Đến đã đủ lâu! Giờ cũng sẵn sàng để… ra đi! (… về với Chúa)

- Phổ biến thông tin đa chiều, và lên tiếng vì những bất công xã hội là việc làm cần thiết và đúng đắn. – Tự do thông tin là bước khởi đầu để có được dân chủ thực sự, giúp đưa đất nước đi lên và thoát khỏi khốn khó đói nghèo.

– Đừng lầm lẫn giữa : thứ tha những lỗi lầm đã qua, với việc nuôi dưỡng những sai phạm đang diễn ra để chúng cứ tiếp tục tồn tại và trầm trọng hơn nữa! – Đó là ác chứ không phải ái!

– Đừng để bị nhập nhằng giữa “Đất Nước, Tổ Quốc” với đảng cầm quyền! “Đất Nước, Tổ Quốc” là mãi mãi, còn đảng cầm quyền chỉ là nhất thời!

Theo dõi các links tin từ twitter, được cập nhật thường xuyên ở cột phải

Posted in khề khà | Tagged , | 1 Comment

Nguyễn Minh Cần : Bàn chuyện rời bỏ đảng

Nguồn danlambao

bualiem-thungrac-Danlambao.jpg
Nguyễn Minh Cần (Danlambao) – Nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), chúng tôi thiết nghĩ những đảng viên CS còn có lương tri, còn có lòng yêu nước, thương dân, nên khách quan nhận định lại ĐCSVN mà mình đang có chân trong đó, thực ra nó như thế nào? Những việc nó đã làm trong suốt 85 năm qua như thế nào? Công và tội của nó đối với dân, với nước ra sao? Để từ đó xác định thái độ cần phải có đối với ĐCSVN mà mình đang có chân và đã từng phục vụ. Tất nhiên, chúng tôi không nói chuyện với đám nịnh thần, đám bồi bút cung đình, bọn dư luận viên… những kẻ chỉ biết cúc cung phục vụ cái ác vì chút bổng lộc được bọn độc tài toàn trị thí cho.

Thiết nghĩ có mấy điều đáng suy nghĩ sau đây:

Điều thứ nhất. Có thể nói không ngoa là rất hiếm có một đảng chính trị nào giống như ĐCSVN, coi khinh mạng con người hết sức rẻ rúng. Xin các bạn cứ ngẫm mà xem! Đọc các chuyện kể của những nhân vật đã từng ở trong ĐCS hay những người đã từng bị ĐCS đày đọa, rồi nhìn kỹ vào thực tế, thì thấy rằng, quả là ĐCSVN “giết người như ngóe”. Ai chống Đảng – Đảng diệt! Ai chưa chống Đảng, mà Đảng nghĩ là người đó có thể có ngày sẽ chống Đảng – Đảng cũng diệt! Những người có quan điểm khác với Đảng – nhất là người thuộc các đảng yêu nước không cộng sản – thì Đảng cho “đi mò tôm”, tức là bỏ rọ trôi sông. Ai bị Đảng nghi, ngay cả đối với đảng viên của đảng – chẳng cần chứng cớ gì hết, chẳng cần điều tra gì hết – Đảng “thịt”. Người nơi khác lơ ngơ đi lạc vào A-Tê-Ka (ATK, an toàn khu) của Đảng – Đảng “thịt” ngay, để giữ bí mật của Đảng. Người cảm tình với Đảng từ nơi xa lần mò tìm đến ATK của Đảng mà không có ai trong ATK chứng nhận – Đảng cũng “thịt”. Thậm chí, trong kháng chiến, người dân có mang vật gì trong người, chẳng hạn, chiếc khăn lau mặt, có ba màu: xanh, trắng, đỏ, Đảng nghi là gián điệp – Đảng “thủ tiêu”. Đã có biết bao nhiêu mạng người đã bỏ xác vì những lý do vớ vẩn như thế! Mà chỉ cần một cái hất đầu, một cái nháy mắt, một ngón tay đưa lên… của cán bộ thôi, chứ không cần phải có bất kỳ giấy tờ, quyết định, chữ ký lôi thôi gì cả – thế là một, hai hay nhiều mạng người “đi toong”! Chính cái đầu óc “coi mạng người như ngóe” đó, mà Đảng nhất quyết bác bỏ “nhân tính”, chỉ thừa nhận “giai cấp tính”, mà nghĩ cho cùng có khi đó lại là “thú tính”. Xin hãy nghĩ mà xem: cái lối giết người bị quy là “địa chủ” trong cải cách ruộng đất (CCRĐ), như chôn sống, hay chôn người đến cổ rồi cho trâu bừa qua nhiều lần cho đến chết, giam người ở chuồng trâu rồi bỏ đói cho chết; cái lối giết người Hoa trong chuyến ĐCSVN đuổi trên 300 nghìn người Hoa về nước, có nơi đã thu vàng bạc của người ta rồi, cho lên tàu xua về nước lại còn cho tàu đuổi theo xả súng giết chết hết hay đục thuyền cho đắm… đến nỗi xác người nằm san sát nhau lềnh bềnh trên sông như củi rều vậy. Như thế gọi là gì? “Giai cấp tính” ư? Rõ ràng là “thú tính”! Và cái lối tàn sát dân lành kiểu này có khác gì lối giết người của bọn phát-xít? Và như vậy, ĐCSVN có khác gì bọn khủng bố quốc tế thuộc các giáo phái cực đoan ngày nay?

Thế nhưng, hễ ai – các nhà trí thức, các đảng viên của Đảng – dám đề cao “nhân tính” thì Đảng liền phê cho là “mất lập trường”, là tư tưởng xét lại, là quan điểm tư sản, phản động, là không có “đảng tính”. Chính vì thế mới xảy biết bao nhiêu vụ oan khiên suốt trong 85 năm tồn tại của ĐCSVN. Nào là các vụ giết hàng trăm lãnh tụ và đảng viên các đảng yêu nước không cộng sản, như Việt Nam Quốc dân đảng, Đảng Đại Việt, v.v… những năm sau khi ĐCS cướp được chính quyền, để không còn ai có thể cạnh tranh quyền lực với Đảng nữa. Ngay cả đối với những người yêu nước cùng ý hệ với Đảng, nhưng khác về đường lối, như những người trotskistes Việt Nam đã từng một thời hợp tác tốt đẹp với những người CS ở miền Nam, ĐCSVN cũng không tha – phải giết hết! Vì sao? Vì hồi 1937-38, Nguyễn Ái Quốc từng hùa theo Stalin, lu loa chửi bới thậm tệ những người trotskistes là “một lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phát-xít Nhật và chủ nghĩa phát-xít quốc tế”, “đàn chó trotskistes”, “những kẻ đầu trâu mặt ngựa”, “những đứa không còn phẩm giá con người, những tên sẵn sàng gây mọi tội ác”, “kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ”, “bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất”, v.v… Những câu, chữ này còn nằm trong ba bức thư Nguyễn Ái Quốc gửi cho Trung ương (TƯ) Đảng (xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t.3, tr.97-100). Cho nên những ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Sổ, Lê Ngọc, Lê Văn Hương, v.v… (hồi năm 1945-46), Nguyễn Văn Linh, Lưu Khánh Thịnh, Liu Jialang (hồi năm 1948) đã bị sát hại thê thảm! Ngay cả những đảng viên CSVN bị nghi ngờ, dù chẳng có chứng cớ gì hết cũng bị giết hại dễ như bỡn: như vụ giết oan mười mấy đảng viên CSVN người Hoa đã từng bị tù đày vì đấu tranh cách mạng Việt Nam (do Lý Ban “chỉ điểm”) và vụ giết oan mấy chục đảng viên CS người Việt (trong vụ H122 do Hoàng Quốc Việt phụ trách). Đó là chưa kể đến các vụ bắt bớ, đày đọa trong trại tù hàng chục nghìn người đã từng làm việc dưới chế độ cũ thời Pháp (có nhiều khi chẳng làm việc gì cho chế độ cũ, như các linh mục, các chánh trương, trùm đạo, các nhà sư Phật giáo…) sau khi ĐCS tiếp nhận miền Bắc (theo nghị quyết số 49/NQ/TVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước VNDCCH do Chủ tịch Trường Chinh ký ngày 20.6.1961), còn sau 30 tháng Tư năm 1975 là vụ đánh lừa gọi đi học ngắn ngày để bắt giam và đày đọa mấy chục năm ròng trong các trại tù trên hai trăm nghìn người đã từng phục vụ dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa (do lệnh gọi đi học của Ủy ban Quân quản). Trong cả hai vụ đó đã có hàng nhiều chục nghìn người phải bỏ xác trong các trại tập trung kiểu phát-xít, mệnh danh là “trại cải tạo”. Đó là chưa kể đến các vụ thảm sát chừng bốn nghìn người thường dân vô tội trong Tết Mậu Thân 1968, vụ bắn trọng pháo ngay trên đường người dân lành chạy lánh nạn ở Quảng Nam – Đà Nẵng hồi 1975… Chính vì phủ nhận “nhân tính”, nên trong kháng chiến đã từng xảy nhiều vụ tung lựu đạn vào xe đò hay đặt bom mìn trên đường ray để nổ tung các đoàn tàu chợ (chở hành khách) giết hại thường dân “vùng địch”.

Đặc biệt cần nói đến vụ cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở miền Bắc trong những năm 1953-1956 đã tàn sát vô cùng man rợ trên 172 nghìn người dân vô tội, thậm chí giết cả những người đã từng ủng hộ tiền, vàng, thóc gạo, quần áo cho Đảng, đã từng che giấu, nuôi nấng cán bộ của Đảng và quân kháng chiến trong thời kỳ khó khăn nhất. Thậm chí, không ít cán bộ, đảng viên của Đảng từng chiến đấu cho Đảng đã bị vu oan và hành quyết trong CCRĐ. Tài liệu chính thức của ĐCS đã phải thừa nhận là trong số 172 nghìn người bị giết trong CCRĐ thì 70% là những người bị oan! Đây thực sự là một tội diệt chủng, một tội ác đối với nhân loại, một tội ác tày trời đối với Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam. Tự cổ chí kim chưa từng xảy ra một tội ác như vậy trên Đất nước Việt Nam này! Tội ác đó không thể nào tha thứ được! Thế mà Hồ Chí Minh và Trường Chinh, những kẻ đã gây nên tội ác đó, vẫn ngụy biện tuyên bố “dù CCRĐ có sai lầm, nhưng thắng lợi vẫn là căn bản”.

Vẫn chưa hết, cuộc phiêu lưu của nhóm cầm quyền thân Mao là Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu… hồi đầu thập niên 60 thế kỷ trước, đã phát động cuộc chiến Bắc – Nam, thực chất là cuộc nội chiến, vô cùng tàn khốc trên mười mấy năm trời đã làm cho trên sáu triệu người dân Việt Nam phải bỏ mạng, đem đến cho cả hai miền biết bao đau thương, tang tóc, biết bao thiệt hại về nhân mạng, về của cải vật chất, về tinh thần, đạo đức và tình cảm. Đã thế, Tổng Bí thư (TBT) Lê Duẩn, một trong những kẻ khởi xướng cuộc nội chiến, cuối cùng lại nói:“Chúng ta chiến đấu là để cho Liên Xô, Trung quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa”. Một câu nói hết sức phũ phàng đối với biết bao hy sinh xương máu của nhân dân Việt Nam!

Việc phát động chiến tranh chứng tỏ nhóm chóp bu ĐCS thân Mao hồi đó coi thường sinh mạng người dân của cả hai miền, coi thường sinh mạng của hàng triệu binh lính, thanh niên xung phong và dân công. Thế nhưng, khi một số cán bộ – mấy ủy viên TƯ Đảng, nhiều cán bộ cao cấp, trung cấp, một số sĩ quan trong quân đội, gồm mấy vị tướng, nhiều sĩ quan cấp tá, ở trong nước và ngoài nước đã phản đối chiến tranh, phản đối đường lối thân Mao của bọn chóp bu CS, thì họ bị quy là “phần tử xét lại chống Đảng”, bị vu khống “làm gián điệp cho nước ngoài” và bị đàn áp ác liệt, bị tù ngục nhiều năm, thậm chí có những cán bộ đã bị chết trong tù.

Chính việc ĐCSVN phủ nhận “nhân tính” đã đem lại hậu quả nguy hại rất nghiêm trọng cho đạo đức xã hội, là ngày nay trong dân gian, người dân học đòi Đảng cũng coi thường tính mạng con người: cái thói độc ác ngày càng phổ biến, chỉ vì một việc cỏn con thôi, người ta sẵn sàng chém giết nhau. Một nhà báo trong nước đã phải kêu lên: “Chưa bao giờ các hành vi vô nhân tính, vô đạo đức trong các mối quan hệ xã hội, kể cả giữa những người thân trong gia đình lại xuất hiện với một tần xuất dày đặc trên báo chí như hiện nay.”

Điều thứ hai. Từ khi ra đời cho đến nay, 85 năm ròng rã, ĐCSVN đã tỏ rõ là một đảng vô cùng gian dối, thường xuyên dối trá, lừa gạt, chẳng những đối với địch, mà cả đối với dân, cả đối với đảng viên của Đảng. Đảng luôn luôn nói dối trắng trợn, nói một đằng, làm một nẻo. Thí dụ thì nhiều vô kể. Chỉ xin đưa ra vài chuyện thôi. Cú lừa gạt đau đớn nhất là đối với “bạn đồng minh gần gũi, thân cận nhất” của Đảng (tầng lớp nông dân) là khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Khi cần lôi kéo nông dân theo Đảng làm cách mạng, ĐCS tung ra khẩu hiệu đó lên, ra rả quanh năm suốt tháng; khi làm CCRĐ, ĐCS vẫn còn hò hét cái khẩu hiệu đó. Nhưng, khi CCRĐ vừa xong, nông dân chưa kịp thụ hưởng gì trên mảnh đất mới được chia, thì ĐCS đã vội lùa họ vào cái gọi là hợp tác xã bậc thấp, rồi nhanh chóng đưa lên bậc cao, lấy ruộng của nông dân cho ban quản trị, thực tế là ĐCS, quản lý; biến nông dân từ người chủ ruộng thành người “làm công ăn điểm” để rồi “Mỗi người làm việc bằng hai/Để cho chủ nhiệm mua đài sắm xe/Mỗi người làm việc bằng ba/Để cho chủ nhiệm xây nhà lát sân”, v.v… Vẫn chưa hết, đến năm 1980, sau khi ĐCS đã nắm quyền trên cả nước, Đảng liền thảo Hiến pháp (HP) của cái gọi là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), đưa ra điều 19 HP chuyển quyền tư hữu đất đai (tức là toàn bộ thổ canh thổ cư, nói nôm na là ruộng đất) của nông dân và của nhân dân nói chung sang cái gọi là “sở hữu toàn dân”! Tuyên bổ đất đai là “sở hữu toàn dân”, có nghĩa là ĐCS đã “quốc hữu hóa” đất đai, hay nói chính xác hơn “đảng hữu hóa” ruộng đất của nông dân và nhân dân. Từ đây, quyền tư hữu ruộng đất của người dân hoàn toàn bị xóa bỏ, và ruộng đất bây giờ thực tế nằm trong tay sở hữu của ĐCS là đảng độc tôn thống trị đất nước. Từ đây, ĐCS thực tế đã tự biến mình thành một tên siêu đại địa chủ. Đến những lần sửa đổi HP 1992 và HP 2013, điều khoản về đất đai vẫn giữ nguyên nội dung giống như HP 1980, tức là tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất của người dân, nhất là nông dân. Từ nay, nông dân chỉ được Nhà nước chuyên chính vô sản cho quyền sử dụng. Khi nào cần thì Nhà nước chuyên chính sẽ cưỡng chế tước đoạt lại! Và cái lối “quốc hữu hóa”, nói đúng hơn là “đảng hữu hóa” này chỉ có lợi cho đám quan lại CS cầm quyền ở các địa phương. Bọn này tha hồ áp bức nông dân, cưỡng chế cướp đoạt ruộng đất của nông dân, tự biến chúng thành những địa chủ mới, những cường hào đỏ, biến nông dân thành hàng triệu “dân oan” khốn khổ, hàng chục năm trời đi khiếu kiện khắp các cửa quan một cách vô vọng, chịu biết bao tủi nhục, bị đánh đập, thậm chí bị giết thê thảm. Đấy, sự lừa gạt bỉ ổi, khủng khiếp nhất đối với nông dân là như vậy. Cái vết thương đau đớn này trên cơ thể Dân tộc vẫn còn rướm máu mãi.

Một sự lừa gạt trắng trợn nữa là sau khi phát động cuộc nội chiến dưới chiêu bài “giải phóng miền Nam”, để kích động người dân tham gia cuộc chiến, những kẻ gây chiến phải ra sức nói dối, ra sức lừa gạt, nào là người dân ở miền Nam dưới ách Mỹ Diệm bị khốn khổ vô cùng, nào là chế độ miền Nam độc tài, gia đình trị ghê gớm, người dân không có chút tự do, xã hội thối nát, sa đọa, người ta còn dựng lên biết bao chuyện bẩn thỉu, như tổng thống Diệm ngủ cả với em dâu, vợ Ngô Đình Nhu, v.v. và v.v… Ngày nay, sự thật như thế nào thì chắc mọi người đã thấy rõ. Ngay trong ngày đầu tiên khi quân miền Bắc mới vào Sài Gòn, nhà văn Dương Thu Hương, lúc bấy giờ là thanh niên xung phong, thấy và hiểu được Sự Thật, và chị đã ngồi bên vệ đường khóc ròng!

Còn biết bao chuyện lừa dối, phỉnh gạt khác nữa không thể kể hết. Nào là “Nhà nước công nông”, “nông” thì đã rõ như cái thí dụ vừa kể trên, còn “công” thì đồng lương mà “Nhà nước công nông” trả cho công nhân, viên chức là “đồng lương bóc lột”, “đồng lương chết đói”, thực tế chỉ đủ ăn trong mười ngày. Nào là “chuyên chính vô sản”, thực tế có anh vô sản nào được xơ múi gì ở cái “chuyên chính” đó, chung quy chỉ là một lũ quan tham lại nhũng tham quyền cố vị, thậm chí những tay hoạn lợn, cai cao su, lưu manh đường phố… khoác cái áo “vô sản lưu manh” (từ ngữ của ông Marx) chễm chệ ngồi trong Bộ Chính trị (BCT), làm TBT ĐCSVN, làm Chủ tịch nước, làm bộ trưởng công an để nắm chặt “chuyên chính” mà đè đầu cưỡi cổ “thằng dân”. Nào là “dân làm chủ, cán bộ là đày tớ của dân” – điều này chẳng cần bình luận gì nữa, dân ta đã chế nhạo quá nhiều rồi. Nào là những hứa hẹn huy hoàng trong “Chương trình Việt Minh”: xóa bỏ mọi thứ thuế, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tín ngưỡng, dân chủ, tự do, hạnh phúc,… nhưng khi ĐCS nắm chính quyền rồi thì tất cả những thứ đó chỉ là những lời nói suông. Nhà báo Trần Đĩnh kể về “nghệ thuật” lừa đảo siêu đẳng của ủy viên BCT Tố Hữu trong việc mua ngôi nhà của bà Lợi Quyền, một nhà tư sản ở Hà Nội đã từng quyên góp nhiều vàng và nhà cửa cho ĐCS. Bà còn lại một ngôi nhà, Ban tuyên huấn TƯ muốn mua; người ta đặt giá thì chê đắt không mua. Đùng một hôm, xe tuyên huấn chở mấy bao tiền đến, đắt mấy cũng mua. Ba ngày sau, đổi tiền! Trần Đĩnh nhận xét rất hay: “Tố Hữu, nguyên Trưởng ban tuyên huấn TƯ đã hạ thời cơ tuyệt hảo chấm dứt cơ nghiệp đại gia tư sản Lợi Quyền có tiếng ở Hà Nội. Bằng giấy lộn. Ai cứ bảo nhà thơ trên gió trên mây.”

Việc ĐCSVN cho công an lập ra những tổ chức “kháng chiến” cuội, “phục quốc” cuội để đánh lừa thanh niên yêu nước ở miền Nam, làm cho hàng nghìn người mắc bẫy để tống họ vào tù. Đó cũng là một tội ác kinh tởm.

Trên đây là những chuyện đối nội, còn về đối ngoại thì không thiếu chuyện ĐCSVN gian dối, lừa gạt trắng trợn dư luận thế giới. Chuyện ông Hồ Chí Minh sang Pháp nói dối như thế nào, nhiều người đã biết. Chẳng hạn, có tờ bảo hỏi thẳng: ông có phải là cộng sản không? Ông Hồ chối đây đẩy: không. Trả lời câu hỏi của báo Journal de Genève, ông tuyên bố như đinh đóng cột: “Các bạn của chúng tôi không nên lo chủ nghĩa mác-xít sẽ du nhập vào đất nước chúng tôi”. Trên báo Le pays ông cũng đã nói: “Những lý thuyết mác-xít không thể áp dụng ở nước chúng tôi được”. Còn trong cuộc phỏng vấn ngày 25.6.1946, trả lời đảng viên Xã hội Pháp Daniel Guérin hỏi về cái chết của Tạ Thu Thâu, ông Hồ đã nói như sau: “Ce fut un patriote et nous le pleurons… Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés”, tạm dịch: “(Tạ Thu Thâu) là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất… Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt”. Ông Hồ giả dối làm ra vẻ đau buồn về cái chết của nhà ái quốc Tạ Thu Thâu, trong lúc đó chính ông ta biết quá rõ ai là người ra lệnh giết ông Thâu, và chắc chắn ông ta cũng không thể quên ba bức thư ông gửi cho TƯ những năm 1937-38 chửi bới thâm tệ những người trotskistes.

Việc ĐCSVN vi phạm Hiệp định Genève 1954, để lại vũ khí, cài lại cán bộ ở trong Nam, vi phạm Hiệp định ngừng bắn năm 1973, hay là những vi phạm thường xuyên các Công ước quốc tế về nhân quyền, về chống tra tấn, v.v. và v.v… càng nổi bật sự gian trá quen thuộc của tập đoàn cầm quyền ĐCSVN. Có thể họ biện bạch rằng đứng trên lập trường vô sản, đánh lừa quốc tế, tức là đánh lừa bọn đế quốc, là đúng đường lối giai cấp và chỉ có lợi cho ta thôi. Họ không hề nghĩ rằng làm như thế là có hại cho quốc thể, là tạo thêm nỗi quốc nhục cho Đất nước Việt Nam: đã mang danh tên ăn mày quốc tế vác bị đi xin khắp thế giới lại còn muốn quàng thêm cái danh xưng thằng bạc bịp quốc tế nữa thì thanh danh của Tổ quốc Việt Nam mãi mãi bị chôn vùi dưới ba thước đất, làm sao còn ngẩng mặt lên trước thế giới văn minh được?

Điều thứ ba. ĐCSVN thực tế là một đảng độc tài toàn trị, phản dân chủ. Ngay từ sau khi cướp được chính quyền, để củng cố quyền lực độc tài toàn trị Đảng đã ra sức tiêu diệt mọi đảng phái yêu nước có thể tranh chấp quyền lực với ĐCS hoặc đánh quỵ mọi thành phần có tiềm năng chống đối để bảo đảm cái mà Lenin gọi là гегемония пролетариата, tiếng Pháp là hégémonie du prolétariat, tức là địa vị độc tôn của giai cấp vô sản, thực ra là của ĐCS (Hà Nội dịch là độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản). Để bảo đảm cái địa vị độc tôn đó thì trong tất cả các cơ quan nhà nước – lập pháp, hành pháp, tư pháp, trong tất cả các cơ quan chuyên môn, như bệnh viện, trường học, bảo tàng, nhà hát, rạp chiếu bóng, v.v…, trong tất cảcác đoàn thể xã hội, trong tất cả các cơ quan truyền thông, tất cả các báo chí của Đảng… đều phải do các đảng viên CS nắm giữ địa vị chủ chốt. Dù rằng ở một số bộ và cơ quan nhà nước có thể có người ngoài đảng trên danh nghĩa là bộ trưởng, vụ trưởng, giám đốc, v.v… nhưng đảng viên CS hay đảng đoàn CS những nơi đó vẫn là người có thực quyền quyết định, còn các vị ngoài đảng chỉ “làm vì”. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch của Đảng. Đối với các lực lượng có tiềm năng chống đối Đảng, tính ra chỉ còn giới trí thức và giai cấp tư sản thì ĐCS chủ trương phải “cải tạo” họ. Ở nông thôn, từng lớp phú nông đã bị đánh gục trong CCRĐ rồi, nên Đảng không lo. Học theo Trung Cộng, ĐCSVN chủ trương cải tạo trí thức bằng cách “chỉnh huấn”, rập khuôn theo bài bản “chỉnh phong” của Mao Trạch Đông. Trong “chỉnh huấn”, buộc những người trí thức phải tự bộc lộ, tự kiểm điểm, tự xỉ vả những thói hư tật xấu của mình, họ còn phải khai báo về xuất thân của mình, nếu thuộc về những giai cấp gọi là “đối tượng của cách mạng” như địa chủ, tư sản… thì họ phải tố cáo, xỉ vả và căm thù ngay cả bố mẹ, ông bà mình. Tất nhiên, đây là điều sỉ nhục lớn đối với người trí thức biết tự trọng, nhưng nếu anh ta chịu đựng được thì tỏ ra rằng anh ta đã khuất phục giai cấp vô sản, tức là ĐCS, và anh ta sẽ được Đảng sử dụng. Tuy vậy, Đảng vẫn không hoàn toàn tin anh ta, còn những điều anh ta đã bộc lộ với Đảng thì Đảng ghi vào hồ sơ lý lịch và theo dõi anh ta suốt đời. Hơn nữa, dù được Đảng sử dụng, nhưng bao giờ Đảng cũng kỳ thị, phân biệt đối xử với trí thức. Cái đó gọi là “chủ nghĩa thành phần”. Cái “chủ nghĩa” quái gở này áp dụng không chỉ cho cán bộ, nhân viên, sĩ quan và binh lính, mà cả cho học sinh, sinh viên, nhất là khi xét duyệt cho họ vào đại học hay đi nước ngoài. Cái “chủ nghĩa” này đã hủy diệt biết bao tài năng của tuổi trẻ! Giáo sư Tạ Quang Bửu bị thất sủng chính vì đã phản đối cái “chủ nghĩa” này.

Còn nếu người trí thức có thái độ ngang bướng, không phục tùng Đảng, hoặc lời ăn tiếng nói không vừa ý lãnh đạo thì Đảng sẽ mở trận đấu tranh không khoan nhượng. Đó là trường hợp đối với các văn nghệ sĩ, các giáo sư trong vụ án “Nhân Văn-Giai Phẩm” hồi giữa những năm 50 thế kỷ trước. Hậu quả của việc ĐCSVN đánh “Nhân Văn-Giai Phẩm” là cả một nền văn hóa, giáo dục, văn học, nghệ thuật miền Bắc bị lụn bại, méo mó, què quặt trong mấy chục năm ròng, và cả một lớp tinh hoa của dân tộc tiêu biểu cho trí tuệ và sức sáng tạo đã bị đánh gục, bị vùi dập, bị dìm xuống bùn đen trong nỗi sợ triền miên làm cho sự tiết tháo, nhân cách của giới trí thức miền Bắc Việt Nam bị sa sút nặng nề. Đó là một tội ác của ĐCSVN đối với trí tuệ của dân tộc.

Còn việc cải tạo công thương nghiệp, chủ yếu là để tước đoạt (từ ngữ của Marx) phương tiện sản xuất, cơ sở kinh doanh của giai cấp tư sản, lại là một đòn chí tử nữa ĐCS đã giáng xuống những mầm mống đang lên của nền kinh tế non yếu của Đất nước làm cho nó càng thêm suy bại.

Mặc dù ĐCS đã độc quyền thao túng bộ máy cai trị gồm cả chính quyền lẫn các tổ chức và đoàn thể xã hội, đã nắm chắc hệ thống chuyên chính vô sản, nhưng sau những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ, sau những sai lầm và thất bại nặng nề về kinh tế, xã hội, đã làm cho đời sống người dân cực kỳ khó khăn, thua kém rất nhiều so với thời còn dưới chế độ cũ, thì uy tín của ĐCSVN ngày càng sa sút trầm trọng. Vì thế, tập đoàn cầm quyền CSVN thấy cần phải bắt chước ĐCSLX dưới thời trì trệ của TBT Brezhnev đã đưa điều 6 vào HP LX 1977, thì họ cũng đã đưa điều 4 vào HP CHXHCNVN 1980. Và sau này họ vẫn giữ nguyên cả trong HP 1992 và 2013. Đây là âm mưu dùng HP để thể chế hóa sự độc quyền cai trị và địa vị độc tôn của ĐCSVN, siết chặt hơn nữa chế độ độc tài toàn trị của một nhúm nhỏ mấy người trong BCT TƯ Đảng, nhằm chặn đứng con đường dân chủ hóa xã hội, con đường đa nguyên, đa đảng và tam quyền phân lập. Cho nên đòi hỏi của dân chúng, nhất là các nhà trí thức và các chiến sĩ dân chủ phải xóa bỏ điều 4 HP là điều rất hợp lý và rất chính đáng, vì điều 4 chi phối phần lớn những điều khác trong HP, chi phối toàn bộ sinh hoạt của xã hội Việt Nam. Gần đây, Khối 8406 vận động cuộc biểu tình trên mạng đòi xóa bỏ điều 4 HP cũng là một việc làm rất có ý nghĩa.

Cũng nên thấy rằng một khi ĐCS cầm quyền buộc phải ghi điều đó vào HP thì chứng tỏ là chế độ thống trị CS đã rệu rã, rung rinh và có cơ sụp đổ, vì thế tập đoàn thống trị phải dùng điều đó để siết chặt hơn nữa nền thống trị CS. Trước đây, khi mới cầm quyền, dân chúng còn hy vọng, còn tin tưởng vào ĐCS, họ không cần đưa điều đó vào HP mà vẫn chuyên chính được. Bây giờ, hy vọng và tin tưởng đã mất hết, nên điều đó là tối cần thiết cho kẻ thống trị. Cho nên TBT Nguyễn Phú Trọng và các ủy viên BCT khác đều nói: “Bỏ điều 4 HP là tự sát!”. Nhưng đó cũng chính là tiên triệu báo trước sự sụp đổ không xa của chế độ độc tài. Đấy, năm 1977, ĐCSLX đưa điều 6 vào HP thì 13 năm sau, Liên Xô sụp đổ và ĐCSLX tan tành! Vì thế, ngày nay, các quan chức CSVN phải tính chuyện đường dài, họ bắt chước các lãnh tụ CS họ Kim ở Bắc Triều Tiên, hay họ Castro ở Cuba, dần dần cài người thân trong gia đình vào bộ máy lãnh đạo từ tỉnh lên đến TƯ để dùng lối cha truyền con nối mà đảm bảo sự độc quyền thống trị của họ. Còn một cách nữa: chuyện mới xảy ra gần đây thôi. Theo báo Nhân Dân ngày 29.1.2015, tại hội nghị cán bộ do Ban Tổ chức TƯ triệu tập ngày 27.1.2015, ông Tô Huy Rứa, ủy viên BCT, trưởng Ban Tổ chức TƯ đã cho biết cuộc họp Ban Chấp hành TƯ lần thứ 10 vừa qua đã thông qua danh sách gồm 290 ủy viên TƯ chính thức và dự khuyết cho Đại hội XII, và danh sách 22 ủy viên BCT và ủy viên Ban Bí thư (BBT) cho khóa XII. Đây quả là một “sáng kiến tân kỳ”, chưa từng thấy của ĐCSVN: bất chấp Điều lệ Đảng, toàn bộ nhân sự của ĐCSVN khóa XII sắp tới đã được hội nghị TƯ Đảng lần thứ 10 khóa XI, gồm 197 ủy viên TƯ chính thức và dự khuyết khóa XI quyết định xong xuôi. Toàn bộ danh sách các vị ủy viên trong BCT và trong BBT khóa XII cũng quyết định xong. Như thế là hội nghị TƯ lần thứ 10 đã làm thay cho toàn bộ quá trình đại hội từ cơ sở đến Đại hội toàn quốc lần thứ XII cả trong việc ứng cử, lựa chọn, bầu cử các cấp ủy từ dưới lên trên cho đến Ban Chấp hành TƯ, BCT và BBT khóa XII. Tập đoàn thống trị hiện nay cố đấm ăn xôi, quyết bảo đảm cho kỳ được là tập đoàn cầm quyền sắp tới phải theo ý chí của họ. Quả là một sự độc tài, chuyên quyền trắng trợn không thể tưởng tượng nổi.

Điều thứ tư. Hãy nhìn lại trong 85 năm qua, ĐCSVN đã làm được gì cho dân, cho nước.

ĐCSVN rất thích kể công về thời trước. Mà nhiều khi cái “công” đó chưa hẳn là công thật. Đảng thường tự hào là Đảng đã cướp được chính quyền từ tay Nhật, Pháp, về sau gọi đó là Cách mạng tháng Tám. Nhưng lịch sử chứng minh rõ ràng đó là sự dối trá: Việt Minh (tức là ĐCS) đã cướp chính quyền không phải từ tay Nhật, Pháp, mà là từ tay Chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ Trần Trọng Kim là ai? Thực ra, họ không phải là “chính phủ bù nhìn” cho Nhật như Việt Minh và tờ Cờ Giải Phóng của ĐCS đã vu cáo họ, mà là một chính phủ do vua Bảo Đại lập ra sau khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945) gồm nhiều trí thức yêu nước nổi tiếng trong cả nước, chẳng những họ có trí tuệ, có tư tưởng, mà còn có đức hạnh đứng ra gánh vác việc nước vì mục đích giành độc lập thật sự cho Việt Nam. Vì điều kiện phức tạp hồi bấy giờ, Chính phủ đó chỉ tồn tại trong bốn tháng thôi. Nhưng trong thời gian ngắn ngủi đó họ đã làm được nhiều việc lớn: đã cố thu hồi đất Nam Kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp, như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng nhằm giữ được toàn vẹn lãnh thổ; đã tổ chức việc cứu đói cho dân miền Bắc; đã Việt hóa nền giáo dục, và việc này đã có ảnh hưởng lâu dài cho cả những thời kỳ và nhiều thế hệ sau này; đã cải tổ thuế má, tư pháp; đã vận động và tổ chức thanh niên, sinh viên (tổ chức Thanh niên Tiền tiến) đưa thanh nên vào sinh hoạt chính trị, xã hội… Đại diện của Chính phủ Trần Trọng Kim đã năm lần gặp đại diện của Việt Minh (ĐCS) để bày tỏ lòng mong mỏi hợp tác với Việt Minh để cùng lo việc nước, nhưng đại diện của Việt Minh đã khước từ vì chủ trương của ĐCS là: ĐCS phải là đảng cầm quyền, duy nhất cầm quyền.

ĐCS thường kể công và tự hào đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Nhưng cũng có lắm ý kiến bác lại rằng: nếu ĐCS có chính sách mềm dẻo hơn thì chưa chắc đã cần phải đổ máu kháng chiến chống Pháp trong gần 10 năm. Nếu cứ tiếp tục đứng trong Khối Liên hiệp Pháp (theo Hiệp định sơ bộ – 6.3.1946) mà đấu tranh thì cuối cùng Pháp cũng phải trả lại độc lập cho ta, giống như các nước thuộc địa khác đã được Pháp trả lại độc lập, chẳng phải tốn máu xương mà còn được độc lập sớm hơn ta nhiều. Đấy, cái “công” đó cũng chưa hẳn là công thật. ĐCS còn tự hào đã lãnh đạo chiến tranh chống Mỹ giải phóng miền Nam. Nhưng cuộc chiến Bắc – Nam, thực chất là cuộc nội chiến, mà những người lãnh đạo thân Mao hồi đó, như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu… đã phát động, do sự xúi giục và mưu đồ của Mao Trạch Đông: “Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ”. ĐCSVN phải chịu trách nhiệm trước Dân tộc về cái tội đã phát động cuộc nội chiến này gây ra biết bao đau thương, tang tóc, tốn biết bao máu xương của Dân tộc: trên sáu triệu người đã bỏ mạng. Cái “công” này không phải là công mà chính là tội, tội ác.

Về đối ngoại, từ chỗ suy tôn “Mao Trạch Đông là Lenin của thời đại ba dòng thác cách mạng Á-Phi-La”, chửi Liên Xô là “xét lại hiện đại”, rồi lại kình địch với Trung Quốc, chửi Mao, tiến hành chiến tranh với Campuchia Pol Pot, chiếm đóng Campuchia; Lê Duẩn và ĐCSVN lại quay ngoắt chạy theo LX, tuyên bố coi LX là Tổ quốc thứ hai (nhưng, thực ra trong nội bộ CSVN vẫn coi LX là “xét lại hiện đại”) cốt để xin viện trợ nhằm tiếp tục chiến tranh, rồi ký kết Hiệp ước Tương Trợ với LX. Đến khi bị Trung Cộng tung 300 nghìn quân đánh một trận trên suốt đường biên giới phía Bắc, ĐCS lại chửi Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp, ghi hẳn điều đó vào HP. Còn khi Liên Xô và các chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Mông Cổ sụp đổ, ĐCSVN bơ vơ, bị cô lập hoàn toàn, thì nhóm chóp bu CSVN là Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng lại muối mặt bay đến Thành Đô (3-4.9.1990) hạ mình khuất phục Trung Cộng, chui đầu vào dây thòng lọng của Trung Cộng. Sau đó, CSVN lại tự nguyện quàng thêm vào đầu “vòng kim cô” “mười hai chữ vàng” của Giang Trạch Dân ban, mở đầu cho thời kỳ Bắc thuộc mới. Sở dĩ nhóm chóp bu của ĐCSVN phải quy phục như vậy là vì muốn cứu cái chế độ độc tài toàn trị của chúng, cứu cái địa vị thống trị của chúng trên đầu trên cổ người dân. Từ đó đến nay, nhóm cầm đầu ĐCSVN tiếp tục tự biến mình thành những tên “thái thú” nhượng đất, nhượng biển cho TQ; mặc cho Trung Cộng làm mưa là gió trên Biển Đông, cấm đoán, săn đuổi, đánh chìm tàu thuyền của ngư dân, bắn giết ngư dân; mặc cho Trung Cộng làm sân bay, củng cố công sự trên các đảo Việt Nam đã bị chúng chiếm; mặc cho chúng làm thêm những đảo nhân tạo… Còn trên đất liền thì sao? Bất chấp sự phản đối của các nhà trí thức và nhân dân, ĐCSVN cho Trung Quốc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, nơi xung yếu nhất của Tổ quốc, trên diện tích hàng chục nghìn hec-ta rừng, với hai nhà máy Tân Rai, tỉnh Lâm Đồng và Nhân Cơ, tỉnh Đak-Nông, với hàng nghìn công nhân, lao động Trung Quốc đang chiếm cứ ở đó. Gần 80% các công trình quan trọng trên cả nước Việt Nam đều do Trung Quốc trúng thầu xây dựng. Các tỉnh miền biên giới đã cho Trung Quốc thuê trên 300 nghìn hec-ta rừng đầu nguồn của 18 tỉnh phía Bắc trong 50 năm. Trung Quốc được phép lập nhiều khu dân cư nhiều nơi trên đất Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam bị Trung Quốc lũng đoạn nặng nề. Văn hóa Trung Quốc cũng xâm nhập sâu vào Việt Nam. Viện Khổng tử cũng đã khai trương tại Đại học Việt Nam. Một điều đáng chú ý nữa là gần đây một đoàn cán bộ cao trung cấp của Đảng đã đưa sang đào tạo ở Trung Quốc. Đó là chưa nói tới việc Trung Cộng còn tác động đến quyết định chọn lựa các nhân vật quan trọng trong cơ cấu Việt Nam mà nhiều người đã biết. Như vậy là với đường lối đối ngoại hiện nay, rõ ràng là nhóm cầm quyền trong ĐCSVN đã phản bội lại quyền lợi của Đất nước và Dân tộc Việt Nam.

Về đối nội cần nói rõ rằng, trong lúc khuất phục Trung Cộng thì nhóm cấm quyền ĐCSVN lại ra sức đàn áp những người yêu nước Việt Nam đứng lên đấu tranh đòi Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam; đàn áp các cuộc biểu tình tố cáo và phản đối những vi phạm bờ cõi và biển đảo Việt Nam, phản đối việc đưa giàn khoan dầu vào lãnh hải Việt Nam. Thậm chí việc đồng bào kính viếng các tử sĩ Việt Nam trong cuộc chiến Việt Trung 1979 cũng bị cấm cản, xua đuổi. Bộ mặt phản nước hại dân của nhóm cấm quyền ĐCSVN ngày càng rõ rệt.

Về đối nội, trong 40 năm kể từ khi cuộc chiến tranh Bắc – Nam chấm dứt, một thời gian dài với đường lối phiêu lưu, duy ý chí của tập đoàn Lê Duẩn, Đất nước đã phải trải qua những năm tháng vô cùng khốn khổ, dù Lê Duẩn luôn luôn huênh hoang hứa hẹn mọi điều tốt đẹp. Đến thời “đổi mới” có dễ chịu hơn một chút, kinh tế bắt đầu phát triển, nhưng ban lãnh đạo ĐCSVN vẫn bảo thủ, cứ khư khư giữ chặt địa vị của mình, chỉ đổi mới về kinh tế, mà nhất định không đổi mới về chính trị. Hơn nữa, đổi mới kinh tế mà Đảng lại cứ kiên trì cái phương châm trái khoáy: “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, cho nên dù có nhưng tiến bộ về kinh tế nhưng đà phát triển không mạnh làm cho sụ tụt hậu so với các nước láng giềng trong khu vực, như Singapore,Thái Lan, Indonesia, Malaysia, v.v… ngày càng lớn. Phải nói rằng ở Việt Nam chưa bao giờ nạn tham nhũng, cửa quyền trầm trọng và tràn lan như bây giờ. Từ trên xuống dưới hiện tượng tham nhũng rất phổ biến, nó làm cho nền kinh tế phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề, đồng thời làm cho cuộc sống người dân càng thêm khó khăn. Đám cầm quyền luôn miệng nói tham nhũng đã trở thành quốc nạn, làm ra vẻ hò hét chống tham nhũng, dọa sẽ “hốt, hốt hết”, nhưng tham nhũng vẫn không hết mà càng nặng nề thêm. Vì sao? Vì cái chế độ cực quyền toàn trị không cho người dân cất tiếng nói, không cho báo chí được tự do ngôn luận, cho nên cái gọi là quyền lực thứ tư không thể nào phát huy tác dụng. Hơn nữa, dưới chế độ độc tài đảng trị, không có tam quyền phân lập, không có tư pháp độc lập nên không thể trừng phạt được những cán bộ đảng viên tham nhũng nắm giữ các địa vị cao. Biết bao nhiêu vụ bị tố cáo đều đã “chìm xuồng”, mà có nhiều trường hợp các nhà báo dũng cảm tố cáo thì lại vô tù.

Dưới chế độ toàn trị của ĐCS, quyền công dân cũng như quyền con người không hề được tôn trọng, người dân không cảm thấy mình là người chủ của Đất nước, trong lúc đó ĐCS lại o bế công an, cảnh sát, lại sử dụng bọn côn đồ trong việc đàn áp dân lành, biến công an, cảnh sát thành những kiêu binh, tha hồ nhũng nhiễu, hành hạ, đánh đập, tra tấn, thậm chí đánh chết người dân. Số người bị công an đánh chết, bị tật nguyền không phải là ít. Trong khi đó, tệ nạn xã hội, rượu chè, cờ bạc, xì ke ma túy, đĩ điếm lan rộng, chẳng những ở thành thị mà tràn lan đến cả vùng nông thôn. Đạo đức xã hội ngày càng băng hoại đến nỗi tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã phải kêu lên: “Hãy nhìn vào thực tiễn xã hội: Có bao giờ người Việt Nam lại thờ ơ trước nguy cơ vong quốc, nguy cơ bị đồng hóa như bây giờ? Có bao giờ sự thờ ơ trước đau khổ của đồng loại, sự đâm chém, băm chặt nhau dễ dàng như cơm bữa, sự nhố nhăng mất gốc, sự phô bày thú tính, sự vênh váo rởm đời, sự hành hạ người yêu nước một cách ngang nhiên, sự nịnh bợ kẻ nội xâm và ngoại xâm… lại được tôn vinh trước thanh thiên bạch nhật như bây giờ? Có bao giờ sự thành thật thua sự giả dối, người lương thiện lại sợ kẻ gian manh, người yêu nước lại bị lép vế, bậc thức giả lại bị cười khinh, công lý lại bị nhạo báng một cách thảm hại như bây giờ?” Đấy, kết quả nhãn tiền của “đạo đức cộng sản” và việc “xây dựng con người mới, xã hội chủ nghĩa” của Hồ Chí Minh và ĐCSVN như thế đó.

Điểm thứ năm. ĐCSVN là một đảng rất bảo thủ, thủ cựu, muôn năm vẫn nhìn thế giới, nhìn Đất nước và Dân tộc qua cái lăng kính Marx-Lenin quá cũ kỹ và lệch lạc. Chủ nghĩa Marx-Lenin mà loài người đã vứt vào sọt rác hàng mấy chục năm rồi, dân ở các nước vốn là nôi của chủ nghĩa đó đã vĩnh biệt nó từ lâu rồi, thế mà cho đến ngày nay, từ đại hội Đảng kỳ này qua kỳ khác vẫn lặp đi lặp lại mãi “phải kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin”. Nghe quá nhàm tai đến nỗi dân phải kêu lên “mãi mãi cái loa rè”, “già rồi đâm lú”. Buồn cười nhất là dưới thời TBT Đỗ Mười, ông ta vẫn nhai đi nhai lại “hai phe, bốn mâu thuẫn”, cái công thức từ đời xửa đời xưa CS dùng để nhận định tình hình thế giới. Nhóm cầm quyền trong Đảng cứ khư khư ôm cái cũ, không dám, và cũng không đủ trí tuệ, để nhận ra cái mới, cái năng động của mầm non, cái tương lai, để dám đi những bước sáng tạo. Cái thói quen của họ là bắt chước “hai ông anh”, cứ LX, TQ làm gì thì rập khuôn làm theo. Ban lãnh đạo, nhất là BCT, BBT già cả không có sức sống của tuổi trẻ để vươn tới trí tuệ, văn minh và tiến bộ, nên ĐCS mãi mãi lạc hậu, dù họ vênh vang tự cho mình là “đỉnh cao của trí tuệ loài người”. Nhìn vào thực tế thì thấy rõ ĐCSVN chống lại văn minh và tiến bộ, chống lại chế độ dân chủ đích thực. Thế mà có ai đề xuất cái mới thì BCT đã vội kêu lên “đổi mới, nhưng không được đổi mầu”. Đã thế, nội bộ ban lãnh đạo chóp bu luôn luôn gầm ghè lục đục nhau, cấu xé nhau, và mỗi người đều lợi dụng chức, quyền để trục lợi và tham nhũng!

Chỉ nêu lên năm điểm như thế thôi cũng đủ để mỗi người đảng viên còn có tấm lòng trong sáng vì nước vì dân, có tinh thần tự trọng hãy tự mình lựa chọn: ánh sáng hay bóng đêm, đức hạnh hay tội ác, dân chủ hay độc tài, văn minh, tiến bộ hay dã man, lạc hậu, vì Tổ quốc và Dân tộc hay vì một đảng, thậm chí một nhúm độc tài… Mỗi người sẽ tự hỏi và tự quyết định: có nên tiếp tục ở trong cái ĐCS này nữa không hay rời bỏ nó? Cái đảng khủng bố, gây chiến. Cái đảng phạm tội diệt chủng, phạm tội ác với loài người và với Dân tộc. Cái đảng gian dối, lừa gạt, lật lọng. Cái đảng trong 85 năm qua đã gieo rắc bao đau thương, tang tóc, khổ cực, tủi nhục cho mấy chục triệu con người. Cái đảng đang tham quyền cố vị, bám vào quyền lực để thống trị Dân tộc và Đất nước. Cái đảng đang thuần phục và rước kẻ thù vào nhà.

Ngày nay, ĐCSVN đang là khối u ác tính bám vào cơ thể Dân tộc, cơ thể Đất nước. Nếu không dũng cảm làm một cuộc phẫu thuật để vứt bỏ khối u đó đi mà để nó di căn thì Dân tộc và Đất nước chắc chắn sẽ mất vào tay Trung Cộng đầy tham vọng bành trướng. Lẽ nào người đảng viên còn có tấm lòng trong sáng yêu nước thương dân, có tinh thần tự trọng mà không dám rời bỏ cái đảng tội ác đã phản lại cuộc cách mạng ĐCS từng rêu rao và hứa hẹn?

Chính lúc này là lúc phải quyết định! Rời bỏ cái đảng mang tội ác với dân, với nước này sớm được ngày nào càng tốt ngày đó. Đừng có hy vọng là những kiến nghị hay ho, những đề nghị sáng suốt, những yêu cầu thiết tha của các trí thức, các cán bộ, đảng viên, các lão thành cách mạng, cũng như của nhân dân có thể chuyển hóa được được những cái đầu đã bê-tông hóa của đám cầm quyền vì cái đít của chúng quen ngồi ghế cao bao giờ cũng thích leo cao hơn nữa và bám chắc hơn nữa vào cái ghế của chúng. Đừng có hy vọng đại hội Đảng kỳ tới sẽ có thay đổi gì tốt đâu. Câu nói dân gian khi xem tuồng chèo: “Vô ra vẫn thằng cha lúc nãy!” Đại hội Đảng cũng chỉ là một lớp tuồng chèo, “vô ra vẫn thằng cha lúc nãy” thôi.

Chúng tôi rất thông cảm có nhiều bạn đang phân vân, ngập ngừng, do dự. Đó là điều rất tự nhiên trước một quyết định quan trọng. Nhưng khi đã dám quyết định bước ra khỏi cái đảng độc tài, dối trá, tham nhũng này rồi, thì các bạn sẽ thấy tâm hồn nhẹ nhõm, thoải mái lạ thường. “Vòng kim cô” trên đầu bạn sẽ biến mất lúc nào không hay. Việc đó sẽ mở ra một chân trời mới để bạn có thể cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cho những công việc có ích cho Tổ quốc và Dân tộc. Tin chắc rằng những người dũng cảm, như các anh Nguyễn Chí Đức, Phạm Đình Trọng và nhiều người khác… đã ra khỏi ĐCSVN cảm thấy thấy nhẹ nhàng, rất thoải mái, vì bây giờ các anh đã thực sự là những con người tự do.

2.2015

1dlb.png
Nguyễn Minh Cần

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Hà Sĩ Phu : Câu đối Tết Ất Mùi 2015

Nguồn boxitvn

12/02/2015

clip_image002

Phần I

Ngựa qua Dê tới

clip_image004

Câu đối số 1

– Hết khoe một thời, NGỌ ngoạy lắm cũng ra vành móngNGỰA!

– Còn xuất DƯƠNG mấy độ, MÙI mẽ chi mà vểnh sợi râu ?

======

(*) MÃ = cái mã bên ngoài = Mã Khắc Tư

Mấy lời thưa trước: Ngày Tết là dịp cùng nhau nhìn lại một năm. Câu đối xin ghi lại một vài ấn tượng khó quên trong năm Giáp Ngọ vừa qua. Ấn tượng thì nhiều nhưng chỉ bày ra hầu bà con đúng 16 câu, bởi con số 16 tự nó cũng là một ấn tượng thật khó quên đối với người dân nước Việt hôm nay. Xin cảm ơn các tư liệu đã bày sẵn ra ngồn ngộn trên các trang mạng, kẻ vụng dại này chỉ lượm ra vài nét để mua vui lúc trà dư tửu hậu, nếu được bà con thuận tay xướng họa vài câu đáp lại thì càng vui lắm vậy.

Câu đối số 2: Ngoại địch không nguy bằng nội gián

- Kẻ thù mới đừng quên: Viện dẫu tái sinh, triệu lính ngoại xâm không thể dọa!

- Bài học xưa phải nhớ: DƯƠNG Vương(*) dù quyết tử, một tênnội gián cũng là nguy!

(Dương Vương tức An Dương Vương 安陽王, chữ Dương陽 đồng âm với chữ Dương羊 là Dê, câu đối vẫn thường dùng chữ đồng âm dị nghĩa, lấy đó làm trò chơi chữ thú vị).

Câu đối số 3:

– Giáp Ngọ sắp qua, vài chú Ngựa non còn háu đá!

– Ất Mùi đang tới, mấy cụ già vẫn hám chơi!

clip_image006Câu đối số 4:

– Trâu bò húc Trâu bò, đang hăng máu sợ chi lòi… ruột?

– Đồng chí sợ Đồng chí, đã say quyền ắt phải nhẫn… tâm!

(*)

(*) “Đồng chí sợ đồng chí”: Lấy “điển tích” từ câu “cớ gì bây giờ mình phải sợ hãi các đồng chí của mình?” của ông Lê Hiếu Đằng.

Ngẫu hứng Bình và Chuột

(Câu đối mô tả bức tranh gây ấn tượng nhất trong năm)

clip_image008Câu đối số 5:

– Bá vai Bình, Chuột cũng hữu duyên: mắt trắng, bụng đen, râu vểnh vểnh!

– Sờ gáy Chuột, Bình như vô sản: sao vàng, áo đỏ, miệng loe loe!

Câu đối số 6: Bình-Chuột vỗ vai nhau:

- Thẻ ĐỎ dẫu chia đôi, óc bác tim tôi, tôi chịu bác!

- Tim ĐEN dù sẻ nửa, mưu tôi mẹo bác, bác nhường tôi!

**************

Phần II

Mấy nét Văn hóa năm Con Ngựa

clip_image010

Câu đối số 7: Niềm tự hào mang tên Việt Nam:

- Chống trộm cướp gian manh, thế giới quen tay dùng chữ Việt!!!

- Xây thiên đường cộng sản, nhân quần trố mắt chịu ngườiNam!!! (Sướng thiệt đấy đồng bào ơi!)

Một ví dụ:

Poster cảnh cáo người Việt hãy ngưng trộm cắp tại Nhật. (Hình: Internet) người Việt dẫn đầu về trộm cắp tại các cửa hàng, siêu thị (lưu ý lá cờ đỏ rớm máu và khẩu hiệu Lao động là vinh quang, không tự tạo ra giá trị nên phải trộm cướp để tọa hưởng?) http://danquyenvn.blogspot.nl/2014/12/quoc-ky-csvn-uoc-in-vao-poster-canh-cao.html#more

clip_image012Văn hóa “Hà Lội”:

Câu đối số 8:

– Phở chửi, cháo la, “văn vật” gớm!

– Bún lườm, ốc nguýt, “thủ đô” ghê!

(Chủ các quán ăn vừa bán vừa la lối chửi mắng thực khách mà khách vẫn chấp nhận bất đắc dĩ như một “thú vui” thì nền văn hóa ẩm thực độc đáo này có lẽ chỉ đất Hà thành “nghìn năm ôn vật” mới có!!

Câu đối số 9:

– “Thù địch” phần đông là tử tế!

– “Tà-Ru” hầu hết lại văn minh!

Posted in Uncategorized | Leave a comment

23 điều vô lý chỉ có ở Việt Nam

Nguồn ijavn

Ở Việt Nam có những thứ và những điều vô cùng vô lý nhưng vì những thứ đó đang ở Việt Nam nên ai cũng cho rằng nó có lý và không có vấn đề gì. Có những thứ và những điều mà chỉ có ở Việt Nam, không có nước nào có. Hy vọng nhiều người sẽ nhận ra. Danh sách như sau:

proxy?url=http%3A%2F%2F4.bp.blogspot.com%2F-P2_plPB5Jhw%2FVNVlFj54xXI%2FAAAAAAAAFds%2Fjoim9VQURxU%2Fs1600%2FSO%252BHO%252BKHAU%252B-%252BIJAVN.JPG&container=blogger&gadget=a&rewriteMime=image%2F*

1. Sổ hộ khẩu. Trên thế giới chỉ có 3 nước áp dụng chính sách này, cả 3 nước đều là 3 cường quốc của thế giới, là thiên đường. Đó là Việt Nam, Trung Quốc và….Bắc Hàn. Tôi thật sự không hiểu nổi mục đích của cái sổ hộ khẩu là gì, trừ việc làm mồi kiếm ăn cho mấy anh chị Công An. Nếu bạn nào có thế giải thích trong 1 câu “tại sao chúng ta lại có sổ hộ khẩu” tui chết liền. Ở xứ khác khi sinh ra chỉ có giấy khai sinh rồi lớn lên làm cái thẻ, hộ chiếu. Vài nước thì dùng bằng lái xe làm chứng minh. Muốn đi đâu thì đi, nước củs mình mà. Tại sao mỗi lần chuyển địa phương là phải đi khai tạm trú, kt3. Mấy cái này là gì tui hiểu tui chết liền.

2. Đi mua xe đi đăng ký tên mình phải dùng sổ hộ khẩu vè đăng ký tại nơi thường trú (nơi đăng ký hộ khẩu). Nó vô lý ở chỗ này. Bạn là dân Lạng Sơn chuyển công tác vô làm ở Cà Mau, bạn muốn mua xe máy và đứng tên bạn, lỡ xe có bị trộm thì người ta biết xe đó là của mình. Nhưng ở Việt Nam thì nếu mua ở Cà Mau thì dân Lạng Sơn phải chở xe về Lạng Sơn đăng ký. Có cái nước nào khác trừ Việt Nam làm vậy không? Có ai biết thì nói nha, tại tui khờ lắm, hiểu biết về thế giới bên ngoài Việt Nam kém nữa.

3. Cảnh sát giao thông kiểm tra xe nếu không có đủ giấy tờ sẽ bị giam xe. Tại sao người lái xe phải chứng minh xe đó là của người lái? Sao CSGT không chứng minh điều ngược lại. Phi logic. Còn việc giam xe thì tui chưa biết xứ nào khác làm vậy hết.

4. Thuế “chuyển đổi mục đích sử dụng đất”. Tui chưa biết xứ nào khác có cái thuế quái dị như vậy. Đây là loại thuế làm cản trợ quá trình công nghiệp hóa của đất nước. Bạn là một nông dân có 100 mét vuông đất nông nghiệp. Bạn muốn dùng 50m2 đó để xây cái hang. Bạn phải đi tới Sở Tài Nguyên Môi Trường nộp đơn chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Số tiền đó cộng với bôi trơn đút lót thì gần bằng giá bán thị trường rồi. Thế thì bạn phải bán đi 50 m2 còn lại. Nghĩa là cái thuế này làm mọi thứ liên quan tới đất đai mắc gấp đôi. Một trong những thứ khùng điên nhất.

5. Đi nộp giấy tờ phải đi công chứng rồi phải có con tem xác nhận. Đã vậy còn phải xin xỏ mấy bé mấy *** ** làm hành chính nữa chứ.

6. Đi “xin” việc ở cơ quan nhà nước, công ty quốc doanh và một số công ty tư nhân phải nộp “sơ yếu lý lịch”. Sơ yếu lý lịch yêu cầu bạn phỉ ghi rõ về gia đình và bản thân: Trước và sau 1975 đã và đang làm gì. Tui và gia đình tui làm gì trước sau 1975 thì liên quan gì tới năng lực yêu cầu của công việc?

7. Đi làm tự thiện phải (nộp đơn) “xin phép” Ủy Ban Nhân Dân và Mặt Trận Giải Phóng địa phương. Trời ơi, đã đi từ thiện, là bỏ tiền túi mình ra cho người khác, đã vậy còn phải đi xin giấy phép là sao? Độc Lập Tự Do Hành Phúc đâu rồi?

8. Tham gia các giải thể thao ở tỉnh (và vài thành phố) phải có hộ khẩu và sổ tạm trú ở đó. Thể thao Thái Lan đang phát triển với quy vô chinh phục Châu Á. Trong khi đó ở Việt Nam các nhà làm thể thao hỏi “hộ khẩu con đâu?”. Thấy có ngu không?

9. Đi du lịch hoặc ở khách sạn nhà nghỉ phải đưa hộ chiếu hoặc Chứng Minh Thư cho tiếp tân. Ở xứ khác tui chỉ trình cái thẻ Master hoặc Visa. Nếu đưa hộ chiếu thì họ photocopy xong rồi đưa lại chứ không giữ. Tui chưa biết cái xứ nào làm vậy, trừ Việt Nam.

10. Trước giải, buổi, hội hay chương trình gì cũng phải giới thiệu danh sách mấy quan có mặt. Đã vậy danh nghĩa dài dòng lê thê. Có cần phải đọc tên từng người một, chờ từng người một đứng dậy ngồi xuống không. Tui thật sự không hiểu cái logic. Tui chưa bao giờ thấy 1 giải hay trận thể thao nào ở nước ngoài làm vậy.

11. Các trung tâm thể thao trưng khẩu hiệu “rèn luyện thể thao theo giương Bác Hồ vĩ đại”. Sao xứ Mỹ không trưng khẩu hiệu “tập luyện theo gương George Washington vĩ đại”? Bác Hồ hồi đó có tập thể thao mà sao tui không biết ta. Chuột cơ tay đô nữa, giờ tui mới biết. Phải ráng tập để nói theo gương Bác Hồ Vĩ Đại mới được.

12. Tất cả các giấy tờ hành chính pháp lý phải có dòng chữ này ở trên “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc”. Giấy xin phép nghỉ học cũng vậy, giấy báo cáo cũng vậy luôn. Xứ khác có vậy không ta?

13. Đi toilet ở Bến Xe (Miền Đông, Miền Tây, tỉnh, thành phố) mỗi lần phải trả 2,000 VND.

14. Toilet công cộng thường không có giấy vệ sinh. Vậy người ta dung gì để chùi *** ta?

15. Làm xong cái hội thảo hay chương trình gì lớn chút cũng phải nói : “Cảm ơn các lãnh đạo đã tạo điều kiện.”

16. Quân Đội đi làm kinh tế: Viettel, MB Bank, Xăng Dầu Quân Đội, Binh Đoàn 318 Dầu Khí. Tui thật sự không hiểu. Quân đội gì mà làm kinh tế kinh doanh?

17. Quân Đội tham gia thể thao thành tích chuyên nghiệp. Tui chưa biết quân đội nước nào khác làm vậy.

18. Cảnh Sát Nhân Dân tham gia thể thao thành tích chuyên nghiệp.

19. Quân Đội phong hàm sĩ quan cho vận động viên đạt thành tích. Mặc dù chưa bao giờ qua trường lớp đào tạo sĩ quan, chưa bao giờ có kinh nghiệm cầm lính, chưa bao giờ có kinh nghiệp chiến trường. Hàm sĩ quan vô nghĩa vậy sao? Bạn là cha mẹ thì có cho con mình vô cái quân đội như vậy không? Vận động viên đạt thành tích thể thao thì liên quan gì tới phong hàm sĩ quan quân đội? Tui chưa biết quân đội xứ nào khác làm vậy hết.

20. Đi xin việc làm vô mấy cơ quan nhà nước hay quốc doanh phải lót tiền, cả trăm triệu hơn chứ không kém. Có xứ nào khác làm vậy không ta?

21. Đánh thuế kinh doanh trên facebook. Cái này miễn ý kiến.

22. Sinh viên học ĐH hay CD cũng phải học 1.5 năm lý thuyết kinh tế triết học Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. 1.5 năm của cuộc đời mà sinh viên sẽ không lấy lại được.

23. Và cuối cùng, Đảng Cộng Sản đấu tranh hy sinh cả triệu người dân trong cuộc chiến chống Pháp, Mỹ Ngụy vì lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, nhưng cuối cùng lại dùng chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường để làm giàu. Vậy cả triệu người Việt đã chết làm gì. Cuộc chiến đó có nghĩa gì?
(Theo Triết học đường phố)

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , | Leave a comment

Nguyễn-Xuân Nghĩa – Hậu Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn: Những Pavlov Mang Họa

Nguồn diendantheky

Chủ Nhật, ngày 08 tháng 2 năm 2015

b22153a96cf77365c47ee7b1c3dd00e851070bd9.jpg

Đã được tác giả trình bày tại buổi tưởng niệm nhà văn Bùi Ngọc Tấn và ra mắt cuốn Hậu Chuyện Kể Năm 2000 vào chiều ngày 7 tháng 2 năm 2015 tại báo Người Việt, Miền Nam California.

Với tôi, đây là một sự vinh hạnh khi được mời lên diễn đàn này trình bày về tác phẩm cuối cùng, là di cảo mới nhất, của nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Sau cả vạn người đã đọc ông và cả trăm người đã phát biểu về con người và văn nghiệp của Bùi Ngọc Tấn, tôi là người muộn màng đẩy một cánh cửa đã mở sẵn. Vì vậy, xin quý vị thông cảm cho nếu chẳng nói điều mới lạ.

Hôm mùng năm vừa rồi và sáng nay lên chùa, tôi đã thắp một nén nhang cầu nguyện nhân dịp 49 ngày tạ thế của Bùi Ngọc Tấn. Nơi đây, hiển nhiên là quý vị cũng đã tưởng niệm như rất nhiều người Việt khác trên địa cầu trong thời gian qua.

Được yêu cầu giới thiệu cuốn Hậu Chuyện Kể Năm 2000 do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương vừa phát hành, tôi đã có một kinh nghiệm cay đắng ngọt bùi.

Ngọt bùi là khi thưởng thức một tác phẩm văn chương khiến mình đọc rất chậm, rồi đọc lại, nhất là những đoạn bi thương về gia đình tác giả gồm có sáu người. Cay đắng là khi phải đặt sách xuống trong tiếng thở dài, có khi là sự phẫn nộ, về con người và đất nước thê thảm của mình. Nhưng những cảm giác riêng tư ấy thật ra hoàn toàn vô ích ở đây. Từng người trong quý vị sẽ có nhận thức riêng của mình sau khi đọc.

Tôi chỉ xin nói rằng đây là một tác phẩm nên đọc – và phải đọc.

***

Trước hết, một cách ý thức hay vô thức, mọi nhà văn đều tiếp nhận những gì đã được viết ra từ trước. Vì vậy, khi nói về một tác phẩm văn chương, chúng ta đều có thói quen đối chiếu, đó là so sánh tác phẩm này với tác phẩm kia, của cùng một nhà văn hay của nhiều tác giả khác. Tôi khó làm chuyện đó vì chẳng có cơ sở gì để đối chiếu hay so sánh. So sánh với Tolstoy, Dostoevsky hay Ghoerghiu sao?

Bùi Ngọc Tấn có chỗ đứng riêng với những tác phẩm lừng danh của ông, không vì số phận hẩm hiu của tác giả mà vì giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Chúng ta nên tìm đọc để biết là vào hậu bán thế kỷ 20, người Việt viết văn ra sao. Cũng như phải đọc Vũ Trọng Phụng để nhìn một đỉnh cao của nghệ thuật văn chương Việt Nam trước khi có tai ách cộng sản. Hai cây bút viết trong hai hoàn cảnh với văn phong quá khác biệt, mà vẫn là tiêu biểu cho hai thời kỳ.

Và tiêu biểu nhất cho thời kỳ cộng sản là cả hai tác giả này đều bị chế độ đả kích!

***

Sau biến cố 1.9.7.5., những người ở miền Nam chúng ta có 20 năm gần như bị bão hòa với nhiều cuốn sách viết về kinh nghiệm tù đầy của chế độ cộng sản, mà người ta gọi là "cải tạo" – dù có tập trung hay không. Trong hoàn cảnh chính trị thời đó, những ai lạnh lùng tỉnh táo thì chịu đựng và kết luận rằng đó là luật chơi tàn khốc của lẽ thắng bại. Nó độc ác và vô ích. Thế thôi.

Nhưng sau đấy, từ những năm 1995 trở về sau, trong hàng ngũ của những người chiến thắng, từ bên trong xã hội cộng sản đã thống nhất trên cả nước, bỗng xuất hiện nhiều cuốn hồi ký về cái nạn tù đầy và cải tạo của những người đã góp phần tạo nên chiến thắng 1.9.7.5.

Tức là hơn 40 năm sau cuốn "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" của Hoàng Văn Chí về nỗi oan khiên giành cho giới nghệ sĩ và trí thức trong nhóm "Nhân Văn Giai Phẩm" tại miền Bắc, chúng ta mới phát giác là qua gần nửa thế kỷ tương tàn ấy, nhiều người ở miền Bắc đã có kinh nghiệm về "cải tạo" rất sớm.

Mà họ lại không may mắn bằng những người tù ở trong Nam.

hau-chuyen-ke-nam-2000-e1418309503574.jpg

Tù cải tạo ở trong Nam còn có một lý do tự an ủi, dù mong manh, rằng mình chống họ thì khi thua trận tất nhiên là bị hành hạ. Những người tù ở miền Bắc không được như vậy. Họ thành thật dâng hiến tuổi thanh xuân cho "cách mạng", và chẳng có tội gì như trường hợp Bùi Ngọc Tấn, vậy mà cũng bóc lịch hay chăn kiến trong tù.

Người miền Nam dùng chữ "bóc lịch" làm ta liên tưởng đến tư thế đứng. Chứ "chăn kiến" thì phải ngồi. Mà đứng hay ngồi thì cũng đều ở trong cũi cả! Tù trong hay tù ngoài, tù trước và tù sau, tù ta hay tù nó đều là tù cả! Sau đó thì gia nhập bộ lạc "Tà Ru". Tù ra để sống trong một nhà tù lớn hơn, và rất dễ mắc bệnh tâm thần vì hàng ngày hàng giờ vẫn có cảm giác như bị theo dõi để lại trở về chốn cũ, là trại giam cũ.

Những phát giác ấy đến với người ở trong Nam khi đọc Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, rồi Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn hay Đèn Cù của Trần Đĩnh. Nỗi ê chề đó càng khiến mình ân hận là không cố gắng nhiều hơn để đất nước có một kết cục khác.

Qua đến tác phẩm mới, và là cuối cùng, của Bùi Ngọc Tấn, Hậu Chuyện Kể, chúng ta còn được một di sản khác. Một bức tranh xã hội của miền Bắc trong những năm chiến tranh.

Nói như một kẻ vô tư và vô tâm của người thiên về xã hội học hay người chuyên về "ác học của nhân loại", thì Chuyện Kể Năm 2000 là một cuốn phim hay.

Sau đó 15 năm, ta lại được xem nhiều trích đoạn hay trailers về việc thực hiện cuốn phim nổi tiếng này. Nếu chỉ như vậy thì tác phẩm mới chẳng quảng cáo gì thêm cho tuyệt tác kia. Nét nhân hậu của Hậu Chuyện Kể là vẽ ra chân dung của nhiều nhân vật đã góp phần hoàn thành cuốn phim. Tôi dùng chữ "nhân hậu" vì chú ý nhất đến sự kiện là trong xã hội cùn mằn độc ác đó vẫn có loại người bất thường đến siêu phàm.

Họ dám sống thật, nói thật và chật vật tranh đấu để một cuốn sách vừa phát hành đã bị cán thành bột – mà vẫn xuất hiện ở nơi khác. Xin hãy đọc để xem Bùi Ngọc Tấn cùng gia đình và bạn hữu đếm thế nào về 1.500 cuốn sách đã xuất bản, đã phát tán mà vẫn phải gom đủ cho chế độ thủ tiêu! Chung quanh ông vẫn còn chán vạn người tử tế nên ở bên ngoài chúng ta mới được đọc Chuyện Kể Năm 2000.

Vì vậy chúng ta không nên tuyệt vọng.

***

Là kẻ ngoại đạo của thế giới nghệ thuật, tôi cứ nghĩ rằng nghệ sĩ không thể là người trầm tư. Ta chẳng thể cứ ngồi Thiền mà thành Phật được! Cũng vậy, nghệ sĩ là người muốn làm một cái gì đó thật đẹp, và phải cố làm thì may ra mới biết cái đó là cái gì! Mà rồi đẹp hay xấu là thuộc quyền thẩm định của người khác.

Bùi Ngọc Tấn là nhà văn bị bẻ bút mất 20 năm sau năm năm tù đầy, mà vẫn cố làm một cái gì đó. Mất cả chục năm mới ra một chuyển kể cho hậu thế, của thế kỷ 21. Cuốn Hậu Chuyện Kể viết về sự cố gắng đó. Ngoài giá trị của một bức tranh xã hội, hay bối cảnh cho việc nghiên cứu về xã hội học của một chế độ tồi bại, cuốn sách mà chúng ta chào mừng hôm nay còn cho thấy tiến trình gian nan của sự cố gắng, sự sáng tạo.

Kinh khủng nhất là khi ông viết mà vẫn thấy bóng cây xoan dật dờ trong trí nhớ lại cũng mập mờ che khuất sự dòm ngó của chế độ! Nhiều khi các nghệ sĩ muốn làm đẹp cho đời thì cũng là những người bị đời hành hạ nhiều nhất.

Nén nhang cho Bùi Ngọc Tấn cũng phải là lời tri ân.

***

Sau cùng, tôi xin được nói về một chuyện ngoài văn chương, khi cảm được tiểu tựa của cuốn sách, là Thời Biến Đổi Gien.

Các nhà bác học về nhân chủng hay khảo cổ có thể giảng cho chúng ta rằng loài người đã mất cả triệu năm, rẻ nhất là mấy vạn năm, mới từ trạng thái bò bốn chân và suy nghĩ bằng cái bụng tiến dần lên trình độ đứng thẳng. Sau cả vạn năm vục mặt xuống đất, chúng ta mới dần dần đi bằng hai chân và suy nghĩ bằng cái đầu, với bộ não ngày càng lớn hơn theo tầm nhìn xa hơn và cao hơn.

Chế độ cộng sản lại hoàn thành một phép lạ – tôi gọi là phép lạ chứ không là một sự kỳ diệu – là chỉ trong một thế hệ là có vài chục năm đã khiến nhiều người đi bằng hai chân biến thành loài thú bốn cẳng. Đấy là hiện tượng đổi gien. Đám hậu sinh của Pavlov với thử nghiệm rất khoa học về phản xạ của con chó để điều kiện hóa con người lại tự biến thành con vật bốn chân có khả năng đánh hơi rất cao.

Những kẻ bò bốn chân là bọn khuyển ưng khuyển phệ xục xạo vào thế giới của con người bình thường để bảo vệ một chế độ bất thường. Họ là những kẻ suy nghĩ bằng bụng dạ hẹp hòi và được huấn luyện để áp bức người khác qua đủ loại bạo lực.

Trong cuốn sách, Bùi Ngọc Tấn còn cho biết thêm rằng cái loài bốn chân ấy vẫn có kẻ… nối dõi tông đường. Ông đã bị hai thế hệ theo nhau bách hại. Rồi tủm tỉm cười với vẻ hiền hòa cố hữu. Rằng ông có sống đến 120 tuổi đâu để trở thành đối tượng của thế hệ công an đời thứ ba!

Tôi trộm nghĩ rằng thế hệ thứ ba của loài thú bốn chân ấy sẽ sớm thất nghiệp chính là nhờ nhiều tác phẩm có khả năng cảm hóa như của Bùi Ngọc Tấn. Ông không còn ở với chúng ta nữa, nhưng ta nên tự chuẩn bị cho tiến trình "cải tạo ngược".

Là với lòng nhân sẽ giúp cho đám người độc ác kia trở lại trạng thái bình thường, để dân ta được sống bình thường trong tự do như các xã hội văn minh khác. Đọc cuốn sách như một di cảo buồn, tôi vẫn thấy ra niềm hy vọng đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nam California, ngày 2015.02.07

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, sách, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến : Cuối Năm Nói (Chơi) Về Chuyện Cuối Đời

Nguồn rfaSun, 02/08/2015 – 20:07 — tuongnangtien

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già
Tố Hữu

Có bữa, đang ngồi hớt tóc, tôi chợt nhìn thấy vài đốm tóc trắng (li ti) chen lẫn với tóc đen trên chiếc khăn choàng. “Cái ông thợ cúp này làm biếng, không thay khăn mới, cũng không rũ sạch cái cũ nên nên mới còn sót lại tóc tai tùm lum của người khách trước – một khứa lão (mắc dịch) nào đó,” tôi nghĩ vậy.

Vài phút sau, tôi hốt hoảng nhận ra rằng: những vụn tóc đen, lấm tấm cùng với tóc trắng xuất hiện mỗi lúc một nhiều. Té ra, đó là tóc bạc của chính mình chớ còn “khứa lão” (mắc dịch) nào vô đó nữa!

Chèn ơi, vậy mà tui cứ tưởng là mình còn trẻ. Mái tóc của tôi, cách đây chưa lâu, chừng vài tuần hay vài năm gì đó, vẫn còn xanh (xanh) mà. Chớ tụi nó bạc hồi nào vậy, Trời? Sao kỳ cục vậy, mấy cha? Khi khổng, khi không cái tất cả chúng ta đều già cái rụp, và già (ngang) hết như vậy sao?

Mà tuổi già thì như chuối chín, càng chín nó càng mềm. Muốn cương cũng không được nữa, đành phải yên phận chịu (già) thôi.

– Ủa, mà già thì đã sao kìa? Làm gì mà nẫy giờ cứ chối đây đẩy, và cứ rẫy nẩy lên – như đỉa phải vôi – vậy cha nội?

– Ý, đừng có tưởng chuyện giỡn chơi à nha. Già thì lôi thôi lắm, lôi thôi lâu, và lôi thôi (luôn) cho đến chết. Coi: tuổi già đâu có khi nào chịu tới mình ên. Nó đi cặp kè với đủ thứ những chuyện (rất) bà rằn và lằng nhằng khác nữa: bệnh tật, chán chường, cô đơn, thiếu hụt…

Đã vậy, cuối năm, ông bạn Huy Phương kể chuyện (nghe) sao mà rầu muốn chết luôn:

“Trước ngày Giáng Sinh tôi có dịp vào viếng thăm một người bạn sắp qua đời trong một nursing home. Trên hành lang dẫn vào phòng người bạn, và ngay trước chỗ làm việc của nhân viên ở đây, tôi thấy nhiều ông bà cụ ngồi trên những chiếc xe lăn, nhìn những người qua lại. Các cô y tá đã sắp xếp cho các cụ ra ngồi trên hành lang đối điện với văn phòng làm việc, một phần để trông chừng các cụ, một phần cho các cụ đỡ buồn. Nhưng các cụ nhìn sự vật một cách dửng dưng, đôi mắt đờ đẫn, có người đã gục đầu xuống ngủ…”

Thiệt là ớn chè đậu!

Tui biết chắc là ông Huy Phương không đặt chuyện để hù em út nhưng, cùng lúc, tôi cũng biết rõ rằng cái cảnh “tầng đầu địa ngục” – vừa được mô tả – không phổ biến lắm ở Hoa Kỳ hay Gia Nã Đại. Cách phân chia chia tuổi già, và những công trình nghiên cứu khoa học, ở hai quốc gia này, cho chúng ta những con số tương đối khả tín và khả xác hơn – về vấn đề này.

Người ta chia ra tuổi già làm ba loại:

  • Chớm già (young – old) là nhóm lớn nhất, chiếm 70 %.
  • Già (old-old) 20 %, kém hơn năng động hơn lớp trên thấy rõ.
  • Già quá cỡ thợ mộc (oldest-old) chừng 10 %. Trong số này chỉ có 4 % – chớ không phải là 20 %, như nhiều người vẫn nghĩ – đang sống ở nursing home hay bệnh viện (Palmore et al. 2005 Encyclopedia of ageism, Binghamton, NY: Haworth).

Như vậy, chính xác, chỉ có 4 % người già – thuộc nhóm cuối cùng – sống ở viện dưỡng lão thôi. Đa phần còn lại đều có cuộc sống bình thường trong cộng đồng. Nhưng khách quan mà nói thì sống ở đâu chăng nữa thì khi đời đã về chiều cũng khó mà vui.

Xã hội, rõ ràng, chưa bao giờ chuẩn bị chu đáo cho những công dân lão hạng để họ bước vào giai đoạn (hụt hẫng) còn lại của kiếp người. Đến tuổi nghỉ hưu, chúng ta bỗng dưng trở nên một người nào khác, không còn vai trò gì rõ rệt nữa trên cuộc đời này. Và hoàn cảnh sống (rồi) cũng khác luôn, thời giờ thì dư mà tiền thì thường thiếu. Đôi khi, lơ ngơ không biết làm gì cho nó hết một ngày. Nói chi tới một tuần, một tháng, hay cả một (hay hai) … chục năm sắp tới!

Làm sao sống an vui và có ý nghĩa, cho những năm tháng còn lại, là một câu hỏi khó – đối với phần lớn những công dân lão hạng – ở những quốc gia phú túc. Những định chế xã hội hiện hữu không có câu trả lời, và cũng không có những chức năng hổ trợ, cho sự an lạc của tuổi già.

Đây là chuyện riêng của từng cá nhân. Vị tha hay vị kỷ? Thủ cho nó chắc ăn hay xả láng, sáng về sớm là tùy ý mỗi người. Không có tổ chức, cũng không có cá nhân nào – kể cả vợ chồng con cái – có thể đóng góp gì nhiều, cho bất cứ ai, vào giai đoạn cuối cùng của kiếp nhân sinh.

Ở nước ta thì khác. Câu hỏi thiết thân của tuổi già không phải là sống ra sao mà làm sao để sống? Vấn đề, xem chừng, có vẻ giản dị hơn nhưng vẫn là một câu hỏi khó đối với rất nhiều người dân cao tuổi – ở Việt Nam.

Những định chế xã hội (cơ quan, ban ngành, đoàn thể, hội hè … thổ tả gì đó) thì có rất nhiều và cũng rất thừa. Chúng hoàn toàn vô can, cũng như vô trách nhiệm, với cuộc sống của những công dân lão hạng.

Đảng, Nhà Nước và Nhân Dân là ba phạm trù luôn luôn đi liền, và gắn bó mật thiết với nhau, khi có nhu cầu tuyên truyền hay đóng góp. Đâu cần nhân dân có, đâu khó có nhân dân. Khó trăm lần, dân liệu cũng xong. Nhưng chuyện sống còn và an sinh của mỗi công dân – vào lúc cuối đời – lại là chuyện thuần túy có tính cá nhân. Đảng và Nhà Nước tuyệt đối không dính dáng gì (ráo) vào chuyện đời của Nhân Dân khi trăm họ đến giai đoạn sức cùng, lực kiệt.

Cách đây chưa lâu, báo chí trong nước đồng loạt đăng tin (Cụ ông gần trăm tuổi đạp xích lô) của phóng viên Văn Nguyễn:

98 tuổi, cụ Đặng Huyền vẫn được người dân quen gọi là cụ Huần, ngày ngày vẫn đạp xích lô chở khách kiếm sống. Cụ thường bắt đầu một ngày làm việc từ khi trời còn mù sương.Trong hội thi diễu hành xích lô ở Festival làng nghề truyền thống Huế 2007, cụ Huần được vinh danh là người lái xích lô có tuổi nghề nhiều nhất tại Huế.”

“Con trai duy nhất bỏ quê vào Nam làm ăn, hơn 30 năm nay mất liên lạc, giờ cuộc sống gia đình cụ chỉ biết nhờ vào đồng công đạp xích lô và sự đùm bọc của làng xóm…Ngoài kiếm tiền nuôi bản thân, cụ Huần còn nuôi cụ bà Trần Thị Lặc, 86 tuổi, thường xuyên đau ốm.”

Cụ Đặng Huyền. Nguồn:vnexpress

Kiểu “vinh danh” của những vị tổ chức Festival làng nghề truyền thống Huế 2007, xem ra, hơi lạ. Phản hồi của độc giả Lê Thu Hiền, dưới bài báo thượng dẫn, cũng lạ lùng không kém:

“ Cụ Huần thực sự là người đáng khâm phục vì sức khỏe, sự bền bỉ và dẻo dai của mình. Cuộc sống thêm lần nữa được minh chứng rằng không cần sự giàu sang phú quý, nghèo mà vẫn bền bỉ lao động vẫn tạo ra cuộc sống có ý nghĩa, sức khỏe niềm tin và hạnh phúc cho riêng mình.”

Cụ Phạm Đờn, một công dân Việt Nam lão hạng khác, lại ở vào một hoàn cảnh sống khác, kém “ý nghĩa” hơn. Bà cụ, xem chừng, đã không có khả năng tạo được “niềm tin và hạnh phúc cho riêng mình” – theo như tường thuật của ký giả Hải Luận:

“Đêm mùa đông rét như cắt da cắt thịt, cụ Phạm Thị Đờn, 76 tuổi, thôn Quảng Hội, xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, cơ thể chỉ như da bọc xương, thức dậy từ 1 giờ khuya, lọ mọ xuống ngâm mình dưới biển mò cua bắt ốc kiếm gạo ăn qua ngày… Từ 1 giờ sáng đến gần 11 giờ trưa trong bụng không có hột cơm, ngâm mình trong giá rét… nhưng chỉ bán được 17.000 đồng. Giá trị cả ngày lam lũ chỉ thu được 10.000-20.000 đồng, gặp lúc sóng to gió lớn chỉ được 5.000-7.000 đồng.”

Cụ Phạm Đờn cũng không được đoàn thể, hay tổ chức nào, “vinh danh” hết trơn hết trọi. Lý do, có lẽ, vì “mò cua bắt ốc” không phải là loại hình lao động được coi là vinh quang – theo tiêu chuẩn văn hoá của dân làng Ba Đình, Hà Nội.

Cụ Phạm Đờn. Nguồn: Tuổi Trẻ Online

Ông Nguyễn Văn Thành, còn có tên gọi là Lão Thành – một người mù, đang bán vé số để làm kế sinh nhai – cũng rơi vào trường hợp (không nằm trong tiêu chuẩn được vinh danh) tương tự. Phóng viên Giang Uyên – báo Bưu Điện Việt Nam – đã không quá lời khi dùng từ ngữ “quăng quật” để mô tả cuộc sống vất vả (ngoài sức tưởng tượng) của người đàn ông khuyết tật, xấu số này:

“… đến giờ tên tuổi của cụ cũng chỉ còn là ký ức… mỗi ngày ông vẫn phải tự đi kiếm ăn qua tấm vé số và cuộc sống ‘tự lập’nơi đầu đường xó chợ… Dù đã già yếu lắm rồi nhưng ngày ngày lão Thành vẫn phải lê bước đi khắp nơi để bán vé số tự nuôi thân. Có những hôm lão ốm nằm một chỗ nhiều ngày liền. Bụng đói không chịu đựng nổi, lão lại lọ mọ dậy bước liêu xiêu ra đường tìm đến đại lý vé số lấy vé đem bán."

Ông Nguyễn Văn Thành. Nguồn: ictnews.

Tương tự như hai bài phóng sự viết về cuộc đời của cụ Phạm Đờn và cụ Đặng Huần, bên dưới bài viết về ông Thành cũng có những dòng chữ cuối – chỉ dẫn cách giúp đỡ đương sự – như sau:

“Mọi sự hỗ trợ của cộng đồng, độc giả đối với trường hợp ông Nguyễn Văn Thành có thể chuyển đến tận tay ông trước cửa Trung tâm tư vấn pháp luật công đoàn, thuộc Liên đoàn lao động tỉnh Đồng Nai, địa chỉ số 14, Bùi Văn Hòa, phường Hòa Bình – TP Biên Hòa.”

Không thấy ông nhà báo gì đến sự hổ trợ của Đảng, Nhà Nước, hay những ban ngành hội hè vớ vẩn gì đó – của Mặt Trận Tổ Quốc. Trong cả ba bài phóng sự thượng dẫn cũng đều có không một chữ nào đề cập đến nguyên nhân, và trách nhiệm – của bất cứ ai – về những mảnh đời te tua và bầm dập của những công dân lão hạng kể trên. Cứ như thể họ là những người thuộc một quốc gia hay hành tinh nào khác, chứ không phải là những công dân của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Tôi chợt nghĩ: lỡ sáng mai bà Phạm Đờn hay ông Nguyễn Văn Thành khi mở mắt ra và (bỗng) thấy mình đang sống trong một cái nursing home ở California – giường êm nệm ấm, cơm bưng nước rót, cam tươi sữa hộp cạnh bên, cả đống y tá bác sĩ lăng xăng kế cận – mà không dưng muốn… rơi nước mắt! Hai vị dám tưởng là mình đã lên tới thiên đường dù thực sự là họ vừa lạc vào tầng đầu địa ngục, theo như cách nhìn của nhiều người đang sống ở những quốc gia không có Độc Lập -Tự Do – Hạnh Phúc – như ở Việt Nam.

Posted in chính trị, khề khà, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , | Leave a comment

Thomas A. Bass : việt nam nỗ lực giữ quyền kiểm soát quá khứ

Nguồn damau

Thomas Bass
♦ Chuyển ngữ: Ban Biên Tập

5.02.2015

Nguồn: Vietnam’s concerted effort to keep control of its past
Washington Post 01 tháng 2, 2015

Thomas A. Bass là một phóng viên điều tra và là giảng viên Anh ngữ tại State University of New York, thành phố Albany.

Thomas Bass

Thomas A. Bass

Năm năm trước đây, tôi bắt đầu một cuộc thí nghiệm – không phải do chính mình thực hiện – để nghiên cứu tình hình kiểm duyệt ở Việt Nam. Vào năm 2009, tôi đã ký hợp đồng xuất bản một trong những cuốn sách của tôi ở Hà Nội. Được gọi là "The Spy Who Loved Us," cuốn sách nói về Phạm Xuân Ẩn, nhà báo Việt Nam danh tiếng nhất trong chiến tranh Việt Nam. (Ông kết thúc sự nghiệp báo chí của mình với chức vụ trưởng phòng của tạp chí Time ở Sài Gòn). Chỉ sau chiến tranh chúng ta mới biết được rằng Ẩn là một điệp viên Cộng Sản đã nhận được hàng chục huy chương quân sự và đã phục vụ chế độ Bắc Việt như là một vũ khí bí mật chết người!

Người ta có thể nghĩ rằng một cuốn sách nói về một "Anh hùng Quân đội Nhân dân" sẽ không gặp phải khó khăn nào khi xuất bản tại Việt Nam, nhưng sự thật là không có gì xuất bản tại Việt Nam mà không bị kiểm duyệt. Trong vòng năm năm qua, tôi đã chứng kiến việc người ta cắt xén cuốn sách của mình. Sau cùng, khi bản dịch được công bố vào năm 2014, tôi đã bay ra Hà Nội để gặp gỡ những người đã kiểm duyệt [sách của] tôi – hoặc ít nhất nửa tá người trong số họ chịu nói chuyện với tôi. Đây là những người tốt, những người dũng cảm, những người sẵn sàng thừa nhận hiện trạng [kiểm duyệt]. Đứng đằng sau họ là đạo quân vô hình hoạt động bao trùm xã hội Việt Nam.

Các nhà kiểm duyệt [sách] của tôi, nhiều người trong số họ đồng thời giữ vai trò biên tập viên và nhà xuất bản, tạ lỗi vì những gì họ đã phải thực hiện. Họ hy vọng mọi việc sẽ được cải thiện trong tương lai, nhưng khi mà Việt Nam và Trung Quốc đang ném vào tù ngày càng nhiều các nhà báo, blogger, và các nhà văn khác, ngọn triều đang chảy ngược! Đây chính là lý do tại sao tôi đã quyết định cho thực hiện một bản dịch chính xác của cuốn sách và xuất bản song song cả hai phiên bản kiểm duyệt [của Việt Nam] và bản không kiểm duyệt [trên liên mạng]. Những văn bản liên hệ đã được phát hành trực tuyến vào tháng 11 năm 2014 (trên mạng Pro & Contra), cùng với các tài liệu bổ túc do tổ chức quốc tế Chỉ số về Kiểm Duyệt (Index on Censorship) phát hành trong tuần này.

Các nhà kiểm duyệt cắt xén những gì từ sách của tôi? Phạm Xuân Ẩn không được phép “yêu” Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ hoặc quãng thời gian ông theo học ngành báo chí ở California. Ông chỉ được phép "hiểu" Hoa Kỳ. Tên tuổi và ý kiến của những người Việt lưu vong bị loại bỏ. Bất cứ những chỉ trích nhắm vào Trung Quốc hay đề cập đến các hành động hối lộ, tham nhũng hoặc phi pháp của viên chức nhà nước cũng bị cắt bỏ. Thậm chí Võ Nguyên Giáp, vị tướng vĩ đại đã đưa Việt Nam đến chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954 và đã bị thất sủng trước khi ông qua đời vào năm 2013, cũng bị loại bỏ khỏi nội dung cuốn sách.

Những sự kiện phổ biến đã bị cắt ra khỏi lịch sử Việt Nam: “Chiến dịch vàng” năm 1946 (1), khi Hồ Chí Minh trả một khoản hối lộ lớn cho Trung Quốc để họ rút lui khỏi miền Bắc Việt Nam; chiến dịch cải cách ruộng đất thất bại trong thập niên 1950; cuộc di tản của các "thuyền nhân" sau năm 1975; chiến tranh năm 1978 tại Campuchia; chiến tranh biên giới chống Trung Quốc năm 1979. Nam tiến, hành trình lịch sử về phía Nam của người Việt, trong đó họ phấn đấu dọc dãy Trường Sơn, xâm chiếm các lãnh thổ của người Thượng, người Chăm, người Khmer và của các "dân tộc thiểu số," cũng đã bị cắt. Ước muốn cuối cùng của Ẩn, là được hỏa táng và tro cốt của ông rải trên sông Đồng Nai, đã biến mất. Chúng được thay thế bởi một đoạn mô tả khung cảnh lễ quốc táng với bài điếu văn do người cầm đầu ngành quân báo đọc.

Ngoài ra còn có một danh sách dài các "lỗi" trong bản dịch của Hà Nội, trong đó các nhà biên tập người Việt của tôi hoặc đã một cách thành thật hoặc cố ý hiểu lầm, chẳng hạn như "người viết mướn," "phản bội," "hối lộ," "phản quốc," "khủng bố," "tra tấn," "các tổ chức bình phong," "dân tộc thiểu số" và "những trại cải tạo." Người Pháp không được phép dạy dỗ người Việt bất cứ điều gì. Người Mỹ cũng không. Việt Nam chưa bao giờ sản xuất dân tị nạn; nó chỉ tạo ra người định cư. Những qui chiếu xem chủ nghĩa cộng sản như một "thần tượng sụp đổ" đều bị cắt. Việc Ẩn mô tả mình như một trí óc Mỹ ghép vào cơ thể Việt đã bị cắt. Thật ra, tất cả các lời đùa cợt của ông đều bị cắt, đó là chưa kể đến những phân tích của ông về cách người cộng sản thay thế nhà nước cảnh sát trị của Ngô Đình Diệm với một nhà nước công an trị của chính họ. Cho tới phần cuối cuốn sách, toàn bộ các trang ghi chú và các nguồn dẫn cũng biến mất.

Trong thực tế, những thay đổi quỉ quyệt nhất đã xảy ra ở cấp độ ngôn ngữ. Ẩn được sinh ra ở vùng ngoại ô Sài Gòn. Ông ta là người miền Nam. Nhưng ngôn ngữ miền Nam và các đặc ngữ văn hóa khác đã bị cắt tỉa ra khỏi văn bản và thay thế bởi ngôn ngữ của những người miền Bắc lấn chiếm Sài Gòn vào năm 1975. Chế độ kiểm duyệt liên quan đến việc kiểm soát chính trị và khẳng định quyền lực, nhưng trong trường hợp này, nó đồng thời liên quan đến việc kiểm soát ký ức, lịch sử, và ngôn ngữ [của một dân tộc].

Bằng cách ghi nhận những sự kiện này, tôi không có ý phàn nàn là mình đã gặp phải những khó khăn đặc biệt nào. Các tác giả Việt Nam bị đẩy vào im lặng và lưu vong đã phải chịu đựng thống khổ gấp bội phần. Tôi chỉ tô đậm những thực tế của một chế độ kiên quyết bảo vệ đặc quyền của mình. Ở Việt Nam, quá khứ và cung cách bạn đề cập đến nó đều là tài sản của nhà cầm quyền.

(1) Có lẽ tác giả Thomas Bass lầm với Tuần lễ Vàng do Hồ Chí Minh phát động vào năm 1945? (chú thích của người dịch)

Posted in báo chí, chính trị, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Nguyễn Khắc Mai : Ý kiến về hai phát biểu của quan chức cao cấp nhân 85 năm thành lập Đ ảng Cộng sản Việt Nam

Nguồn boxitvn

08/02/2015

Đọc những bài phát biểu trên báo Tuổi Trẻ của một số quan chức cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi chú ý hai luận điểm sau. Xin có đôi lời trò chuyện. (Sở dĩ tôi gọi họ là quan chức là vì ông F. Ăngghen đã dùng từ quan chức của đảng để chỉ những người mà sau này được gọi là lãnh đạo. Tôi nhớ nguyên văn câu ấy, và đã chép vào sổ tay từ 30 năm trước. Ăngghen viết: “Phải chấm dứt ngay một tình hình tế nhị, cớ sao các đảng viên thường, thay cho coi những quan chức của mình là đầy tớ để bảo ban, phê bình, thì lại quay ra coi họ như một đám quan liêu không bao giờ mắc sai lầm”. Thật thú vị là cái định nghĩa ấy của Ăngghen đã hơn 150 năm nay lạithật chính xác!).

1. Luận điểm thứ nhất là của ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư: “Ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách cam go để đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang.

Nhìn bề ngoài thì có vẽ đúng là như vậy. Hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam đang một mình một chợ, tha hồ “buôn bán”, người ta còn cho là đã có lúc bán rẻ non sông, một mình ra giá. Đúng như Lênin từng chủ trương, phải xây dựng chế độ độc quyền – độc quyền chính trị, độc quyền kinh tế, độc quyền văn hóa, tư tưởng… Vào năm 1960, Hồ Chí Minh tuyên bố “Tôi từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa Lênin” nhằm khẳng định về mặt tư tưởng cáí chủ trương xóa bỏ Hiến Pháp 1946, một hiến pháp dân tộc, dân chủ, đa nguyên chính trị, để xây dựng Hiến pháp 1959 “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.

Bây giờ thì tôi hiểu là ông Hồ nói rất thâm là đã bỏ tư tưởng dân tộc để sang chủ nghĩa quốc tế, đấu tranh giai cấp. Từ đó cho đến nay Đảng Cộng sản đã một mình cầm quyền đất nước. Rồi đến nay thì lai đưa vào Hiến pháp 2013 điều 4, để khẳng định sự độc quyền này. Tuy đã có một điều hiến định, nhưng tổ chức và hoạt động của Đảng vẫn là bất hợp pháp. Vì kể cả với Hiến pháp 2013 thì mọi thiết chế xã hội, từ cá nhân cho đến cộng đồng, đều phải tồn tại và hoạt động với hai điều: Hiến định và Luật định. Ngay đứa trẻ con trong bụng mẹ, ra đời, đi học, đi lính, đi buôn, đi làm công chức, thậm chí đi tu đều có hiến định và luật định. Riêng Đảng Cộng sản Việt Nam là chỉ có một điều hiến định mà thôi. Như thế, Đảng Cộng sản đang hoạt động cũng ngoài luật pháp, chẳng khác gì các tổ chức bị gán cho là đối lập. Quan niệm tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định rằng bất cứ tổ chức chính trị xã hội nào hoạt động không theo luật định đều bị coi là phi pháp. Thành ra Đảng Cộng sản Việt Nam đang đứng trước một vấn đề tư pháp lớn, thách đố tính hợp pháp của mình.

Vì sao không có lực lượng chính trị nào ở Việt Nam có thể tham gia chính trường? Đó không phải vì một lẽ đương nhiên là họ không tồn tại, mà chính là vì hoặc bị thủ tiêu như hai đảng Dân Chủ và Xã hội (có người biện hộ là do họ tự nguyện giải tán; thực tế là do có một chỉ thị không cho kết nạp mới, các cụ Nghiêm Xuân Yêm và Nguyễn Xiển mới dỗi, đòi giải thể), hoặc bị cấm hoạt động, bị truy lùng với tội danh phản động. Nếu Việt Nam có tự do và công bằng để cho các đảng dân tộc, dân chủ đăng ký hoạt động, qua thử thách trong thực tiễn chính trị dân chủ, cớ chi lại không có ai đáng mặt anh tài. Điều này càng chứng tỏ ban lãnh đạo của Đảng kể cả Hồ Chí Minh đều rập khuôn mô hình xô viết toàn trị, với học thuyết Lênin, nay đã phá sản ở Nga. Bởi chính Mác và Ăngghen trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848), đã khẳng định: “Các đảng cộng sản phải phấn đấu để đoàn kết và hợp tác với các đảng dân tộc dân chủ ở tất cả các nước. Ít ra về lĩnh vực xây nền dân chủ, với cách nói “lập quyền dân, tiến lên Việt Nam”, như trong bài hát năm xưa, Đảng Cộng sản đã không thành tâm và tròn trách nhiệm với Dân Nước.

Dẫu quá muộn, nhưng còn hơn không. Tại Đại hội XII này, Đảng Cộng sản nên bỏ tên “cộng sản” và đưa ra tuyên bố nói như Mác là phấn đấu xây dựng nền dân chủ đa nguyên cho dân tộc. Nói như Mác, phấn đấu, đoàn kết, hợp tác để cùng nhau chấn hưng đất nước có phải là đạo lý, văn minh hơn không? Ở đời này mà cứ duy trì phương thức “quân chủ chuyên chế” thì có gì trớ trêu và phản động bằng.

2. Ông Vũ Ngọc Hoàng, theo tôi nghĩ, cũng có những tư tưởng cấp tiến, cũng muốn đổi mới hơn nữa, và tôi cũng đoan chắc là anh “kẹt”, nên nói nước đôi, lấp lửng, nữa chừng.

Vấn đề tôi quan tâm là ý kiến “kiểm soát quyền lực”. Anh nói: “Tôi rất mong Đảng ta có một nghị quyết chuyên đề kiểm soát quyền lực”. Về nghị quyết, thật sự tôi chẳng mấy tin sẽ có một nghị quyết kiểm soát quyền lực đúng nghĩa, nếu không từ bỏ mô hình toàn trị và cái “chủ nghĩa Mác Lênin”.

Thứ nhất là phải tuân thủ thành tâm nguyên lý cơ bản của nền Dân quyền hiện đại là “quyền tối thượng của Dân” (La suprématie du peuple). Thử hỏi đã bao giờ các ban lãnh đạo của Đảng đã chịu trưng cầu ý dân về những vấn đề then chốt, như thể chế chính trị, tên nước, kể cả quyền phúc quyết Hiến pháp 2013? Cùng với nguyên lý này, phải thật sự tôn trọng xã hội dân sự. Không có nó làm sao nhân dân có thể giám sát được Nhà nước? Như Mác nói “dân chủ nghĩa là Chính phủ được đặt dưới sự kiểm soát hoàn toàn của xã hội dân sự”, mà trong cái hệ thống chính trị này, Đảng là thành tố lãnh đạo. Như thế để thực sự kiểm soát quyền lực, việc đầu tiên là có cho Dân kiểm soát Đảng hay không, hay Đảng vẫn cứ đứng ngoài vòng pháp luật không cho ai thậm chí được bày tỏ sự phê phán nghiêm túc. Hiện nay dù không có một đạo luật nào quy định chức năng nhà nước và của Đảng, nhưng Đảng đang mặc nhiên lãnh đạo nhà nước. Thế mà Đại hội Đảng không để cho dân bàn. Nếu không có vai trò lãnh đạo nhà nước thì chính cương, đường lối, cương lĩnh sẽ chỉ là việc riêng của Đảng, ai quan tâm thì góp ý. Đằng này một tổ chức xưng là lãnh đạo quốc gia nhưng lại không công khai mời gọi sự tham gia góp ý của nhân dân. Ban lãnh đạo của Đảng thực chất là ban lãnh đạo quốc gia, nhưng bầu bán, nhân sự thế nào chỉ là bí mật riêng của nhũng người lãnh đạo với nhau mà thôi, thậm chí cũng không cho toàn Đảng được cùng bàn bạc thảo luận.

Thứ hai, là muốn cho kiểm soát quyền lực thực chất, đúng nghĩa với với bộ máy nhà nước theo cái nghĩa là hệ thống quản trị đất nước và xã hội, thì phải nghiêm túc tuân thủ nguyên lý “tam quyền phân lập”. Đằng này, ban lãnh đạo Đảng quan niệm một cách đơn giản, vì thế mà sai, coi nó “chỉ là sự phân công, phối hợp, và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (nguyên văn phát biểu của ông Vũ Ngọc Hoàng). Giữa “tam quyền phân lập” với cái quan niệm “chỉ là sự phân công…” thì ý nghĩa đã vênh nhau như trời với vực. Không có sự đánh tráo khái niệm nào “tinh xảo” như vậy. Không có tam quyền phân lập, chỉ có đánh tráo khái niệm, thì chỉ có trời mới biết kiểm soát thế nào.

Lâu nay các ban lãnh đạo của Đảng vẫn coi “tam quyền phân lập” là pháp quyền tư sản, nên đưa ra khái niệm “pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Xin lưu ý chính Mác đã nói vấn đề này rất hay như sau: “Khi chưa có con người phát triển toàn diện, chưa có nền sản xuất hàng hóa, vật phẩm dồi dào, trên cơ sở kỹ thuật cao, thì pháp quyền tư sản dẫu hạn hẹp, cúng không thể vượt qua”. Kỹ thuật cao cũng chỉ là “high tech”, ngày nay dẫu khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất, công nghệ mới ra đời, nhưng vẫn chưa có con người toàn diện, hàng hóa cũng chưa dồi dào… lại có thể đánh tráo khái niệm để bỏ qua những nguyên lý cơ bản của pháp quyền tư sản, túc là của thời đại đương đại, thử hỏi làm sao mà không ông chẳng, bà chuộc. Cũng xin lưu ý là lâu nay, người ta vẫn giải thích tư sản là bọn nhà giàu bóc lột. Thật ra nghĩa tư sản là những con người của văn minh công nghiệp và đô thị! (Bourg trong từ bourgeois “tư sản” nghĩa là thành thị).

Phải trả lại quyền của dân, thực sự và chân thành thi hành tam quyền phân lập, nói như người xưa “cha ra cha, con ra con, vua ra vua” và nay thì Đảng ra Đảng, Chính phủ ra Chính phủ, Quốc hội ra Quốc hội, Tư pháp ra Tư pháp. Khi đó, hẵng nói đến kiểm soát quyền lực trong thế giới văn minh.

Ông Các Mác cũng có câu rất hay: “Nếu sám hối thành tâm thì có cơ cứu rỗi”. Liệu có dám hối lỗi và từ bỏ “sai lầm hệ thống “như cách nói Việt Nam, hay nói kiểu Cuba là “lỗi cấu trúc” hay không? Voilà la question!

N. K. M.

Tác giả gửi BVN.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Nguyễn Thượng Long : Tân Xuân 2015: “Bài ca tôi đã hát…” (Phần I)

Nguồn danlambao

Nguyễn Thượng Long (Danlambao)-"Nay đời sống xã hội Việt Nam về tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do biểu tình, tự do lập hội, tự do ứng cử, phân hóa giầu nghèo, công bằng xã hội còn tệ hơn cả thời là thuộc địa của thực dân Pháp. Con đường đi lên XHCN chỉ là “Đường chạy vòng quanh – Một vòng tiều tụy”. Sau ngót 70 năm đất nước độc lập, thống nhất đất nước cũng ngót 40 năm… những tác giả đời đầu của con đường vô vọng này đã ra đi hết. Họ để lại các thế hệ F2-F3 quyền dẫn dắt cả một dân tộc có 4000 năm lịch sử mà nay cả dân tộc vẫn luẩn quẩn đối diện với hối thúc nhận đường… vì ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mới dọa là “Không biết đến hết thế kỷ này đã có CNXH hoàn chỉnh ở Việt Nam chưa?” Con đường đó nay ĐCS chỉ rụt rè gọi là “Định Hướng XHCN” thôi và chỉ thế thôi cũng đủ để phần lớn của cải xã hội rơi vào túi của cộng đồng quan tham trong biết bao nhóm lợi ích do đảng tạo nên, biến những người cộng sản giả hiệu thành những tên tư bản đỏ đích thực cưỡi trên đầu trên cổ nhân dân…"

*

"Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt"

Một lần… HT, một Ni Cô rất trẻ hỏi tôi: Thưa thầy “Vì sao nhiều người yêu thích bài “Một Cõi Đi Về” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đến thế, và khi viết những ca từ “Từng lời tà dương là lời mộ địa… TCS muốn nói điều gì? Mặc dù cũng đã từng nhiều lần tự ru mình bằng bài hát phảng phất chất thiền ca này, tôi cũng không khỏi lúng túng rồi nói đại với Ni rằng:

“Bài hát đó được nhiều người yêu thích vì trong đó, có bóng tôi, bóng Ni, thấy cả bóng dân tộc mình đang cô đơn lạc bước giữa những: "Đường chạy vòng quanh một vòng tiều tụy", đang mê man vì bị huyễn và tự huyễn bởi những “Vầng Nhật Nguyệt rọi suốt trăm năm”, đang u mê vì “Mây che trên đầu và nắng trên vai” suốt từ “Non cao đến biển rộng” , đang trầm luân trong “Bốn mùa mưa nắng” đến nỗi “Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ/Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà”…

Tà Dương – Mộ Địa là những lời gì mà khi nghe phải, con người bị xô đẩy, bị trôi dạt đến như vậy? Tự Điển tiếng Việt đã giúp tôi hoàn thiện việc trả lời cho câu hỏi này:

“Dương là từ đa nghĩa có gốc Hán-Việt. Trong bài này Dương có nghĩa là mặt trời, biểu tượng của chân lý và trạng thái mãnh liệt, nhưng Tà Dương thì lại là ánh sáng hấp hối lúc chạng vạng hoàng hôn. Những tín điều mang tính Tà Dương khác gì đâu những âm thanh nơi tha ma Mộ Địa rất thiếu sức sống”.

Một thế giới ngự trị là những “VỪNG NHẬT NGUYỆT” đã hết sức sống, sự hiện diện quá lâu của một thể chế chính trị đã quá lỗi thời, không có đối trọng là nguyên nhân trực tiếp làm quyền lực bị tha hóa không có giới hạn. Để mãi mãi duy trì đặc quyền đặc lợi, qua đường lối độc tài toàn trị, ĐCS Việt Nam đã chủ động tạo ra một “Từ Trường” sợ hãi và cam chịu phủ kín xã hội. Phải sống trong một môi trường xã hội như thế thì mặc cảm “Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ/Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà” là đương nhiên. Ca khúc của Trịnh trước 30-4-1975 đã đề cập được phần nào những nỗi đau đời này. Giờ đây, nếu thực sự là trí thức chân chính, đồng hành cùng dân tộc thì người trí thức phải sớm cùng dân tộc bước ra khỏi “Đường chậy vòng quanh một vòng tiều tụy” đầy oan nghiệt đã làm tan nát nhiều thế hệ người Việt Nam sau ít nhất là 7 thập kỷ.

Trước một tín điều đã không còn giá trị…

Hãy thử một lần đối diện với một giả định: “Chủ nghĩa Mác-Lê không vào được Việt Nam!” thì điều gì sẽ xảy ra? Tôi nghĩ một dân tộc có lịch sử 4000 năm đã 13 lần đánh thắng giặc phương Bắc, sớm hay muộn cũng sẽ tìm ra được đường đi, đích đến cho dân tộc mình. Cái đêm nào đó năm 1923, trong một căn phòng giữa ngõ nhỏ Compoaint Paris, chàng trai Nguyễn Tất Thành lúc đó mới 33 tuổi đầu, tay ôm luận cương giải phóng thuộc địa bằng bạo lực của Lenin, mắt đẫm lệ, la hoảng lên giữa đêm giá lạnh: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”… Thực ra, đây chỉ là một trong muôn nẻo lối đi cho nhân loại. Sự sụp đổ của Liên Xô cùng các nước cộng sản Đông Âu trong thế kỷ trước là minh chứng không thể chối cãi cho kết luận, con đường này không phải là con đường lý tưởng. Theo tôi ngay trong cái đêm định mệnh đó, ông Nguyễn đã là người Marxitst-Leninist chính hiệu muốn nhuộm “đỏ” dân tộc mình rồi. Một chọn lựa hết sức chủ quan và đậm chất “Ngẫu Hứng Lý Qua Cầu” như thế mà thật tiếc không hề vấp phải sự phản biện nào là đáng kể của trí thức cùng thời.

Để dân Việt cùng theo mình đến với lý tưởng cộng sản, ông Nguyễn quá biết dân Annamis giầu lòng yêu nước sẵn sàng hy sinh tất cả vì nền độc lập, vì quyền bình đẳng, quyền tự quyết… lúc đó muốn được nghe những điều gì? Và nhờ thế, ông và các đồng chí cộng sản của ông đã thành công xuất sắc trong việc loại trừ các đảng phái chính trị yêu nước khác như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt… để dành quyền độc tôn lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nếu như ngay sau cách mạng tháng 8, ĐCS Việt Nam tổ chức trưng cầu ý dân về tương lai nào cho Việt Nam, chắc chắn nhân dân Việt Nam không bao giờ lựa chọn con đường của đệ tam quốc tế cộng sản đầy phiêu lưu khi lấy hận thù giai cấp “Trí Phú – Địa – Hào đào tận gốc trốc tận rễ”, bạo lực vũ trang, chuyên chính vô sản, kinh tế tập thể, xã hội bầy đàn, lấy vinh dự được làm tiền đồn này, chiến lũy nọ cho ngoại bang làm lý tưởng… hoàn toàn là xa lạ với truyền thống dân tộc. Càng bất ngờ hơn khi không biết từ lúc nào và bối cảnh nào lại có biến tấu thiếu thuyết phục đến thế, rằng “Yêu nước là yêu CNXH”“Đi lên XHCN là sự lựa chọn của toàn dân!”. Một cú phủi tay, một động tác qua cầu rút ván… thật ngoạn mục. Vậy mà cho đến lúc này, không chỉ người dân mà quá nhiều trí thức vẫn đua nhau ca hát “Đảng đã cho ta sáng mắt sáng lòng” (Phạm Tuyên)… và cứ mỗi lần xuân về tết đến là một lần rợp trời đất là khẩu hiệu hết sức vô lý, hết sức trái chiều là “Mừng Đảng – Mừng Xuân…”. Mùa Xuân muôn thuở của tạo hóa đất trời cũng không thoát khỏi bàn tay bức hại của một đảng chính trị đã hoàn toàn sơ cứng và biến chất ở tuổi 85.

Nay đời sống xã hội Việt Nam về tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do biểu tình, tự do lập hội, tự do ứng cử, phân hóa giầu nghèo, công bằng xã hội còn tệ hơn cả thời là thuộc địa của thực dân Pháp. Con đường đi lên XHCN chỉ là “Đường chạy vòng quanh – Một vòng tiều tụy”. Sau ngót 70 năm đất nước độc lập, thống nhất đất nước cũng ngót 40 năm… những tác giả đời đầu của con đường vô vọng này đã ra đi hết. Họ để lại các thế hệ F2 – F3 quyền dẫn dắt cả một dân tộc có 4000 năm lịch sử mà nay cả dân tộc vẫn luẩn quẩn đối diện với hối thúc nhận đường… vì ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mới dọa là “Không biết đến hết thế kỷ này đã có CNXH hoàn chỉnh ở Việt Nam chưa?” Con đường đó nay ĐCS chỉ rụt rè gọi là“Định Hướng XHCN” thôi và chỉ thế thôi cũng đủ để phần lớn của cải xã hội rơi vào túi của cộng đồng quan tham trong biết bao nhóm lợi ích do đảng tạo nên, biến những người cộng sản giả hiệu thành những tên tư bản đỏ đích thực cưỡi trên đầu trên cổ nhân dân.

Cũng cần phải nói thẳng với nhau rằng, chẳng phải vì chủ nghĩa nào, ý thức hệ nào cả, tất cả là nhờ lòng yêu nước thuần thành truyền thống của giống nòi mà chúng ta đã tìm lại được hình hài đất nước nhưng cho đến nay, đất nước vẫn chỉ là một giang sơn không vẹn toàn, ở đó “Độc Lập thì chưa – Tự Do thì thiếu – Hạnh Phúc thì không” (NVL). Chúng ta cũng hết sức bình thường thôi khi thoát khỏi tay ngoại bang Âu – Mỹ thì lại nhanh chóng rơi vào cạm bẫy mềm của ngoại bang phương Bắc. Qua nội chiến tương tàn 1945-1975 đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, qua CCRĐ, Cải tạo tư bản tư doanh sau 1954 ở miền Bắc, sau 30-4-1975 ở miền Nam, qua các biến cố xã hội như “Nhân Văn Giai Phẩm”, “Xét lại chống đảng”, tẩy não cho tàn dư của VNCH sau 30-4- 1975 và đang đối xử thô bạo với những tiếng nói đòi dân chủ, đòi công bằng… đảng cũng đã “Đánh cho dân tộc tan hoang / Trận đánh đẹp đã đi vào lịch sử” (Hà Sĩ Phu).

Giờ đây thử một lần đặt Việt Nam bên cạnh các nước trong khu vực cùng cảnh ngộ là thuộc địa nhưng không có Mác-Lê, làm một test đối chứng thì không một học sinh trung học nào là không nói: “Dạ thưa… Luận cương Lenin không phải là con đường tối ưu và duy nhất”. Con đường theo Mác-Lê đi tìm CNXH đó đã làm Việt Nam tụt hậu toàn diện không chỉ với thế giới, mà tụt hậu đáng xấu hổ ngay với các lân bang vốn chỉ là những nhược tiểu trong khu vực và đến nay Việt Nam vẫn chỉ là quân tốt đen trên bàn cờ của các siêu cường. Trong khi đó ám ảnh “Bắc Thuộc”lại chưa bao giờ rõ rệt như lúc này. Nỗi đau này lại kéo quá dài đến nỗi không ít người đã đặt ra một nghi vấn: “Hình như sau 85 năm theo đảng, 70 năm sống với độc tài toàn trị, dân tộc đã bị liệt kháng, còn trí thức vì cơm áo, vì danh vọng, vì một chữ cầu an mà đã mất hết khả năng tỉnh thức, mất hết khả năng làm đầu tầu”.

Trí thức Việt Nam hèn hay không hèn…?

Tôi nghĩ những biểu hiện của nghi vấn trên là có cơ sở, nhưng chỉ là nhất thời, một dân tộc có văn hiến 4000 năm, đã 13 lần đập tan giặc phương Bắc, một dân tộc có những bậc Minh Quân lỗi lạc như Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… dân tộc đó không dễ mà bị liệt kháng. Còn trí thức Việt Nam, họ có yếu hèn không? Câu trả lời là tùy thuộc nhận thức của mỗi người, nhưng cũng có những hiện thực không thể phủ nhận: Ngay sau ngày giải phóng miền Bắc 1954 đã xảy ra vụ đàn áp “Nhân Văn Giai Phẩm”, với những tên tuổi văn nghệ sĩ lớn như Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Quán, Thụy An, Văn Cao, Đặng Đình Hưng…, vụ bỏ tù không xét xử nhóm “Xét lại chống đảng” gắn liền với cha con Vũ Đình Huỳnh, Vũ Thư Hiên, Võ Nguyên Giáp, Đặng Kim Giang, Chu Văn Tấn, Hoàng Minh Chính, Lê Liêm, Văn Doãn… muộn hơn là sự kiện Ủy Viên BCT Trần Xuân Bách, tướng Trần Độ… vì cổ súy cho một Việt Nam đi vào quỹ đạo Dân Chủ – Đa Nguyên như những gì mà các nước cộng sản Đông Âu đã thành tựu được, ông Bách, ông Độ bị đối xử như những kẻ trở cờ, phản bội… còn nhân dân mãi mãi coi họ là những Sĩ Phu tuẫn tiết, “Tử Vì Đạo”. Cũng trong giai đoạn này không thể không nhắc đến những tên tuổi lớn, chính khách lớn như Trường Chinh (1907-1988), Nguyễn Cơ Thạch (1921-1998), Võ Văn Kiệt (1922-2008)… với những khát vọng lúc cuối đời là muốn có một VN thay đổi căn bản về chính trị nhưng tất cả đã ra đi, không hẹn mà cuộc ra đi nào cũng phảng phất là những nghi án chính trị kiểu“Lệ Chi Viên” với Đại Công Thần triều Lê là Nguyễn Trãi (1380-1442). Những cái chết đó, mãi mãi là những dấu hỏi đen cho lịch sử. Những năm gần đây, qua Kiến Nghị 72, Kiến Nghị 61, sự xuất hiện của nhóm Bauxite, các hội đoàn xã hội dân sự, cùng các Blogger, các nhà báo tự do trong “Lề Dân” cho thấy khát vọng có một Việt Nam – Dân Chủ – Nhân Quyền – Tam Quyền Phân Lập vẫn không ngừng âm ỉ và sẵn sàng bùng cháy bất cứ lúc nào. Những cứ liệu trên cho chúng ta thấy, trí thức Việt Nam không hèn, nhưng nói trí thức Việt Nam hôm nay đã vịn được vào vai các bậc Sĩ Phu thức giả trong các thế kỷ trước, đã xứng tầm là giới tinh anh, là nguyên khí của dân tộc chưa? Câu trả lời có lẽ là chưa… vì hình như ở Việt Nam chưa thực sự ra đời một tầng lớp trí thức chính trị đúng nghĩa thì phải.

…Thế thì mấy ai còn nhớ trong các ngày 11,12,13-1-2005 tại Hà Nội đã diễn ra Hội Nghị UBTWMTTQ lần thứ hai. Ở đó giáo sư Trần Quang Hà đã đọc một tham luận hết sức bất ngờ. Trong tham luận có đoạn:

“Cho đến đầu năm 1991, kể từ khi đổi mới 1986, tôi đã thu thập được khoảng 4000 tình huống được phân loại có liên quan đến 4 vấn đề lớn ABCD.

- A: Đảng và Nhà Nước mất uy tín nghiêm trọng.

- B: Mất đoàn kết nội bộ từ Bộ Chính Trị, đến các cơ sở.

- C: Việt Nam trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nghèo nhưng được kính trọng. Trong hòa bình thống nhất đất nước nghèo nhưng bị khinh rẻ

- D: Toàn bộ đạo đức xã hội xuống cấp, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, phi pháp…

Phân tích các tình huống ABCD theo phương pháp luận duy vật biên chứng và theo 5 quy luật của Dịch Lý thì thấy nguyên nhân của các nguyên nhân là: Chế độ toàn trị của Đảng cầm quyền là đứng trên Hiến Pháp – Luật Pháp và đứng trên nhân dân.”

Bất ngờ hơn nhiều, tham luận của giáo sư Trần Văn Hà còn cho chúng ta biết chủ nghĩa Mác Lê đã được các trí thức hàng đầu của đất nước hôm đó hạ bệ và giải thiêng triệt để đến thế nào. Xin đọc:

“Đến đây cho phép tôi mở một dấu ngoặc vì có liên quan đến một sự kiện lớn đã diễn ra vào đầu năm 1991 ở Hà Nội. ông Đỗ Mười – Nguyên Tổng Bí Thư Đảng, nhân sự kiện Liên Xô sụp đổ đã triệu tập một hội nghị gồm một trăm nhà khoa học, trí thức tham vấn, ông Mười hỏi: “LX sụp đổ! Liệu ta sẽ thế nào? Tuyệt đại bộ phận ý kiến cho rằng, Việt Nam không thể sụp đổ và hiến nhiều kế hay có liên quan đến những đổi mới đã diễn ra trong 15 năm qua. Tôi nhớ 2 ý kiến chân thành khá độc đáo: Anh Đào Xuân Sâm giảng viên Học Viện Chính Trị Quốc Gia HCM nói: “Thưa TBT, tôi xin báo cáo cái bục giảng về chủ nghĩa Mác-Lê nin không còn thiêng liêng nữa rồi”. Anh Minh cũng là giảng viên Học Viện CTQG HCM nói: “Thưa TBT, tôi xin nói thật, nay tôi không thuyết phục nổi vợ con tôi về chủ nghĩa Mác-Lê nin được nữa rồi”. (Hết Trích)

Về sự kiện này, xin lưu ý người đọc mấy mốc thời gian quan trọng sau: Giữa lúc rừng núi biên giới phía Bắc chưa hoàn toàn im tiếng súng, biển Đông chưa nhạt phai màu máu của 64 chiến sĩ HQND chết tức tưởi bởi bàn tay giặc Tầu ở Gạc ma 1988, nhưng vì quá lo sợ sụp đổ, đặt nhân dân và đất nước qua một bên, ngày 3-4/9/1990 Ban Lãnh Đạo Việt Nam lúc đó gồm Nguyễn Văn Linh (TBT), Đỗ Mười (CTHĐBT), Phạm Văn Đồng (Cố vấn tối cao) đã lén ký thỏa hiệp Thành Đô với Trung Quốc. Với thỏa hiệp đó trong tay, cả thầy lẫn tớ hoan hỉ mỗi bên một kiểu. BLĐ Trung Quốc hoan hỉ có một Việt Nam nhu nhược tự nguyện làm phên giậu cho mình. BLĐ Việt Nam nhờ thỏa ước đó mà tránh được cái chết chùm tất yếu cùng với Liên Xô và Đông Âu cộng sản… Nhưng, cái giá đớn đau mà người Việt Nam phải trả là quá lớn. Bức hình dưới đây làm đau lòng người Việt Nam nào giàu lòng tự trọng và “Một thời kỳ Bắc Thuộc mới, rất nguy hiểm đã bắt đầu”- (Nguyễn Cơ Thạch).

NAyU4fuy1tptLfFWa7O3gpDFyD-y6c8u_6v1rApWxpC6yI0bpx1oaoL3hU0mpodO1Wmq8VYa4OeJ1awt5YPi1iIt92PdjnYyxh_F1RuGeBooFZDSbjJPgsffqsGbv9RBCrHpfsf-nRf1
Theo tôi, nếu là trí thức chính trị chân chính không ai có thể nói rằng mình không có lỗi khi hoàn toàn không báo động được cho dân tộc biết trước những gì về hiểm họa tồi tệ này.

Hà Đông 3-2-2015.

Nguyễn Thượng Long
- Nơi ở: Số nhà 4 – Đường Văn La – Phường Phú La – Hà Đông – Hà Nội – ĐT: 0433521066 & 01652323836.
- Email: nguyenthuonglong571

Đón đọc: Phần II – NGHĨ VỀ ĐẢNG…

Posted in chính trị, dân chủ, văn nghệ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Tâm sự của một người trẻ gửi các bác, anh chị qua việc Khối 8406 kêu gọi xóa bỏ Đi ều 4 Hiến pháp

Nguồn danlambao

bui-xoadieu4-danlambao.jpg
Em Bụi (Danlambao) – Từ nhiều năm qua Bụi là độc giả trung thành của Danlambao. Qua trang báo này Bụi đã học hỏi rất nhiều từ các ông, bà, các bác, cô, chú và anh chị về tình hình đất nước và vấn nạn của dân tộc. Tuy nhiên, học mãi vẫn không bao giờ hết vì đầu của Bụi thì nhỏ mà biển học thì bao la, nên ngày hôm nay, qua tâm sự này Bụi xin được nêu ra một số điều để được các bác và anh chị chỉ dạy thêm. Những điều Bụi viết, hỏi có thể "đắng" và "chát" làm một số bác khó chịu, nhưng Bụi nghĩ rằng nếu chúng ta đã khó chịu với ách độc tài, dối trá mấy mươi năm qua bởi đảng cộng sản đến mức như nhà thơ Bùi Minh Quốc viết"Quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa" thì những điều Bụi viết nếu có nghịch nhĩ chắc cũng không đến nỗi nào.

Để đơn giản trong việc xưng hô, Bụi xin phép được tự xưng là Bụi và gọi chung các ông, bà, bác, cô, chú, anh chị là các bác.

embui-hanoi.jpg
Đứa con gái đội nón đỏ trong tấm hình trên là Bụi biểu tình tại Hà Nội chống Tàu cộng xâm lược. Bụi muốn mở đầu tâm sự của mình bằng hình ảnh của mình mặc áo màu cờ máu chỉ để thưa với các bác một điều: nhờ các bác mà Bụi, từ một sinh viên từng tự hào về "lá cờ Tổ Quốc thân yêu" bây giờ đã hiểu rõ nguồn gốc của lá cờ nô lệ đã được đem về từ Phúc Kiến bên Tàu và dưới lá cờ đó tội ác đã được diễn ra như thế nào.

Những cuộc biểu tình chống Tàu cộng xâm lược ấy đã để lại trong lòng Bụi nhiều điều khó quên. Những cảm giác về lòng yêu nước, về sự tự hào lâng lâng trên đường phố Hà Nội khi Bụi cùng bạn bè hét lớn HS-TS là của Việt Nam vào những ngày hôm ấy sẽ ở lại trong Bụi cho đến cuối cuộc đời. Nhưng một câu hỏi vẫn cứ quanh quẩn trong đầu của Bụi cho đến ngày hôm nay: Những lúc ấy các bác ở đâu?

Bụi tự nghĩ hay là lúc đó tại mình ngu, mình mặc áo màu cờ máu cho nên các bác thấy… ghét, không tham dự?! Vì vậy mà khi hiểu ra nguồn gốc của lá cờ, Bụi đã bỏ nhiều công sức để nói với bạn bè về cái màu ác ôn đó, nhiều bạn cũng từ từ hiểu được chuyện đó qua nhiều bài viết trên các mạng lề dân về màu cờ máu. Và 1, 2 năm trở lại đây chúng ta đã không còn thấy nhiều màu cờ đỏ trên thân thể những người yêu nước, rõ nhất là trong cuộc biểu tình do 20 tổ chức độc lập kêu gọi và sau đó Thành đoàn HCM cũng tổ chức nhập nhằng để phá rối. Từ Sài Gòn ra Hà Nội trong lúc biểu tình cứ thấy nơi nào có nhiều màu đỏ là anh em nói với nhau đó là "chúng nó". Tuy nhiên, những lúc ấy Bụi cũng không thấy các bác ở đâu!?

Có bác nói rằng phải đánh đổ đảng cộng sản trước, còn đảng độc tài bán nước thì chống Tàu xâm lược cũng vô ích. Đó cũng là điều mà Bụi học hỏi được và Bụi đồng ý hoàn toàn. Sau những lần chứng kiến các bạn của Bụi bị chính an ninh Việt Nam đánh, bắt vào đồn, tống cả nhóm về trại phục hồi nhân phẩm chỉ vì biểu tình chống Tàu khựa cắt cáp, bắt giết ngư dân Việt Nam là Bụi biết rõ rằng phải dẹp bỏ độc tài thì mới có dân chủ, có dân chủ thì toàn dân mới có thể bảo vệ độc lập, mới bầu ra những người lãnh đạo xứng đáng để chống ngoại xâm, chứ nếu với một đảng và nhà nước mà trong đó người đứng đầu quân đội như ông Phùng Quang Thanh lại lo lắng về xu thế dân Việt ghét Tàu thì đúng là chúng ta có đứng lên chống Tàu bao nhiêu đi nữa thì nước cũng mất.

Nhưng làm cách nào để đánh đổ một đảng độc tài đã cai trị đất nước hơn 70 năm qua, có trong tay bộ máy công an, quân đội, tòa án, truyền thông… hùng hậu? Làm thế nào để tiêu diệt độc tài như các bác muốn khi chỉ mới viết blog, tọa kháng tại nhà thì đã bị cầm tù như trường hợp của chị Phạm Thanh Nghiên, chú Nguyễn Ngọc Già… và nhiều người khác nữa!?

Có bác nói rằng chỉ cần toàn dân Việt Nam đứng lên đánh đổ bạo quyền là cộng sản sẽ tiêu ngay. Bụi đồng ý! nhưng câu hỏi trong lòng Bụi là làm thế nào để toàn dân nổi dậy trong khi chính nhiều bác cũng nói rằng dân tộc Việt Nam bây giờ rất là vô cảm, hèn nhát!? Và những bác ngày ngày viết còm kêu gọi toàn dân nổi dậy thì những khi anh em tụi Bụi xuống đường – lúc ấy các bác ở đâu?

Có bác khẳng định rằng chỉ cần dân Việt biết rõ sự thật về Hồ Chí Minh thì chế độ cộng sản sẽ tan. Bụi vẫn luôn mong ngóng những bác đó ở tượng đài Lý Thái Tổ trong những lần xuống đường nhưng Bụi chưa bao giờ được may mắn gặp. Vừa rồi nhìn các cô chú, anh chị Hà Nội tổ chức tưởng niệm các chiến sỹ VNCH hy sinh bảo vệ Hoàng Sa làm Bụi rất cảm động. Những người đó Bụi biết ngày xưa cũng quen miệng gọi những người lính miền Nam là nguỵ nhưng bây giờ họ thắp nén hương tưởng niệm và thành kính ghi ơn. Nhưng rồi Bụi lại buồn đau nhói trong lòng! Những chú bác ở Sài Gòn, những con cháu hậu duệ VNCH lúc nào cũng viết còm nói lên niềm hãnh diện VNCH thì làm gì vào ngày tưởng niệm những người lính hải quân, những chiến hữu anh dũng của mình đã hy sinh vì Tổ quốc?

Có bác nói rằng phải hợp lực biểu tình đòi quyền sống, quyền làm người, phải tổ chức tổng đình công trên toàn quốc, phải đoàn kết tổng bãi thị, học sinh sinh viên tổng bãi khóa, thầy cô tổng bãi dạy… thì chỉ trong vòng một tuần là chế độ toàn trị sẽ sụp đổ. Nhưng!!! Làm thế nào để có được chuyện bác muốn? Các bác nghĩ rằng chỉ cần đưa ra một lời hiệu triệu là ngay lập tức công nhân bỏ việc để ào ra đường, học sinh không đến trường, thầy cô bỏ dạy? Ngay cả bây giờ nếu Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Hưng Đạo Vương… sống lại liệu có hiệu triệu được không nếu các bác nói rằng chỉ cần có lãnh tụ? Và nếu có một vài công nhân, học sinh, thầy cô nghe theo lời hiệu triệu nào đó, liệu các bác có mặt để đồng hành cùng họ? Bụi rất mong có được câu trả lời của các bác để biết mình còn có chút niềm tin vì Bụi rất băn khoăn, có lúc tuyệt vọng khi nhìn lại trong những năm qua, đã có rất nhiều lời kêu gọi xuống đường nhưng quanh đi quẩn lại chỉ chừng đó những khuôn mặt quen thuộc, vẫn chừng đó những người bị đánh đập, bắt giam, bầm dập nhưng vẫn ráng có mặt để giữ lửa đấu tranh. Không biết những lời kêu gọi đó, mục tiêu của nó tệ hại và dỡ đến mức nào để rốt cuộc vẫn chỉ có vài trăm người tham gia! Phải có một hiệu triệu như thế nào để các bác, chứ chưa nói đến "toàn dân", nhập cuộc? Hay là các bác có một lý do, nguyên nhân thầm kín nào đó mà không tiện nói ra?

Bụi là người đã từng thờ ơ, hèn nhát và đến bây giờ vẫn còn sợ hãi. Điều này không phải chỉ xảy ra với Bụi mà ngay cả với những người đang tranh đấu mà Bụi biết. Khi nói chuyện riêng với nhau, Bụi nghe được tâm sự của các anh chị, họ vẫn luôn luôn lo lắng nếu bị bắt ai sẽ nuôi con của các anh chị ấy còn nhỏ, lấy gì để mẹ già ở nhà sống, bị đuổi việc thì lấy gì mà ăn… Nhiều người nghĩ họ là anh hùng, là can đảm nhưng Bụi biết họ cũng là những người bình thường, như con trai, con gái của các bác chứ không khác gì!

Bụi đọc một phản hồi của vài bác mà cảm thấy buồn. Có bác viết về chuyện các anh chị bị côn an đánh đập và lên tiếng vừa mắng vừa dạy bảo rằng: sao hèn thế, sao cứ để chúng đánh đập mãi vậy, sao không đánh lại, đem theo hơi cay xịt vào mặt chúng… Khi các chị bị côn an vây quanh nhà, có bác "khuyên" rằng phải kêu giang hồ "làm thịt" chúng. Có bác nói rằng phải như Đặng Ngọc Viết mới được… Bụi đọc và nghĩ thầm: nếu các chị ấy là con gái của bác thì bác có "khuyên" như vậy không? Bụi ước ao có được một ngày chứng kiến tận mắt một bác nói với con gái, con trai của bác ấy là: con ơi, hãy trở thành Đặng Ngọc Viết.

Trong 2, 3 năm qua, Bụi chứng kiến nhiều cuộc xuống đường, chiến dịch tranh đấu. Sau mỗi lần như vậy khi về lại nhà Bụi vào Danlambao thấy rất nhiều phản hồi, nhiều lời khen ngợi những bạn đã can đảm vượt vòng vây côn an để đến dự phiên tòa của chị Phương Uyên, cô Bùi Hằng… và rất nhiều còm chửi chế độ bạo tàn, côn an ác ôn khi đàn áp người tham dự. Bụi đọc thì cũng có phấn khởi đôi chút nhưng cảm giác chua chát thì nhiều hơn khi nhận ra rằng những bác căm thù chế độ nhất, có nhiều ý kiến nhất, bày tỏ lòng yêu nước dữ dội nhất… thì vẫn ngồi nhà xem bạn bè Bụi đang lẻ loi, đơn độc đối diện với bầy sói dữ như là đang xem phim, hay thì các bác vỗ tay, dỡ thì các bác chê, diễn viên anh hùng các bác ca ngợi, diễn viên ác độc các bác lên án, chưởi té tát. Các bác có biết nếu các bác cùng đến thì chính các bác đã giải quyết dùm việc các bạn của Bụi bị côn an canh giữ trước nhà từ nhiều ngày trước không cho đi đến địa điểm biểu tình hay phiên toà xử! Các bác có biết chỉ vì các bác không tham gia nên côn an chỉ cần tập trung vào một số người là xem như vô hiệu hóa cả một phong trào đấu tranh?

Mấy tháng trước, khi các anh chị trong Mạng Lưới Blogger Việt Nam phát động phong trào Chúng Tôi Muốn Biết, kêu gọi mọi người tham gia thì Bụi thấy hết 99% tham gia… bàn thảo. Có vài bác còn lên tiếng Chúng tôi biết hết cả rồi, không cần phải đòi để biết! Có thật các bác biết không? Các bác biết gì đã xảy ra ở Thành Đô? Và ngay cả các bác biết thì liệu tất cả dân Việt có biết không? Bụi biết chắc chắn là bản thân Bụi và bạn bè Bụi không biết gì cả. Đó là chưa nói đến phong trào Chúng tôi Muốn biết chỉ là một chiến thuật để kêu gọi mọi người lần đầu tiên tham gia vào việc vạch trần tội bán nước của đảng cộng sản qua cách đặt câu hỏi, đặt vấn đề.

Trong tuần qua Khối 8406 kêu gọi biểu tình trên mạng đòi xóa điều 4 hiến pháp. Tại sao các cô chú trong khối 8406 không kêu gọi xuống đường biểu tình, cầm bảng và hô to khẩu hiệu chống và đòi xoá bỏ điều 4?Vì theo Bụi hiểu và biết chắc rằng trong lúc này sẽ không có nhiều người dám xuống đường để chống điều 4. Đó là thực tế tại Việt Nam. Bụi hiểu rằng để một ngày nào đó có được chuyện đó thì cần làm chuyện nhỏ hơn, thí dụ như biểu tình trên mạng. Cho dù chỉ như vậy nhưng không phải ai cũng tham gia, vì chỉ cần lộ diện hình ảnh cũng là nỗi sợ của nhiều người.

Vậy mà Bụi vẫn đọc được những lời trên DLB như tôi không tham gia vì tôi… khinh chuyện chỉ dám đưa hình lên mạng. Có bác còn cho rằng các ông bà 8406, trong đó có Linh mục Phan Văn Lợi đáng kính, có nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa vừa ở tù ra, là muốn xóa điều 4 HP để có đa nguyên nhằm sau đó mưu đồ bắt tay chia ghế với cộng sản!!! Bụi tự nghĩ nếu khối 8406 phát động một cuộc xuống đường, mang khẩu hiệu Xóa bỏ độc tài, tiêu diệt cộng sản, mỗi người là một Đặng Ngọc Viết… liệu bác ấy sẽ có mặt nếu bác ở Việt Nam, hay bác sẽ tham gia bằng một hình ảnh của bác với những khẩu hiệu đó như là một sự đồng hành cùng người trong nước!? Hay là bác lại sẽ có những "góp ý vận động" chống cộng kiểu khác mà bác cũng chẳng tham gia vào chính những gì mà bác đề nghị.

Kính thưa ông, bà, các bác, cô chú, anh chị…

Các bác là những người hiểu rõ và căm ghét cộng sản hơn ai hết, lên án Hồ Chí Minh, lãnh đạo đảng từ đầu đời đến cuối đời và những người ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản mạnh mẽ nhất. Theo những gì Bụi đọc được thì các bác là những người đang lo lắng hơn ai hết về việc nước ta sẽ trở thành một tỉnh của Trung cộng. Nhưng các bác chưa bao giờ đứng cạnh Tạ Phong Tần, Phạm Thanh Nghiên, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Phương Uyên, Bùi Hằng, Trần Thị Nga, Nguyễn Hoàng Vi, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh… những người phụ nữ tay yếu chân mềm, để cùng họ bày tỏ lòng yêu nước, tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền. Các bác chỉ đứng từ xa để cổ võ, khen ngợi lẫn phê bình, chê trách.

Đến lúc nào Bụi mới hân hạnh thấy được hình ảnh các bác cầm biểu ngữ viết Tôi ghét đảng CSVN, Chúng tôi Muốn biết Hội nghị Thành Đô, Xóa bỏ điều 4 Hiến Pháp…? Nếu các bác cho rằng chuyện chụp hình đưa lên mạng là còn sợ hãi, còn hèn thì đến bao giờ Bụi mới được thấy các bác ở đường phố Sài Gòn, Hà Nội với những biểu ngữ ấy. Và sẽ hạnh phúc, phấn khởi biết bao khi ở đó có một số bác mặc áo vàng, giương cao cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng thiêng liêng của Tự do và hô lớn "đả đảo cộng sản bán nước hại dân", "đảng cộng sản đi chết đi"… Ngày đó, Bụi nghĩ thôn Danlambao sẽ không còn nhộn nhịp nữa vì các bác đang bận chuyện khác – chuyện mà cô Bùi Hằng đã làm, chị Phương Uyên đã làm và những cô gái đáng tuổi con cháu của các bác đang làm. Và đó là điều đáng mừng!!!

Bây giờ Bụi chỉ mong các bác đã phản hồi ủng hộ lời kêu gọi của 8406 chụp một bức ảnh hưởng ứng lời kêu gọi của Khối. Bụi nghĩ đó là chuyện nhỏ, trừ khi như có bác nói: làm vậy chẳng khác gì tự cho an ninh cộng sản nó biết mình là ai. Bác đó nói cũng… bị đúng! Nhưng cũng may mắn có nhiều người đã không làm theo ý đúng của bác chứ nếu không thì Việt Nam chỉ thuần những con người cả đời không thấy mặt như bác chứ đời nào lại có những Nghiên, Hằng, Uyên, Hạnh… và bao nhiều khác đang "dại dột" lộ diện công khai để an ninh nó biết.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

LS Lê Công Định tranh luận về luật với 8 cán bộ CA

Nguồn danlambao

lsdinh.jpg
Lê Công Định – Sáng nay tôi lại đến trụ sở ủy ban nhân dân phường trình diện theo định kỳ hàng tháng. Sau thủ tục chào hỏi thông thường, đại diện chính quyền địa phương xuất hiện, nhưng lại là một anh Phó Chủ tịch phường. Bắt tay anh mà mắt tôi cứ nhìn ra ngoài cửa phòng như tìm ai khác. Ngoài phố một màu trắng xóa, không thấy ai. Bỗng tôi nhớ mấy câu trong bản nhạc bất hủ của nhạc sĩ Trường Sa: “Phố vẫn hoang vu từ lúc em đi …” Rồi tự nhủ, “lời nào gian dối cũng xin qua rồi!”

Quay trở về thực tại…, trước mặt tôi là 8 người đàn ông, 2 dân sự và 6 công an. Khi tôi đưa ra bản “Báo cáo chấp hành án tháng 1/2015” theo thường lệ, bầu không khí của căn phòng trở nên căng thẳng, vì lời lẽ tôi viết như sau chăng (?):“Vào ngày 22/1/2015, từ 23g15 đến 23g45, công an khu vực thuộc phường Tân Phú đã đến kiểm tra việc “chấp hành án quản chế” của tôi tại nhà riêng một cách vô lối mà không dựa trên bất kỳ văn bản pháp lý nào. Thêm vào đó công an khu vực lại tự ý lập biên bản và mời tôi lên trụ sở công an phường làm việc một cách không cần thiết vào sáng ngày 26/1/2015. Theo tôi đó là sự lạm quyền và cần phải chấm dứt.”

Hầu như suốt buổi làm việc, tôi và các anh công an tranh luận về cách diễn giải luật. Tôi mang theo hai văn bản luật pháp về cư trú và quản chế để “nói có sách mách có chứng”, nhưng các anh lại hiểu theo cách khác mà tôi không đồng ý. Vì các anh không nêu ra được văn bản luật biện minh cho cách hiểu của mình, nên chúng tôi đành kết thúc tranh luận và tôi nói rõ: “Tôi ghi nhận ý kiến của các anh, nhưng trừ phi các anh đưa ra quy định luật pháp nào nêu cụ thể cách diễn giải đó thì tôi chấp hành, bằng không tôi sẽ làm theo văn bản luật tôi có!” Các anh đáp lại rằng: “Chúng tôi chỉ có ý nhắc nhở, chứ không phạt anh, từ “xử lý” không có nghĩa là “xử phạt” nên anh không cần nhạy cảm như thế (!)” Tôi trình bày, “tôi là công dân và không thích công an khám nhà mình vào ban đêm, nên trừ phi có bằng chứng tôi vi phạm pháp luật, các anh không nên làm như vậy.”

Một anh an ninh ở Bộ Công an cùng dự khán, tỏ vẻ giận dữ rằng: “Anh viết như vậy khác nào chửi chúng tôi!” Tôi ngạc nhiên, “câu nào trong bản báo cáo đó được hiểu là “chửi” thế?” Anh ấy đáp, “anh có chửi hay không tự anh hiểu!” Tôi nói một cách thẳng thắn rằng: “Thứ nhất, không câu nào hàm ý chửi các anh. Thứ hai, rõ ràng các anh không quen nghe lời góp ý thẳng của dân, nên ai nói như vậy đều hiểu ngay là chửi.” Anh ấy đề nghị tôi viết lại bản báo cáo và bỏ đoạn nêu trên, tôi hơi cao giọng: “Tôi không việc gì phải viết lại, nhận hay không là chuyện của các anh. Nó thể hiện thái độ của tôi, chứ không phải là sự khiếu nại để có thể tách ra thành một văn bản khác.”

Một anh an ninh ở quận chuyển sang đề tài khác, hỏi rằng: “Trong một lần bình luận câu nói của Tổng thống Obama về Bắc Triều Tiên trên facebook, anh bảo các chế độ độc tài rồi sẽ sụp đổ. Ý anh là gì?” Tôi đáp, “mọi chế độ độc tài trên thế giới đều sẽ phải thay đổi, kể cả Việt Nam.” Anh ấy nói, “vậy chế độ ở Việt Nam sẽ thay đổi hay sụp đổ?” Tôi giải thích, “sụp đổ là một trong hai hình thức của thay đổi, nếu chuyển đổi như Myanma thì đó là sự thay đổi tốt đẹp, còn sụp đổ như các nước Đông Âu lại là sự thay đổi tệ hại.” Anh an ninh ở Bộ Công an gật gù, “tôi đồng ý với anh rằng sụp đổ là một hình thức của thay đổi, nhưng tùy theo cách nhìn của mỗi người mà nó tốt hay xấu thôi.” Tôi quay sang cám ơn anh vì đã hiểu đúng ý tôi muốn nói.

Một anh an ninh ở Sở Công an hỏi: “Nhóm 8406 kêu gọi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp, anh nghĩ sao?” Tôi trả lời ngay rằng tôi hoàn toàn ủng hộ lời kêu gọi đó. Anh ấy hỏi lại, “tức là anh cũng muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng?” Tôi giải thích, “Điều 4 duy trì sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, bỏ Điều 4 là xóa sự độc quyền đó, chứ không phải xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản; trong một thể chế đa đảng nếu tranh cử công bằng và nhận được sự tín nhiệm của toàn dân thì Đảng Cộng Sản hoàn toàn có thể cầm quyền và tôi sẽ ủng hộ điều đó bởi tôi cổ súy một nền dân chủ thật sự.”

Các anh an ninh hỏi tại sao tôi ca ngợi tuyên ngôn của nhóm Rapper Nah-Sơn, tôi đáp rằng tôi mong giới trẻ ngày nay nhìn nhận đa chiều các vấn đề xã hội, chứ không chỉ một chiều theo lời tuyên truyền của nhà nước, bởi lẽ thời đại ngày nay đã khác mươi năm trước, thông tin nhiều hơn, những giáo điều không còn phù hợp với thực tiễn của một nền kinh tế đang phát triển, tuổi trẻ dễ và cần tiếp nhận cái mới để góp phần phát triển đất nước.

Các anh an ninh tỏ vẻ khó chịu khi nhắc đến việc tôi tham gia hội luận trên mạng truyền thông của BBC vào ngày 22/1/2015, rồi giả vờ hỏi tôi đã nói gì trên đó. Tôi đáp khi được phóng viên BBC hỏi về các video clip “nhận tội” trong quá trình điều tra vụ án năm 2009, tôi đã nêu rõ rằng các đoạn chiếu trên truyền hình không phản ánh chính xác toàn bộ nội dung và mạch ý tưởng trong phần tường trình của tôi với cơ quan điều tra, vì đã bị cắt dán với mục đích tuyên truyền. Các anh giải thích rằng, “cắt dán là bình thường, giống như anh viết trên facebook vậy thôi (?)” Tôi không đồng ý và trả lời, “biên tập các bài viết trên facebook khác với việc tường thuật sai lệch có chủ đích.”

“Hơn nữa, tôi nói tiếp, lúc tôi phản đối việc đặt camera trong quá trình thẩm vấn, điều tra viên đã giải thích rằng việc thu hình là để báo cáo cấp trên chứ không nhằm chiếu trên phương tiện truyền thông đại chúng, nên tôi chấp nhận, nhưng cuối cùng các video clip đó vẫn xuất hiện mà tôi không biết.”

“Đó là sự man trá không thể chấp nhận,” tôi kết thúc.

Anh an ninh ở Bộ Công an bảo, “quay phim lúc điều tra là bình thường.”

Tôi đành bật cười, chẳng lẽ tôi phải giải thích với anh rằng quay phim là bình thường thật, nhưng tiết lộ các thước phim ấy trong quá trình điều tra vụ án chính là sự tiết lộ hồ sơ vụ án, một hành vi vi phạm luật tố tụng hình sự rõ ràng và công nhiên của cơ quan điều tra. Sau này, tôi còn biết, một nhà ngoại giao châu Âu, sau khi xem video clip về tôi năm 2009, từng bày tỏ quan ngại rằng hành động đó đã vượt khỏi các chuẩn mực văn minh và quan niệm pháp lý được thừa nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Làm sao giải thích cho các anh hiểu đây? Tôi thầm cầu Chúa ban phép mầu giúp tôi.

Buổi làm việc kéo dài từ 9 giờ đến quá 11 giờ mới kết thúc. Tôi bước ra khỏi cổng đến nơi đỗ xe và chợt nghe văng vẳng một giọng hát não nề từ đĩa nhạc phát to của quán cà phê phía đối diện: “Đời là vạn ngày sầu, biết tìm vui chốn nào?” Ái chà, tôi bỗng nhẩm đếm, còn đúng một năm nữa mới hết thời gian quản chế. Vậy là còn 365 ngày sầu nơi chốn này!

Lê Công Định

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , | Leave a comment