bình luận 1: Tên gọi của Báo cáo sai pháp luật

Theo 2 văn bản pháp luật, là Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003, tại Điều 3 Khoản 16, và Điều 36 khoản 2, và Nghị định số 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ngày 12 tháng 02 năm 2009, tại Điều 5, thì với công trình Sân bay Long Thành, Chính phủ phải trình Quốc hội Báo cáo với tên chính xác là“Báo cáo đầu tư xây dựng công trình cảng Hàng không Quốc tế Sân bay Long Thành”, cũng được gọi là “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng công trình cảng Hàng không Quốc tế Sân bay Long Thành”. Nhưng vừa qua Chính phủ đã trình Quốc hội “Báo cáo đầu tư dự án cảng Hàng không Quốc tế Long Thành”, đã sửa cụm từ “xây dựng công trình” thành từ “dự án”.

Lỗi này không thể xem là nhỏ, không chỉ thể hiện cung cách làm việc thiếu tôn trọng pháp luật, mà quan trọng hơn, là chứng tỏ tác giả không hiểu rõ văn bản pháp luật, bởi lẽ từ “Dự án”, theo Luật xây dựng 2003 và Nghị định 12/2009, lại đồng nghĩa với “Báo cáo nghiên cứu khả thi”, là Báo cáo chỉ được thiết lập sau khi Quốc hội ra Nghị quyết về chủ trương đầu tư.

Lưu ý rằng từ đầu năm 2015, khi Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014 có hiệu lực, thì tên gọi của 2 công việc này sẽ chính thức như sau:

– “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng công trình” thay cho “Báo cáo đầu tư xây dựng công trình”.

– “Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng công trình” thay cho “Dự án đầu tư xây dựng công trình”.

Bình luận 2: Nội dung Báo cáo là nửa vời, trái pháp luật

Báo cáo khẳng định quy mô của công trình là 100 triệu hành khách/ năm, sử dụng 5.000 ha đất; phân kỳ đầu tư làm 3 giai đoạn, giai đoạn 1 kết thúc năm 2023 với công suất 25 triệu hành khách năm, giai đoạn 2 kết thúc năm 2030 với công suất 50 triệu hành khách năm, giai đoạn 3 kết thúc năm 2050 với công suất 100 triệu hành khách năm.

Báo cáo trình Quốc hội, là để xin Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư một công trình hoành tráng như thế, vào cỡ lớn nhất thế giới như thế.

Quốc hội khi “bấm nút” phải xem xét nhiều chỉ tiêu, nhưng quan trọng nhất và quyết định nhất, là hiệu quả kinh tế xã hội của toàn công trình.

Tiếc thay Báo cáo lại chỉ tính toán và trình Quốc hội chỉ tiêu này của giai đoạn 1, còn của giai đoạn 2, của giai đoạn 3 và của toàn công trình thì không thấy trình.

Sự lập lờ nửa vời đó là hoàn toàn trái pháp luật, và có thể nói không sai, là cố tình “đánh đố” những người “bấm nút”.

Phải chăng chủ đầu tư chỉ mong Quốc hội “bấm nút” cho “giai đoạn 1 của công trình”?

Xin thưa, Luật Xây dựng 2003, Luật Xây dựng 2014 và Nghị quyết 49/2010/QH12 của Quốc hội không có điều nào khoản nào quy định thông qua một phần hoặc một giai đoạn của công trình.

Ngoài ra, chúng tôi cũng hết sức băn khoăn thắc mắc, rằng việc tính toán các chỉ tiêu của công trình vốn không có gì khó khăn đối với các chuyên gia và các Đơn vị tư vấn đầu tư, tại sao ở đây lại không tính?

Bình luận 3: Trình tự thiết lập Báo cáo là trái pháp luật

Theo 4 Văn bản pháp luật: Luật Xây dựng số16/2003/QH 11, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP, LUẬT QUY HOẠCH ĐÔ THỊ số 30/2009/QH12 ngày 17/06/2009 và NGHỊ ĐỊNH về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị s37/2010/NĐ-CP ngày 07 tháng 4 năm 2010, thì trình tự đầu tư xây dựng công trình Sân bay Long Thành phải như sau:

– Chủ đầu tư thiết lập “Báo cáo đầu tư xây dựng công trình” (“Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng công trình”) trong đó chủ yếu là thiết kế sơ bộ về công trình.

– Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư.

– Chủ đầu tư trên cơ sở quy mô của công trình trong “Báo cáo đầu tư xây dựng công trình”, thiết lập “Quy hoạch xây dựng chi tiết”, là quy hoạch về sử dụng đất, về không gian kiến trúc, cảnh quan, môi trường, sao cho phù hợp với Quy hoạch vùng, Quy hoạch chung. “Quy hoạch xây dựng chi tiết” sau khi được Thủ Tướng duyệt, sẽ là một trong những cơ sở để thiết lập “Dự án đầu tư xây dựng công trình” (“Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng công trình”).

– Thủ Tướng Chính phủ giao Bộ Xây dựng thành lập Hội đồng thẩm định, tiến hành thẩm định, trình Thủ Tướng phê duyệt“Quy hoạch xây dựng chi tiết”.

Tại sao pháp luật quy định phải thiết lập “Báo cáo đầu tư” trước tiên?

“Báo cáo đầu tư” sơ bộ xác định công trình là gì, quy mô công trình ra sao, lựa chọn kỹ thuật công nghệ và thiết bị nào, dự toán Tổng vốn đầu tư là bao nhiêu, đưa ra những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, xác định lợi ích kinh tế – xã hội của công trình. Công việc này là công việc của các chuyên gia tư vấn đầu tư, họ phải có chuyên môn sâu sắc và kinh nghiệm dày dạn về chuyên môn hẹp tương ứng với công trình, trong trường hợp này là chuyên môn hẹp về thiết kế sân bay. Những chuyên gia hoặc những đơn vị tư vấn không có chuyên môn về thiết kế sân bay sẽ không làm được Báo cáo đầu tư xây dựng công trình sân bay.

Công việc này có thể gọi chính xác là “Thiết kế sơ bộ”. Hiện nay trong Luật Xây dựng 2014 số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014 đã chính thức sử dụng thuật ngữ này. Điều 3, khoản 40: Thiết kế sơ bộ là thiết kế được lập trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, thể hiện những ý tưởng ban đầu về thiết kế xây dựng công trình, lựa chọn sơ bộ về dây chuyền công nghệ, thiết bị làm cơ sở xác định chủ trương đầu tư xây dựng công trình. Điều 53 khoản 4, Điều 78 khoản 1, Điều 134 khoản 1 đều góp phần làm rõ và khẳng định điều này.

Tại sao pháp luật quy định thiết lập “Quy hoạch xây dựng” sau khi lập “Báo cáo đầu tư”?

Quy hoạch xây dựng công trình là quy hoạch về sử dụng đất, về không gian kiến trúc, cảnh quan, môi trường, sao cho phù hợp với Quy hoạch vùng, Quy hoạch chung. Quy hoạch này do các chuyên gia hoặc các đơn vị tư vấn quy hoạch thực hiện. Chuyên môn sâu của họ cho phép họ có thể lập quy hoạch cho mọi loại công trình, như sân bay, bến cảng, khu công nghiệp, khu dân cư, mọi loại nhà máy thuộc mọi lĩnh vực công nghiệp. Khi lập quy hoạch cho công trình, chuyên gia quy hoạch trước tiên phải được cung cấp thiết kế sơ bộ công trình (trong báo cáo đầu tư xây dựng công trình). Nếu không có những thông tin này, thì họ chẳng biết công trình ra sao, chẳng biết quy hoạch cái gì.

Chúng tôi không hiểu các chuyên gia quy hoạch của chủ đầu tư đã căn cứ vào đâu để lập quy hoạch cảng hàng không quốc tế Long Thành, trong khi chưa có thiết kế sơ bộ của Báo cáo đầu tư?

Thực ra khi lập Quy hoạch xây dựng công trình, pháp luật quy định phải có các bước “thiết kế quy hoạch”, lập “đồ án quy hoạch”. Nhưng những cái đó là những bước đi của chuyên môn quy hoạch, chứ không thể thay thế cho Thiết kế sơ bộ trong Báo cáo đầu tư xây dựng.

Nhưng rất tiếc Chủ đầu tư và tác giả Báo cáo đã không theo trình tự này, cụ thể:

– Trước ngày 21/2/2011 chủ đầu tư đã thiết lập “Quy hoạch cảng hàng không Quốc tế Long Thành” (khi chưa thiết lập“Báo cáo đầu tư xây dựng công trình”, khi chưa được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư).

– Ngày 21/2/2011 Bộ Giao thông Vận tải đã thiết lập “Báo cáo thẩm định Quy hoạch cảng hàng không Quốc tế Long Thành”, số 875/BC-BGTVT, là Báo cáo thẩm định của Bộ Giao thông Vận tải chứ không phải của Hội đồng thẩm định do Bộ Xây dựng chủ trì.

– Ngày 24/2/2011, Bộ Giao thông Vận tải đã trình thủ Tướng Chính phủ, tờ trình số 947/TTr-BGTVT, về việc “trình phê duyệt Quy hoạch Cảng hàng không Quốc tế Long Thành”.

– Ngày 14/6/2011 Thủ Tướng Chính phủ đã ra “Quyết định phê duyệt Quy hoạch Cảng hàng không Quốc tế Long Thành” số 909/QĐ-TTg.

– Ngày 8/5/2012, trên cơ sở Quyết định phê duyệt này, chủ đầu tư đã Quyết định chọn tư vấn lập “Báo cáo đầu tư”, là Công ty tư vấn Cảng hàng không Nhật Bản, Quyết định số 178/QĐ-TCTCHKVN (xem trang 2 của Tóm tắt Báo cáo).

– Ngày 1/10/2014, Chính phủ đã trình Quốc hội “Tờ trình Báo cáo đầu tư dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không Quốc tế Long Thành”, số 360/TTr-CP, cơ sở pháp lý của Tờ trình là 16 căn cứ pháp lý, trong đó quan trọng nhất vẫn chỉ là Quyết định phê duyệt Quy hoạch Cảng hàng không Quốc tế Long Thành số 909/QĐ-TTg, ngày 14/6/2011 của Thủ Tướng Chính phủ kể trên.

Sai trái tai hại nhất là ở chỗ: thiết lập “Quy hoạch cảng hàng không Quốc tế Long Thành” trước khi thiết lập “Báo cáo đầu tư xây dựng công trình cảng hàng không Quốc tế Long Thành”. Việc này thực chất đã gây ra những hậu quả nặng nề cho Báo cáo và cho công trình nếu được xây dựng mai sau.

Bình luận 4: Hậu quả nặng nề của sai trái

Chủ đầu tư đã căn cứ vào đâu để thiết lập Quy hoạch xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành khi chưa có Báo cáo đầu tư?

Chúng tôi không có trong tay văn bản Quy hoạch này của chủ đầu tư nên không thể trả lời được. Tuy nhiên cũng có thể “đoán mò” như sau:

“Quyết định phê duyệt Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Long Thành”, số 909/QĐ-TTg ngày 14/06/2011 của Thủ Tướng Chính phủ, có 6 điểm căn cứ, trong đó 4 căn cứ liên quan đến luật pháp và 2 căn cứ liên quan đến nội dung Quyết định, đó là:

– Quyết đinh số 21/QĐ-TTg ngày 8 tháng 01 năm 2009 của Thủ Tướng Chính phủ, phê duyệt Quy hoạch phát triển Giao thông vận tải Hàng không giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến 2030.

– Quyết định số 703/ QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2005 của Thủ Tướng Chính phủ, phê duyệt Quy hoạch vị trí, quy mô và khu chức năng Cảng hàng không quốc tế Long Thành.

Có thể đoán không nhầm rằng, chủ đầu tư trong khi không có thiết kế sơ bộ của Báo cáo đầu tư, đã sử dụng 2 Quy hoạch đã được phê duyệt trước đó để làm căn cứ cho Quy hoạch thứ 3 hôm nay.

Lưu ý rằng Quy hoạch thứ nhất và thứ hai, dẫu được phê duyệt, nhưng cũng chỉ là Quy hoạch.

Trong khi chưa có Báo cáo đầu tư, chưa có thiết kế sơ bộ, thì như phân tích ở trên, mọi Quy hoạch đều là giả tưởng, không có căn cứ thực. Và từ đó có thể hiểu ra rằng những thông số của công trình trong các Quy hoach đó chẳng qua chỉ có thể là tưởng tượng vô trách nhiệm của những người dựng lên Quy hoạch.

Hậu quả của sai trái này là thế nào? Là những thông số lạ lùng trong Báo cáo đầu tư hiện nay chắc chắn được hình thành từ mấy lần Quy hoạch của những chuyên gia Quy hoạch, những người không biết gì về thiết kế sân bay.

Điều này có thể dễ dàng chứng minh bằng một vài con số sau đây:

– Dự báo công suất sân bay Long Thành 100 triệu hành khách/năm sau năm 2050 là hoàn toàn thiếu cơ sở tính toán khoa học.

– Suất sử dụng đất của sân bay Long Thành là 50 ha/triệu hành khách (5.000 ha/100 triệu hành khách), trong khi các sân bay lớn trên thế giới, suất này chỉ từ 15 đến 25 ha/triệu hành khách, nghĩa là sân bay Long Thành nhiều gấp 2 đến 3,3 lần thế giới.

– Suất sử dụng đất Giai đoạn 1 của sân bay Long Thành là 102 ha/triệu hành khách (2565 ha/25 triệu hành khách), trong khi các sân bay lớn trên thế giới chỉ từ 15 đến 25 ha/triệu hành khách, nghĩa là Giai đoạn 1 sân bay Long Thành nhiều gấp 4 đến 6,6 lần thế giới.

– Suất đầu tư của sân bay Long Thành, giai đoạn 1 là 312 triệu USD/triệu hành khách (7,8 tỉ USD/25 triệu hành khách), trong khi các sân bay lớn trên thế giới thấp hơn nhiều, bình quân chỉ vào khoảng 90 đến 100 triệu USD/triệu hành khách. Ví dụ, sân bay Suvarnabhumi (Thái Lan) khoảng 90 triệu USD/triệu hành khách, sân bay Changi của Singapore (thường xuyên được bình chọn là sân bay tốt nhất thế giới) khoảng 101 triệu USD/triệu hành khách. Như vậy suất đầu tư giai đoạn 1 của sân bay Long Thành lớn hơn mức bình quân thế giới hơn 3,1 lần (312/100 = 3,1 lần).

– Riêng sân bay Quốc tế Hồng Kông, công suất thiết kế 87 triệu hành khách/năm, đầu tư 20 tỉ USD, suất đầu tư 20 tỉ USD/87 triệu hành khách = 230 triệu USD/ triệu hành khách. Lưu ý rằng suất đầu tư của sân bay quốc tế Hông Kông là cao nhất thế giới, bởi chi phí rất lớn cho việc san bằng núi, lắp biển, và làm đường ngầm dưới đáy biển từ thành phố ra hòn đảo sân bay này. Sân bay Long Thành không mất chi phí san núi lắp biển, con đường giao thông thì đã có công trình đường cao tốc Sài Gòn – Dầu Giây chịu chi phí, thế nhưng suất đầu tư của Long Thành vẫn cao hơn sân bay Hồng Kông tới 312/230= 1,35 lần.

Bình luận 5: Trái pháp luật khi tự tiện quy định “phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư”

Điều hết sức lạ lùng là những người lập Báo cáo đầu tư đã khẳng định như đinh đóng cột rằng “đầu tư phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư” (trang 48).

Xin hỏi, tại sao “phần đầu tư kết cấu hạ tầng” lại “không có khả năng thu hồi vốn đầu tư”? Luật pháp nào của Việt Nam nói như vậy? Nghị quyết nào của Đảng Cộng sản VN nói như vậy? Và ai có quyền quyết định không thu hồi vốn đầu tư?

Đồng vốn đầu tư nhưng không thu hồi có nghĩa là đồng vốn vứt đi, ai có quyền vứt đồng vốn của Nhà nước, của nhân dân, ai có quyền tước đoạt đồng vốn của Nhà nước, của nhân dân?

Lưu ý rằng trên thế giới này chỉ có Việt Nam chúng ta mới có khái niệm “đầu tư phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư”.

Bình luận 6: Trái pháp luật khi tự tiện quy định “Vốn đầu tư thực hiện sẽ được gắn với các dự án đầu tư cụ thể, theo nguyên tắc Nhà nước chỉ đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư”

Xin hỏi, tại sao lại “theo nguyên tắc Nhà nước chỉ đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư”? Luật pháp nào của Việt Nam nói như vậy? Nghị quyết nào của Đảng Cộng sản VN nói như vậy? Và ai có quyền quyết định như vậy?

Nhà nước lấy đâu ra tiền để đầu tư phần này? Báo cáo đầu tư xác định đó là tiền Ngân sách và tiền vay ODA. Ai cũng biết tiền ngân sách là tiền thuế của dân, vốn vay ODA cuối cùng cũng lấy tiền thuế của dân để trả nợ, đồng vốn của dân đó tại sao lại đem đầu tư vào thứ “không có khả năng thu hồi”?

Đồng vốn của Nhà nước, của nhân dân đóng góp xây dựng nền tảng cho công trình, thực chất là đóng góp cho giới tư bản tư nhân kinh doanh, họ thì được thu lời, trong khi Nhà nước và nhân dân không những không được thu lời mà còn bị tước đoạt hết đồng vốn đó. Tại sao?

Đó là một hành vi bóc lột, còn tệ hại hơn sự bóc lột tước đoạt của chế độ nô lệ và chế độ phong kiến, sự bóc lột và tước đoạt mà chủ nghĩa tư bản cũng không dám làm.

Bình luận 7: Trái pháp luật khi tự tiện quy định “khuyến khích (các Doanh nghiệp tư nhân trong ngoài nước) đầu tư vào các hạng mục thành phần dịch vụ khai thác, có khả năng thu hồi vốn đầu tư”, còn “Nhà nước chỉ đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư” (trang 48)

Điều lạ lùng là ở đây chủ đầu tư và tác giả của Báo cáo còn khẳng định rằng các đơn vị tư nhân có quyền kinh doanh lấy lời tại sân bay Long Thành, còn Nhà nước và Nhân dân thì không. Luật pháp nào của Việt Nam nói như vậy? Nghị quyết nào của Đảng Cộng sản VN nói như vậy? Vàai có quyền quyết định như vậy?

N.B.P.

Tác giả gửi BVN

Posted in chính trị, dân chủ, kinh tế, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Nguyễn Thị Từ Huy : Cho ngày ba mươi tháng tư : nỗi đau và tình yêu

Nguồn RFA

Wed, 04/29/2015 – 14:45 — nguyenthituhuy

Nếu một cộng đồng có một ngày mà trong ngày đó một nửa số người cảm thấy hạnh phúc và một nửa số người cảm thấy đau khổ thì ta nên đứng về nửa nào ?

Những người có hiểu biết và lương tri sẽ chọn đứng về phía nỗi đau.

Tôi chưa bao giờ dám nói gì về ngày ba mươi tháng tư. Bởi vì thực tế quá phức tạp và những gì tôi biết là quá ít ỏi và rất có thể là không chính xác so với sự thật của cuộc chiến, một cuộc chiến mà chỉ tên gọi của nó thôi cũng đã có thể gây ra cả một cuộc chiến khác.

Nhưng hôm nay, tình cờ tôi đọc một tập sách của Václav Havel có tựa đề : « Tình yêu và sự thật cần phải chiến thắng hận thù và dối trá ». Cuốn sách tập hợp một số diễn từ của Havel trong hai năm 1989-1990, trong thời gian ông đứng ra tranh cử và được bầu làm tổng thống của nước Tiệp Khắc, một nước Tiệp Khắc dân chủ ở thời điểm vừa thoát khỏi đêm trường cộng sản chủ nghĩa.

Câu nói trên đây của Havel và tư tưởng của ông khiến tôi có đủ can đảm để muốn viết một vài lời vào dịp này, vào dịp bốn mươi năm kết thúc cuộc nội chiến hay cuộc chiến tranh chống Mỹ giành độc lập hay cuộc chiến tranh giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Phân định bản chất của cuộc chiến là công việc khó khăn của những người có chuyên môn về khoa học lịch sử, nó đòi hỏi sử gia phải có cả bản lĩnh khoa học lẫn sự can đảm của người trí thức. Việc phân định ấy không thuộc chuyên môn của tôi và tôi cũng không định làm ở đây. Tôi chỉ muốn nói rằng tôi ý thức được tính chất phức tạp của cuộc chiến.

Độc giả đừng quan tâm tôi sinh ra lớn lên ở đâu hay được dạy dỗ như thế nào. Dù tôi sinh ra và lớn lên ở đâu, dù tôi nhìn lịch sử ra sao, dù tôi đánh giá cuộc chiến như thế nào, thì tôi cũng lựa chọn đứng về phía những người mang nỗi đau đã bốn mươi năm nay chưa được hóa giải. Những nỗi đau cũ vẫn còn nguyên và những nỗi đau mới. Những người mang nỗi đau có thể là người miền Nam, có thể là người miền Trung, cũng có thể là người miền Bắc.

Nhiều người cho rằng, người Mỹ rút khỏi Việt Nam đã bốn mươi năm, nhưng từ đó đến nay cuộc chiến giữa những người Việt với nhau vẫn chưa kết thúc. Những người này không phải là không có lý của họ. Cái lý đó không chỉ được chứng minh bởi hiện tượng di tản vẫn tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay, mà còn được chứng minh bởi các vụ bắt bớ những người bất đồng với chính quyền không ngừng tăng lên trong những năm vừa qua.

Vì thế hòa hợp hòa giải được đặt ra như một vấn đề quan trọng đối với dân tộc.

Có những người nghĩ rằng chỉ khi nào chủ nghĩa cộng sản sụp đổ ở Việt Nam lúc đó mới có hòa hợp hòa giải dân tộc. Những người ấy chắc chắn có lý riêng của mình.

Tuy nhiên, liệu ta có thể nghĩ theo một cách khác : chỉ khi nào những người dân hòa hợp hòa giải với nhau, kết hợp lại với nhau để tạo nên sức mạnh chung, thì lúc đó chủ nghĩa cộng sản mới có thể bị sụp đổ ở Việt Nam ?

Tôi là một trong những người nghĩ theo hướng này, và cho rằng tình trạng nghi kỵ, chia rẽ, ly tán hiện nay của người Việt dẫn tới sự suy yếu nội lực của dân tộc, và trở thành điều kiện tốt cho chủ nghĩa cộng sản tiếp tục duy trì và phát triển.

Có những người nghĩ rằng chỉ khi nào chính quyền tiến hành các động thái cần thiết thì mới có thể tiến hành hòa hợp hòa giải dân tộc, và dĩ nhiên họ có lý của họ, đồng thời những gợi ý, những đề xuất mà họ đưa ra đều thuyết phục.

Tuy nhiên, người ta không thể nào tiến hành hòa hợp hòa giải dân tộc một khi còn lấy nỗi đau của người khác làm niềm vui của mình, nhất là khi họ lấy nỗi đau của anh em trong nhà làm niềm tự hào của họ.

Trước niềm vui mà chính quyền đang lộ liễu phô trương (như đã không ngừng phô trương suốt từ bốn mươi năm nay với một sự kiêu ngạo thái quá), chúng ta không thể hy vọng rằng bộ máy chính quyền đương nhiệm có thể thực hiện việc hòa giải hòa hợp dân tộc.

Vì vậy, tôi nghĩ rằng chỉ còn hy vọng vào chính chúng ta, những người dân bình thường, những thường dân trong xã hội, của cả hai miền. Cần hy vọng rằng những thường dân chúng ta có thể vượt lên trên (chứ không phải là xóa đi hay quên đi) vết thương lòng của chính mình, để có thể hiểu nhau và từ đó mà tìm lại niềm tin đối với nhau, để có thể kết hợp lại với nhau mà tạo thành sức mạnh chung.

Làm thế nào để có thể vượt lên vết thương lòng của mỗi chúng ta ? Tôi sẽ nói hai ý, đó chính là hai ý tưởng mà Havel đã đề cập đến : tình yêu và sự thật. Tôi đảo ngược trật tự hai cụm từ này của Havel để nói về vấn đề sự thật trước.

  1. Sự thật :

Có lẽ chúng ta đều đồng ý với Havel rằng chỉ có sự thật mới có thể chiến thắng sự dối trá. Chúng ta cũng biết rằng bộ máy tuyên truyền khổng lồ của chính quyền độc tài, độc đảng chỉ tuyên truyền những gì có lợi cho chính chính quyền và cho đảng, và như thế tất yếu họ phải tạo ra những dối trá, hoặc tránh không đề cập đến những sự thật bất lợi cho họ.

Các sử gia là những người lẽ ra phải giúp dân chúng nhận thức sự thật lịch sử. Nhưng chúng ta đều biết, trong chế độ toàn trị, sử gia (và không riêng gì sử gia) bị sử dụng như một công cụ phục vụ cho bộ máy tuyên truyền. Vì thế chính họ, chứ không phải ai khác, đã biến lịch sử thành những chuyện kể có lợi cho chính quyền và cho đảng.

Vậy thì, câu hỏi đặt ra là: những ai có thể và phải làm gì để có thể trả lại sự thật cho lịch sử ?

Tôi không có câu trả lời cụ thể. Có lẽ nhìn một cách khái quát thì đó là công việc của những người có trách nhiệm và lương tri, nghĩa là những ai cảm thấy bị thôi thúc bởi trách nhiệm và lương tâm thì cần phải lên tiếng.

Ở đây, tôi muốn nói tới một điểm, một khó khăn thì đúng hơn : thế nào là sự thật?

Có lẽ chúng ta ai cũng muốn mình nói lên tiếng nói của sự thật, ai cũng muốn mình là đại diện cho sự thật. Nhưng khó khăn là ở chỗ : chúng ta chỉ có thể xuất phát từ điểm nhìn của riêng mình, trong khi thực tế là : nếu ta xuất phát từ điểm nhìn riêng mình thì người khác cũng sẽ xuất phát từ điểm nhìn riêng của họ. Nghĩa là 90 triệu người sẽ có 90 triệu điểm nhìn khác nhau, tùy thuộc vào nghiệm sinh và hiểu biết của mỗi người. Nghĩa là sự thật của mỗi người chúng ta chỉ là một trong muôn vàn sự thật của muôn người. Điều này cũng có nghĩa : để có thể tiếp cận với sự thật, chúng ta cần phải đặt sự thật của mình trong quy chiếu với sự thật của muôn người. Nếu ta khăng khăng rằng chỉ có sự thật của ta mới là sự thật, thì lúc đó có thể ta sẽ ở rất xa sự thật.

Toàn bộ đoạn văn trên của tôi (mà độc giả có thể cảm thấy nó rất lằng nhằng) nhằm nói lên điều này : chúng ta rất có thể tự đẩy mình vào tình trạng bị giam cầm trong chính cái điều mà ta tin là sự thật. Lúc đó, dù rằng đúng là ta nắm giữ sự thật ta vẫn sẽ đánh mất sự sáng suốt, cùng với việc đánh mất sự sáng suốt, ta đánh mất khả năng kết hợp với người khác, và như thế đánh mất luôn sức mạnh của mình.

Bao giờ ta thừa nhận rằng trên đời này không chỉ có một sự thật duy nhất của một mình ta, trái lại, có rất nhiều sự thật khác nhau, lúc đó ta mới có thể tìm cách để nhìn sự thật như nó vốn tồn tại, trong toàn bộ tính chất phức tạp và khó nắm bắt của nó.

Bao giờ trong đầu óc của mình, ta chừa chỗ cho những suy nghĩ, cảm xúc, nhận thức của người khác, lúc đó ta mới mong có thể thoát ra khỏi vị thế hạn hẹp của mình để nhìn thực tế từ những góc độ khác, lúc đó ta mới mong có thể giải thoát được chính mình, để ra khỏi không gian riêng của mình và đi đến với người khác, mở rộng trái tim và chìa bàn tay của ta cho họ.

2. Tình yêu và nỗi đau

Có lẽ chúng ta sẽ đồng ý với Havel rằng chỉ có tình yêu mới chiến thắng được thù hận.

Bao giờ chúng ta suy nghĩ và hành động theo hướng tích cực, không còn bị giam cầm trong thù hận, trong ghét bỏ, nghĩa là không còn bị ràng buộc trong những xúc cảm tiêu cực nữa, thì lúc đó hành động của chúng ta mới có thể có hiệu quả như chúng ta mong muốn.

Bằng thù hận, chúng ta không thể thắng được những kẻ đang nhân danh chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội để « làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân » (cảm ơn nghệ sĩ Kim Chi về cụm từ này). Chúng ta chỉ có thể thắng họ bằng « tình yêu và sự thật » (chữ của Havel), và bằng trí tuệ của chúng ta. Đất nước của chúng ta đang bị tàn phá bởi lòng tham và sự mù quáng của lãnh đạo.

Chúng ta chỉ có thể chống lại lòng tham và sự mù quáng của họ bằng chính tình yêu và sự sáng suốt của chúng ta. Như một nhóm người Hà Nội ít ỏi đang chống lại lòng tham và sự mù quáng của những kẻ tàn phá cây bằng chính tình yêu cây và tình yêu môi trường sống của họ.

Hận thù không giúp chúng ta trở nên sáng suốt, trái lại, hận thù sẽ đẩy chúng ta vào tình trạng mù quáng. Chúng ta có thể nào lấy sự mù quáng để chống lại sự mù quáng ?

Chúng ta chỉ có thể thuyết phục cùng với bằng chứng và lý lẽ, lý lẽ của trí tuệ và lý lẽ của tình yêu. Hơn nữa, chúng ta cũng không thể giải thoát khỏi nỗi đau của mình, nếu chỉ bằng cách dùng những lời lẽ thô bạo và cay nghiệt. Những lời lẽ ấy có thể giúp giải tỏa cho tâm lý của ta trong chốc lát, trong một giây phút ngắn ngủi khi ta nói ra hoặc viết ra những lời đó. Nhưng khi giây phút đó qua đi, ta sẽ phải tiếp tục đối diện với một thực tế vẫn còn y nguyên trước mắt, thậm chí thực tế ấy ngày càng tồi tệ hơn, ngày càng tuyệt vọng hơn, bởi thực tế ấy được tạo ra từ lòng tham và sự mù quáng của những người đang nắm các vị trí lãnh đạo.

Chúng ta lựa chọn điều gì giữa hai mong muốn : mong muốn giải thoát khỏi nỗi đau đớn của cá nhân mình, và mong muốn toàn bộ đất nước được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của chế độ cộng sản, để có thể phát triển một cách lành mạnh, đảm bảo công bằng và nhân quyền cho tất cả mọi người ?

Liệu chúng ta có thể để cho các dân tộc khác nhận thấy vẻ đẹp nhân văn của tình yêu và sự hy sinh trong những nỗ lực bền bỉ, không mệt mỏi của chúng ta nhằm chống lại hệ thống toàn trị ? Liệu chúng ta có thể để lại cho nhân loại những kinh nghiệm quý giá riêng của dân tộc chúng ta, những kinh nghiệm nhân bản dù chúng ta phải trả giá đắt, trong nỗ lực bảo vệ quyền con người và bảo vệ các giá trị người phổ quát ?

Liệu sẽ có một ngày chúng ta có thể nói về chính chúng ta như Václav Havel từng nói về dân tộc Tiệp Khắc: « Khắp nơi trên thế giới, người ta ngạc nhiên tự hỏi ở đâu ra cái sức mạnh to lớn của các công dân Tiệp Khắc, những người vốn cho tới lúc này vẫn phục tùng, chịu tủi nhục, hoài nghi và tưởng chừng như chẳng còn tin gì nữa, nhưng trong vài tuần lễ, một cách chính trực và hòa bình họ đã thành công trong việc tự giải thoát khỏi hệ thống toàn trị. » (L’amour et la vérité doivent triompher de la haine et du mensonge, Václav Havel, Editions de l’Aube, tr.28)

Nếu ngày 30/4 còn có thể cho chúng ta một hy vọng, thì tôi sẽ nói : chúng ta có thể làm được điều đó nếu mỗi người chúng ta có thể vượt lên trên nỗi đau riêng của mình.

Tôi nói điều này trong khi hoàn toàn ý thức được rằng nỗi đau của mỗi người cần được tôn trọng, cần được hiểu và cần được chia sẻ. Và tôi cũng hiểu rằng khi chúng ta vượt khỏi nỗi đau của mình để nhìn thấy nỗi đau của người khác thì lúc đó nỗi đau của chúng ta sẽ mang một chiều kích khác.

Chúng ta có nên thử gộp nỗi đau của cả hai miền lại với nhau, biết đâu chúng ta sẽ đỡ đau hơn, và biết đâu chừng ta có thể tin nhau ?

Có thể chính là trong ánh sáng của nỗi đau, chính là trong khi người này nhìn thấy nỗi đau của người kia, mà chúng ta có thể xóa bỏ thù hận, xóa bỏ bức tường dựng lên giữa hai chiến tuyến; cái bức tường vô hình vẫn tồn tại trong lòng mỗi người từ bốn mươi năm nay; cái bức tường khiến chúng ta người này không thể tin ở người kia, khiến chúng ta nghi kỵ và chia rẽ; cái bức tường khiến cho cờ đỏ và cờ vàng thành ra những vật trở ngại, ngăn cản chúng ta xích lại gần nhau, ngăn cản chúng ta cùng nhìn về tương lai và cùng tạo dựng một tương lai chung.

Những nỗi đau cộng hưởng với nhau có thể tạo thành sức mạnh, và đến lượt nó, sức mạnh này có thể hóa giải nỗi đau, và có thể biến nỗi đau thành tình yêu…

Paris, 29/4/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

NGÀY SUY NGẪM CỦA DÂN TỘC

Nguồn viet-studies

– Thay vì “Ngày toàn thắng”, “Ngày thống nhất”, “Ngày quốc hận”… ngày 30 tháng 4 năm 1975 từ nay nên được coi là “Ngày suy ngẫm” của dân tộc.

Chris Tran.

Hà Nội, Chủ nhật, 26 tháng 4 năm 2015.

Ký ức về cuộc chiến

Tôi sinh ra trong một gia đình cha mẹ là những đảng viên cộng sản tập kết ra miền Bắc vào năm 1954. Những người như cha mẹ tôi là thiểu số trong đại gia đình hai bên. Đa số họ ở lại miền Nam. Và rồi Tổng tuyển cử không diễn ra như dự kiến do Hiệp định Geneva bị phá vỡ. Đất nước bị chia cắt thành hai miền, Bắc và Nam. Cơ hội thống nhất trong hòa bình đã bị bỏ lỡ.

Tuổi thơ của tôi trải qua toàn bộ thời kỳ chiến tranh mà đối với miền Bắc Việt Nam là hai giai đoạn Mỹ ném bom, lần thứ nhất là từ 1964 đến 1968, và lần thứ 2 là từ tháng 4 năm 1972 đến tháng 12 năm 1972, đánh dấu bằng thất bại của chiến dịch rải thảm B52 của Mỹ, với tuyên bố của Tổng thống Mỹ Nixon “đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”.

Với những cuộc ném bom hủy diệt miền Bắc và đưa một nửa triệu quân đổ vào miền Nam, Mỹ đương nhiên được coi là xâm lượcViệt Nam, và bị cộng đồng quốc tế kịch liệt phản đối, với phong trào chống can thiệp của Mỹ vào Việt Nam diễn ra trên khắp thế giới.

Cha mẹ tôi không kể nhiều cho các con của mình về những người thân ở miền Nam, ngoại trừ một người cậu của tôi, một Việt Cộng ở Quảng Nam bị mù hai mắt vì trúng bom Mỹ, được đưa ra miền Bắc và có thời gian an dưỡng ở Trung Quốc. Sau năm 1975 tôi được biết rằng, tất cả những người khác trong gia đình hai bên cha mẹ tôi đều là những người phục vụ chính quyền Sài Gòn, dân sự hay quân sự.

Thế rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến…

“Đất nước hoàn toàn thống nhất, sạch bóng quân thù, non sông từ nay liền một dải…” – Đó là những gì mọi người luôn được nghe những ngày sau đó trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng. Sau ngày đầu tiên cùng nhà trường đi diễu hành mừng “miền Nam giải phóng” hô khẩu hiệu đến khản giọng, tôi trở lại cuộc sống bình thường với tâm trạng háo hức, tò mò của một thiếu niên về chuyến vào Nam gặp người thân họ hàng mà tôi chưa từng biết.

Thống nhất đất nước và hai phía của gia đình

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu thời kỳ “Đất nước thống nhất”.

Thông tin tuyên truyền từ miền Bắc làm cho người ta phân biệt “nhân dân miền Nam” – những người được xem là sống dưới ách kìm kẹp của chế độ Sài Gòn, với “ngụy quân và ngụy quyền” – những người phục vụ trong bộ máy nhà nước và quân đội của chính quyền Sài Gòn, “tay sai” của đế quốc Mỹ.

Thông tin tuyên truyền từ miền Nam làm cho người ta khiếp sợ về một cuộc trả thù “tắm máu” của cộng sản, về chế độ “cộng vợ, cộng chồng”… nếu miền Bắc chiến thắng.

Bất chấp tuyên truyền từ hai phía làm cho người ta dễ dàng có những dự cảm tiêu cực về người thân trong một gia đình từ hai miền Nam và Bắc, các cuộc đoàn tụ với người thân cả hai bên nội ngoại của gia đình tôi đều chan chứa tình cảm ruột thịt.

Khi đó, tôi không thấy sự thấp kém của những người thân được coi là “ngụy quân, ngụy quyền” như tuyên truyền, và tôi tin những người thân của gia đình tôi cũng không coi chúng tôi, những người từ miền Bắc vào là “cộng sản man rợ”. Tình yêu thương gia đình trong dòng họ tràn ngập trong chúng tôi. Không những thế, tôi còn chứng kiến sự ngưỡng mộ của những người thân từ miền Nam đối với cha mẹ tôi là những người thành đạt và có địa vị xã hội nhất định trong chính quyền miền Bắc Việt Nam, cũng như thấy cha mẹ tôi ngưỡng mộ những người thân thành đạt trong chính quyền miền Nam Việt Nam, từ sĩ quan quân đội đến nghị sĩ quốc hội.

Và tôi cũng thấy điều hoàn toàn tương tự ở những gia đình có người thân từ cả hai miền Bắc, Nam. Tuy nhiên, không ai biểu thị tình cảm đó một cách công khai, mà chỉ trong gia đình, với người thân mà thôi.

Sau này trưởng thành, xây dựng gia đình, tôi lại được chứng kiến mạnh mẽ một lần nữa bức tranh đó ở gia đình của vợ tôi, một gia đình có nhiều người thành đạt và có địa vị xã hội ở cả hai chính quyền miền Bắc và miền Nam.

Cải tạo, phân biệt đối xử

Đó là trong gia đình, còn ở bình diện xã hội, mọi điều diễn ra rất khác. Có rất nhiều người thân của gia đình tôi thuộc “ngụy quân, ngụy quyền” phải trải qua những năm cải tạo khắc nghiệt, từ vài năm đến hàng chục năm.

Sau những cuộc cải tạo đó, không một ai cải tạo cả.

Cậu tôi, một trung tá tâm lý chiến của quân đội Sài Gòn khi chiến tranh chấm dứt, có nói với tôi sau khi đi trại cải tạo về: “Cải tạo gì? Chính họ được cậu cải tạo họ vì họ có biết gì đâu”. Nếu biết nội dung của những cuộc cải tạo đó là gì, chắc ngày nay người ta đều đồng ý với cậu tôi.

Rất nhiều người, sau những cuộc cải tạo đó đã lựa chọn định cư ở Mỹ.

Một người anh họ của tôi, chỉ là một giáo viên dạy tiếng Anh giỏi, cũng bị sa thải, phải kiếm sống bằng nghề xe đạp ôm và không bao giờ trở lại sự nghiệp của mình nữa.

Con cái của những người thuộc chế độ Sài Gòn còn không được học hành như các bạn cùng trang lứa, như không thể vào trường đại học, không được du học… Khi tương lai mờ mịt, họ phải tìm đường di cư ra nước ngoài.

Trong hàng triệu người bỏ nước sau 1975, cho đến những năm 1990 có những người thân của tôi. Có người phải “vượt biên” tới bảy lần, vô cùng tốn kém và nguy hiểm, mới có thể định cư ở nước ngoài. Có trường hợp nhiều gia đình người thân của tôi tổ chức cùng vượt biên, và may mắn thành công. Sau này tôi mới được nghe về thảm họa “thuyền nhân” với hàng chục ngàn người Việt Nam mất mạng dưới biển hay vào tay cướp biển.

May mắn thay, thế giới đã dang tay đón nhận họ khi họ bị từ chối ở chính quê hương mình. Chỉ mới năm 2013, tôi mới được biết đất nước Israel nhỏ bé cũng từng đón nhận hàng trăm thuyền nhân từ Việt Nam, điều mà nhiều người Việt Nam không hay biết.

Tôi vẫn còn thắc mắc, vì sao một thảm họa nhân đạo quy mô toàn cầu như vậy lại không được ghi lại ở bất kỳ đâu trên thế giới, như những khu tưởng niệm về diệt chủng người Do thái của chủ nghĩa phát-xít tại nhiều nơi trên thế giới, để không bao giờ nó được lặp lại?

Ngày chiến thắng, ngày quốc hận và chia rẽ

Những ngôn từ cao sang nhất đã được giành cho chiến thắng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, với đỉnh cao là “Chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc” mà số người Việt Nam đồng ý hay không đồng ý có lẽ đều là hàng triệu.

Ở phía khác… Mãi đến năm 2000, kỷ niệm 25 năm ngày chiến tranh kết thúc, tôi mới được biết và chứng kiến lễ kỷ niệm “Ngày quốc hận” tại Washington DC. Và số người Việt Nam đồng ý hay không đồng ý về tên gọi của ngày này có lẽ cũng là hàng triệu. Tôi cảm thấy có lỗi khi biết về ngày này quá muộn để có thể chia sẻ về đau thương và mất mát của hàng triệu người Việt xa xứ, trong đó có những người thân của tôi, và hàng triệu người đã phải trải qua cơn ác mộng về cải tạo, về phân biệt đối xử, và trên tất cả, về thảm họa thuyền nhân.

Trong ngày lễ kỷ niệm đó, đi dọc theo Washington Mall, trong vô số biểu ngữ, tôi thấy có “Ở đâu có cộng sản, ở đó có chia rẽ”. Tôi dịch cho anh bạn Mỹ đi cùng, người đã từng phục vụ trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Anh ta nói: “Người Việt Nam các anh, ở đâu cũng chia rẽ”. Với hiểu biết của mình ở phía khác, miền Bắc, tôi không có gì khác hơn là đồng ý với anh bạn Mỹ đó.

Và tôi lại nhớ đến câu nói của người cậu trung tá tâm lý chiến: “Không có một dân tộc nào nói về đoàn kết nhiều, mà lại chia rẽ như dân tộc Việt Nam”.

Ông cũng là người nói với tôi sau khi đi cải tạo về, những năm 1980: “Đừng tưởng thắng nhau là vinh quang. Việt Nam chỉ là con bài trong ván bài của các nước lớn, là Mỹ, là Liên Xô, là Trung Quốc”.

Đó là điều chua xót, đáng suy ngẫm của người Việt Nam về sự chia rẽ bị lợi dụng của mình.

Bắc hay Nam, bên này hay bên kia

Người ta có thể phân chia người Việt Nam một cách đơn giản là người Bắc và người Nam, cộng sản hay không cộng sản, thắng cuộc hay thua cuộc. Sự phân chia phiến diện từ tiềm thức này là cơ sở của sự chia rẽ người Việt Nam.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, yêu quý thành phố tươi đẹp này, nhất là những năm tháng của tuổi thơ khi nó còn là đẹp nhất – Tôi là một “người Bắc”. Quê nội ngoại của tôi ở Quảng Nam, dù chỉ về thăm vài lần trong đời, nhưng cảm thấy thân thương, ruột thịt – Tôi là một “người Nam”. Cha mẹ tôi là đảng viên cộng sản. Mẹ tôi là một đảng viên mẫu mực với nhiều thành tích đóng góp cho xã hội, cha tôi là một đảng viên, mà theo lời ông, “chạy sang phía Việt Minh, vào đảng cộng sản vì sợ bị thủ tiêu” (cha tôi từng là một đảng viên của Quốc dân đảng) – Gia đình tôi là cộng sản. Tôi từng có nhiều năm phấn đấu, nhưng rồi từ bỏ và không bao giờ là đảng viên cộng sản – Tôi vừa là cộng sản, vừa không phải là cộng sản. Tôi thuộc “bên thắng cuộc”, vào Nam với tâm trạng vui mừng khấp khởi và tò mò xem “bên thua cuộc” ra sao, rồi cảm thấy mình chính là “bên thua cuộc” khi chua xót thấy những người anh em họ hàng mình mất mát to lớn như thế nào khi thuộc về “bên thua cuộc”.

Tôi cảm thấy mình ở khắp nơi, Bắc, Nam, cộng sản, không cộng sản, bên thắng cuộc, bên thua cuộc, được hưởng những điều tốt đẹp mà nhà nước ban cho, nhưng cũng bị tước những quyền cơ bản hiến định.

Có hàng triệu người Việt như tôi, cảm nhận thấy mình thuộc cả hai bên của ranh giới hiềm khích và hận thù?

Và, hơn tất cả sự phân biệt “bên này, bên kia” đó, trong khi hàng triệu người bị cuốn vào xung đột “ý thức hệ” – cộng sản hay không cộng sản, thì cái cộng sản từng luôn cuốn hàng triệu người, trong đó có những công dân ưu tú, với lý tưởng độc lập tự do cao đẹp, không biết từ lúc nào đã trở thành công cụ đắc lực cho những kẻ xấu ngày càng đông đảo lợi dụng, trở thành quyền lực vô biên, đang hối hả củng cố vị thế ngự trị của mình với số đông đang sống trong sợ hãi, dốt nát và đói nghèo.

Lời kết, về hòa giải và hòa hợp dân tộc

Có lẽ tôi phải viết hàng trăm trang mới nói hết được những ý nghĩ của mình về nước Việt Nam và người Việt Nam vào giai đoạn lịch sử phức tạp này của dân tộc.

Qua câu chuyện cuộc đời của rất nhiều người mà tôi có dịp được biết đến về cuộc chiến, trước và sau đó, tôi thấy rằng có thể nhiều triệu trang cần phải được viết về giai đoạn lịch sử này đã chưa được viết, hoặc bởi bị cấm đoán, hoặc bởi người ta đã lãng quên trong lo toan của cuộc sống đời thường…

Với Internet, người ta tiếp nhận được nhiều thông tin hơn, có cơ sở để có nhận thức và phán quyết của riêng mình về lịch sử. Đối với tôi, những nhận thức và phán quyết cá nhân đó có những chuyển biến theo thời gian mà dường như ngày càng gần với thực tại khách quan hơn, làm chính tôi phải ngỡ ngàng.

Ông Võ Văn Kiệt, một lãnh đạo cao cấp của nhà nước thống nhất đã có một phát biểu nổi tiếng về ngày 30 tháng 4, tuy không được phổ biến rộng rãi: “Ngày có hàng triệu người vui nhưng cũng có hàng triệu người buồn”. Đó luôn là nhận thức của ông, từ 30 tháng 4 năm 1975, hay phải chăng chính ông sau này đã nhận được đủ thông tin hơn để thay đổi nhận thức và phán quyết của mình về lịch sử?

Tôi nghĩ, trên thực tế tâm trạng của những người Việt Nam khắp nơi trên thế giới vào ngày này là phức tạp, là sâu sắc hơn là nỗi buồn hay niềm vui.

Phía những người vui… Nếu chỉ là vui, phải chăng đó là những người không có nhiều mất mát trong cuộc chiến để mà suy ngẫm? Có lẽ còn hơn cả niềm vui, họ còn kiêu hãnh về chiến thắng mà mình đóng góp.

Với niềm tin là mình đóng góp xương máu cho nền độc lập, cho thống nhất đất nước, giải phóng dân tộc… làm sao mà người ta không kiêu hãnh?

Phía những người buồn… Nếu chỉ là buồn, phải chăng đó là những người không có nhiều mất mát trong cuộc chiến để mà suy ngẫm? Có lẽ còn hơn cả nỗi buồn, họ còn có mối hận thù vì bị đối xử tàn tệ, bị cướp đi cơ hội có một cuộc sống bình thường.

Bị đầy đọa, bị mất người thân yêu, người ta khó có thể vượt qua được hận thù?

Ở phía được coi là hận thù, tôi còn thấy sự tiếc nuối về thất bại của một lý tưởng độc lập, tự do khác, bị vùi dập và quên lãng…

Đất nước Việt Nam đã thống nhất 40 năm, nhưng dân tộc vẫn còn chia rẽ trong những con sóng ngầm. Hòa giải và hòa hợp dân tộc dường như còn xa vời, bất chấp tuyên bố của ai về điều ngược lại.

Hòa giải và hòa hợp dân tộc, tiếc thay, chưa bao giờ được đặt ra như một chương trình dài hạn của quốc gia, trong khi nó không thể được phát động từ cộng đồng dân sự trong hoàn cảnh chính trị – xã hội hiện nay của Việt Nam.

Trong khi đó, hòa giải chưa được đưa ra bởi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Các sáng kiến hòa giải từ bên ngoài Việt Nam ở bất kỳ một quốc gia nào, trớ trêu thay, dường như cũng luôn được coi là hành động thù địch, làm phương hại đến quan hệ của Việt Nam với quốc gia đó.

Ngày 30 tháng 4 đối với tôi ngày càng trở thành một ngày đem đến cảm xúc phức tạp. Cảm xúc về sự yếu thế của một dân tộc tự chia sẽ, tự chấp nhận sống trong lừa dối, tự chấp nhận sống trong vô thức của ngạo mạn hay hận thù, với chính đồng tộc của mình.

Các thế hệ sẽ dần qua đi, để không còn có ai đáng cho ai ngạo nghễ về chiến thắng, không còn có ai đáng cho ai hận thù vì tội ác đã gây ra.

Nước Mỹ đã hòa giải với Việt Nam sau nhiều tội ác điên rồ. Hình ảnh cựu chiến binh Mỹ ôm hôn cựu chiến binh Bắc Việt Nam đã trở thành biểu tượng của sự hòa giải. Họ đang tích cực tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh từ rà phá bom mìn, cứu giúp nạn nhân chiến tranh, xây dựng trường học, bệnh viện… Hai quốc gia Mỹ và Việt Nam đã trở thành những đối tác thân thiết về thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục.

Nhưng chúng ta còn chưa thấy được hình ảnh cựu chiến binh miền Nam và miền Bắc ôm hôn nhau, dù đã có nhiều cựu chiến binh Nam Việt Nam định cư ở nước ngoài, theo tôi được biết, đã về nước tham gia làm từ thiện, tham gia xây dựng quê hương, trong lặng lẽ. Điều khác biệt của họ so với các cựu chiến binh Mỹ là, họ hành động với lòng yêu quê hương, đồng bào, chứ không phải từ mặc cảm tội lỗi trong chiến tranh.

Tôi ước mong ngày này trở thành “Ngày suy ngẫm” của dân tộc. Suy ngẫm về chiến thắng, về hận thù, về hòa giải, về khoan dung với đồng tộc của mình, vượt lên trên vô thức và định kiến vốn đã đầy ắp trong mỗi con người, vượt lên trên bất đồng chính kiến.

Suy ngẫm để cùng đối mặt với những sự thật phũ phàng, dù ở bất kỳ “bên” nào, để có được nhận thức và phán quyết tường minh về lịch sử cho mình và cho các thế hệ tương lai.

Suy ngẫm để cùng đưa ra được một chương trình nghị sự, từ ý chí của cộng đồng, chính trị và phi chính trị, về hòa giải và hòa hợp của người Việt Nam trên toàn Thế giới, như một dân tộc thống nhất, vĩ đại.

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 28-4-15

Posted in chính trị, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Các nạn nhân của vụ án chính trị “Trần Huỳnh Duy Thức và đồng bọn” tố cáo cơ quan đ iều tra sử dụng nhục hình

Nguồn danluan

Dân Luận tổng hợp

DL – Theo tin Dân Luận vừa nhận được, ông Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung và Lê Công Định đã gửi đơn tới Tòa Án Nhân Dân Tối Cao vào ngày 9/1/2015 yêu cầu xem xét lại bản án sơ thẩm (ngày 20/1/2010) và phúc thẩm (ngày 11/5/2010) theo trình tự giám đốc thẩm. Lý do yêu cầu kháng nghị giám đốc thẩm là vì thủ tục tố tụng đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến việc điều tra, truy tố và xét xử.

x2010-01-20t151629z_754656268_gm1e61k1shi01_rtrmadp_3_vietnam-trial_0.jpg.pagespeed.ic.W5PXbqNCRxGOXgErA9_G.jpg
Từ trái qua phải: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long và luật sư Lê Công Định tại phiên tòa sơ thẩm ngày 20/1/2010. Ảnh: Reuteurs/VNA.

Các nạn nhân của vụ án chính trị này, bao gồm Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long và Nguyễn Tiến Trung đã bị Cơ quan an ninh điều tra sử dụng những biện pháp có tính chất nhục hình để bức cung bị nghiêm cấm bởi pháp luật, như:

– Bị gọi lên thẩm vấn liên tục, từ sáng sớm tới tối khuya, khiến tinh thần người bị thẩm vấn mệt mỏi;

– Bị giam trong phòng kín, chỉ có một lỗ nhỏ để thông hơi, vừa thiếu không khí, vừa thiếu nước sạch, khiến người bị giam ngột thở và căng thẳng;

– Bị đe dọa áp dụng mức hình phạt tử hình;

– Bị đe dọa đánh và bêu xấu chuyện riêng tư, và

– Bị gây áp lực về tình trạng gia đình.

Việc xét xử ở cả hai phiên tòa đều chỉ dựa trên hồ sơ do Cơ quan an ninh điều tra lập trong tình trạng sử dụng những biện pháp có tính chất nhục hình nói trên, các luật sư không được phép hỏi các bị cáo cùng một lúc để đối chiếu lời khai và xác minh sự việc, khiến việc điều tra xét hỏi ở phiên tòa phiến diện và không đầy đủ. Tòa chỉ dựa trên các nhận định và kết luận có sẵn trong các bản Kết luận điều tra của Cơ quan an ninh điều tra và Cáo trạng của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, trong khi đó các nhận định và kết luận này chủ yếu dựa trên suy đoán và áp đặt, nhưng lại suy đoán theo hướng có tội, vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam và nền tảng của tất cả luật hình sự trên thế giới.

Các nạn nhân yêu cầu xem xét lại toàn bộ vụ án, và phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án sơ thẩm và phúc thẩm cho tới khi có kết quả cuối cùng.

Trước đó, ngày 2/1/2015 ông Trần Văn Huỳnh, phụ thân của Trần Huỳnh Duy Thức cũng đã gửi đơn tới nhiều nơi tố cáo việc Trần Huỳnh Duy Thức bị truy bức và nhục hình trong quá trình điều tra. Được biết ngày 17/10/2014 Ủy ban Tư pháp của Quốc Hội đã chuyển đơn khiếu nại của ông Trần Huỳnh Duy Thức tới Tòa Án Nhân Dân Tối Cao yêu cầu xem xét lại bản án phúc thẩm theo trình tự giám đốc thẩm, với lý do ông đã thông báo với Hội đồng xét xử tại phiên tòa về việc ông bị bức cung và nhục hình trong quá trình điều tra nhưng không được các cấp Tòa xem xét, do đó kết quả ở các phiên tòa này không khách quan, không đúng pháp luật và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Tuy nhiên, cho đến nay đơn kêu oan và yêu cầu giám đốc thẩm của ông Trần Huỳnh Duy Thức vẫn chìm trong im lặng.

Xin nhắc lại vụ án "Trần Huỳnh Duy Thức và đồng bọn" với cáo buộc "lật đổ chính quyền nhân dân" vào năm 2009 đã làm chấn động dư luận trong nước và quốc tế. Việc chính quyền tuyên án nặng nề cho các bị cáo đã bị các quốc gia phương tây như Anh, Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu lên tiếng phản đối. Bộ ngoại giao Anh ra thông cáo và bày tỏ quan ngại: "Không thể cầm tù bất kỳ ai vì người đó bày tỏ quan điểm của mình một cách hòa bình", còn đại diện của Hoa Kỳ ra thông cáo: "Chúng tôi cũng quan ngại về việc tiến hành phiên toà rõ ràng đã thiếu trình tự chuẩn mực, các bản án đã đi ngược lại với Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, việc kết tội này cũng đặt ra những câu hỏi nghiêm trọng đối với cam kết của Việt Nam về nền pháp trị và cải cách". Các tổ chức nhân quyền quốc tế như Tổ chức Ân Xá Quốc Tế cũng bày tỏ quan ngại: "Những người này đáng ra không bao giờ nên bị bắt chứ đừng nói là bị buộc tội và nhận án tù, phiên tòa rõ ràng là sự nhạo báng công lý". Tổ chức Civil Rights Defenders cũng đã nhắc đến trường hợp Trần Huỳnh Duy Thức tại buổi lễ trao giải "Người bảo vệ các quyền dân sự của năm 2015" vào đầu tháng 4 năm 2015.

Đơn yêu cầu giám đốc thẩm của Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung và Lê Công Định

700xNxdongdt_p1.png.pagespeed.ic.IMpfECCMslezi6yMSnM8.png
700xNxdongdt_p2.png.pagespeed.ic.dNqFc-hwhLEPqPoRYIG9.png
700xNxdongdt_p3.png.pagespeed.ic.untGCr0AyeVRpBzkTVq9.png
700xNxdongdt_p4.png.pagespeed.ic.0Vq9yH-9281FhWWZ6434.png

Đơn tố cáo của ông Trần Văn Huỳnh

700xNxdontc_p1.png.pagespeed.ic.NjBNgUxpbEnSP8BIGq_u.png
700xNxdontc_p2.png.pagespeed.ic.wjjUXmAZFVVrp3bMg-Gc.png

Thư chuyển tiếp của Ủy Ban Tư Pháp của Quốc Hội

700xNxcv2216.png.pagespeed.ic.K561dbNRkc1IOKTprniE.png

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment