Đến đã đủ lâu! Giờ cũng sẵn sàng để… ra đi! (… về với Chúa)

– Phổ biến thông tin đa chiều, và lên tiếng vì những bất công xã hội là việc làm cần thiết và đúng đắn. – Tự do thông tin là bước khởi đầu để có được dân chủ thực sự, giúp đưa đất nước đi lên và thoát khỏi khốn khó đói nghèo.

– Đừng lầm lẫn giữa : thứ tha những lỗi lầm đã qua, với việc nuôi dưỡng những sai phạm đang diễn ra để chúng cứ tiếp tục tồn tại và trầm trọng hơn nữa! – Đó là ác chứ không phải ái!

– Đừng để bị nhập nhằng giữa “Đất Nước, Tổ Quốc” với đảng cầm quyền! “Đất Nước, Tổ Quốc” là mãi mãi, còn đảng cầm quyền chỉ là nhất thời!

Theo dõi các links tin từ twitter, được cập nhật thường xuyên ở cột phải

Posted in khề khà | Tagged , | 1 Comment

Bùi Tín : Một sàng khôn của ông Tổng Bí thư

Nguồn VOA

31.07.2015
bởi Bùi Tín

Tổng Bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đã hoàn thành chuyến Mỹ du lịch sử, một chuyến đi mà tất cả hơn mười Tổng Bí thư trước ông không có một ai có được cái vinh dự ấy.

Đây là cuộc đi dối già, một hoạt động đối ngoại nổi bật nhất trong cuộc đời chính trị sắp sửa kết thúc của ông. Một chuyến đi được mọi người Việt Nam và dư luận quốc tế theo dõi chặt chẽ với nhiều hứng thú.

Trước đó không ít người đã lo lắng về khả năng đối ngoại vụng về của ông, thái độ tự tin chủ quan như khi năm 2012 ông sang Cuba lên lớp dài dòng về chủ nghĩa Mác – Lênin, về chủ nghĩa Xã hội mơ hồ lạc lõng, đến mức không có báo nào ở Cuba tường thuật và bà Tổng thống Brazil vội đóng cửa không mời ông Trọng với 120 quan chức CS tùy tùng vào nước Bà như đã chuẩn bị kỹ từ lâu.

Thì ra chuyến đi này, ông Nguyễn Phú Trọng đã chuẩn bị chu đáo, kỹ càng, không ba hoa chích chòe, nói lấy được; các bài trả lời báo chí quốc tế trước khi lên đường, ba bài phát biểu với Tổng thống Obama trong Tòa Bạch Ốc, trong cuộc chiêu đãi của Phó Tổng thống Biden và bài nói tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), đều nghiêm chỉnh, chân thành, kín kẽ, có sức truyền cảm, làm rung động cử tọa và công luận.

Về đến nhà, ông Trọng còn nói lên xúc động sâu xa của mình, thốt ra những tính từ xưa nay hiếm hoi ở ông, khi ông thổ lộ chuyến đi vừa qua «thật thú vị», «để lại kỷ niệm sâu sắc đến ngỡ ngàng», «một chuyến đi kỳ diệu», «hết sức vừa lòng». Ông còn nhấn mạnh rằng «ông rất tâm đắc, nghĩa là giữ lại nhiều kỷ niệm, bài học kinh nghiệm tốt đẹp bền lâu trong lòng ông » (theo mạng Dân Làm Báo và Dân Luận ngày 24/7).

Thật là những tin đáng vui mừng, đáng hy vọng, khi người đứng đầu đảng CS Việt Nam trong cơn suy thoái, khủng hoảng niềm tin đã có vẻ như tiếp nhận được nhiều điều bổ ích về nhận thức, tình cảm trong cuộc Mỹ du hiếm hoi này.

Nếu như ông Trọng thật sự mang từ đất Mỹ về «một sàng khôn quý giá» và phổ cập ngay, vận dụng ngay trong dịp Đại Hội XII thì thật là may mắn cho Đảng CS, đại hồng phúc cho nhân dân ta, cho dân tộc ta biết bao!

Hoa Kỳ chẳng phải là một nước có nền dân chủ tiền tiến, tiền phong cho cả loài người đó sao ? Hoa Kỳ rõ ràng là sức mạnh siêu cường hầu như duy nhất thừa sức cùng các nước đồng minh Liên Âu, Nhật Bản, Philippines, Ấn Độ…ngăn chặn có hiệu quả mưu đồ thâm độc của đế chế CS Trung Quốc bành trướng ra thế giới mà hướng chính là phương Nam, nhằm trước hết vào Việt Nam.

Nhân đây xin nhắc lại cho mỗi người Việt, mỗi nam nữ thanh niên ta biết rằng trong cuộc chiến tranh chống phát xít Đức – Ý – Nhật 1939- 1945 , Hoa Kỳ có công đầu, quyết định trong cuộc phản kích lịch sử đánh bại hẳn đội quân Phát xít đang tràn khắp châu Âu và châu Á. Chính quân đội Hoa Kỳ đã đóng vai trò chủ lực đổ bộ lên châu Âu cứu nguy cho Hồng quân Liên Xô của Stalin đang bị vây khốn ở mặt trận Đông Âu đang phải đối phó với 80% lực lượng chủ lực của Hitler gồm có hơn 200 sư đoàn, từ đó tạo nên cuộc phản công của Hồng quân trên mặt trận Đông Âu, dẫn đến chiến dịch giải phóng Berlin kỳ diệu.

Cũng chính quân chủ lực Hoa Kỳ đã mở cuộc phản kích lớn chống Nhật Bản ở châu Á, giải phóng cả chuỗi đảo trên Thái Bình Dưong, giải phóng Philippines, Indonesia và Malaysia, đánh bại đội quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu, để cho quân CS của Mao có dịp thừa hưởng kho vũ khí hùng hậu này và tràn xuống phía Nam, vượt qua sông Dương Tử và chiếm chính quyền trong cả nước năm 1949.

Nói đúng theo sự thật lịch sử thì hàng triệu binh sĩ Hoa Kỳ đã đóng vai trò quyết định cứu cả loài người khỏi thảm họa Phát xít, và chính Hoa Kỳ là cứu tinh – theo nghĩa nào đó cho cả đảng CS Liên Xô và Hồng Quân Liên Xô, cứu tinh cho Đảng CS của Mao và Giải phóng quân Nhân dân Trung quốc vậy.

Đó chính là tình nghĩa quốc tế cao cả của Quân đội Hoa Kỳ, vì hàng triệu binh sĩ Hoa Kỳ đã hy sinh không phải trên đất nước mình mà tất cả đều hy sinh, chết và bị thương trên đất nước khác. Các nghĩa trang quân đội Hoa Kỳ rộng lớn trải khắp đất Pháp, Ý, Anh, Bỉ, Hà Lan, Đức, Na Uy, Thụy Điển, Ba Lan, Tiệp, Ukraine, các nước vùng Ban tích, các nước Bắc Phi, cũng như các nước châu Á: Nhật Bản, Philippines, Malaysia, Miến Điện, Indonesia, Úc, Tân Tây Lan…

Nếu như ông Nguyễn Phú Trọng đã thật sự xúc động sâu xa, đến ngỡ ngàng về quyền tự do công dân ở Hoa Kỳ, về quyền bình đẳng trong chính tri, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội, tư pháp ở Hoa Kỳ, ở chỗ mọi công dân có khả năng ngang nhau trong mưu cầu hạnh phúc cho mình và gia đình, thì ông hãy vận dụng sớm sủa cho toàn dân Việt ta cũng được hưởng ngang như thế, ngay trong dịp Đại hội XII này. Ước vọng này hoàn toàn trong tầm tay của ông.

Làm được như vậy ông sẽ là Tổng Bí thư sáng suốt, dũng cảm, có bản lĩnh nhất , có công lớn nhất trong lịch sử Đảng CS và Dân tộc Việt Nam vậy.

Cờ đã đến tay, ông Nguyễn Phú Trọng không nên do dự. Mong ông quả quyết dấn thân thật sự cho nhân dân và dân tộc. Hình ảnh ông, tượng đài ông sẽ vĩnh viễn tồn tại bền lâu trong ký ức các thệ hệ mai sau , xóa tan mối nhục Thành Đô của 4 đời Tổng Bí thư, từ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười đến Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

BBC. Facebook – báo Đảng: Cuộc chiến không cân sức?

Nguồn BBC

Nguyễn ĐiềmGửi tới BBC từ Nghệ An

  • 30 tháng 7 2015

Truyền thông dòng chính cũng dựa vào mạng xã hội để quảng bá thông tin.

Hiện tại có nhiều tranh cãi về một tài khoản Facebook đưa ra những thông tin gây chấn động trong thời gian qua. Có nên đọc hay tin vào những địa chỉ này?

Có thể nói rằng, ngay từ khi xuất hiện blog, mỗi cá nhân đã có thể tự ra một tờ báo của riêng mình. Facebook cũng là một dạng blog nhưng vượt trội hơn ở khả năng kết nối nên sức lan tỏa của các “bài báo cá nhân” này lớn hơn hẳn.

Điểm yếu của blog, mạng xã hội nói chung và Facebook nói riêng là tính chính danh, tức việc người khác không biết được đích xác những địa chỉ này là của ai. Chủ địa chỉ có thể dấu mặt hoặc đóng giả làm người khác. Vậy lấy gì làm niềm tin vào những nơi này?

Khi không rõ nguồn gốc, thứ duy nhất tạo dựng được sự tin tưởng chính là nội dung của những “bài báo” đó. Thông thường, những tờ báo (chính thống) lớn thường là nơi thu hút sự quan tâm nhất, báo càng nhỏ thì công việc thu hút độc giả càng khó khăn; vì vậy, những “tờ báo cá nhân” của hàng triệu người sử dụng mạng xã hội càng ít có cơ hội cạnh tranh hơn nữa.

Nhưng nghịch lý ở Việt Nam hiện nay là Blog và Facebook có khi còn thu hút nhiều người đọc hơn và sự tin tưởng nhiều khi còn cao hơn báo chính thống.

Vì sao lại thế?

Câu trả lời đã có ngay từ đầu: chính là niềm tin.

Đã bao năm qua người dân không thể biết những vấn đề nhạy cảm qua kênh chính thống. Đến nay báo chính thống được mặc định chủ yếu có hai nhiệm vụ: một là đưa nội dung câu khách rẻ tiền, hai là bưng bít thông tin.

Bất kỳ vấn đề chính trị đang gây gây xôn xao nào, người Việt Nam cũng tìm đến những trang ngoài lề, với họ thì những tin dạng này nếu báo chính thống có đưa thì gần như chắc chắn không bao giờ là sự thật.

Hàng trăm đại biểu đổ dồn con mắt về Bộ trưởng Quốc phòng sau nhiều tuần đọc tin đồn trên mạng.

Tất nhiên không phải do báo chí Việt kém cỏi, mà họ không còn cách nào khác. Những nơi đưa thông tin một cách chính danh đều bị kiểm soát và xử lý cả. Nên người ta có quyền nghi vấn nếu một ai đó cứ thoải mái “nói xấu chế độ” mà vẫn an toàn, người ta sẽ nghĩ trong đầu rằng: Liệu anh/chị này có phải công an nằm vùng hay không? Mà nếu thế thông tin có bị định hướng không và chẳng may trò chuyện hay bình luận thì có an toàn không?

Vì vậy, những nơi cung cấp thông tin mật đáng tin cậy nhất ở Việt Nam lại là những nơi không có tên tuổi, không biết ai lập ra và không cần phải dẫn nguồn ở đâu.

Những điều trên đã giải thích cho việc vài trang Blogspot và một địa chỉ Facebook gần đây lại thu hút sự chú ý như thế.

Thông tin là tất cả những gì người đọc quan tâm, chưa cần biết đúng sai, nó chỉ cần giải tỏa được cơn khát chính trị là đủ. Người dân biết ông này ông kia tham nhũng nhưng chẳng báo nào dám đưa, nên bất cứ nơi nào có thông tin mật về tài sản của những người này là đủ làm cho họ thích thú. Và nếu sau đó một trong những tin này được chứng minh là thật, sự tin tưởng sẽ tăng lên gấp bội.

Sau khi đã có được uy tín, bất kể điều gì mà những trang này đưa ra đều được thu nhận cả. Đấy là một điều hết sức bình thường. Cũng giống như một doanh nghiệp phải mất rất nhiều thời gian và công sức mới lấy được niềm tin nơi người tiêu dùng, sau đó thì bất cứ sản phẩm nào doanh nghiệp này đưa ra cũng được chào đón nồng nhiệt dù chưa biết hay dở ra sao, còn hơn là bỏ tiền ra cho một nhãn hàng hoàn toàn không có tên tuổi.

Nơi đưa ra thông tin cũng vậy, có thể có lúc đúng, có lúc sai, nhưng còn hơn là không bao giờ đúng hoặc toàn nói ngược với sự thật. Địa chỉ Facebook gây chú ý trong thời gian qua được nhiều người tín nhiệm vì trước đây đã đưa tin chính xác về sức khỏe của ông Nguyễn Bá Thanh, đấy là “vốn liếng” quan trọng của trang này.

Một số người nói rằng không thể tin vào địa chỉ Facebook không rõ ràng này, nhưng trước đây người ta đọc Quan làm báo, đọc Chân dung quyền lực mà chẳng cần biết nguồn gốc, thì bây giờ việc gì phải xác định chủ tài khoản này thực chất là ai?

Tác động của những trang không chính danh

Người Việt ngày càng dựa vào báo điện tử.

Tác dụng đầu tiên của nó là bạch hóa (dù không chính thức) rất nhiều những xấu xa thối nát của chính quyền. Có thể động cơ là hạ thấp đối thủ, nhưng vì vậy mà người dân biết được những tin đáng được biết thì cũng tốt, chắc chắn tốt hơn là không biết.

Ý thức và hiểu biết chính trị của người dân sẽ được nâng lên đáng kể. Sự ngu dốt và thiếu hiểu biết không bao giờ tốt cho đất nước cả, nó chỉ tốt cho kẻ cầm quyền mà thôi.

Thứ hai là những thông tin này gây sức ép đáng kể lên cá nhân những nhân vật bị nêu tên, những hoạt động ngầm của họ ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng.

Thứ ba là tác động lên chính quyền. Việc một địa chỉ Facebook liên tục đưa ra những thông tin về sức khỏe của Đại tướng Phùng Quang Thanh làm chính quyền Việt Nam phải chạy theo bở hơi tai là bằng chứng.

Nếu quả thật ông Thanh không hề hấn gì, Hà Nội cứ thản nhiên im lặng và thời gian sau cho vị Bộ trưởng xuất hiện trở lại. Không có tật thì chẳng việc gì phải giật mình.

Việt Nam hiện nay có khoảng 30 triệu người dùng Facebook, nếu cứ mỗi người đưa ra một tin đồn, nay ông này ốm, mai ông kia đau thì bộ máy tuyên truyền của Đảng chạy theo bằng cách nào? Rõ ràng nếu tài khoản Facebook của nhân vật kia không có gì đặc biệt, Đảng chẳng việc gì phải lên tiếng.

Chính quyền cứ úp mở mờ ám bằng những lời phát biểu không thể làm hài lòng ai. Nếu quang minh chính đại đi chữa bệnh, ngài Bộ trưởng có thể quay một video ngắn về bản thân để xua tan mọi nghi ngờ.

Thứ nữa, những tin trên mạng xã hội còn là thước đo lòng dân. Tại sao đa số người dân lại hí hửng trước một tin đồn, nói một cách khách quan là ác nghiệt như vậy? Niềm tin vào mọi thứ thuộc chế độ đang chạm đáy, vì thế mà người dân sẵn sàng tin vào những điều vô căn cứ, miễn là không thuộc chính quyền.

Ai chiến thắng trong trận chiến thông tin?

Việt Nam chưa cho phép tư nhân ra báo.

Đừng cho rằng những người nghe theo tin đồn, vào đọc trang Facebook cung cấp thông tin kia chỉ là những thanh niên thiếu hiểu biết dễ bị dụ dỗ. Cả nước Việt Nam đều đọc, đủ mọi tầng lớp, có điều không nói ra mà thôi.

Cứ nhìn báo chí đổ xô đi săn tin chụp ảnh, nhìn cái cách cả hội trường Bộ Quốc phòng toàn những vị tai to mặt lớn, các thanh niên tiêu biểu đổ dồn ánh mắt về Đại tướng Thanh thì rõ những người này có đọc tin đồn hay không. Ngay chính những người này còn nghi ngờ thì sao nhân dân lại không nghi ngờ?

Cả khi về Việt Nam rồi, chính quyền vẫn không làm cho người dân hết nghi vấn: Sao lúc xuống máy bay không cho báo chí tiếp cận, sao không phát biểu trực tiếp trên truyền hình và tại sao không về nhà mà ở lại Bộ Quốc phòng vì ở tại nơi làm việc để tránh tiếp xúc là việc làm ngược đời.

Và cũng đã có những đồn đoán vị Bộ trưởng Quốc phòng đương nhiệm đã "mất quyền lực hoàn toàn". Điều xảy ra là chỉ cần có sự logic là đủ để tin đồn lan ra và tìm được chỗ đứng.

Rồi không phải tự dưng mà người ta liên kết việc Phó thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lệ gấp gáp sang thăm Việt Nam với việc Bộ trưởng Phùng Quang Thanh về nước ngay sau đó với nhau.

Đến cả DPA – Hãng thông tấn lớn nhất nước Đức cũng đã đưa tin Bộ trưởng Thanh qua đời, chứng tỏ thông tin này hẳn đã có cơ sở nào đó chứ không thể chỉ xuất phát từ tin đồn.

Hãng thông tấn nước ngoài sai (và đã nhận mình sai), tin của Đảng đưa ra không mấy khi đúng sự thật, thì đòi hỏi gì hơn ở một địa chỉ Facebook?

Nói thế không phải là để cổ vũ tin đồn, mà cho thấy rằng nếu báo chí vẫn cứ bị trói tay thì cả bộ máy tuyên truyền vẫn mãi phải chạy theo một tài khoản ảo trên mạng trong một cuộc đua không cân sức giữa một bên được nói thoải mái, một bên chỉ biết “tuyên truyền và dối trá”.

Posted in báo chí, chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Đinh Tấn Lực : Phim Ra Rạp: Lễ Là Tảo Mộ Hội Là Đạp Thanh

Nguồn dinhtanluc

Rằng hay thì thật là hay – Nhưng tay đạo diễn phim này là ai?” (Nhại Kiều)

Sự xuất hiện bất ngờ của một đại tướng trên chương trình truyền hình “Khát Vọng Đoàn Tụ”, sau cả tháng thấp thỏm đợi chờ của rất nhiều người, tưởng đâu hoá giải được mọi gút mắc, bỗng dưng lại bật ra hàng loạt câu hỏi hóc búa khác về một kịch bản có tầm Oscar chính trị…

*

Màn 1 – Binh Biến & Phản Đảo Chính

1- Người loan tin chàng bị ám sát là ai, do ai cấp nguồn, nhờ ai chống lưng, với mục đích gì?

2- Lời đồn đãi về một âm mưu binh biến bất thành có bao nhiêu phần trăm sự thật?

3- Có thật âm mưu binh biến này dính dáng tới hai cựu tổng bí từng ký hiệp ước với Tàu năm 1990 và 1999?

4- Âm mưu này có chút nào dính dáng tới chuyến khấu tấu tập thể do chàng hướng dẫn 39 tướng lãnh sang Trung Nam Hải hồi tháng 10/2014, và chuyến khấu kiến mới nhất hồi tháng 5/2015 (với bảng tên viết bằng Hán tự)?

5- Vì sao sự kiện thất tung này xảy ra đúng ngay thời điểm ngài tổng bí đương nhiệm đang chuẩn bị qua Mỹ?

6- Ai xếp đặt để tách chàng ra khỏi phái đoàn tháp tùng ngài tổng bí công du Hoa Kỳ như đã chính thức lên phương án từ bao lâu trước?

7- Thế lực nào đủ mạnh để tung tin hoả mù về cuộc ám sát cả vợ con chàng trên đất Pháp?

8- Áp lực từ đâu và đến mức nào mà khiến vợ con đương sự, dù không bị ám sát, hay không phải qua Pháp thăm nuôi chồng, vẫn phải im lặng suốt thời gian “ém tướng”?

9- Do đâu mà bất chợt có lệnh thay đổi lãnh đạo một cách vội vã (và có chỉ dấu khuất tất trong chữ ký) ở Quân Khu Thủ Đô?

10- Do đâu mà bất chợt có lệnh thay đổi lãnh đạo Quân khu 7, bao gồm Sài Gòn & 8 tỉnh lân cận, 3 sư đoàn cùng 5 lữ đoàn đặc chủng?

11- Khẩu hiệu của QK7 là “Trung thành vô hạn, chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, đoàn kết quyết thắng”. Liệu vế 1 vừa nói có điều manh nha gì không đáp ứng đúng mức?

12- Tay chân bộ hạ của chàng bị cắt cụt, có phải cũng đồng nghĩa với việc tỉa cành cắt đọt quyền lực của kẻ bấy giờ đang trên đường công du Hoa Kỳ?

13- Cuộc họp giao ban của chính phủ vào cuối tháng 6, dù thiếu bộ trưởng quốc phòng, vẫn được tiến hành như không có chuyện gì xảy ra và cũng không cần đến, là bởi thế lực nào?

14- Nhằm mục đích gì mà một thượng tướng ngồi cạnh thủ tướng, trám chỗ của chàng (Phó BT Quân uỷ) và ngài tổng bí (BT Quân uỷ), để chủ toạ Đại Hội Thi Đua Quyết Thắng Toàn Quân IX?

15- Ai chỉ đạo cho một phóng viên VN mồi chài cho DPA tung tin chàng đã qua đời để nhồi sóng dư luận “đả đảo thân Tàu” trong thời gian “ém tướng”?

16- Ai cấp nguồn cho tuyên giáo TW chữa cháy bằng một loạt tin hoả mù khác là chàng đi chữa bệnh, với những chi tiết y khoa ly kỳ đến mức khó tin?

17- Phải chăng sự kiện tin tức hoả mù ám sát và chữa bệnh được tung ra hết sức nhịp nhàng là có dụng ý đe doạ tư lệnh các quân khu khác?

18- Thế lực nào đủ mạnh để tin đồn và tin tức báo chí trong luồng tung hứng ăn khớp nhau về việc chàng đi chữa bệnh ở bệnh viện Georges Pompidou, Paris?

19- Ai có đủ uy thế để tung tin chàng “suýt bị sổng qua TQ”, như một thứ đòn phép đo lường phản ứng dư luận về số phận một tay nô lệ?

20- Có bao nhiêu phần trăm sự thật trong các bình luận cho rằng Trương Cao Lệ sang VN và bị tiếp đãi lạnh nhạt, chỉ vì nhằm mục đích “gỡ tội/cứu bồ” cho chàng?

21- Sự chuẩn bị để quốc hội nhất trí thông qua dự luật cho phép thủ tướng được ký giao quyền bộ trưởng hay thủ trưởng cơ quan ngang bộ, là nỗ lực dày công của ai?

22- Kẻ nào ép được Ban bảo vệ sức khoẻ TW phải phát biểu/tuyên bố chính thức đúng như kịch bản linh động từng ngày?

23- Thế thì âm mưu binh biến của 2 quân khu lớn nhất nước bỗng chốc biến thành quy trình phản đảo chính & khoá tay đầu lãnh (cả quân đội lẫn đảng) một cách ngoạn mục là đây chăng?

24- Khi phát biểu rằng “Không để quân đội Bất Ngờ Về Chính Trị trong mọi tình huống”, thượng tướng Ngô Xuân Lịch có ẩn ý gì?

25- Trong suốt tháng qua, thực sự chàng bị ém ở đâu?

*

Màn 2 – Hiển Thị Ngày Thương Binh Liệt Sĩ

26- Ai, hay những ai, có khả năng viết tiểu thuyết phơi-giơ-tông để biến chiêu cốt chuyện xuất quỷ nhập thần từng ngày, từ 2 viên đạn tới cục u phổi, từ ngày “ám sát” sang ngày “nhập viện”, rồi “xuất viện”, với những cú phôn qua lại Pháp-Việt… cho tới “ngày về” ảo diệu?

27- Ý kiến chỉ đạo về sự xuất hiện tầm xa của bộ complet xám, mà không có vợ con cùng tướng tá đi đón, đặc biệt lệnh cấm xài ống kính Zoom, là của ai?

28- Hành khách VN đi khoang thương gia trên chuyến bay VN18 Paris-Nội Bài không có ai khác ngoài chàng với đám tuỳ tùng; hay, còn có thêm một số người không biết mặt chàng; hay, họ biết mặt chàng mà quý thương gia này không đời nào lên Facebook?

29- Có điều gì ám muội đã khiến cho dàn báo trong luồng sử dụng hình ảnh các máy bay khác nhau, với cầu thang lên xuống khác nhau, để chứng thực chuyến về của chàng; thậm chí sử dụng cả hình ảnh chiếc Boeing đã từng xài trong 22 bài báo khác nhau suốt 3 năm trước đây?

30- Vì lý do gì mà báo chí bỏ qua vợ con chàng trong buổi hội ngộ sau đận phẫu thuật u phổi? Mà đón chàng tại nhà để trao hoa là Nguyên tư lệnh, chứ không phải là Tân tư lệnh Bộ tư lệnh thủ đô Hà Nội?

31- BCT, bộ QP và bộ 4T thiếu phối hợp chặt chẽ trong khúc trình diễn màn trình diện ở sân bay, khiến cho dư luận nghi ngờ có kẻ đóng thế vai trong đoạn diễn này chăng?

32- Đại sứ Mỹ đến thăm, chỉ được thứ trưởng bộ QP VN đón tiếp, và chỉ được gián tiếp hỏi thăm sức khoẻ của chàng, vì sao?

33- Cũng thứ trưởng bộ QP VN hoan nghênh và mời Tân tư lệnh Lực lượng Coast Guard của Mỹ sang thăm VN, mà không phải là do chàng mời cho môn đăng hộ đối, là vì sao?

34- Vì lý do gì mà chàng phải định cư dài hạn tại bộ QP, thay vì về nhà với vợ con để dưỡng thương hay dưỡng sức sau một chuyến xa nhà giải phẫu lồng ngực?

35- Vì lý do gì mà Trợ lý của bộ trưởng QP phải rào trước là bản thân chàng: “Sẽ ở lại trụ sở Bộ Quốc phòng chứ không về nhà riêng, kể từ hôm nay… Mọi sinh hoạt và làm việc đều diễn ra bình thường. Riêng làm việc thì …Chỉ Làm Có Mức Độ”; ý nghĩa là thế nào, do ai ngăn cấm/giới hạn (không được tham dự Hội thảo quốc tế về triển khai lực lượng tham gia bảo vệ hoà bình của LHQ, ngày 27/7/2015)?

36- Cả hai yếu tố này có đồng nghĩa với một biện pháp quản thúc hay quản chế sau giai đoạn khống chế hay không?

37- Hay, đó là một kẻ khác, mang mặt nạ silicon gần giống như chàng (sau giải phẫu thẩm mỹ), và vì vậy, không được hoặc không nên đến gần vợ con chàng?

*

Hồi Cảnh (Flashback) – Khúc Quanh Lịch Sử Đảng

38- Động thái khiêu khích của TQ vào tuần cuối tháng 6/2015, trên biển Đông, từ dàn khoan 981, cho tới diễn tập bắn đạn thật, và cả dự luật cho phép TQ sử dụng sức mạnh vũ trang để bảo vệ lợi ích cốt lõi, cùng những biến động ở biên giới Tây Nam… là những áp lực cho điều gì và nhắm vào ai, hay những ai, ở Ba Đình?

39- Thế lực nào đủ mạnh để nhón 1 con cờ Ba Đình có khả năng “xử đẹp” cả hai đối thủ có cùng tên và cùng thủ lãnh thân Tàu?

40- Do đâu có những cuộc thăm viếng dồn dập, từ 2 chiến hạm tối tân USS Fort Worth & USS Fitzgerald cặp cảng Đà Nẵng, đến Bộ trưởng QP Mỹ gặp Tư lệnh quân chủng Hải quân VN và Tư lệnh Cảnh sát biển VN, rồi ghé trụ sở Bộ QP VN ở Hà Nội hồi đầu tháng 6/2015?

41- Bộ trưởng QP Mỹ tặng Bộ QP VN 1 quyển nhật ký và 1 dây thắt lưng của một chiến sĩ bộ đội vượt Trường Sơn thời chiến tranh là có ẩn ý báo trước điều gì bất thường hay bất an không?

42- Hiện tượng cựu Tổng thống Mỹ Bill Cliton sang VN ngay trước khi ngài tổng bí đi Mỹ nói lên điều gì, từ phía Mỹ, rằng “không đi không được, không làm không xong”, phỏng?

43- Điều gì khiến cho ngài Obama cân nhắc hệ quả mích lòng với cả 2 đảng lớn của Mỹ xong tự lấy quyết định phá lệ mà đón tiếp ngài tổng bí CSVN tại Phòng Bầu Dục. Chuyện gặp gỡ này cần thiết đến mức đó sao?

44- Do đâu mà, ngay sau chuyến công du Hoa Kỳ của ngài tổng bí, viên Đại sứ Mỹ có thể mạnh miệng trong cuộc tiếp xúc với Cộng đồng người Việt ở quận Cam rằng VN đang tiến mạnh về phía dân chủ?

45- Điều gì đã khiến cho Đại sứ Mỹ tự tin đến mức vượt qua giới hạn ngoại giao để ghé thăm đài truyền hình người Việt tự do SBTN và Văn phòng II Viện Hoá Đạo ở Nam Cali?

46- Việc gì cần đến mức đệ nhị phu nhân Hoa Kỳ, Tiến sĩ Jill Biden, tức vợ của phó TT Joe Biden, cấp tốc qua VN ngay sau chuyến công du của ngài tổng bí, và cặp kè dung dăng ngoài phố với vợ của CTN VN? Jill đã nói gì với Doan? Với Hạnh? Hay nhắm Hạnh điều gì cần nói với chồng?

47- Thế lực ghê gớm nào bật đèn xanh cho báo chí trong luồng đi bài phóng sự cảm động (có luôn cả video clip) về cuộc thảm sát Gạc Ma?

48- Nên đánh giá như thế nào cho gần với sự thật về sự kiện chủ tịch nước đi thăm 2 sư đoàn từng chiến đấu ở mặt trận biên giới, sau nhiều thập niên bị bỏ quên đến đóng bụi trong lịch sử?

49- Điều gì khiến cho CTN đồng ý với đề nghị thăng hàm thượng tướng CA cho một nhân sự gốc Kiên Giang? Chẳng lý nào ngài CTN có tài ngoại cảm và đang xoay về phía mặt trời đang ló dạng?

50- Thượng tầng đảng đang lên kế hoạch đón tiếp (trọng thị đến mức có thể) vợ chồng ngài Barack Obama thăm viếng Việt Nam trong vài tháng tới, trước đại hội đảng, có khi trước cả hội nghị trù bị cho đại hội đảng… Liệu có ai ngạc nhiên khi ngài ấy nhận một món quà hữu nghị lớn tương đương với …diện tích mặt nước cảng Cam Ranh?

51- Nếu so sánh với nỗ lực viết lại sách giáo khoa môn sử thời 1979, thì, có phải chuỗi sự kiện này là chỉ dấu hiển thị một thay đổi lớn, thậm chí là một khúc quanh, trong lịch sử đảng?

*

Những Câu Hỏi Dành Cho Hồi Kết

52- Có ai dám bảo Xê-i-a với tình báo Trung Nam Hải chưa từng đấu nhau trên đất nước thứ ba?

53- Hồ Ly Vọng (Hollywood) là cái nôi điện ảnh của Mỹ, nhưng, có đúng là không ai ngạc nhiên rằng Hoa Thịnh Đốn (Washington DC) mới là nơi đào tạo diễn viên chính trị của thế giới thứ ba?

54- Nhu cầu chính trị to đến đâu mà thủ tướng VN cần phải điều 1 đệ tử Kiên Giang về nắm thanh tra chính phủ?

55- Lý do, hay những lý do nào khiến một thinktank của Nhật kết luận rằng sau Miến Điện là Việt Nam?

56- Những yếu tố nào khiến thế giới khả dĩ chắc bắp rằng, sau vòng ngoài be bờ từ Nhật đến Hàn đến Phi …đến tận Úc, thì vòng trong, sát sườn đối thủ khổng lồ chính yếu của Mỹ, không ai có thể loại trừ vị trí chiến lược của VN?

57- Bao nhiêu phần trăm sự thật có thể có là Hoa Kỳ đã điều chỉnh và sử dụng một phương thức “tháo cũi” cho VN tương tự như cách đã làm với Miến Điện (ngay cả việc chận đứng dự án đường ống dầu đi tắt & huỷ hợp đồng 1 con đập khủng do Tàu tài trợ)?

58- TPP có phải chỉ là củ cà rốt, còn “thoát trung” mới là cây roi, đối với Mỹ? Ngược lại, có phải đối với 1 bộ phận (gọi là nhóm lợi ích) của Ba Đình thì đây chính là cơ hội nòng nọc rụng đuôi XHCN thành Ếch cộng hoà, và là cái phao cứu sinh cho phe còn lại có đường thoát thân êm thắm?

59- Có ai dám bảo con hổ giấy Hoa Kỳ chỉ xoay trục bằng nước bọt?

60- Còn ai nghi ngờ khả năng bán bảo hiểm tài sản dưới vỏ bọc công ty tư vấn kinh tế của chính quyền Mỹ?

61- Putin đang chuẩn bị gấp rút để nhận anh em họ với 1 gã tóc đen?

62- Có ai đã gạ bán bảo hiểm nhân thọ cho ngài đại tướng vừa mới bị đạp ngã kia chưa?

28/7/2015 – Kỷ niệm tròn 20 năm nước CHXHCNVN gia nhập Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN).

Blogger Đinh Tấn Lực

tags dinhtanluc, đại tướng, trung quốc, bộ trưởng, quốc phòng, phùng quang thanh, đinh tấn lực, đạp thanh, chính trị, xã hội, hoa kỳ]

Posted in chính trị, xã hội | Leave a comment

VOA. Nếu VN chọn Hoa Kỳ làm đồng minh, TQ có áp dụng lại đối sách 1979?

Nguồn VOA

Thứ năm, 30/07/2015

Thiện Ý

Sau chuyến đi Hoa Kỳ mới đây của Tổng Bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, có dự đoán lạc quan rằng Việt Nam có thể chấm dứt chính sách ngoại giao đi dây và dứt khoát chọn Hoa Kỳ làm đồng minh.

Nếu dự đoán trên xảy ra trên thực tế, liệu Trung Quốc có sẽ áp dụng lại đối sách năm 1979 khi Hà Nội ngả theo Liên Xô?

I/- Đối sách với Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc

Sau khi Việt Nam ngả theo Liên Xô, đối sách năm 1979 của Trung Quốc có mục đích trừng phạt và khuất phục Việt Nam bằng cách gây khó khăn nghiêm trọng, toàn diện về đối nội cũng như đối ngoại cho Việt Nam. Để đạt mục đích này, Trung Quốc đã tiến hành các biện pháp tấn công quân sự, phá hoại kinh tế, gây bất ổn chính trị và cô lập Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong thời kỳ chiến tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản, cuộc tranh chấp quyền lãnh đạo phe xã hội chủ nghĩa giữa Liên Xô và Trung Quốc đã đến mức phân hai khối cộng sản, một số nước theo Liên Xô, một số nước theo Trung Quốc. Vì nhu cầu chiến tranh chống Miền Nam cần sự yểm trợ vũ khí, lương thực của cả Liên Xô và Trung Quốc, nên Hà Nội vẫn cố giữ thế trung lập. Nhưng sau khi cuộc nội chiến Quốc-Cộng chấm dứt, Viêt Nam đã chọn Liên Xô là “Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa” của mình. Giận kẻ vong ơn bội nghĩa, Trung Quốc đã sử dụng lá bài Campuchia để trừng phạt Việt Nam.

1. Mũi nhọn thứ nhất: Trung Quốc đã sử dụng chính quyền Pol Pot và Ieng Sary ở Campuchia để tấn công quấy phá biên giới Tây Nam, đánh chiếm vài đảo nhỏ của Việt Nam, kích động lòng hận thù dân tộc. Sau ba năm chịu đựng sự quấy phá quân sự Việt Nam đã kéo đại binh chính phạt Pot-Pot vào mùa xuân năm 1979. Trong vòng không đầy một tháng tiến công,quân đội nhân dân Việt Nam đã “giải phóng” được đất nước Chùa Tháp khỏi nạn diệt chủng. Nhưng việc chiếm đóng Campuchia đã bị cả thế giới lên án là kẻ xâm lược. Chế độ Hà Nội bị cô lập về chính trị, ngoại giao và bị bao vây kinh tế bởi chính sách cấm vận của Hoa Kỳ. Thế nhưng Việt Nam tiến vào Campuchia thì dễ mà rút ra thì khó, vì đây là “trận địa vũng lầy” được Trung Quốc chuẩn bị cho Việt Nam bị sa lầy.

2. Mũi nhọn thứ hai là sau khi gài thế chôn chân Việt Nam ở Campuchia và những khó khăn hậu chiến chồng chất, Trung Quốc đã mở cuộc đại tấn công quân sự tràn qua biên giới phía Bắc Việt Nam gọi là để “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Theo tố cáo của Hà Nội, trong trận chiến này Trung Quốc đã huy động tới 600.000 quân với 800 xe tăng và xe bọc thép, hàng ngàn trọng pháo, hàng trăm máy bay đủ loại. Đặng Tiểu Bình, lãnh tụ của Trung Quốc lúc đó, gọi hành động quân sự này là để “dạy cho Việt Nam một bài học”. Trên thực tế, Trung Quốc đã tự rút về, sau một tháng tấn công, chiếm đóng sáu tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam (Từ 17-2 đến 18-3-1979), triệt phá các cơ sở chính quyền, kinh tế của Việt Nam, tàn sát nhiều người, phá trụi bốn thị xã Lào Cai, Cẩm Đường, Cao Bằng, Lạng Sơn…

3. Ngoài hai mũi nhọn trên, Trung Quốc còn tung thêm mũi nhọn tấn công trên lãnh vực kinh tế và chính trị của Việt Nam.

Về kinh tế, ngay sau khi Hà Nội nghiêng hẳn về Mạc Tư Khoa (Moscow), lập tức Bắc Kinh đòi nợ khẩn cấp, cắt hết viện trợ hậu chiến, ngưng ngang các công trình đang xây dựng và rút hết chuyên gia về nước. Đồng thời cắt đứt đường vận chuyển qua đường sắt Vân Nam – Hà Nội, vốn là con đường vận tải đường bộ duy nhất lúc bấy giờ để Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa giao lưu hàng hóa với Việt Nam.

II/- Trung Quốc có sẽ áp dụng lại đối sách năm 1979 với Việt Nam?

Quá khứ là vậy, còn hiện tại và tương lai thì sao?

Câu trả lời tổng quát có thể là: Trung Quốc ngày nay sẽ không dám sử dụng lại đối sách trên đây đối với Việt Nam, một khi Hà Nội thật sự chọn Hoa Kỳ làm đồng minh. Vì sao?

Là vì vị thế và tình hình Việt Nam trong tương quan với cộng đồng các quốc gia trên thế giới ngày nay so với 36 năm trước đây (1979-2015) đã khác xa. Chiến lược toàn cầu hay là nền trật tự quôc tế mới hay là một hệ thống kinh tế quốc tế mới đã được các cường quốc xác lập từ lâu, trong đó có sự tham gia của cả Trung Quốc và Việt Nam. Hơn ai hết, ngày nay Trung Quốc phải hiểu là mình không còn có thể muốn làm gì thì làm mà không gánh chịu hậu quả nghiêm trọng về chính trị, kinh tế và ngoại giao.

Vì vậy có thể nhận định rằng, Trung Quốc sẽ không thể áp dụng lại đối sách năm 1979.

1. Thực tế Trung cộng sẽ không thúc đẩy cuộc chiến tranh giữa hai nước Việt Nam – Campuchia để có cớ trừng phạt Việt Nam, mặc dầu có những dấu hiệu khơi mào tương tự như đã đẩy Việt Nam vào cuộc chiến tranh chinh phạt Campuchia vào năm 1979.

Dấu hiệu khơi mào đầu tiên trước chuyến đi Hoa Kỳ của Tổng Bí thư đảng CSVN là việc Campuchia đã chủ động khơi lại vấn đề tranh chấp biên giới với Việt Nam xảy ra vào ngày 28-6-2015 và những hành động tiếp theo vào những ngày sau đó trên vùng biên giới giáp ranh tỉnh Svay Rieng của Campuchia và tỉnh Long An của Việt Nam.

Dấu hiệu tiếp theo xảy ra một ngày sau chuyến đi Hoa Kỳ của Ông Nguyễn Phú Trọng là việc một phái đoàn quân sự và an ninh cấp cao do Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia Tea Banh dẫn đầu khởi sự chuyến đi thăm Bắc Kinh hôm 8 tháng 7. Ông Tea Banh nói rằng chuyến đi này nằm trong khuôn khổ một cuộc “trao đổi thường niên”. Nhưng tham gia chuyến đi có các Tư lệnh của cả 3 quân chủng thuộc Quân đội Hoàng gia Campuchia và Tư lệnh Quân cảnh Quốc gia – điều này nói lên tầm quan trọng của chuyến đi, bất chấp lời phát biểu của ông Tea Banh.

Thế nhưng trên thực tế, cũng có những dấu hiệu cho thấy các cuộc xung đột lẻ tẻ ở biên giới Việt Nam – Campuchia sẽ không dẫn đến chiến tranh giữa hai nước như năm 1979. Nhà chức trách hai nước đã tức thời gặp nhau và khẳng định tiếp tục giải quyết vấn đề biên giới thông qua thương lượng, căn cứ trên bản đồ lịch sử và luật pháp quốc tế. Chính Thủ tướng Hunsen cũng đã cho hay là Ông đã yêu cầu các chính phủ Pháp, Anh, Hoa Kỳ cung cấp cho các bản đồ ổn cố từ thời Đông Dương thuộc Pháp làm căn cứ để xác định biên giới hai nước, mà ông tin văn khố các nước này hiện còn lưu trữ.

2. Mặc dầu có nhưng sự đồn đoán về sự chuyển quân về phía biên giới Việt – Trung, song Trung Quốc sẽ không dám ngang nhiên tấn công quân sự gọi là để “dạy cho Việt Nam một bài học” như năm 1979, nếu Việt Nam ngả theo Hoa Kỳ. Vì Hoa Kỳ hiện nay khác Liên Xô trong quá khứ. Hoa Kỳ sẽ không đứng nhìn Trung Quốc tự tung tự tác như Liên Xô trước đây. Vì Hoa Kỳ không phải là “Con cọp giấy” như Trung Quốc thường rêu rao trước đây, mà là “Con cọp thật” đã và đang thể hiện sức mạnh thực sự của một mãnh hổ, vượt trội Trung Quốc về quân sự cũng như nhiều mặt khác, để nếu xẩy ra bất cứ xung đột quân sự nào, ưu thế vẫn nghiêng về phía Hoa Kỳ.

Vì vậy, Hoa Kỳ đã không ngần ngại công khai lên án mạnh mẽ hành động của Trung Quốc xâm lấn Biển Đông, lấn áp các nước nhỏ yếu trong vùng trong đó có Việt Nam và khẳng định nhiều lần rằng Hoa Kỳ có quyền lợi quốc gia trong vùng Biển Đông phải bảo vệ.

Dường như Trung Quốc cũng hiểu được quyết tâm và hành động thực sự của Hoa Kỳ lần này không thể coi thường. Vì vậy đã có dấu hiệu của một sự xoa dịu tình hình. Một điển hình là ngay sau chuyến đi Hoa Kỳ của Tổng Bí thư đảng CSVN, Phó Thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lệ đã tới thăm Việt Nam trong ba ngày (từ 6 đến 19-7-2015). Theo Tân Hoa Xã, Ông Trương đã hội kiến với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trong cưộc gặp Ông Sang, Phó Thủ tướng Trung Quốc nói rằng mối quan hệ truyền thống do hai lãnh đạo của hai nước là Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh vun đắp là “một tài sản quý giá của hai đảng và nhân dân hai nước”. Phó Thủ tướng Trung Quốc cũng được trích lời nói thêm rằng vì “quyền lợi cơ bản của hai nước, cần phải thắt chặt mối quan hệ truyền thống này”. Bản tin của Tân Hoa Xã không đề cập tới vấn đề tranh chấp biển Đông. Tuy nhiên, báo chí Việt Nam cho hay, trong cuộc gặp với ông Trương, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị hai bên “tuân thủ các thỏa thuận và nhận thức chung quan trọng của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước về những bất đồng trên biển và sớm cùng các nước ASEAN hoàn tất xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)”.

3. Ngoài hai mũi nhọn trên của đối sách năm 1979 không dám áp dụng lại, Trung Quốc có thể tung mũi nhọn tấn công trên lãnh vực kinh tế và chính trị của Việt Nam hay không?

Vì kinh tế Việt Nam hiện nay lệ thuộc kinh tế Trung quốc trên khá nhiều mặt, nhưng nếu Bắc Kinh đã chọn đối sách hòa dịu, thì họ sẽ không sử dụng mũi nhọn này tấn công Việt Nam. Nếu có sử dụng đi nữa cũng không gây khó khăn nhiều cho Việt Nam như năm 1979. Vì nền kinh tế Việt Nam nay đã khác xưa, không còn bị bế quan tỏa cảng (do chế độ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bị cấm vận), mà đã vững mạnh nhờ mở rộng làm ăn theo kinh tế thị trường. Nếu Trung Quốc gây khó khăn về kinh tế, Việt Nam sẽ vượt qua, nhờ sự trợ giúp của Hoa Kỳ và các nước tư bản có đầu tư tại Việt Nam.

Về chính trị, Trung Quốc cũng khó tạo biến cố gây bất ổn chính trị cho Việt Nam. Vì một khi chọn Mỹ và các cường quốc tư bản làm đồng minh, thoát khỏi sự kềm kẹp của Trung Quốc, chế độ sẽ tạo được sức hậu thuẫn mạnh mẽ của toàn dân, tình hình chính trị sẽ ổn định và ngày càng được củng cố, sẽ vô hiệu hóa mọi thủ đoạn của Bắc Kinh nhằm phân hóa nội bộ, gây bất ổn chính trị và xáo trộn xã hội Việt Nam.

III/- Kết luận

Tóm lại, nếu Việt Nam chọn Hoa Kỳ làm đồng minh, Trung Quốc sẽ không thể thực hiện đối sách năm 1979 với Việt Nam, sau khi Việt Nam ngả theo Liên Xô. Vì tình hình Việt Nam và cục diện thế giới đã thay đổi. Tư thế và nội lực Hoa Kỳ ngày nay khác tư thế và nội lực Liên Xô ngày xưa. Trung Quốc chắc cũng đã hiểu rõ điều đó và có đủ khôn ngoan để có một đối sách khác hơn năm 1979 đối với Việt Nam vì quyền lợi thiết thân của mình.

Nếu các nhà lãnh đạo đảng và nước Việt Nam hiện nay không chọn Hoa Kỳ làm đồng minh, thì họ sẽ bị mất cơ hội ngàn năm một thuở để thoát khỏi sự kềm kẹp bao lâu nay của Trung Quốc và họa mất nước chỉ còn là vấn đề thời gian. Đảng CSVN sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước quốc dân và lịch sử Việt Nam.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Posted in chính trị, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , | Leave a comment

Trần Trung Đạo : Lãnh đạo CSVN trong quan hệ Mỹ Trung

Nguồn danlambaonguyenphutrong-haman-US-danlambao.jpg
Trần Trung Đạo (Danlambao) – Người dân Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, rất quan tâm đến vận nước nhưng đa số sống trong tâm trạng chờ đợi. Chờ đợi người yêu nước và nhiều khi cũng chờ đợi cả kẻ bán nước. Chờ đợi đồng minh và chờ đợi luôn kẻ thù. Mỗi tin tức chính trị là cơ hội để những người chờ đợi bàn thảo, suy diễn theo ước muốn và quan điểm chủ quan của mình. Chuyến đi của Nguyễn Phú Trọng gây nhiều bàn thảo trước khi y đi, phân tích khi y đến, dự đoán những gì sẽ xảy ra sau khi y về.

Nhưng rồi, cũng như bao nhiêu chuyến đi trước của các lãnh đạo CS, sẽ không có gì thay đổi cả. Ngoài Biển Đông, máu của ngư dân Việt Nam đã đổ và sẽ tiếp tục đổ. Trong lòng biển, nguồn dầu khí Việt Nam ngày càng bị vét cạn. Trên đất liền, tài nguyên thiên nhiên bị Trung Cộng khai thác sẽ còn tiếp tục bị khai thác. Chuyến đi của Nguyễn Phú Trọng không tạo ra nên một thay đổi cấp bách và tức khắc nào trong bang giao Việt Mỹ và Việt Trung bởi vì thay đổi mang tính cách mạng không phải là mục đích của y.

Mục đích chuyến đi của Nguyễn Phú Trọng

Một số nhà phân tích cho rằng sự kiện Trung Cộng vào ngày 1 tháng 5, 2014 đã đưa giàn khoan HD-981 đến cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa chỉ 17 hải lý và cách đảo Lý Sơn, thuộc tỉnh Quảng Ngãi 120 hải lý trong khi cách đảo Hải Nam đến 180 hải lý, là điểm vượt giới hạn (tipping point) mà CSVN có thể chấp nhận. Hành động bành trướng một cách lộ liễu của Trung Cộng ít nhiều đã làm cho khuynh hướng chống Tàu gia tăng trong nội bộ lãnh đạo CSVN. Trung Cộng khôn ngoan tạm thời dời giàn khoan để làm dịu tình hình.

Giả thiết Trung Cộng nhận ra và dừng lại tại điểm vượt giới hạn, rồi những gì xảy ra trước sự kiện HD-981, hàng trăm vi phạm trắng trợn luật quốc tế, nghiêm cấm đánh cá, húc đụng tàu bè và tàn sát ngư dân Việt Nam của CSTQ chẳng lẽ là trong giới hạn và được lãnh đạo CSVN chấp nhận hay sao?

Hôm 18 tháng 7 vừa qua, Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hà Nội “Về nước cũng nhận được nhiều đánh giá, gọi điện hỏi, chúc mừng, cho đây là thành công rất lớn, gọi đây là cuộc gặp gỡ lịch sử, xem ông cộng sản Việt Nam đi ra nước ngoài thế nào mà đến Phòng Bầu dục ở Nhà Trắng, đối thoại với Tổng thống Mỹ, là việc chưa từng có trong lịch sử, mà lại là hai ông cựu thù”.

Mục đích hàng đầu của Nguyễn Phú Trọng đúng là “đến Phòng Bầu dục Nhà Trắng, đối thoại với Tổng thống Mỹ”. Rất đơn giản, không có gì phức tạp như nhiều người bàn tán. Nguyễn Phú Trọng muốn chứng tỏ cho thế giới và nhất là nhân dân Việt Nam thấy Mỹ đã thừa nhận tính chính danh của đảng CS. Lần đầu tiên một Tổng Bí Thư đảng CSVN đặt chân vô Tòa Bạch Ốc. Không lạ gì trước ngày đi, mấy trăm tờ báo và các hệ thống truyền hình, truyền thanh của đảng đều nhấn mạnh đến chuyện “thảm đỏ” theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.

Tập Cận Bình, tháng Tư năm nay, đã dành cho Nguyễn Phú Trọng một buổi tiếp đón trịnh trọng ngoài sức tưởng tượng của y mặc dù trước đó đã từ chối tiếp y. Hình thức tiếp đón dù màu sắc bao nhiêu cũng không gây tiếng vang quốc tế nào vì cả hai đều là lãnh đạo của hai đảng CS. Như người viết đã trình bày trong bài trước, cách Mỹ tiếp đón Nguyễn Phú Trọng cho thấy Mỹ chỉ thừa nhận yếu tố CSVN trong xung đột Biển Đông chứ không phải thừa nhận tính chính danh lãnh đạo Việt Nam của đảng CS.

Đối với các đảng CS cầm quyền, tính chính danh vô cùng quan trọng. Tấm bình phong “giải phóng dân tộc” đã giúp cho các đảng CS ở châu Á tồn tại đến nay trong khi hầu hết các đảng CS châu Âu đều sụp đổ.

Sau biến cố Thiên An Môn, Đặng Tiểu Bình nhận ra rằng chỉ đề cao “tư tưởng Mác Lê” chẳng những không đủ mà còn là một đe dọa đối với chế độ. Để ngăn chặn các tư tưởng tự do dân chủ đang lan rộng trong giới trí thức trẻ, y chỉ thị phải chuyển hướng tuyên truyền từ chủ nghĩa Mác Lê sang chủ nghĩa dân tộc. Ngay cả đảng CSTQ cũng phải thay hình đổi dạng từ một đảng vô sản chuyên chính sang loại hình CS dân tộc. Các lãnh đạo CSVN đã và đang áp dụng gần như rập khuôn phương pháp tuyên truyền của CSTQ qua việc đưa vai trò của chính phủ nổi bật hơn vai trò của đảng và lừa gạt được khá nhiều người.

Trước ngày đi Mỹ, Nguyễn Phú Trọng đã vội vã sang Bắc Kinh triều kiến Tập Cận Bình và trấn an y. Bản tuyên bố chung giữa Nguyễn Phú Trọng và Tập Cận Bình ký ngày 8 tháng Tư năm nay mang nội dung đầu hàng, thần phục. Người đọc có cảm tưởng văn bản này ký năm 1955 khi CSVN thở nhờ bình dưỡng khí Trung Cộng chứ không phải 2015.

Đọc toàn văn bản tuyên bố giữa Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng, một người có chút ít kiến thức và nhận thức chính trị căn bản không khỏi ngỡ ngàng. Ngày nay, nhân loại đã bước đi một đoạn đường trên thiên niên kỷ thứ ba văn minh dân chủ mà Nguyễn Phú Trọng còn buông ra được những câu sặc mùi Diên An, Pác Bó như “tình hữu nghị truyền thống Việt – Trung do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng các nhà lãnh đạo tiền bối hai nước đích thân vun đắp là tài sản quý báu của hai Đảng”. Y cũng không quên những lời nịnh bợ Trung Cộng một cách lạc lõng khi nhắc lại thời kỳ Mao còn mỗi đêm nã vài ngàn viên đại pháo sang các đảo Kim Môn và Mã Tổ như “ủng hộ quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc, kiên quyết phản đối hành động chia rẽ Đài Loan độc lập dưới mọi hình thức”.

Chuyến đi Mỹ và nội dụng những lời phát biểu Nguyễn Phú Trọng tại Mỹ nếu không phải toàn văn thì cũng đại ý đã được trình bày với Tập Cận Bình. Do đó, mặc dù rất nhạy cảm trước các biến cố ngoại giao gây bất lợi cho Trung Cộng, lãnh đạo Trung Cộng không bày tỏ một thái độ bất bình chính thức nào trước chuyến viếng thăm Mỹ của Nguyễn Phú Trọng.

Biết thế nhưng tại sao Obama vẫn tiếp Nguyễn Phú Trọng?

Tại sao không? Các lãnh đạo Mỹ tiếp bất cứ chính trị gia, lãnh đạo đảng, nhà nước nào phục vụ cho chính sách đối ngoại, trong trường hợp này là bao vây Trung Cộng, của Mỹ. Augusto Pinochet của Chile, Manuel Noriega của Panama, Emílio G. Médici của Ba Tây, Mobutu Sese Seko của Congo, Hosni Mubarak của Ai Cập, Samuel Doe của Liberia và một danh sách dài của các lãnh đạo độc tài đã từng được các tổng thống Mỹ bắt tay hay chào đón tại Phòng Bầu Dục, tòa Bạch Ốc.

Chưa đầy hai năm trước ngày Muammar Gaddafi và con trai của y Mutassim Gadahfi bị giết, tháng Tư 2009, bà Hillary Clinton đã tiếp Mutassim Gadahfi tại Washington DC và ca ngợi việc tái lập quan hệ ngoại giao với kẻ đã từng bị TT Ronald Reagan gọi là “chó điên” nhưng cũng chính Hillary Clinton đã đùa giỡn với các phụ tá “Chúng ta Đến, Chúng ta Thấy, Hắn Chết!” ("We Came, We Saw, He Died!") khi được báo tin Muammar Gaddafi bị quân cách mạng giết.

Mobutu Sese Seko, một trong những tên độc tài tàn ác nhất Phi Châu, có tài sản ước lượng 5 tỉ đô do biển thủ suốt 32 năm cai trị Congo. Sau khi thăm viếng lãnh tụ CS Bắc Hàn Kim Nhật Thành về, Mobutu đã rập khuôn theo cách cai trị tàn ác của họ Kim. Y ra lịnh thay đổi tên đường, tên phố, quốc kỳ, quốc ca, và tháng 10, 1971 thay cả tên nước. Mobutu Sese Seko là một trong những nhà độc tài đã được đón tiếp trịnh trọng đến bốn lần (ba lần dưới thời Ronald Reagan, một lần dưới thời George H. W. Bush) tại Phòng Bầu Dục Tòa Bạch Ốc. Tuy nhiên, cũng chính phủ Mỹ năm 1993 đã từ chối cấp thông hành cho Mobutu vào Mỹ khi con cờ chống Liên Xô tại Phi Châu đã không còn cần thiết.

Từ “Xoay trục Thái Bình Dương” (Pacific Pivot) đến “Tái cân bằng” (Rebalance) Á Châu của Mỹ

– Thời TT Bill Clinton. Các nhà chiến lược Mỹ đã thấy nhu cầu xoay trục sang Á Châu rất sớm. Sau Chiến tranh Lạnh, quyền lợi kinh tế thương mại đã được nâng lên ngang tầm với quyền lợi về an ninh quốc gia. Bộ trưởng Thương Mại Ron Brown dưới thời Bill Clinton đã tuyên bố “Quyền lợi thương mại hiện nay ngang mức với an ninh thế giới trong chính sách đối ngoại”. Thượng Đỉnh của Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Á Châu Thái Bình Dương (APEC) vào tháng 11, 1993 tại Seattle tất cả thành viên của ASEAN, ngoại trừ Mã Lai, đều tham dự. Quan hệ mậu dịch hai chiều giữa Mỹ và các nước ASEAN vào 1996 đã lên đến 109 tỉ đô la, 57% cao hơn so với Trung Cộng và cao hơn so với Nam Mỹ hay so với Phi Châu. Việc TT Clinton đồng ý tái lập quan hệ ngoại giao với CSVN vào tháng Bảy 1995 cũng là phần trong chiến lược xoay trục sang Á Châu của Mỹ. Tuy nhiên suốt thời kỳ của TT Bill Clinton, chính sách Mỹ đối với Trung Cộng đặt nặng trên các yếu tố kinh tế thương mại hơn là quân sự. Theo kết quả thăm dò của Gallup năm 1999, 47 phần trăm số người được hỏi cho rằng TT Clinton đã đi quá xa trong việc duy trì một quan hệ xây dựng với Trung Cộng.

– Thời TT George W. Bush. TT George W. Bush thuộc đảng Cộng Hòa và bộ tham mưu của ông là những Cộng Hòa bảo thủ. Chính sách đối ngoại của TT George W. Bush được các tóm tắt bằng ba chữ ABC (Anything But Clinton) nghĩa là bất cứ chính sách nào ngoại trừ các chính sách đã được TT Bill Clinton theo đuổi. Suốt thời gian vận động ứng cử George W. Bush nhấn mạnh Trung Cộng là một đe dọa chiến lược đối với Mỹ chứ không phải là hợp tác chiến lược như TT Clinton biện hộ. Condoleezza Rice, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia và sau đó là Ngoại Trưởng thời TT Bush tố cáo “Trung Cộng đang thay đổi cán cân quyền lực theo ý họ”. Chỉ 100 ngày sau khi nhậm chức, TT George W. Bush tuyên bố “sẽ làm tối đa những gì để có thể làm để giúp Đài Loan bảo vệ chính họ” trong trường hợp bị Trung Cộng tấn công. Các tổng thống tiền nhiệm dù Cộng Hòa hay Dân Chủ đều tránh trả lời một cách dứt khoát như TT George W. Bush.

– Trung Cộng “đục nước béo cò” sau biến cố 9/11. Biến cố ngày 11 tháng 9, 2001 đã buộc chính phủ Mỹ đặt trọng tâm vào Trung Đông hơn là Á Châu Thái Bình Dương. Mỹ cũng cần hòa dịu với Trung Cộng vì muốn Trung Công nếu không ủng hộ Mỹ công khai tại Liên Hiệp Quốc và các diễn đàn quốc tế, ít ra cũng bằng lòng ngầm khi Mỹ phát động chiến tranh tại Iraq và Afghanistan. Chiến tranh Iraq là một cơ hội để Trung Cộng bành trướng Á Châu Thái Bình Dương. Yuan Peng, Giám đốc bộ phận Mỹ thuộc Viện Trung Quốc về Quan Hệ Quốc Tế Hiện Đại thừa nhận “Chúng tôi nắm lấy cơ hội để cải thiện kinh tế, cải thiện các mối quan hệ với láng giềng và cải thiện quan hệ với Mỹ”. Gọi là “cải thiện các mối quan hệ với láng giềng” nhưng thực chất là Trung Cộng gây sự với hầu hết các nước trong vùng như Nhật Bản qua vụ xung đột đảo Senkaku vào tháng Chín 2010, bắn vào tàu đánh cá Philippine và kiểm soát Việt Nam một cách chặc chẽ hơn. Chính phủ Mỹ nghĩ rằng dù sao Trung Cộng nên hành xử với tư cách một cường quốc có trách nhiệm và giữ đúng lời cam kết mà Hồ Cẩm Đào “không chủ trương độc quyền bá chủ” Á Châu Thái Bình Dương. Thực tế đã trái ngược. Từ năm 2006, Trung Cộng chi tiêu dành cho quốc phòng cao thứ năm trên thế giới và có mức gia tăng hàng năm cao hơn bất cứ quốc gia Tây Phương nào.

– Thời TT Barack Obama. Các chính sách dưới thời TT Obama bao gồm thỏa hiệp tự do mậu dịch với Nam Hàn (FTA), tham gia đàm phán TTP là bước tiếp tục đã được thực hiện từ thời TT George W. Bush. Chủ trương hiện đại hóa quân sự một cách cấp bách của Trung Cộng đã đặt ra cho các nhà làm chính sách Mỹ một chọn lựa phải cứng rắn và cụ thể hơn trước sự bành trướng quân sự của Trung Cộng.

Năm 2010 tại Hà Nội, Hillary Clinton, lúc đó là Ngoại Trưởng, tuyên bố mạnh mẽ Hoa Kỳ sẽ “chống lại việc bất cứ một quốc gia tranh chấp nào sử dụng vũ lực”. Cùng vào thời gian đó, để đánh dấu 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước, Mỹ gởi hàng loạt chiến hạm viếng thăm Đà Nẵng hay trong khu vực biển Đà Nẵng như Hàng Không Mẫu Hạm USS George Washington, khu trục hạm USS John S. McCain. Năm trước đó, khu trục hạm USS Blue Ridge USS Lassen, tàu bịnh viện USNS Mercy, hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis và cả soái hạm của Đệ thất Hạm đội USS Blue Ridge cũng thăm viếng Việt Nam. Mùa thu 2011 đánh dấu thời điểm chính quyền Obama đặt ưu tiên sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Á Châu lên hàng đầu như đã khẳng định trong diễn văn trước Quốc Hội Úc tháng 11, 2011.

Mặc dù ngân sách quốc phòng Mỹ trong tài khóa 2011, 2012 bị cắt giảm nhưng ảnh hưởng Lục Quân và Thủy Quân Lục Chiến nhiều hơn là Hải Quân. Điều đó cho thấy Á Châu-Thái Bình Dương đã được đánh giá cao trong quan điểm của các nhà chiến lược quốc phòng Mỹ. Khái niệm Trận chiến Hải Không (Air-Sea Battle) gọi tắt là ASB là một khái niệm chiến tranh mới do các chiến lược gia quốc phòng Mỹ đặt ra. Khái niệm này được nhắc đến lần đầu vào năm 2010 và là một trong những điểm được các nghị sĩ và dân biểu Mỹ quan tâm nhất. Chiến lược ASB nhắm vào hai đối tượng thù địch là Trung Cộng và Iran.

Sự kiện đưa máy bay thám thính tối tân nhất của Mỹ US P8-A Poseidon bay trên khu vực Trung Cộng đang xây đảo nhân tạo trên Biển Đông và Khu trục hạm chiến đấu USS Forth Worth cũng tiến vào khu vực Trung Cộng cho rằng thuộc chủ quyền của họ là một thể hiện của phối hợp chiến lược ASB. Hôm 18 tháng Bảy vừa qua, đích thân Đô đốc Scott Swift, Tân Tư Lịnh Đệ Thất Hạm Đội Mỹ đã bay trên phi cơ thám tính U.S. P-8A Poseidon suốt bảy giờ trong Biển Đông. Phát ngôn viên Trung Cộng phản ứng nhẹ và xem đó là một sự kiện quân sự hơn là một biến cố ngoại giao và kêu gọi Mỹ không nên chọn phe trong cuộc tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Trung Cộng và các quốc gia khác trong vùng.

Chính sách bao vây, ngăn chận (containment) của Mỹ đối với Trung Cộng

Liên Xô từng rất mạnh ở trung tâm nhưng yếu ở các vòng ngoài và đã dẫn đến tan vỡ khi các quốc gia vùng Baltic và Trung Á ly khai đòi độc lập. Các lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc luôn bị ám ảnh với các những cuộc nổi dậy như Thiên An Môn có thể xảy ra bất cứ lúc nào và bất cứ tại đâu trên lãnh thổ mênh mông và dị biệt sâu sắc về kinh tế, văn hóa, xã hội. Và cũng giống như Liên Xô, lãnh đạo Trung Cộng buộc phải đáp ứng nhu cầu chuyển hóa tự nhiên của xã hội qua các đổi mới nhưng các lãnh đạo đảng cũng không thể biết trước giọt nước đổi mới nào sẽ làm tràn ly cách mạng dân chủ.

Các nhà chiến lược Mỹ dĩ nhiên chuẩn bị cho mọi khả năng sụp đổ của Trung Cộng nhưng dù khả năng nào, chính sách bao vây ngăn chận tham vọng bành trướng của Trung Cộng vẫn là chính sách được hầu hết các tổng thống Mỹ đã và đang theo đuổi. Trong thời gian tới, Mỹ sẽ gia tăng áp lực, kể cả áp lực quân sự, từ bên ngoài để Trung Cộng một ngày sẽ tan vỡ từ bên trong, giống như các TT Mỹ từ Harry Truman đến Ronald Reagan đã thực hiện và thành công đối với Liên Xô.

Mỹ, Trung Cộng và Việt Nam là tam giác?

Trong bài báo mới đây trên The Diplomat “A Tipping Point in the US-China-Vietnam Triangle”, tác giả Alexander L. Vuving cho rằng quan hệ giữa Mỹ, Trung Cộng và Việt Nam đang thay đổi sâu sắc và ở trong thế tam giác.

Đánh giá Việt Nam dưới chế độ CS như là một quốc gia có tư thế độc lập không phản ảnh thực tế kinh tế chính trị của Việt Nam trong bang giao quốc tế. CSVN không có được vị trí của một chân kiềng hay chân vạc gì cả. Trung Quốc và Mỹ đều muốn làm thầy, làm chủ để sai khiến giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam thuận theo chính sách của họ hơn là một đồng minh thân cận.

Trong buổi tiếp xúc với “cử tri Hà Nội” hôm 18 tháng 7, Nguyễn Phú Trọng tuyên bố một cách đắc chí “Rất hay là vừa đi Mỹ về, thì Phó thủ tướng Trung Quốc cũng sang đây”. Nói vậy mà không biết mắc cỡ. Chẳng có gì hay. Việc Barack Obama tiếp Nguyễn Phú Trọng, trong chiến lược chống Trung Cộng bành trướng Á Châu cũng không khác gì khi Richard Nixon tiếp Sese Seko của Congo hay Ronald Reagan tiêp Samuel Doe của Liberia trong chiến lược chống Liên Xô bành trướng sang Phi Châu. Tất cả chỉ là những con cờ ngắn hạn của Mỹ.

Kết luận

Việt Nam hiện trong vị trí của một quốc gia độn (buffer state). Bài học từ hai cuộc chiến Triều Tiên và Việt Nam cho thấy Trung Cộng bằng mọi cách sẽ giữ quốc gia độn Việt Nam trong vòng lệ thuộc hay ảnh hưởng. Mỹ cũng biết Trung Cộng không dễ dàng thả lỏng Việt Nam nhưng với chính sách bao vây, Mỹ tiếp tục gây áp lực kể cả áp lực quân sự để Trung Cộng đến một thời điểm chín mùi cho sự tan rã sẽ tan rã từ bên trong.

Đành rằng nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Trung Cộng với 30% nhập cảng, 12% xuất cảng, 25% du khách viếng Việt Nam, nhưng Trung Cộng không phải là nước không phụ thuộc vào ai. Khoan nhắc đến các yếu tố tham nhũng có tính đảng, chủ nghĩa dân tộc tai họa, tình trạng nhân quyền tồi tệ, ô nhiễm hàng đầu thế giới, chỉ riêng nền kinh tế suy thoái do giảm đầu tư nước ngoài, mức xuất cảng các sản phẩm kỹ nghệ nặng xuống thấp, mất cân đối trong các ngành sản xuất là những vấn đề mà các lãnh đạo Trung Cộng phải điên đầu.

Giả thiết Việt Nam là một Nam Hàn, Singapore, Thái Lan, Mã Lai, Trung Cộng có thể vẫn tìm cách gây hấn, ăn hiếp nhưng không sai khiến các “lãnh đạo” như sai đầy tớ, muốn cho gặp thì gặp không muốn thì thôi như Tập Cận Bình đối xử với các lãnh đạo CSVN.

Ngoài Việt Nam, Trung Cộng chia sẻ biên giới với 13 quốc gia khác (India, Pakistan, Afghanistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan, Mongolia, Bhutan, Nepal, Miến Điện, Nga, Bắc Hàn, Lào). Phần lớn các quốc gia này nhỏ hơn Việt Nam nhiều nhưng không có một lãnh đạo quốc gia nào phải chầu chực, hầu hạ các lãnh đạo Trung Cộng như cách các lãnh đạo CSVN đã và đang làm.

Lý do Trung Cộng sai khiến lãnh đạo CSVN dễ dàng vì chúng biết rõ gan ruột của đàn em một lần phản trắc này xem quyền lợi của đảng lớn hơn, quan trọng hơn sự quyền lợi của đất nước. Duy trì quyền cai trị của đảng CS là mục tiêu tối thượng, chi phối toàn bộ chính sách đối nội và đối ngoại, ngắn hạn cũng như dài hạn của đảng CSVN.

Khi phân tích về quan hệ giữa Việt – Mỹ và Việt – Trung, nhiều nhà phân tích Tây phương bỏ sót một yếu tố có tính quyết định, đó là cơ chế chính trị. Nếu đi ngược dòng lịch sử Việt Nam cận đại, các nhà phân tích đó sẽ thấy cốt tủy của mọi xung đột chính là cơ chế chính trị CS.

Muốn đứng thế chân vạc, một quốc gia trước hết phải có vị trí độc lập trong tương quan về chính trị, kinh tế và quân sự quốc tế. CSVN không có được vị trí độc lập và sẽ không bao giờ có được vị trí độc lập khi nào đảng CS vẫn còn độc quyền cai trị Việt Nam. Để có một vị trí độc lập trong bang giao quốc tế và để tạo thế liên minh tin cậy chiến lược, Việt Nam trước hết phải là một quốc gia dân chủ.

Trần Trung Đạo
danlambaovn.blogspot.com

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Cựu tù nhân Điếu Cày kể chuyện

Nguồn danchimviet

141126003

Nguyễn văn Hải đã ngồi tù trước đây.

Ông cho biết đã bị giam nhiều ngày, tra khảo và đánh đập – và bắt phải khai tên của những người tổ chức chống Trung Quốc, những người vận động các cuộc biểu tình chống Trung quốc và nhà nước Việt Nam.

Nhưng lần này thì khác. Một nhà blogger chính trị, còn được gọi là Điếu Cày, phải đối mặt với một phiên toà xử kín tại thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 10 Tháng Chín 2008.

Tội danh của ông là trốn thuế.

Tuy nhiên, thời điểm ông bị bắt thật đáng ngờ. Điếu Cày bị bắt vào tháng Tư, nhiều ngày trước khi cuộc rước đuốc Olympic đã đi qua Việt-Nam trên đường đến Bắc Kinh.

Tội trốn thuế, theo tổ chức phi chính phủ Human Rights Watch, là một “cái cớ” để giam ông Nguyễn văn Hải không cho ông biểu tình chống Trung Quốc.

“Tôi chẳng sợ,” Nguyễn nói qua một người thông ngôn. “Tôi biết trước những rủi ro.”

Tuyên án: có tội.

Ông bị kết án 21 năm rưỡi tù. Ông cho biết ông đã ở tù sáu năm.

• • •

Sáng thứ Bảy, ông Nguyễn văn Hải, 63 tuổi, ngồi ở một băng ghế trong Công viên Tự Do Sid Goldstein (Freedom Park) ở Westminster.

Nguyễn nói một cách mạch lạc gần như thầm thì về cuộc sống của mình tại Việt Nam – về chuyện chiến đấu cho miền Bắc, về việc mở một cửa hàng điện tử vào năm 1990, và về chuyện chuyển trọng tâm của mình về việc tranh đấu cho nhân quyền ở Việt Nam.

Đã lâu Human Rights Watch lên án Việt Nam là một trong các quốc gia có thành tích tồi tệ nhất thế giới, nói rằng chính phủ “triệt tiêu hầu như tất cả các hình thức bất đồng chính kiến.”

Họ cứ bắt tôi phải nhận tội và họ sẽ đối xử nương tay với tôi”, Nguyễn nói về nhiều vụ giam giữ ông. “Nhưng tôi không làm được. Tôi đã chẳng có làm gì sai. “

• • •

Nguyễn văn Hải sinh ra tại Hải Phòng, miền Bắc Việt Nam, vào năm 1952, hai năm trước khi quân đội cộng sản lấn chiếm, khởi sự cuộc nội chiến 20 năm.

Ông đã phải chịu đựng hai mươi năm tuyên truyền: về nỗi kinh hoàng của chủ nghĩa tư bản và về những người được coi là những người láng giềng kém cỏi ở phương Nam của mình.

“Tất cả mọi thứ bị cấm tiệt,” ông nói. “Không có radio, không có TV, không có giáo dục. Giáo dục của họ chỉ là để loại bỏ chủ nghĩa tư bản.”

Ông cũng phải theo một quy luật mà tất cả các các nam giới đến tuổi phải đi quân dịch.

Từ khi ông18 tuổi cho đến khi Sàigòn sụp đổ vào ngày 30 tháng tư năm 1975, ông tiến quân về phía Nam với các đồng chí của mình.

“Tất cả những gì tôi biết là do họ nói với tôi,” ông kể.

Ngày mà Sài Gòn thất trận, ông Nguyễn bắt đầu nghỉ hai tuần ở Vũng Tàu, một thị trấn khoảng 60 dặm về phía Nam Sàigòn.

“Tôi thấy miền Nam đẹp như thế nào,” ông nói. “Mắt tôi bắt đầu mở ra. Người miền Nam đã có một cuộc sống tốt hơn. “

Một hôm, đi lang thang qua chợ ông bỗng nhìn thấy một người phụ nữ trẻ bán hàng ở một sạp trái cây với mẹ cô. Cô 18 tuổi; ông 23. Nguyễn đến bên cô và tự giới thiệu mình.

Cha cô là một đại úy trong lực lượng cảnh sát của thành phố. Hai tuần sau đó, ông đến chơi với cô gái trẻ và gia đình cô, dùng cơm tối với họ, chia sẻ những câu chuyện với họ.

“Họ lo lắng những gì cộng sản sẽ làm đối với họ,” ông cho hay. “Họ rất sợ hãi.”

Nhưng riêng ông, đó là những giây phút tuyệt vời.

“Đó là một thời gian vui sướng trong đời tôi“, Nguyễn nói, mỉm cười. “Tất cả mọi thứ trở nên xinh đẹp.”

Nhưng sau đó, điện thoại của ông reo.

Đó là ngày 11 tháng 5, năm 1975, và cấp trên của ông yêu cầu ông ‘làm việc’ cùng họ trong một phòng họp tại trụ sở chính. Ông biết chuyện gì sẽ đến.

“Họ đưa tôi đi,” ông Hải nói. “Họ đưa tôi đi vì tôi đã có liên hệ với con gái của vị Đại úy cảnh sát.”

Trong tù, Nguyễn và bạn tù của ông không được phép ra ngoài, có rất ít để ăn và bị tra tấn.

Sáu tháng sau, Nguyễn đã được thả và sau đó bị đuổi ra khỏi quân đội.

“Tôi đã đi Vũng Tàu,” ông nói. “Nhưng khi đến đó, cô gái đã biến mất. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cô ấy một lần nữa.”

• • •

Cuối cùng Nguyễn gặp một người khác và kết hôn khi ông 31. Ông dọn đến Thành phố Hồ Chí Minh, theo học điện tử và mở một cửa tiệm vào đầu năm 1990.

Ở Westminster, tại Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam, Nguyễn mô tả sự căng thẳng chuyện tham gia chính trị của ông vào năm 2000, đã bắt đầu ảnh hưởng đến cuộc hôn nhân của mình. Ông và vợ đã ly dị vào năm 2006.

Ông có một người con gái ở Canada, và một trai và một gái vẫn còn ở Việt Nam. Ông đã không gặp được họ kể từ khi ông bị bắt vào năm 2008.

Trong chín tháng qua, kinh nghiệm của ông tại Little Saigon, nơi có con số cư dân người Việt lớn nhất bên ngoài Đông Nam Á, trên nhiều phương diện cũng giống như trải nghiệm của những người đã rời Việt Nam sau khi Sài Gòn thất thủ cách đây 40 năm.

Ông đang sống với bạn bè và cố gắng xây dựng một cuộc sống mới trong khi vẫn giữ kết liên lạc với những gì đang xảy ra trên quê hương của mình.

Ông nói trên các phương tiện truyền thông người Mỹ gốc Việt về tình hình trở quê nhà – cân bằng sự giận dữ chống lại chính quyền Cộng sản với vận động chống lại sự hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông.

“Tôi không có việc làm,” ông nói. “Nhưng tôi vẫn cố gắng chăm chú vào chuyện nhân quyền tại Việt Nam.”

• • •

Chuyện bắt đầu vào năm 2000, với một trang blog.

Ông Hải đã chứng kiến ​​trong nhiều năm qua sự đói nghèo và áp bức của đồng bào của mình.

“Nếu chúng ta không tranh đấu cho họ,” ông nói, “sẽ không ai khác làm.”

Ông Hải đã viết về những gì ông chứng kiến ở Việt Nam, ông cho biết, để mọi người trên thế giới có thể nhìn thấy các vi phạm của nhà nước Việt Nam.

Ông tham gia cuộc biểu tình và chụp ảnh. Ông nói rằng ông đã nhìn thấy sự tàn bạo của cảnh sát. Ông đã giúp thành lập Hội Nhà Báo Tự do.

Hội đã bắt đầu công việc của họ vào ngày 09 tháng 9, năm 2007. Và sau đó công việc của ông – và mối nguy nan – đã bắt đầu một cách nghiêm trọng.

Hội đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc, trong đó có một cuộc biểu tình ngày 16 tháng 12, 2007, trước Đại sứ quán Trung Quốc. Sau đó, ông Hải xuống đường, trên đường đi bộ về nhà mình, Cảnh sát đã chặn ông lại.

“Tôi đã bị đánh,” ông Hải nói. “Họ xiết cổ tôi cho đến khi tôi ngất đi và quẳng tôi vào một chiếc taxi. Họ đưa tôi đến một văn phòng bắt đầu đánh đập và tra khảo tôi. “

Điều đó đã không ngăn cản được ông ta.

Có những cuộc biểu tình trong suốt tháng Mười Hai và tràn sang năm mới.

“Họ hỏi tôi ai đã tổ chức các cuộc biểu tình,” ông nói. “Cuối cùng, họ nhận ra rằng chính tôi là một trong những người tổ chức.”

Ông bị bắt, theo Human Rights Watch, ít nhất 15 lần vào khoảng tháng Chín năm 2007 và tháng 4 năm 2008, khi thời gian nằm tù dài nhất của ông đã bắt đầu.

“Thật đủ tồi tệ đủ khi chính quyền Việt Nam loại một nhà hoạt động chống Trung Quốc ra khỏi đường phố chỉ vài ngày trước khi ngọn đuốc Olympic đi qua TP Hồ Chí Minh,” bà Elaine Pearson, phó giám đốc khu vực châu Á của Human Rights Watch, cho biết trong một tuyên bố vào thời điểm đó. “Nhưng bỏ tù anh ta trong lúc đó vì một tội danh đáng nghí ngờ là một sự hèn mạt quá mức.”

Ông đã trải qua 2 1/2 năm tù, bị kẹt trong xà lim không có thời gian tập thể dục, bị chuyển từ nhà tù đến nhà tù khác nên ông không thể gặp được người thăm nuôi, phải thực hiện một cuộc tuyệt thực để phản đối chuyện bị giam của mình.

Trong khi đó, cảnh sát nhắm đến mục tiêu gia đình của ông.

“Họ sử dụng tuyên truyền chống lại chúng tôi,” Nguyễn Trí Dũng, con trai 29 tuổi của Nguyễn cho biết, trong một email. “Họ gọi gia đình tôi là những kẻ khủng bố và phản động. Hàng xóm xa lánh chúng tôi. Nhiều người nguyền rủa mẹ tôi. … Những gì họ làm thật đáng kinh tởm. “

Tháng 10 năm 2010, lính hộ tống ông Hải đến cửa của nhà tù.

“Tôi nằm tù xong thời hạn của tôi và đã bước ra khỏi nhà tù,” Nguyễn nói.

“Tại cửa trại giam, tôi đã bị bắt một lần nữa.”

Ông bị buộc tội trốn thuế – một lần nữa – và, vào năm 2012, bị kết án 12 năm tù và 5 năm quản chế.

Các quan chức Mỹ, kể cả Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton khi đó và Tổng thống Barack Obama, người đã tranh đấu cho ông.

“Chúng tôi lo ngại về những hạn chế về quyền tự do ngôn luận và phiên tòa sắp tới của những người sáng lập cái gọi là Hội Nhà báo Tự Do,” bà Clinton cho biết trong năm 2011 trong chuyến thăm Việt Nam.

Ông Hải nói Đảng viên Cộng sản tiếp tục dời ông từ trại giam này đến trại giam khác, vì vậy gia đình ông không thể tìm thấy ông. Ông kể lại: họ đã đánh đập ông và bắt ông nhận tội hoạt động phi pháp,.

Ông tiếp tục những cuộc tuyệt thực của ông, thậm chí phải vào nhà thương một lần.

Rồi một ngày kia, ông được trả tự do – đại loại là như vậy!

Ngày 21 tháng 10, ngay sau khi Mỹ nới lỏng lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam, cai tù đưa ông ra khỏi nhà tù lên vào một xe buýt.

“Tôi đã được đưa thẳng đến sân bay,” ông Hải nói. “Tôi đã được đưa lên một chiếc máy bay và gửi đi Hoa Kỳ. Tôi đã không có sự lựa chọn.”

Ông đã hạ cánh tại Mỹ, đã được cấp quy chế tị nạn của chính phủ Mỹ, và chuyển đến Westminster để bắt đầu cuộc sống mới của mình.

Ông Hải vẫn chưa được gặp lại những người thân trong gia đình mình ở Việt Nam.

“Họ sẽ không cho phép tôi,” ông nói.

Nguyên bản tiếng Anh Ocregister.com

Nguyễn Khoa Thái Anh chuyển ngữ

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Nguyễn Hải Hoành : Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại

Nguồn nghiencuuquocte

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Một số hiểu lầm về Kinh Thánh

Cho tới nay dường như vẫn có nhiều người nghĩ rằng Kinh Thánh là sách nói về giáo lý của đạo Ki-tô, thuần tuý là sách tôn giáo, chỉ dùng cho các tín đồ Ki-tô giáo mà thôi – mà tôn giáo lại là lĩnh vực nhạy cảm, ở ta quen gọi là “thuốc phiện của nhân dân”, chớ có dại mà đụng chạm tới – vì vậy ai không theo Ki-tô giáo thì chẳng cần và chớ nên đọc Kinh Thánh. Cuốn sách gối đầu giường của hơn một tỷ tín đồ và được cả thế giới không ngừng xuất bản với số lượng nhiều nhất này chưa từng thấy bán tại các hiệu sách ở ta. Báo in, báo điện tử ngại đăng các bài viết liên quan tới Kinh Thánh.

Thực ra cách hiểu như vậy là lệch lạc và bất lợi cho mọi người trong việc tìm hiểu văn hóa nhân loại và văn hóa phương Tây nói chung cũng như văn hóa Ki-tô giáo nói riêng.

Hiểu lầm nói trên có thể bắt nguồn từ bản thân tên “Kinh Thánh” đem lại ấn tượng “thần thánh”, thần bí. Đây là cái tên không chính xác, dễ gây hiểu nhầm. Thực ra sách này vốn dĩ có hai tên gốc: 1) Tên tiếng Hy Lạp là Biblia, nghĩa là “sách”; 2) Tên tiếng La Tinh là Scriptura, nghĩa là “trước tác” “bài viết”, “bản thảo” – nói cách khác, nó hoàn toàn không có chút nào ý nghĩa thần thánh. Tiếng Anh đầu tiên gọi là Biblelh, về sau thống nhất gọi là The Bible, nghĩa là sách kinh điển.

Tên sai là do ta dùng từ hoàn toàn theo Trung Quốc. Ngày xưa, khi dịch Cựu Ước toàn thư và Tân Ước toàn thư ra chữ Hán, người Trung Quốc gán cho hai cuốn sách này cái tên “Thần thánh điển phạm” (Mẫu mực thiêng liêng) và “Thiên kinh địa nghĩa” (Đạo nghĩa muôn thủa); về sau, khi in gộp Cựu Ước và Tân Ước thành một bộ sách, người Trung Quốc ghép hai chữ thứ hai lại thành “Thánh Kinh”, nghe nặng tính thần thánh, khiến người ta dễ hiểu lầm sách này chỉ là sách kinh điển của Ki-tô giáo. Quả thật, cái tên đó khi dịch sang tiếng Việt là Kinh Thánh đã nhuốm đậm màu sắc tôn giáo, thánh thần, trở nên xa lạ với cộng đồng người không theo tôn giáo.

Đây thật là một sai lầm lịch sử đáng tiếc nhưng không thể sửa được vì đã quen dùng và cảm thấy thiêng liêng. Vì thế rất ít người Việt Nam thực sự biết Kinh Thánh là gì, nội dung ra sao, có ý nghĩa thế nào đối với chúng ta. Đây là một thiệt thòi lớn về tri thức cho mọi người, nhất là thanh thiếu niên.

Sơ lược nội dung Kinh Thánh

Kinh Thánh gồm hai phần: Cựu Ước (Old Testament) và Tân Ước (New Testament), do hơn 40 tác giả viết trong suốt hơn 1.600 năm từ thế kỷ 12 trước CN cho tới thế kỷ 2 sau CN, là một tác phẩm đồ sộ, bản tiếng Việt dày tới 1.400 trang chữ khổ nhỏ.

Cựu Ước – Giao ước cũ của người Hebrew (nay gọi là Do Thái) với Thượng Đế, là Kinh điển của người Hebrew, thực tế là bộ sử của một dân tộc dẫn đầu nền văn hoá nhân loại. Từ 5.000 năm trước, người Hebrew đã sáng suốt chỉ tin một đấng tối cao duy nhất họ gọi là Jehovah tức Thượng Đế (God), được hiểu là một sức mạnh siêu nhiên sáng tạo ra tất cả (Tạo Hóa, the Creator) – khái niệm ấy ngày nay ta chưa hiểu rõ song lại chưa thể phủ nhận – chứ không thờ một thần thánh nào có nguồn gốc từ người hoặc vật.

Cựu Ước gồm 39 cuốn chia 4 phần: sách Luật pháp (5 cuốn đầu của Moses); sách Lịch sử (12 cuốn); sách Tiên tri (16 cuốn); sách Văn thơ (6 cuốn). Cựu Ước rất ít màu sắc tôn giáo, nó chứa đựng vũ trụ quan, nhân sinh quan cổ xưa nhất của nhân loại, là tài liệu vô cùng quý giá rất đáng nghiên cứu. Sách Cựu Ước nguyên văn viết hầu hết bằng tiếng Hebrew và một phần bằng tiếng Aramaic (tiếng của người Aram, tức Syria cổ), do nhiều người viết suốt từ năm 1.200 đến năm 100 trước CN và được truyền miệng từ rất lâu trước khi viết thành văn. Tuy cổ xưa như thế nhưng Cựu Ước là một văn bản có thực và tồn tại cho tới ngày nay. Chứng cớ là thời gian 1947–1956, người ta phát hiện trong các hang động gần Biển Chết (Dead Sea, ở Israel) chứa hơn 900 “sách” có viết chữ (chữ Hebrew, Hy Lạp, Aramaic) bằng dùi nung trên da cừu, gọi là Sách Cuộn Biển Chết (Dead Sea scrolls), đựng trong các bình gốm cao. Giám định cho thấy số sách này được làm vào khoảng từ năm 100 trước CN tới 70 sau CN, là những bản sao cổ xưa nhất còn tồn tại của Cựu Ước (nội dung hoàn toàn như Kinh Cựu Ước hiện sử dụng) và một số kinh điển khác của người Hebrew. Phát hiện Sách Cuộn Biển Chết có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

Tân Ước – Giao ước mới của các tín đồ Ki-tô giáo với Thượng Đế, nguyên văn viết bằng tiếng Hy Lạp, ra đời một thế kỷ sau khi xuất hiện đạo Ki-tô, tức rất muộn so với Cựu Ước, và nặng mầu sắc tôn giáo hơn; nó trình bày cuộc đời và học thuyết của Chúa Jesus. Tân Ước gồm 27 cuốn, chia 3 phần: sách Phúc Âm (5 cuốn); sách giáo lý (21 cuốn); sách Khải Huyền (1 cuốn). Số trang của Tân Ước chỉ bằng khoảng gần 1/3 Cựu Ước. Các học giả cho rằng Tân Ước được viết xong vào khoảng năm 382 sau CN.

Kinh Thánh là một bộ sách có tính tổng hợp, một bách khoa toàn thư rất hữu ích trong việc nghiên cứu nhân loại cổ đại về các mặt lịch sử, chính trị, quân sự, pháp luật, luân lý đạo đức, kinh tế, khoa học kỹ thuật, y học, văn hoá … Chưa dân tộc nào viết được bộ sử của mình một cách khái quát, hữu ích như Cựu Ước. Bộ sử này không viết nhiều về đời sống, hành vi của các vua chúa (như Sử Ký của Tư Mã Thiên), nhưng viết rất kỹ về quá trình di chuyển, các tai họa dân tộc (chiến tranh, đói kém …), các kinh nghiệm và đời sống của dân tộc này, qua đó đời sau có thể học được nhiều điều bổ ích.

Cựu Ước ghi lại đời sống mọi mặt của người Hebrew, từ việc lớn của quốc gia, dân tộc cho tới những chi tiết rất nhỏ nhặt trong ăn ở, đối nhân xử thế, thậm chí cả trong sinh hoạt tình dục, nhờ thế giúp hậu thế hiểu chính xác, chi tiết về đời sống tinh thần vật chất của họ cách đây mấy nghìn năm. Một thí dụ: phương pháp tránh thai phổ biến nhất, cổ nhất xưa nay là xuất tinh ngoài âm đạo – phương Tây gọi là Onanism – từ này có nguồn gốc trong Kinh Thánh, chương 38 “Sáng thế ký (Genesis)” “Giuđa và con dâu là Tama”.[1]

Chưa dân tộc nào biên soạn và còn lưu giữ được một tác phẩm kinh điển có giá trị như Kinh Thánh phần Cựu Ước. Thí dụ “Kinh thánh” của văn minh Trung Hoa là sách Luận Ngữ hoàn toàn không có được tính tổng hợp như vậy, chưa kể còn ra đời sau 7 thế kỷ.

Kinh Thánh còn là một tác phẩm văn học đồ sộ, di sản quý báu của nhân loại. Trong Cựu Ước có các tác phẩm văn học trí tuệ, văn học tiên tri và văn học khải huyền, là những sáng tạo của người Hebrew.

Tính chất quan trọng của Kinh Thánh

Kinh Thánh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của dân tộc Do Thái. Cựu Ước là kinh điển của đạo Do Thái, nhờ tôn giáo này mà người Do Thái dù hai nghìn năm mất tổ quốc, sống lưu vong phân tán ở khắp nơi trên thế giới, bị hắt hủi, xua đuổi, thậm chí hãm hại, tàn sát nhưng vẫn giữ nguyên vẹn được nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa và nhất là họ luôn dẫn đầu thế giới trong các hoạt động trí tuệ. Ngày ngày cầu kinh, ôn lại lịch sử khốn khổ của dân tộc mình, là cách nhắc nhở người Do Thái luôn nhớ quá khứ gian nan của mình để cố gắng vươn lên thoát khỏi nghịch cảnh. Dân tộc nhỏ bé này có đóng góp cho nhân loại nhiều hơn mọi dân tộc khác. Một thí dụ: người Do Thái chỉ chiếm 0,25% số dân thế giới nhưng họ chiếm 22% tổng số giải Nobel các loại đã trao trong thời gian 1901-2007; trong đó có 41% giải Kinh tế, 26% giải Vật lý, 19% giải Hóa học, 28% giải Y học, 13% giải Văn học, 9% giải Hòa bình.

Đối với loài người, tính chất quan trọng của Kinh Thánh không chỉ thể hiện ở chỗ nó được in đi in lại với số lượng nhiều nhất thế giới, mà còn ở chỗ được người ta quan tâm đọc và trích dẫn nhiều nhất – đây là tiêu chuẩn định lượng đánh giá một tác phẩm. Cho tới nay, Kinh Thánh đã lưu truyền mấy nghìn năm chưa bao giờ ngừng, được dịch ra 1.800 ngôn ngữ của khắp thế giới, có ảnh hưởng tới hàng tỉ người kể cả người không theo tôn giáo nào. Riêng nước Mỹ hàng năm in khoảng 9 triệu bản Kinh Thánh. Trung Quốc đã in hơn 40 triệu bản.

Kinh Thánh là nguồn cảm hứng và trích dẫn của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, lịch sử, triết học v.v… trên toàn thế giới. Từ bức tranh Bữa ăn tối cuối cùng của Leonard de Vinci, tập thơ Thần khúc của Dante, các vở kịch của Shakespeare (vở Hamlet trích dẫn Kinh Thánh nhiều nhất), cho tới tiểu thuyết Sống lại của Tolstoy, …vô số tác phẩm văn học nghệ thuật đều lấy nguồn từ Kinh Thánh. Các trước tác của Karl Marx và Engels trích dẫn Kinh Thánh hơn 300 lần, liên quan tới hơn 80 nhân vật trong đó. Tại Trung Quốc, Lỗ Tấn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn … đều trích dẫn Kinh Thánh. Ở Việt Nam, chúng ta thường xuyên kỷ niệm lễ Phục sinh, Giáng sinh …, tiểu thuyết, sách báo ta thường nói A-đam, Ê-va, Chúa,… tất cả đều có nguồn gốc từ Kinh Thánh.

Bởi vậy nếu không hiểu Kinh Thánh thì sẽ rất khó tìm hiểu văn minh phương Tây – nền móng của văn minh hiện đại, cũng rất khó hiểu về dân tộc Do Thái. Không đọc Kinh Thánh thì tất nhiên sẽ dễ nói, viết sai về các điển tích đó. Rõ ràng tất cả mọi người, nhất là người làm công tác văn hóa văn nghệ, giáo dục, xã hội … đều nên đọc Kinh Thánh.

Kinh Thánh ở Việt Nam

Có lẽ vì nghĩ rằng Kinh Thánh là sách riêng của Ki-tô giáo, tuyên truyền cho tôn giáo, nên ở ta không thấy hiệu sách nào có bán Kinh Thánh do nhà xuất bản của nhà nước chính thức phát hành rộng rãi như một tác phẩm văn hóa bình thường.

Thực ra các giáo hữu ở ta đều có cuốn Kinh Thánh do Toà Tổng Giám mục Hà Nội kết hợp Nhà Xuất bản Hà Nội in và xuất bản với số lượng lớn nhưng chỉ phát hành nội bộ giáo hữu. Cuốn Kinh này chỉ in Tân Ước nặng tính tôn giáo; Cựu Ước quan trọng hơn thì lại không được in, thật đáng tiếc. Sách khổ nhỏ cỡ bàn tay in trên giấy tốt, bìa ni lông. Ngoài ra các giáo hữu còn có sách “Kinh Thánh bằng hình” (phụ bản của báo “Công giáo và Dân tộc” in tại TP Hồ Chí Minh năm 1991, lượng in 25.000 cuốn); đáng tiếc là hệ thống phát hành của nhà nước cũng không phát hành cuốn này.

Lùng các hiệu sách cũ, người viết bài này mua được một bản Kinh Thánh toàn tập tiếng Việt, dày 1.400 trang giấy mỏng, bìa giả da, do United Bible Societies in tại Hàn Quốc năm 1995. Sách dùng cách hành văn và từ ngữ cổ, khó hiểu; phần Tân Ước dịch khác nhiều so với bản in của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.

Thiết nghĩ hệ thống xuất bản phát hành của nhà nước nên xuất bản phát hành Kinh Thánh như một tác phẩm văn hoá nghệ thuật nhằm khai thác kho tàng văn hóa vô giá này của nhân loại. Nên đưa việc học Kinh Thánh (nhất là Cựu Ước) vào chương trình giảng dạy phổ thông trung học. Cũng nên biên soạn các sách hướng dẫn tìm hiểu giá trị văn hoá lịch sử, khảo cổ … của Kinh Thánh. Việc tìm hiểu Kinh Thánh sẽ giúp chúng ta hiểu đúng đắn, toàn diện về văn minh phương Tây nói riêng và văn minh nhân loại nói chung, giúp chúng ta hoà vào dòng chảy chung của văn minh toàn cầu, đồng thời thể hiện chúng ta biết tôn trọng văn hoá tôn giáo – một thành phần rất quan trọng của văn hoá thế giới.

Đây là một việc cần làm khi Việt Nam đã gia nhập WTO, hòa vào nhịp sống chung của toàn cầu, trong đó có đời sống văn hóa

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/07/15/kinh-thanh-tac-pham-van-hoa-vo-gia-cua-nhan-loai/#sthash.nCMMyBl5.dpuf

Posted in chính trị, sách, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Hai tấm ảnh liên quan đến tin đồn Phùng Quang Thanh bị… ám…

Nguồn danlambao

tmp-danlambao.jpg
CTV Danlambao – Trong phiên họp thường kỳ của chính phủ CSVN diễn ra vào ngày 29/6/2015, ở chỗ ngồi có bảng tên Phùng Quang Thanh, xuất hiện một ông tướng khác không phải là ông Thanh. Sự kiện này đã được Danlambao đăng tảitrong bối cảnh tin đồn ông Thanh "bị mất tích" hơn 10 ngày qua. Tuy nhiên, trong một bài báo khác tường trình phiên họp chính phủ này, lại xuất hiện 1 tấm ảnh có hình ông Phùng Quang Thanh tham dự. Thế là thế nào!?

Phùng Quang Thanh: không có mặt!!!

vlcsnap-2015-06-29-19h38m14s913.png

chinhphu9999.jpg
hop%2Bchinh%2Bphu%2Bthang%2B6.jpg
Hình ảnh phiên họp chính phủ vào ngày 29 tháng 6, 2015
http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Thu-tuong-chu-tri-phien-hop-Chinh-phu-thuong-ky-thang-62015/230240.vgp

Phùng Quang Thanh: có mặt!!!

Trên trang nguyentandung.org, trong bài "Thủ tướng chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2015", thì hình ảnh sau đây được đăng tải với ghi chú dưới hình là: Thủ tướng chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2015. (Ảnh internet)

Hop-chinh-phu-6.jpg

Trong ảnh này có Phùng Quang Thanh:

tmp-danlambao.jpg

Hình chụp lại bài viết trên trang nguyentandung.org:

tmp-danlambao.jpg
http://nguyentandung.org/thu-tuong-chu-tri-phien-hop-chinh-phu-thuong-ky-thang-62015.html

Một tấm ảnh khác có mặt Phùng Quang Thanh trong phiên họp cũng được trangAn Ninh Tiền Tệ & Truyền Thông (cơ quan của hội Luật gia Việt Nam) sử dụng trong bài tường thuật lại phiên họp 29/06/2016 của chính phủ với nhan đề "Thủ tướng không hài lòng vì lãnh đạo tỉnh không biết Nghị quyết Chính phủ".

Phien_hop_Chinh_phu13_39_04_00000010_57_04_000000.jpg
http://antt.vn/thu-tuong-khong-hai-long-vi-lanh-dao-tinh-khong-biet-nghi-quyet-chinh-phu-0110114.html

Đối chiếu 2 tấm ảnh "có và không có Phùng Quang Thanh" chúng ta thấy có nhiều chỗ khác nhau và từ đó kết luận rằng 2 tấm ảnh này không thuộc vào một buổi họp cùng ngày:

tmp-danlambao.jpg

tmp-danlambao%2Bcopy.jpg
Tìm lại hình ảnh của những phiên họp chính phủ trước thì mới thấy rằng, tấm ảnh có Phùng Quang Thanh là phiên họp Chính phủ thường kỳ vào tháng 2/2015:

tmp-danlambao.jpg

Tại sao trước những tin đồn Phùng Quang Thanh mất tích, bị ám sát không hoặc chưa được kiểm chứng, cũng như không có một tuyên bố nào từ chính phủ hay Bộ quốc phòng thì lại có chuyện đưa hình ông Thanh từ phiên họp tháng 2/2015 vào phiên họp tháng 6/2015?

29.06.2015

1dlb.png
CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com

Posted in Uncategorized | Leave a comment

46 CÁCH CHỮA BỆNH BẰNG MẸO

Nguồn nguyenlandung

18/08/2014@18h19, 6599 lượt xem, viết bởi: nguyenlandung
Chuyên mục: Nhật ký

Các bạn thân mến
Một người bạn từ nước ngoài gửi cho tôi bài viết sau đây. Xin treo lên để các bạn tham khảo. Có lẽ tác giả là nhà Diện chẩn học Bùi Quốc Châu.
Nguyễn Lân Dũng






01. Bụi hoặc muỗi bay vào mắt, mắt bị cay xè:
Chớ có dụi mắt mà tổn thương đến giác mạc. Chỉ cần thè lưỡi liếm mép vài cái, nước mắt sẽ ứa ra “lùa vật lạ” ra khỏi mắt! Nên nhớ một điều: nếu bị mắt phải thì liếm mép bên trái và ngược lại.

02. Mắt nhắm không khít:
Một mắt nhắm không khít (do bị liệt dây thần kinh số 7 chẳng hạn), hơ ngải cứu bên mắt đối xứng. Ngày hơ nhiều lần, mỗi lần hơ độ vài phút, mắt sẽ dần dần nhắm khít.

03. Mũi nghẹt cứng:
Dù mũi bị nghẹt (tắc hoặc tịt) đến mức nào và đã bao lâu rồi, chỉ cần hơ ngải cứu vào đồ hình mũi trên trán – từ giữa trán (huyệt 103) đến đầu đôi lông mày (huyệt 26), độ một phút thôi, mũi sẽ thông thoáng ngay. Thật là một phép lạ đến khó tin.

04. Bả vai đau nhức, không giơ lên cao được:
Dùng đầu ngón tay trỏ gõ vài chụccái vào đầu mày (huyện 65) cùng bên đau. Vai hết đau và tay lại giơ lên cao được ngay.

05. Bong gân, trật khớp cổ tay:
Hãy bình tĩnh dùng ngón tay trỏ gõ mạnh độ vài chục cái vào sát đuôi mày cùng bên đau, cổ tay sẽ trở lại bình thường (muốn tìm điểm chính xác cần gõ, hãy lấy ngón tay miết nhẹ vào đuôi mày, thấy chỗ nào hơi lõm xuống, đấy là điểm chính xác – huyệt 100 – phản chiếu đúng cổ tay).

06. Bong gân, trật khớp vùng mắt cá chân:
Mắt cá chân bên nào bị trật khớp, hơ vùng mắt cá tay cùng bên. Mắt cá chân bị đau dù đã lâu ngày cũng lành trong vài phút. Các vận động viên quốc gia, các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp hãy nhớ lấy mẹo này để tự cứu mình và giúp người.

07. Bắp chân bị vọp bẻ (chuột rút):
Dùng cườm tay day mạnh vào bắp tay độ vài chục cái, vọp bẻ hết liền. Nhớ vọp bẻ chân bên nào thì day mạnh bắp tay bên đó.

08. Gai gót chân:
Nhớ hơ đúng điểm tương ứng bên gót chân đối xứng, chỉ vài phút thôi, gót chân hết đau liền. Hết sức cẩn thận kẻo bị phỏng.

09. Đầu gối đau nhức:
Hơ vùng khuỷu tay (cùi chỏ) cùng bên, chỉ độ vài phút đầu gối (khuỷu chân) hết đau liền.

10. Bị táo bón lâu ngày:
Dùng hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) lăn quanh miệng độ vài ba phút – khoảng độ 200 vòng, táo bón sẽ được giải quyết.

Cách lăn như sau: lăn từ mép phải vòng lên môi trên sang mép trái. Lăn tiếp vào phía dưới và giữa môi dưới rồi kéo thẳng xuống ụ cằm (hình thành một dấu hỏi lớn chiếm 3/4 quanh miệng). Nhớ lăn từ phải qua trái mới nhuận tràng, hết táo bón. Ngược lại lăn từ trái qua phải, sẽ càng táo bón hơn đấy!

11. Nhức đầu
a. Bất cứ nhức ở bộ phận nào trên đầu, mới nhức hay đã lâu, nặng hay nhẹ, chỉ cần hơ mu bàn tay trái (đã nắm lại) trên điếu ngải độ vài phút, nhức đầu như búa bổ cũng hết ngay. Nào! Thử làm xem.
b. Nếu nhức nửa đầu bên phải, hơ nửa mu bàn tay phía bên phải.
c. Nếu nhức nửa đầu bên trái, hơ nửa mu bàn tay phía bên trái.
d. Nếu nhức sau gáy, hơ phía cổ tay trên.
e. Nếu nhức đỉnh đầu, hơ ụ xương gồ cao nhất của ngón tay giữa.
f. Nếu nhức thái dương, chỉ cần hơ thái dương đối xứng 1 phút là hết ngay.
g. Nếu nhức cả hai bên thì hơ đi hơ lại.
h. Nếu nhức trán, hơ hết các đốt cuối của 4 ngón tay đã nắm lại.
i. Nếu chỉ nhức nửa trán bên phải, hơ 2 ngón tay bên phải.
k. Nếu chỉ nhức nửa trán bên trái, hơ 2 ngón tay bên trái.
l. Nếu chỉ nhức giữa trán, chỉ cần hơ 2 ngón giữa độ 1 phút là hết ngay.
k. Nếu nhức quanh đầu, hơ quanh mu bàn tay.

12. Mất ngủ
Bất kể mất ngủ vì nguyên nhân gì, xin nhớ không nên dùng thuốc ngủ vừa tiền mất vừa tật mang. Bí quyết đơn giản để có giấc ngủ ngon là: trước khi ngủ, hãy xoa đôi bàn chân cho ấm. Chân ấm là bụng ấm, thân ấm. Đó là điều kiện đầu tiên để ngủ ngon. Sau đó, dùng đầu ngón tay giữa bên trái gõ vào huyệt An thần (tức Ấn đường của Đông y hoặc huyệt 26 của Diện Chẩn – đầu đôi lông mày) độ vài phút sẽ làm nhịp tim ổn định và tinh thần được thư thái. Tay trái phản chiếu tim, Đầu ngón tay giữa phản chiếu cái đầu. Tâm và Thân an lạc – đó là những điều kiện cần thiết để ngủ ngon.

13. Sình bụng (do ăn không tiêu)
Nếu ở nhà, hãy lấy ngải cứu hơ vào rốn và quanh vùng rốn độ vài phút, bụng sẽ xẹp dần. Nếu đang ở bữa tiệc đông khách, hãy lặng lẽ đi ra ngoài đến chỗ vắng người, lăn bờ môi trên một lúc: trung tiện bùng phát, bụng hết sình ngay!

14. Bí tiểu
Người lớn hoặc các cháu nhỏ có lúc bí tiểu, hãy bình tĩnh vuốt cằm độ vài phút, “cơn bí” hết liền! Cách vuốt như sau: ngón tay cái giữ chân cằm, ngón tay trỏ vuốt ụ cằm từ trên xuống dưới nhiều lần. Bàng quang sẽ được tháo nút, nước tiểu tự do chảy (theo Diện Chẩn, ụ cằm phản chiếu bàng quang – huyệt 87). Các cụ già hay đi tiểu đêm, các cháu nhỏ hay đái dầm, trước khi ngủ độ 15 phút hãy tự vuốt cằm đi, các “tật” trên sẽ tự biến rất nhanh!

15. Nấc cụt
Đây là bệnh thông thường nhưng lại gây nhiều khó chịu, làm cho người bệnh mất ăn, mất ngủ. Ăn sao được khi vừa nâng bát cơm lên đã bị cơn nấc trào ngược rồi; ngủ sao được khi vừa nằm xuống, cơn nấc đã rộ lên âm vang khắp nhà! Có người phải nằm bệnh viện nhiều ngày mà vẫn không dứt căn. Chỉ cần làm một trong các hướng dẫn dưới đây, nấc cụt sẽ phải “đầu hàng”:
a- Dùng đầu ngón tay trỏ gõ mạnh vào đầu sống mũi nằm giữa cặp lông mày (huyệt 26 và312) độ 15 cái. Nấc cụt biến mất đến khó tin (huyệt 26 là an thần và huyệt 312 thông nghẽn nghẹt).
b- Dùng đầu ngón tay trỏ vuốt mạnh từ đầu cánh mũi bên trái xuôi xuống chân cánh mũi độ 10-15 cái. Nấc cụt chịu phép phải nằm im, không dám ló mặt ra!
c- Dùng 4 đầu ngón tay (từ ngón trỏ đến ngón út co sát lại với nhau thành một đường thẳng) vạch dọc giữa đầu (từ trán ngược lên đỉnh đầu) độ 15 cái là hết nấc cụt! Xin hãy thử làm xem!

16. Đau bụng
Có thể khỏi nhanh bằng một trong những cách chữa đơn giản sau:
a- Hơ (bằng điếu ngải) hai lòng bàn tay độ 10 phút.
b- Hơ hai lòng bàn chân độ 10 phút.
c- Hơ rốn và lấy tay lăn quanh miệng.

17. Đau tử cung:
a- Gạch rãnh nhân trung từ đầu rãnh (sát mũi) đến cuối rãnh (sát bờ môi trên) nhiều lần.
b- Gạch hai bờ nhân trung và bờ môi trên nhiều lần.

18. Đau đầu dương vật:
Chỉ cần hơ đầu mũi độ 1 phút, đầu dương vật sẽ hết đau.

19. Đau khớp háng:
Gạch và hơ đường viền cánh mũi một lúc, khớp háng hết đau. Nhớ đau khớp háng bên nào thì gạch đường viền cánh mũi cùng bên.

20. Đau gót chân:
Hơ và gõ gót chân đối xứng độ vài phút, gót chân đang đau hết ngay.

21. Đau bụng kinh:
Hãy vuốt môi trên vài phút, đau bụng kinh hết liền.

22. Ho ngứa cổ:
a- Chà xát hai cổ tay vào nhau nhiều lần. Nhớ hai bàn tay phải nắm lại đã trước khi cọ xát vào nhau.
b- Hơ cổ tay trong của bàn tay trái đã nắm lại vài phút, ho và ngứa cổ hết rất nhanh. Xin chú ý, bàn tay trái nắm lại, lật úp xuống: mu bàn tay phản chiếu đầu não, cổ tay phản chiếu cổ gáy. Bàn tay trái nắm lại, lật ngửa ra: lòng bàn tay phả chiếu trái tim, cổ tay phản chiếu cổ họng.

23. Huyết áo cao:
Hãy lấy đầu ngón tay út bấm vào huyệt (huyệt 15) nằm sâu sau loa tai bên trái nhiều lần (độ 1 phút), huyết áp sẽ hạ liền.

24. Huyết áp thấp:
Vẫn dùng đầu ngón tay út bấm sâu vào huyệt (huyệt 19) đầu nhân trung sát với mũi nhiều lần, huyết áp sẽ được nâng lên liền.

25. Huyết trắng:
Dùng hai đầu ngón tay – ngón trỏ và ngón giữa – để nằm ngang chà xát hai bờ môi một lúc.

26. Bế kinh:
Dùng lăn đôi lớn lăn xuôi từ rốn xuống háng cho đến khi bụng nóng lên. Ngày lăn nhiều lần; độ 3-5 ngày, kinh nguyệt sẽ trở lại bình thường.

27. Lẹo mắt (lên chắp)
Chỉ cần bấm vào chân mụn lẹo vài lần, mụn lẹo sẽ tiêu rất nhanh. Nhớ phát hiện càng sớm, chữa càng khỏi nhanh.

28. Liệt mặt (Thần kinh số 7 ngoại biên)
Chỉ cần nhìn qua bên mặt bị liệt đã thấy hai triệu chứng rõ rệt: mắt nhắm không khít và một bên mép bị méo xệch xuống. Cách chữa hết sức đơn giản đến mức khỏi rồi mà vẫn tưởng như nằm mơ. Nhanh độ 3 ngày, chậm độ 7 ngày là khỏi.
a. Lấy điếu ngải cứu đốt hơ bên mắt lành độ vài phút, mắt có bệnh cứ từ từ nhắm lại. Mỗi ngày hơ vài lần, mắt nhắm lại dần dần.
b. Lấy tay hoặc lăn đôi nhỏ (trong bộ dụng cụ lăn, day huyệt) lăn chéo từ mép bị méo lên phía đỉnh tai. Ngày lăn nhiều lần, mỗi lần lăn độ vài phút. Chẳng bao lâu mép sẽ được kéo lên cân bằng với mép lành.

29. Mắt không di động được
Chỉ cần gõ vài chục lần vào huyệt nằm ở phía trước và dưới bình tai, mắt sẽ chuyển động bình thường. Huyệt này nằm ở ngay chỗ lõm sát bình tai, khi há miệng là sờ thấy ngay. Đây là huyệt số 0 của diện chẩn và đồng thời cũng là huyệt Thính hội của Đông y.

30. Đắng miệng
Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào huyệt lõm kề sát bên dưới môi dưới (huyệt 235) độ vài chục cái, miệng hết đắng liền!

31. Hàm mặt đau cứng (Thần kinh số 5)
Lấy điếu ngải cứu hơ mặt ngoài ngón tay cái (cùng bên đau) từ ngón đến giáp cổ tay. Nhớ khi hơ bàn tay phải xòe ngửa ra. Chỉ cần hơ độ vài phút, hàm mặt đau cứng sẽ mềm dần và trở lại bình thường.

32. Hắt hơi liên tục
Sẽ hết ngay trong 1 phút nếu biết lấy ngải cứu hơ dọc từ giữa trán (huyệt 103) thẳng xuống đến giữa đôi lông mày (huyệt 26).

33. Ho khan lâu ngày
Lấy ngải cứu hơ hai bên sườn mũi, hai bên mang tai (từ đỉnh tai xuống đến dái tai), cổ tay trong (của bàn tay trái đã nắm lại) và trực tiếp cổ họng.

34. Hóc (hột trái cây, xương)
Bấm hoặc gõ vào huyệt sát đầu nhân trung (huyệt 19) nhiều lần.

35. Các khớp ngón tay khó co duỗi
Lấy ngải cứu hơ đầu xương các đốt ngón tay rồi lăn, vê các đốt đó nhiều lần.

36. Mắt quầng thâm
Lấy ngải cứu hơ trực tiếp vào mắt, quầng thâm sẽ tan dần.

37. Buồn ngủ nhíu mắt lại
Vò hai tai một lúc là tỉnh ngủ liền.

38. Nhảy mũi
Lấy ngón tay trỏ cào từ cửa lỗ mũi xuống đến môi vài chục cái là hết nhảy mũi!

40. Quai bị
Bấm huyệt ngay sát dái tai bên sưng (huyệt 14) rồi hơ dái tai đối xứng độ vài phút. Ngày làm nhiều lần, quai bị tiêu rất nhanh.

41. Nhức răng
Hơ ngải cứu quanh vùng má bên đau độ 1 phút, răng hết nhức liền.

42. Mắt đỏ
Gạch đầu gan bàn tay dưới 3 ngón tay giữa độ vài phút, mắt đỏ hết rất nhanh. Nhớ mắt đỏ bên nào, gạch bàn tay cùng bên.

43. Mắt nhức
Hãy dùng đầu ngón tay trỏ cào đỉnh tai (huyệt 16) bên mắt nhức độ một lúc, mắt hết nhức liền.

44. Mắt nháy (giật)
Dùng đầu ngón tay trỏ cào vào phần dưới (huyệt 179) của đầu lông mày bên mắt bị nháy một lúc, mắt sẽ hết giật.

45. Tê lưỡi, cứng lưỡi
a- Hơ ngải cứu xong rồi vê ngón tay cái bàn tay trái một lúc, lưỡi hết tê.
b- Gõ vào huyệt sát trên dái tai độ 1 phút, hết cứng lưỡi.

46. Khan tiếng
a- Chà xát vùng gáy cho nóng lên độ vài phút là hết.
b- Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào vùng trước dái tai nhiều lần trong ngày





Posted in xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Đoan Trang : Quan chức hãy học hỏi thêm về luật pháp và trách nhiệm giải trình

Nguồn doantrang

Friday, June 26, 2015

Như tin mà nhóm Vì Một Hà Nội Xanh đã đưa, vào chiều 23/6/2015, Phòng Tiếp Công dân UBDN TP Hà Nội đã mời hai đại diện của nhóm đến làm việc – nguyên văn thư mời là “trao đổi về nội dung đơn của Ông, Bà gửi UBND TP (ghi ngày 28/5/2015), liên quan đến việc chặt hạ, thay thế cây xanh”.

Ngay từ đầu cuộc trao đổi kéo dài hơn một tiếng này, phía các quan chức của UBND đã tỏ rõ tâm lý muốn lấn át, bắt nạt hai người dân đại diện cho một nhóm dân sự đang bị coi là “phản động” hoặc “bị thế lực thù địch giật dây”. Đó là khi ông Phó Chánh Văn phòng UBND TP Phạm Chí Công tung đòn phủ đầu: “Theo Điều 6, Nghị định 90 (tức là Nghị định 90/2013/NĐ-CP ngày 8/8/2013, quy định về trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao – NV), điều kiện để cơ quan nhà nước giải trình là vấn đề phải trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có đề nghị. Cho nên với cái nội dung này, chúng tôi không giải trình”.

Trong toàn bộ cuộc nói chuyện, ông cũng thường xuyên lặp đi lặp lại ý đó với thái độ kẻ cả và miệt thị người đối thoại: “Anh chị cùng một số người dân dùng từ này trên đơn là không đúng pháp luật”, “Anh chị đọc Nghị định 90 mà anh chị không nắm đúng tinh thần nên chúng tôi giải thích cho anh chị rõ”, “Đề nghị các anh chị nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật để có kiến nghị, phản ánh đúng quy định”, v.v.

Ở đây, tạm không bàn đến vấn đề thái độ của một quan chức trong khi tiếp dân, thì vẫn phải nhận xét rằng ông Phạm Chí Công nói riêng và các đại diện của chính quyền nói chung trong cuộc tiếp dân ngày 23/6 đã phạm nhiều sơ hở và sai lầm nghiêm trọng trong lập luận, cho thấy hiểu biết còn hạn chế của họ về pháp luật và hành chính công.

tiepdan.jpg
"Tiếp dân": Mời các anh chị đi ra!

Lập luận 1: Về yêu cầu “phải liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp”

Điểm chính yếu mà UBND TP Hà Nội bám vào để bác bỏ việc trả lời văn bản yêu cầu giải trình của nhóm Vì Một Hà Nội Xanh là “Điều 6, Nghị định 90/2013/NĐ-CP” về điều kiện tiếp nhận đơn, theo đó “nội dung yêu cầu giải trình liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu giải trình”.

(Xin nhắc để Ban Tiếp Công dân sửa lại là Nghị định này được ban hành ngày 8/8/2013 chứ không phải ngày 17/7/2013 như quý Ban đã ghi sai trong biên bản làm việc).

Vậy, mấu chốt ở đây là phải làm rõ xem việc chặt hạ, thay thế cây xanh có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân đứng tên yêu cầu giải trình hay không. Nói chung, không khó khăn gì lắm để gần 70 người có tên trong văn bản yêu cầu giải trình chứng minh được sự tồn tại của cây xanh Hà Nội có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của họ, ví dụ họ có thể chỉ ra rằng họ sinh sống ở thủ đô, họ thường xuyên phải ra ngoài đường, và cây xanh ít nhất thì cũng có tác dụng che mưa che nắng cho họ, lớn hơn nữa thì mang lại bầu không khí trong lành cho đô thị, làm đẹp cảnh quan, và họ cũng có quyền được hưởng những lợi ích đó. Chặt hạ cây tác động xấu tới môi sinh; còn thay thế cây thì rõ ràng thay những cây bóng mát lâu năm bằng những cây khẳng khiu trụi lá cũng tương đương một sự phá hoại. Điều đó ảnh hưởng tới lợi ích của ít nhất 70 con người và là ảnh hưởng trực tiếp, vì mọi hoạt động sinh sống, hít thở, đi lại… đều chịu tác động trực tiếp từ môi trường, từ không khí mà cây xanh giúp lọc, không thông qua trung gian nào.

Vấn đề ở đây là, nếu 70 người đứng đơn nói rằng việc chặt cây có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, còn UBND – cơ quan hành pháp – bảo rằng không có liên quan gì cả, thì ai, cá nhân hay tổ chức nào sẽ là nơi phân giải?

Ở một nhà nước pháp quyền, điều này được quyết định bởi tòa án hay nói cách khác, quyền giải thích pháp luật thuộc về cơ quan tư pháp. Và ta cũng có thể thấy ngay, là trong một xã hội văn minh thì nhận thức thông thường, lẽ phải thông thường (common sense) sẽ đứng về phía người dân trong trường hợp này mà thừa nhận rằng chặt hạ, thay thế cây xanh là gây thiệt hại trực tiếp đến dân.

Ở Việt Nam thì không thế. Việc giải thích pháp luật hiện nay thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tức là nhánh lập pháp chứ không phải tư pháp. Đây là một bất cập, một khuyết tật của hệ thống, bởi cơ quan lập pháp giữ quyền giải thích những văn bản do chính họ vẽ ra, cũng giống như vừa đá bóng vừa thổi còi, hay một phóng viên vừa viết bài vừa tự đăng bài, không cần biên tập viên vậy.

Trong vụ cây xanh, thực tế của cuộc gặp hôm 23/6 còn tệ hơn thế nữa.

bien%2Bban.jpg
Nghị định 90/2013/NĐ-CP ra ngày 8/8/2013 chứ không phải 17/7/2013, thưa các quan/công chức.

Lập luận 2: Dân không có quyền chất vấn hay yêu cầu giải trình

Đây là một lập luận lố bịch khác của các quan chức UBND TP. Họ dẫn và tự ý diễn giải Điều 6 Nghị định 90 đã là sai, và còn sai hơn khi mà lẽ ra, họ phải dẫn Điều 3:

Điều 3. Giải thích từ ngữ. Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Giải trình là việc cơ quan Nhà nước cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó.
2. Người yêu cầu giải trình là cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải trình về những nội dung liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

Căn cứ Khoản 2, Điều 3, có thể khẳng định: Cá nhân (tức công dân) có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước giải trình.

Vừa làm sai thẩm quyền, vừa “cả vú lấp miệng dân”

Như đã nói ở trên, quyền diễn giải pháp luật, ở Việt Nam, thuộc về Ủy ban Thường vụ Quốc hội. (Thực ra điều này cũng không phải nhà nước Việt Nam tự nghĩ ra, mà họ học từ mô hình của ông anh Trung Quốc, và có lẽ đây cũng là đề tài tốt cho các nhà phân tích, nhưng nó nằm ngoài khuôn khổ bài viết).

Khoản 2, Điều 74 Hiến pháp Việt Nam (2013) quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: “(…) Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh”.

Hiến pháp và luật pháp Việt Nam không quy định ai là người có quyền giải thích nghị định, thông tư, quyết định của các loại UBND cấp huyện/xã. Do vậy, UBND TP Hà Nội cũng có thể lấy đó làm lý do để bảo rằng Ủy ban Thường vụ Quốc hội không phải là cơ quan giải thích Nghị định 90.

Tuy nhiên, vấn đề là Nghị định 90 lại được xây dựng căn cứ vào Luật số 27/2012/QH13 (là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, Chống tham nhũng). Điều 6 của Nghị định 90 là sự hiện thực hóa, cụ thể hóa Điều 32a của Luật số 27/2012/QH13 về trách nhiệm giải trình:

Điều 32a. Trách nhiệm giải trình
Khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải giải trình về quyết định, hành vi của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao trước cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích hợp pháp bị tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó.
Chính phủ quy định chi tiết về trách nhiệm của cơ quan có nghĩa vụ giải trình; trình tự, thủ tục của việc giải trình.

Nói cách khác, Nghị định 90 là sự hiện thực hóa Luật số 27/2012/QH13. Do đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn giữ thẩm quyền giải thích Nghị định 90 và là cơ quan duy nhất có thẩm quyền đó.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới là nơi tuyên bố việc chặt hạ, thay thế cây xanh tác động trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của dân, chứ không phải cơ quan hành pháp (UBND, TTCP) của ông Phạm Chí Công hay các ông bà có mặt trong cuộc gặp ngày 23/6.

Cho nên, cần phải khẳng định rằng việc các ông bà đại diện cho UBND TP tự ý diễn giải Nghị định 90 để dùng nó bác bỏ văn bản yêu cầu giải trình của nhóm Vì Một Hà Nội Xanh, là sai thẩm quyền, vượt thẩm quyền.

Ai cho phép họ làm điều đó?

Ngay trong nội bộ hệ thống hành pháp, UBND cũng không có quyền giải thích luật, khi mà họ chỉ là đơn vị hành chính cấp dưới. Họ không có quyền tự ý giải thích các quy định của cơ quan cấp trên – trong trường hợp này là chính phủ, cơ quan làm ra Nghị định 90.

Nền luật pháp Việt Nam sẽ ra sao nếu mỗi UBND tỉnh trên cả nước đều tự ý giải thích một nghị định theo hướng có lợi cho họ?

Đó là chưa kể, ngay cả chính phủ cũng không có quyền giải thích luật do chính nó ban hành. Trong một nhà nước pháp quyền, đó là công việc của tư pháp. Nếu Việt Nam tự nhận mình là nhà nước pháp quyền thì hãy để tòa án có thêm vai trò và sự độc lập.

tiep%2Bdan%2B2.jpeg
"Tiếp dân".

Đối thoại với dân khó thế sao?

Trong vụ cây xanh, nếu vấp phải một văn bản yêu cầu giải trình từ phía người dân, việc đúng mà UBND TP Hà Nội lẽ ra nên làm là gửi văn bản đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội và/hoặc cơ quan ban hành nghị định diễn giải giúp nó xem trường hợp này là ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của dân (và theo lẽ phải thông thường thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ phải trả lời một cách công bằng, là việc chặt cây gây ảnh hưởng trực tiếp).

Còn những việc sai mà UBND TP Hà Nội đã làm, là:

  • Tự ý diễn giải luật pháp, sai thẩm quyền, vượt thẩm quyền cho phép;
  • Diễn giải sai luật;
  • Tự ý bịa ra chuyện “dân chỉ có quyền đề nghị, kiến nghị, tố cáo, phản ánh; không có quyền chất vấn hay yêu cầu giải trình”;
  • Tự ý bịa ra chuyện “người dân thực hiện quyền quản lý nhà nước của mình thông qua đại diện; thứ nhất là quốc hội, thứ hai là đơn thư phản ánh, kiến nghị, và việc trưng cầu ý dân”: Không biết lý thuyết này mọc ra từ đâu vậy, thưa các vị quan chức và công chức của UBND TP Hà Nội? Trưng cầu dân ý là “thông qua đại diện” ư?
  • Cậy số đông và cậy quyền thế để “cả vú lấp miệng em”, bắt nạt dân thường.

Với từng ấy sai phạm và thiếu hiểu biết, có lẽ UBND TP cũng khó mà học được gì thêm trong chuyện thái độ và cung cách ứng xử với dân – vốn là việc đòi hỏi một sự tinh tế và trình độ nhất định.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment