Đến đã đủ lâu! Giờ cũng sẵn sàng để… ra đi! (… về với Chúa)

- Phổ biến thông tin đa chiều, và lên tiếng vì những bất công xã hội là việc làm cần thiết và đúng đắn. – Tự do thông tin là bước khởi đầu để có được dân chủ thực sự, giúp đưa đất nước đi lên và thoát khỏi khốn khó đói nghèo.

– Đừng lầm lẫn giữa : thứ tha những lỗi lầm đã qua, với việc nuôi dưỡng những sai phạm đang diễn ra để chúng cứ tiếp tục tồn tại và trầm trọng hơn nữa! – Đó là ác chứ không phải ái!

– Đừng để bị nhập nhằng giữa “Đất Nước, Tổ Quốc” với đảng cầm quyền! “Đất Nước, Tổ Quốc” là mãi mãi, còn đảng cầm quyền chỉ là nhất thời!

Theo dõi các links tin từ twitter, được cập nhật thường xuyên ở cột phải

Posted in khề khà | Tagged , | 1 Comment

Chia tay NS. Nguyễn Đức Quang – Post lại nhân ngày giỗ anh 27-3-2011

Nguồn saigonocean

Lời Cuối Gởi Đến Anh:

Vĩnh Biệt Nguyễn Đức Quang!

Lời Mở Đầu:

Sau khi được tin nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang lặng lẽ ra đi, ngày 28 tháng 3, 2011, tôi có kêu gọi những anh chị em (ACE) trong nhóm liên diễn đàn với nhóm Tình Nghệ sĩ để lấy những cảm nghĩ về người quá cố, rồi cho vào bài viết chung tiễn đưa lần cuối. Kết quả bài hay emails gửi về ngoài 10 diễn đàn liên kết, các thân hữu từ bên ngoài gửi vào khá nhiều.

Vì nhiều ACE như Dương Viết Điền và vài ACE khác cho biết đã thức khuya đến 4, 5 giờ sáng hôm sau để viết gấp cho xong bài, và nhiều thân hữu nhắn khi gửi là lời phân ưu, những cảm nghĩ đưa tiễn gồm kỷ niệm gửi qua internet không nên cắt xén bài của họ, và dịp tiễn đưa này chỉ có một lần thôi, do lời yêu cầu đó, tôi xin giữ trọn bài, trừ vài bài được cho qua trích đoạn được đăng y như vậy.

Vào….

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang thật sự không xa lạ với dân chúng ở miền Nam Việt Nam hay Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, bên ngoài được nhận diện là một nhạc sĩ, anh cũng là một nhà báo, một Huynh trưởng Hướng Đạo Việt Nam và những phạm vi khác nữa, chung qui là người có nhiều tài năng và đức độ.

Tôi có hai dịp chuyện trò với anh, cảm giác khi tiếp xúc thì anh là người vui tính, hòa nhã và cởi mở. Khoảng năm 2000 tôi đi với một người bạn là thân chủ của báo Viễn Đông, chúng tôi được anh tiếp, chuyện trò thế sự trước và sau năm 75, sinh hoạt âm nhạc và báo chí quận Cam, lần sau khi cùng đi với nhạc sĩ Dương Viết Điền xuống OC gặp anh Phan Nhật Nam, rồi anh Vương Trùng Dương, xong ghé vào Viễn Đông lấy báo và tiếp xúc với anh Quang. Tôi không có kỷ niệm trực tiếp với anh Nguyễn Đức Quang nhiều, nhưng có kỷ niệm đặc biệt với nhạc của anh. Vào những năm cuối của VNCH, Trung Cộng và Hoa Kỳ có những thỏa hiệp trao đổi ngầm, Đệ thất hạm đội của xứ Đồng minh án binh bất động khi hải quân Trung Cộng tiến đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19-01-1974. Tin chiếc HQ-10 của hải quân VNCH bị đánh chìm, anh chị em sinh viên trường đại học Minh Đức chúng tôi xuống đường biểu tình chống Trung Cộng. Cái đau đớn, tủi nhục cái uất nghẹn căm hờn khi bên ta thua trận chỉ bởi vì địch thủ là một con khủng long hung ác, một thứ king kong vạm vỡ lấy thịt đè người, qui luật của sự kiện mạnh được yếu thua, tôi đau khổ chứng kiến cảnh những chị em yếu lòng khóc ròng, các sinh viên trẻ sôi sục nỗi uất ức, loa phóng thanh tố cáo cả hai loại giặc, giặc trong Việt Cộng và giặc ngoài Trung Cộng. Giặc trong ngu xuẩn, mà giặc ngoài tham lạm, và rồi nhạc của Nguyễn Đức Quang tiếp vang niềm tin cho tuổi trẻ chúng tôi, để tiếng nói bất khuất cùa anh chỉ em chúng tôi, lòng yêu nước dâng tràn khi đồng ca bài "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ".

Từ sau biến cố 1974 về quần đảo Hoàng Sa, bài ca này khơi lòng tuổi trẻ Việt Nam khi bờ cõi lâm nguy bởi ngoại bang, đặc biệt bọn Đại Hán bắc phương. "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" nhắc nhở cho tuổi trẻ niềm hãnh diện khi nhớ về những gương anh hùng hào kiệt xa xưa trong lịch sử bất khuất, có những Lý Thường Kiệt, Ngô Quyền, Trưng Triệu, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng hay Quang Trung Đại Đế,….Năm 2007 gần đây khi Trung Cộng ngang nhiên sát nhập hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa vào bản đồ của họ, Bắc Kinh chính thức hóa sự việc thành lập huyện Tam Sa trực thuộc đảo Hải Nam. Người Việt Nam, đặc biệt tuổi trẻ Việt Nam khắp nơi từ trong xứ ra hải ngoại tràn xuống đường căm phẩn, phản đối rợ bá quyền Đại Hán côn đồ ngang ngược và rồi "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" lại vang lên trong các buổi biểu tình bày tỏ nỗi quan tâm lo lắng vì tiền đồ dân tộc bị lâm nguy.

RFA link:

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/music-for-the-weekend-TNga-06292008221713.html

Tôi suy nghĩ trong lời phát biểu cảm nghĩ của nhạc sĩ Trần Trung Đạo trong bài viết "Khi Bài Hát Trở Về" rất chí lý như sau:

"Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.", và cũng theo ý kiến của ca sĩ Thanh Lan, một trong các tác giả thân hữu góp bài và hát nhạc Nguyễn Đức Quang viết là "…một Việt Nam quê hương ngạo nghễ. Anh có cái ý chí mạnh mẽ và trong sáng của một anh hùng dân tộc. Một bài hát của anh có hiệu quả hơn ngàn viên đạn đồng."

Thật vật, nếu tướng Nguyễn Khánh ví von một ngòi bút lợi hại bằng một sư đoàn địch quân, thì một bài hát này của Nguyễn Đức Quang vang dội khắp nơi nơi khơi dậy tiếng lòng yêu nước cho hàng triệu con tim Việt Nam diễn ra trong nhiều thế hệ nối tiếp chống ngoại xâm. Tôi cho đây là một món quà quý báu của người nhạc sĩ tài hoa ra đi để lại cho hậu thế một gia tài vĩ đại, mà gia tài đó không đo bằng tiền bạc, và gia tài đó không đo bằng súng đạn, mà đo bằng sức mạnh của triệu triệu con tim yêu thương Việt Nam.

Xin cám ơn anh Nguyễn Đức Quang đã cho một gia tài to tát, vĩnh cửu theo thời gian mà anh để lại cho ngàn sau… Cầu chúc anh thượng lộ bình an về cõi trên. Từ nay chúng ta sẽ chia tay, âm nhạc sử sẽ không quên anh, văn học sử sẽ không quên anh, sách lỉch sử Việt Nam sẽ ghi tên anh qua yếu tố nhạc hùng chống ngoại xâm, và chúng tôi tiếp tục ca khúc Việt Nam ngạo nghễ, Việt Nam kiêu hãnh, và Việt Nam vinh quang mãi mãi…trong từng con tim vì Việt Nam, cho Việt Nam và của Việt Nam, mà một trong những quan tố chính yếu là anh, Nguyễn Đức Quang, của "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ"…

Xin chào vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang!

Trần Việt Hải, Los Angeles

Phụ chú:

Khi bài hát trở về, Trần Trung Đạo:

http://www.baocalitoday.com/index.php?option=com_content&view=article&id=798:khi-bai-hat-tr-v&catid=5:vn-ngh&Itemid=53

(theo website của Nguyễn Xuân Nam)

image001.jpg

Link nhạc Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, Nguyễn Đức Quang

http://community.vietfun.com/showthread.php?t=318435

Lời : Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ

Nguyễn Đức Quang

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

Lê sau bàn chân gông xiềng cuộc đời xa xăm

Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang!

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người

Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi

Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi

Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian!

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại

Xương da thịt này cha ông miệt mài

Từng ngày qua,

Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức khôn nguôi!

Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang

Trên bàn chông hát cười đùa vang vang

Còn Việt Nam,

Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng!

Lời 2 :

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng

Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm

Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi

Ôm vết thương rỉ máu, ta cười dưới ánh mặt trời

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người

Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam

Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian

Hỡi những ai gục xuống trỗi dậy hùng cường đi lên!

oOo

Cháu hướng đạo Bùi Bảo Kim, của LĐ Hướng Đạo Thăng Long, Arlington, Virginia, là tác giả bé nhất xin tiễn đưa chào vĩnh biệt bác Trưởng Nguyễn Đức Quang.

You are true Scout Leader, Friend and Inspiration for many of us.

You’re the best, Bác Quang.

And I will miss you…

Bùi Bảo Kim

LĐ Hướng Đạo Thăng Long

Arlington, Virginia.

Thành Kính Phân Ưu

Bùi Mạnh Hùng, DC

image002.jpg

Tác giả Mỹ Thanh viết bài "Mãi mãi một Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ", bài khá dài với nhiều chi tiết về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang như sau:

“Lần này đây thì chúng ta đã thật sự phải chào biệt người nhạc sĩ của “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.” Ông đã ra đi vào ngày Chủ Nhật 27/3/2011, vẫn chưa nhìn được một Việt Nam ngạo nghễ như những lời ca viết từ trái tim của ông, cũng là tiếng lòng của hàng triệu thanh thiếu niên Việt Nam qua bao thế hệ. Bài viết này xin được rút từ những lời tự bạch của người nhạc sĩ du ca của tuổi trẻ miền Nam một thời trong một buổi phỏng vấn dài giữa Nguyễn Đức Quang và vietyouth.net vào ngày 28/7/2006 như một nén hương chào biệt linh hồn người nhạc sĩ khả kính về chốn vĩnh hằng.

Nguyễn Đức Quang sinh quán Sơn Tây, nhưng trải suốt thời niên thiếu đến trưởng thành tại Đà Lạt. Ông tốt nghiệp Đại Học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt vào năm 1968. Và vì biến cố Tết Mậu Thân nên lứa sinh viên năm đó chưa ra trường, chưa lãnh bằng đã theo lệnh Tổng động viên vao quân trường. Đến ngày phat bằng, nhà trường phải can thiệp để các sinh viên tốt nghiệp, trong số có Nguyễn Đức Quang, rời quân trường, về lai trường dự lễ.

Sau 7 năm trong quân ngũ, ông được chuyển làm việc đúng với sở học tại Ngân Hàng Phát Triển Nông Thôn, vào năm 1974. Và sau biến cố 1975, ông vào tù cải tạo 3 năm.Sau khi được phóng thích, ông đã vươt biên cùng gia đình, đến Mỹ vào năm 1979.

Tại Mỹ, cùng mười mấy người bạn từ thời du ca cũ, trong đó có Đỗ Ngọc Yến, người sáng lập nên tờ báo đầu tiên của người Việt tại Orange County, tuần báo Người Việt.Chính nhóm bạn hữu du ca xưa đã trở thành những người tiên phong trong lãnh vực báo chí hải ngoại. Tờ Người Việt sau đó chuyển qua nhật báo và ngày một phát triển với nhiều chi nhánh và các cơ sở truyền thông khác, radio,đài TV, nhà xuất bản , etc… Và từ đó, ông lăn lộn trong sự nghiệp làm báo, từ Người Việt, qua Viễn Đông, Chí Linh…

Nguyễn Đức Quang kể lại quyết định khởi sự bước chân vào làng báo là do sau khi gặp lại bạn, ông Đỗ Ngọc Yến. Ông hỏi bạn tại sao làm báo. Đỗ Ngọc Yến đã trả lời, “Mở báo vì báo chí có thể tác động tới người khác. Ở Việt Nam, người ta đang đốt sạch sách báo của miền Nam. Mình, người Việt tự do, phải mở ra một chân trời.” Ông sau khi nghe thế, cảm thấy không còn con đường nào khác để đi cả. Như bao giờ, Nguyễn Đức Quang vẫn luôn chọn những công việc theo lý tưởng hơn là cơm áo. Vì tờ Người Việt lúc đó còn đặt trụ sở tại garage nhà của chủ nhiệm Đỗ Ngọc Yến, và nhóm chủ trương phải tự tay mang báo đi bán (tại chùa, nhà thờ) và không hiếm khi phải móc tiền túi ra để phụ vào tờ báo.

Một thời đẹp nhất

Khi được hỏi về thời điểm ông cho là đỉnh cao trong đời (defining moment), câu trả lời của Nguyễn Đức Quang không ra ngoài chờ đợi dành cho “típ” người nhạc sĩ với những lời nhạc bừng bừng hoài bão với quê hương: Đó là thời sống với những sôi nổi của tuổi trẻ, không hề có chút đắn đo về tiền bạc, danh vọng, quyền lợi, không chút ham hố riêng tư.

“Khoảng đó, năm 1965 – 1967, khi ai đến chào tôi là ‘nhạc sĩ’ là tôi quay ngoắt đi. Sau này nhớ lại, tôi cũng thấy mình kỳ cục, nhưng lúc đó con người mình nó như vậy.Không phải tôi coi thường danh hiệu, mà là tôi không nghĩ là tôi đáng để được gọi là nhạc sĩ. Tôi chỉ say mê một chuyện là sinh hoạt, dùng nhạc để cống hiến cho tuổi trẻ.Đó là thời gian đẹp nhất trong đời tôi.”

Ông hồi tưởng lại thời tuổi trẻ hoạt động lý tưởng của mình: Miền Nam, từ khoảng 1965 – 1975, các tổ chức cộng đồng, Hướng đạo, Phật tử, Thiên chúa giáo, hội học sinh, tổng hội sinh viên bừng rộ. “Chúng tôi tập họp các bạn hữu thành một nhóm du ca đi khắp các hội đoàn chia sẻ, trình diễn. Phong trào du ca bàng bạc tự phát như thế đó.Sau đó, chúng tôi nhận được rất nhiều thư từ các hội đoàn tới, yêu cầu giúp đỡ.”

Từ sau năm 1963 trở đi, các tổ chức sinh viên khởi phát các cuộc hội thảo về đủ các vấn đề như: xã hội nhiễu nhương, Cộng sản lũng đoạn nông thôn, chiến tranh leo thang, dân quê khổ sở, etc… Các tướng đảo chánh liên tục, trật tự rối loạn… Tuổi trẻ bị hoang mang, thiếu phương hướng. Do đó, mục đích của phong trào du ca là đi gây tạo một tâm thức, xây dựng một tâm thức mới cho tuổi trẻ, tạo ra các tác động viên cho xã hội. Chúng tôi hoàn toàn không có ý định thay đổi chính quyền, chỉ thuần tuý với mục đích xây dựng, đưa xã hội đi lên. Theo ông, tuổi trẻ miền Nam lúc đó không hề muốn chiến tranh, chỉ miễn cưỡng bị đẩy vào một tình thế tự vệ, và trách nhiệm phải chia sẻ gánh nặng với những người chung thế hệ.

Sự nghiệp du ca của ông cũng có sự tiếp tay của nhạc sĩ Phạm Duy. Bắt nguồn từ một trại hè của sinh viên toàn quốc tại Trạch Lộc Thôn, cách Sài Gòn mấy cây số. Vào buổi chiều, Phạm Duy được mời tới, theo lời ông kể, lúc đó Phạm Duy có thể coi là thần tượng của giới trẻ qua các Trường ca, Con Đường Cái Quan … Phạm Duy đã rất ngạc nhiên và khen nhạc của Nguyễn Đức Quang, rủ về nhà và nghe thêm một số nhạc nữa và sau đó mời Nguyễn Đức Quang đi theo ông trong mọi cuộc trình diễn. “Và tôi đã đi theo Phạm Duy mấy tour khắp Việt Nam, khoảng thời gian đó, Pham Duy sáng tác 10 bài tâm ca rất nổi tiếng, và tôi cũng học hỏi theo ông. Phạm Duy có tài sáng tác rất đa dạng; ông liên tiếp nhảy từ thể loại này sang thể loại khác, tình ca, sang tâm ca, phổ thơ, etc …

Những bài trầm ca

Nguyễn Đức Quang đã bỏ Đà Lạt về Sài Gòn, lập một nhóm trầm ca lưu diễn, đi hát chung với Phạm Duy. Ông nhắc lại niềm đam mê khác với các bạn du ca của mình là, những người bạn đó từ Đà Lạt về Sài Gòn để học đồng thời ca hát, trong khi ông đang theo học tại Đà Lạt, bỏ về Sài Gòn chỉ để ca hát. Khác với “Tâm ca”, tiếng hát từ timcủa Phạm Duy, “Trầm Ca” là lời ca từ những suy tư trong óc. Mười bản trầm ca đã trở nên lẫy lừng ngay từ lúc ra đời.

“Nỗi Buồn Nhựơc Tiểu” viết về thân phận bị các nước lớn thao túng dẫn đến anh em một nhà đánh nhau, đổ máu … Tôi trót sinh ra làm thân nhược tiểu, nỗi tủi buồn căm bừng trên tay, nỗi nhọc nhằn còn đọng lòng sông, tình anh em máu chảy thành giòng … Như trong “Lìa Nhau”, Lìa nhau cho tim bốc cháy, thù sâu lan khắp địa cầu … Những lời này đi đến đâu hát cũng làm rơi lệ ở đó. Chúng như quả bom nổ trong đầu óc tâm tư của tuổi trẻ. Nó có vang dội ra Bắc, và một số lãnh đạo miền Bắc ngộ nhận là nhóm Trầm Ca chống lại chính quyền miền Nam, nhưng không phải, chúng tôi nói chung cho cả miền Nam lẫn miền Bắc (lời Nguyễn Đức Quang).

“Tiếng Hát Tự Do” Việt Nam thao thức hoài, trải qua những đêm dài, nuôi giòng máu tự do …, “Chuyện Việt Nam”, Chuyện Việt Nam ôi mấy mươi năm, mấy trăm năm hay đã hơn ngàn năm. Mấy ngàn năm chưa thấy vẻ vang … Ôi quê hương ơi đẹp tươi đứng trong trời đất, ta yêu quê ta thì đâu có bao giờ mất, yêu giống nòi mình lầm than mãi rồi, yêu khiến lòng chẳng biết sao nguôi… Hay “Về với Mẹ Cha” vẫn nói về một Việt Nam là một, một ước mơ về một Việt Nam chung cho tất cả, về bồi đắp cho mẹ cha Từ Nam Quan, Cà Mau, từ non cao rừng sâu, gặp nhau cho non nước xây cầu…

Những lời hát như thế nên, ông kể, có nhiều khi chúng tôi đi trại hè, đi công tác từ Sài Gòn ra Vũng Tàu, Pleiku, Vĩnh Long, Cần Thơ, suốt mấy tiếng đồng hồ chỉ hát một bài mà vẫn say mê. Những lời đã trở thành câu hát đầu môi cho các bạn trẻ. Xin nhận nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương … Ta còn những người ngồi quanh đây, trán in vết nhăn … Chưa gặp bao giờ mà đã như uống máu ăn thề …. “Người Anh Vĩnh Bình”, “Chiều Qua Tuy Hòa” và tập trầm ca đã kết thúc bằng “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ,” trong ý của ông, sau những bài ca với những tậm sự buồn, đau thương khắc khoải với vận nước, ông muốn đóng bằng một hình ảnh của hứng khởi, của tương lai.

Nguyễn Đức Quang không hề nghĩ mình nổi tiếng hay tài năng, dù ông là ngừơi đầu tiên sáng tác nhạc trong “lứa” nhạc sĩ thời ấy. Ông bắt đầu từ năm 1965, Trịnh Công Sơn 1967, Lê Uyên Phương 1969, Từ Công Phụng, Vũ Thành An cũng thuộc thế hệ viết nhạc của miền Nam thời ấy. “Tôi ít khi nào lường được là tôi được nhiều người biết đến. Có lẽ là do tình yêu mến hơn là tài năng. Với các người bạn nhạc sĩ nổi tiếng cùng lứa (kể trên) tôi là “ngoài luồng”, tôi không đứng trong luồng sáng tác của các anh em đó, dù tôi chơi với tất cả, quý mến tất cả và tất cả đều quý mến tôi. Loại thể nhạc của tôi không phải nhạc cho thu âm, mà là những bài hát về thanh niên, dành cho những sinh hoạt cộng đồng. Tiếng nói của tôi là tiếng lòng chung của người cùng thế hệ …

Trước những câu hỏi cũng như gợi ý về thực hiện lại một phong trào du ca trong hiện tại, ông thẳng thắn cho rằng du ca đã qua rồi. Với những người trẻ hiện tại chưa chắc họ đã hiểu. Họ đã có những biểu tỏ khác, suy nghĩ khác … Ông cho rằng hãy cho qua những ý tưởng của du ca ngày xưa. Và cần tìm hiểu xem những người trẻ hiện tại thích gì, muốn gì. Và về cuối đời ông đã có mong ước được trở lại viết một loạt bài cho tuổi trẻ, nhưng vấn đề tìm tòi để đồng cảm và hiểu đúng được tiếng nói của tuổi trẻ ngày nay vẫn còn là một vấn đề sinh tử với ông. Ông cũng cho rằng du ca không có đất sống ở hải ngoại, nhưng nếu ông được các bạn trẻ Việt Nam mời về hát cho tuổi trẻ và được phép hát như ý ông sẽ rất sẵn sàng.

Nguyễn Đức Quang và những suy nghĩ về thời sự

Có lẽ đa phần chỉ biết về Nguyễn Đức Quang của một thời tuổi trẻ, của những tha thiết về quê hương đất nước qua những dòng du ca sôi nổi một thời. Người viết xin được dùng đoạn sau này tường thuật lại những suy nghĩ và của ông về các vấn đề thời sự của đất nước và con người Việt Nam, cũng như những mơ ước riêng cuối đời, theo như những bộc bạch của ông trong cuộc phỏng vấn với nhóm vietyouth.net vào năm 2006.

Ông đã giã từ làng báo, vì cho rằng thời thế đã khác. Làm báo không còn cần thiết như là một thiên chức để cung cấp văn hoá tư tưởng cho người đọc như xưa nữa. Đã có quá nhiều tổ chức và phương tiện cung cấp những nhu cầu đó, làm báo giờ trở thành như là một nghề kiếm cơm. Ông đã nghỉ ngơi, làm một số tour trên nước Mỹ, sáng tác lại, và dự định sẽ quay về lãnh vực sáng tác của thời tuổi trẻ.

Một số tình ca đã được sáng tác, dù theo nhiều người nghe phê bình rằng chúng không giống tình ca, nhưng đối với ông là “tình”, là kỷ niệm như: Về Con Phố Xưa, Một Lần Thôi, Về Đây Nhé, Có Những Khi, Mùa Thu Lại Đi …

Tập nhạc mới sau này với chủ đề “Quê Hương Mênh Mông”, ông mở rộng “quê hương” ra tới hải ngoại, nhưng cũng vẫn bao hàm những trăn trở cũ, những điệu đượm buồn về mối hận thù Nam Bắc của quê hương xa xưa chưa hề được cởi, với những tựa đề như: Trên đường phố San Francisco, Quân Nam – Quân Bắc … Và ông đặc biệt tâm đắc với Trên đồi Arlington, nói rất nhiều về bản nhạc này. Ông đã đến nghĩa trang Arlington trong chuyến tour Washington, D.C. năm 2004, và ngậm ngùi so sánh cuộc nội chiến của Mỹ qua đi không để lại chút dấu vết hận thù như cuộc nội chiến của Việt Nam, ngậm ngùi cho những người lính Việt của hai phe đã chết oan uổng vì cái chết của họ vẫn không đưa lại một đất nước thống nhất lòng người. Ông hát trong ước mơ cho một ngày Việt Nam cũng có được tình người này: Bắc Nam cùng mạch sống, thắng thua đều anh hùng, bốn mùa hoa nở rộ, dưới mộ đài hùng tráng, chung dòng “Tổ quốc Ghi Công” (chỉ Arlington của Mỹ), và Nay mộ phần rào quanh thành oán thù, sống hay là đã chết, đành mất lối bơ vơ … Sao gọi là vinh quanh? Cuộc sống vùi sâu dân tộc, khơi dậy những hờn căm …. (chỉ Nghĩa Trang Quân Đội của VNCH và thời hậu chiến VN)

Trước những mâu thuẫn trong cộng đồng hải ngoại cũng như quốc nội, Nguyễn Đức Quang đã đưa ra một nhận định rất sắc bén. Ông cho rằng ở hải ngoại có những đối nghịch tư tưởng về phương cách chống Cộng, cũng như trong nước có những tiếng nói phản kháng từ trong hàng ngũ CS, đều là những dấu hiệu tốt. Cả hai bên đều cần những rạn nứt để tiến đến trưởng thành cho khối của mình. Và từ đó mới thay đổi để nói chuyện, làm việc chung, đi tới một điểm khó hơn.

Lời nhắn nhủ cho tuổi trẻ Việt Nam cũng rất phóng khoáng phản ánh tâm hồn cởi mở của người nghệ sĩ du ca một thuở: Hãy tham gia/involve, với tổ chức, với đám đông, bất kể là tả hay hữu, vì tả/ hữu thường chỉ là tương đối, nhưng điều quan trọng là để tâm huyết vào một việc chung hơn là chỉ biết riêng mình. Ông cũng băn khoăn nghĩ đến tuổi trẻ của hải ngoại, xa rời quê hương và làm thể nào có được những tổ chức tạo cơ hội cho tuổi trẻ trong ngoài đến gần với nhau thì mới tạo được những nối kết và chất Việt Nam được phát triển.

Cuối cùng, người nhạc sĩ không nghĩ tới một danh hiệu nào cần để khắc trên mộ bia của mình. Ông xin tan nhẹ nhàng vào cơn gió, trở về cát bụi. Người thương mến, nếu có, có thể dành chỗ cho ông trên một trang giấy nào đó….

Người viết hy vọng đôi trang cuối này đáp lại được suy nghĩ khiêm nhượng và giản dị của người nhạc sĩ khả kính. Ông đã thanh thản ra đi, tan vào trong gió, để lại mãi mãi một ước mơ không bao giờ tan, ước mơ về một Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.””

oOo

Email kêu gọi quý ACE, như nhạc sĩ Trần Quang Hải (Paris), đồng sáng lập viên diễn đàn Tình Nghệ Sĩ, nhạc sĩ Phan Ni Tấn (Toronto), đồng sáng lập viên diễn đàn Tin Văn Nghệ Sĩ, và các quý thân hữu của 10 forums trong nhóm liên kết các diễn đàn trên internet.

Anh Hải, anh Tấn cùng quý anh chị,

Tôi xin quý anh chị nếu ai muốn tham gia bài viết chung đưa tiễn nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, xin cho tôi một cảm nghĩ về anh Quang như quotes (*) của 2 vị Võ Đình Tuyết (Pennsylvania) và Nguyễn thanh Bình (Massachussetts), tôi sẽ đúc kết thành một bài tưởng niệm về người nhạc sĩ mà ca khúc "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" của anh đã từng vang rền phố sá Saigon, Boston, San Francisco, Los Angeles, Munich, Paris, Toronto, Sydney, Melbourne,… vì khóc hận Hoàng Sa.

Tôi nhờ anh Bùi Mạnh Hùng chuyển lời mời đến anh Võ Thành Nhân cho lời phát biểu cảm tưởng nhe, tôi không có địa chỉ email của anh Nhân trên DC.

Xin cám ơn anh Trần Trung Đạo cho tôi xử dụng bài viết của anh.

Mong email của quý thân hữu từ các nơi gởi về sớm.

Việt Hải Los Angeles

*Góp ý (trích đăng từ website Người Việt Boston):

1/ Nguyễn thanh Bình:

Thưa quý vị,

Những năm tháng trước 1975, bài hát Việt-Nam Quê Hương Ngạo Nghể (VNQHNN) trong tập nhạc Khai Phá đã vang bóng trong moị môi trường sinh hoạt chính trị, kinh tế, xã hội và cả sau 1975. Có thể nói là dân Việt biết đến bài hát nầy hơn là nhạc sĩ Nguyễn đức Quang!

Tôi may mắn làm việc tại Tuy-Hòa 1973-1975 nên mổi lần nghe bài ” Chiều qua Tuy-Hoà” cũng mang lại nhiều xúc cảm!

Trong thời gian tạm trú ờ trại tỵ nạn, dĩ nhiên lại ngêu ngao VNQHNN vì câu cuối cùng ” Còn VN, triệu con tim nầỳ còn triệu khối kiêu hùng”!

Năm 1981(?), anh Quang có đến Boston và trình diển tại Đại học MIT cũng như văn nghệ Tết. Điêù vui vui là nhiều vị tuởng tượng bài ” Vì tôi là linh mục” theo nghĩa đen nên hiểu nhầm nhưng rồi sự giải thích cũng mang lại hoà khí!

Năm 1989, khi đi dự Đại hội Thể thao Bắc-Mỹ tại Califoirnia, chúng tôi lại có dịp găp anh Nguyễn đức Quang, anh vẩn hăng say như thuở nào và đang làm Chủ nhiệm Báo Kinh-Tế như nghề tay trái!

Cầu xin Thượng Đế thương xót anh cũng như con dân Việt và cũng cầu mong maĩ maĩ chúng ta như ” Nước dâng, dâng tràn có bao giời tràn” cho quê mẹ yêu dấu và cho anh Nguyễn đức Quang!

2/ Võ Đình Tuyết :

Anh Trần Trung Đạo viết bài “Khi Bài Hát Trở Về” không lâu lắm,nhưng trước ngày nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang vào bịnh viện,và đó là bài viết tôi cho hay nhất về nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang.Anh Đạo đã viết trong tinh thần sáng tạo tươi mát của một tuổi trẻ ngày anh mới lớn nồng nàn yêu quê hương của mình,của lớp trẻ thời chiến tranh.

Phần đông những người viết về nhạc sĩ thường hay viết về dời tư và ít khi đi sâu vào tư tưởng và thông điệp của tác giả muốn gởi gấm đến cho đời bằng ký hiệu âm nhạc.Con người không ai hoàn hảo.Nguời nghệ sĩ thường tặng cho dời những tác phẩm nghệ thuật bằng chính con tim khối óc của họ chứ không phải thân xác. Cầu nguyện cho nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang qua cơn hiểm nguy.

Cầu nguyện luôn cho những người viết về những tác gỉả nghệ thuật bằng thăm thẳm nhất của trái tim nuôi dưỡng tình tự nhân bản, đồng hành với tác gỉa, và bao dung với chính mình như anh Trần Trung Đạo.

Võ Đình Tuyết

Hatfield, PA

Ref links:

http://aitubinhdien.aimoo.com/T-C-GI-T-C-PH-M-M-NH-C/Nh-c-S-Nguy-n-c-Quang-1-487597.html#nguyenducquang_03

http://danviet75.blogspot.com/2011/03/nhac-si-nguyen-uc-quang-qua-oi-tai.html

http://traitrunggioi.blogspot.com/2010/04/ca-khuc-viet-nam-que-huong-ngao-nghe.html

http://www.ducavn.com/duca_files/VanNghe_files/SinhHoat/DemNhacNDQ1.htm

Nam tài tử điện ảnh Đặng Hùng Sơn, người rất sốt sắng theo dõi và báo cáo lên diễn đàn mỗi khi có ACE văn nghệ sĩ lâm nạn. Anh củng hai người bạn nghệ sĩ Trần Quốc Bảo và Lâm Mai Thy cho lời chúc tiễn đưa và một tiểu sử của nhạc sĩ

Nguyễn Đức Quang, theo trang nhà Du Ca Việt Nam

Đặng Hùng Sơn, Lâm Mai Thy và Trần Quốc Bảo kính chúc anh lên đường bình yên. Đây là một chút gì anh còn để lại…

Tiểu sử và Tác phẩm

Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây.

Theo gia đình vào Nam năm 1954.

Sinh sống tại Ðà Lạt từ năm 1958.

Tốt nghiệp đại học Ðà Lạt phân khoa Chính Trị Kinh Doanh khóa 1.

Bắt đầu sáng tác nhạc năm 1961. Ca khúc đầu tay dành cho Hướng đạo với tên Gươm Thiêng Hào Kiệt.

Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam năm 63, bắt đầu cảm hứng về nhạc Thanh niên và những vấn đề đất nước.

Năm 1964, chuyển qua hẳn những ca khúc có chủ đề Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc.xây dựng những đề tài mới cho tập Trầm Ca, hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên và thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam năm 1966 .

Năm 1979 cùng gia đình đến Hoa Kỳ, hoạt động liên tục trong nghành truyền thông tại hải ngoại. Hiện vẫn định cư tại Little Saigon, California USA.

Mục Lục Những Ca Khúc Tiêu Biểu

Măi đến sau 1965, một số những bài hát của Nguyễn Đức Quang mới xuất hiện rải rác trên một số ấn phẩm sách, báo và vài tuyển tập sơ sài do Tình hình thiếu thốn phương tiện và điều kiện lúc bấy giờ, người ta đã thấy có các tập nhạc in bằng ronéo như : Trầm ca, Những bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Thỏ Thẻ Loan Phòng v..v.

Năm 1995, Ngô Mạnh Thu và Nguyễn Thiện Cơ trong nhóm Đồng Vọng thu gom lại hầu hết bả nhạc trong các tập nhạc chính và ấn hành tuyển tập Dưới Ánh Mặt trời gồm 69 bài. Duới đây là những nét chính và 9 tập nhạc đã được tác giả hình thành trên suốt quãng đường sinh hoạt và sáng tác của anh. ( Trích trong " về những ca khúc Nguyễn Đức Quang đă viết" trong tuyển tập "Dưới Ánh Mặt Trời" )

* Quí vị có thể vừa NGHE và XEM bản nhạc , trong phần MỤC LỤC NHẠC DU CA trên cột bên trái .

Ấn Phẩm Đã Phát Hành:

1.- Chuyện Chúng Mình :

52 ca khúc, viết từ 1960 đến 1964,thời kỳ đầu sáng tác,

hầu hết là các khúc tình ca tuổi học trò và thời gian sinh sống tại Đà lạt . Một số bài như : Chuyện Người Con Gái , Khôn Hồn Có Cánh Thì Bay, Trẫm Nhớ Ái Khanh Không ( phổ thơ Nhất Tuấn) , Lửa Từ Bi ( Thơ Vũ Hoàng Chương).

2.-Trầm Ca :

10 ca khúc cho thanh niên và thời cuộc,

những thao thức lớn nhất về con người, đất nước.

Những ca khúc này tạo nên cả một cao trào tuổi trẻ

nhập cuộc vào các sinh hoạt.

Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Người Anh Vĩnh Bình, Tiếng Hát Tự Do,

Chiều Qua Tuy Hòa, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ

là dấu ấn chưa phai mờ trong nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam từ đó đến nay .

3.- Những Bài Ca Khai Phá :

trên 40 ca khúc sinh hoạt đặc biệt cho tuổi trẻ , sinh viên, học sinh

dùng trong các buổi họp mặt công tác xã hội,

các hoạt động đám đông, là tiếng kêu gọi tuổi trẻ đến với nhau cùng xây dựng một đất nước và niềm tin :

Không Phải Là Lúc , Về Với Mẹ Cha, Đưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Một Giấc Chiêm Bao, Về Miền Gian Nan v..v..

Khởi động phong trào hát cộng đồng , hát chung khắp mọi nơi,

sau này được lan truyền sang nhiều địa hạt và nhiều giới khác,

kể cả tôn giáo .

Du Ca trở thành hình ảnh mẫu mực con người xã hội mới, đi vào phim ảnh Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương.

4.-Cần Nhau :

12 tình khúc được biết đến nhiều với :

Bên Kia Sông, Vì ́ Tôi Là Linh Mục, Cần Nhau, Như Mây Trên Cao, Vỗ Cánh Chim Bay …

5.- Thỏ Thẻ Loan Phòng (hay Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc) :

18 bài sinh hoạt trong ngày hạnh phúc lứa đôi, hình thành 1969 ,

nhiều bài hì́nh như đă thành nếp trong các đám cưới như:

Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc, Đám Cưới Chúng Mình,

Lũ Chén Diã Có Tội Tì́nh Gì, Đường Đến Hạnh Phúc .

6.- Khúc Nhạc Thanh Xuân :

Khoảng 40 bài nhạc sinh hoạt thanh niên quốc tế.

Nhiều nhất là các ca khúc trong thời lập quốc Do Thái, phong trào Kibbuz,

những bài hát nhân quyền, tự do từ Âu sang Á và Mỹ như:

Về Miền Gian Nan, Bài Ca Hải Tặc , Quân Đoàn Thức Tỉnh, Không Ai Là Hoang Đảo …

được chuyển qua lời Việt để sử dụng trong nhiều sinh hoạt tuổi trẻ.

7.- Hương Đồng Quê :

Các khúc Dân Ca và nhạc đồng quê nổi tiếng trên thế giới

chuyển dịch sang lời Việt,

gần 200 bài như Bài Ca Sông Hồng, Những Bụi Hoa Dại, Em Yêu Dấu Hỡi, Bên Bờ Sông Ohio, Tâm Sự Chú Lừa …

hầu hết bị thất lạc năm 1975.

8.-Phúc Ca Mùa Lễ :

25 bài đồng dao quốc tế hát trong mùa Gíáng sinh như : Jingle Bells, The Christmas Tree, Silent Night…

được coi là những khúc hát vui trong mùa an bình của nhân loại .

9.-Ruồi Và Kên Kên :

Hoàn tất năm 1970, gồm 11 bài,

là những ca khúc bi phẫn về những vấn đề lớn nhất

trong một khung cảnh chính trị và xă hội đen tối nhất của cả 2 miền đất nước:

Im Lặng Là Ðồng Lõa, Ruồi Và Kên Kên, Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi, Phòng Thí Nghiệm Công Cộng, Vụ Án Cuối Cùng…

Những ca khúc này vẫn được yêu chuộng cho đến nay .

10.-Dưới Ánh Mặt Trời :

gỗm những sáng tác trong tập

Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Chuyện Chúng Mình,

Cần Nhau, Khúc Nhạc Thanh Xuân, Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc….

Bìa: Nguyễn Ðồng, Nguyễn Thị Hợp

Hý họa : Tạ Tỵ, Chóe, Hiếu Ðệ

Chân dung: Lê Phúc

Kẻ nhạc: Phạm Xuân Ðài

Trình bày: Nguyễn Thiện Cơ, Ngô Mạnh Thu

Hình ảnh sưu tập: Trần Ðại Lộc

Hình bìa: Hồ Ðăng

Xuất bản Ðồng Vọng 1997 tại Cali- USA

oOo

Nhà văn Lê Văn Phúc, qua bút hiệu Châu Ngân, một người bạn thân thiết từ trước năm 1975 của Nguyễn Đức Quang viết về Nguyễn Đức Quang như sau:

"Du Ca Nguyễn Đức Quang!

Ngày 27 tháng Ba – 2011, nhạc sĩ du ca sau 17 ngày nằm trong phòng cấp cứu vì tai biến mạch máu não, đã lặng lẽ ra đi không một lời giã biệt, thọ 68 tuổi…

Với số tuổi ấy, thời buổi bây giờ khoa học hiện đại, vẫn coi là còn quá trẻ.

Nhưng một cuộc đời từng trải, xông pha không khác những chiến sĩ anh hùng, lăn lộn trên nhiều chiến tuyến thì phải coi Nguyễn Đức Quang là đã sống nhiều, sống lâu trên thế gian này.

Mang trong người dòng máu hào hùng, tham gia Hướng Đạo ngay từ thời niên thiếu, anh đã hun đúc một tinh thần phấn đấu, tự thắng để chỉ huy ; tự cường để xông pha trên nhiều lãnh vực ; tự lực cánh sinh để vượt mọi khó khăn như tinh thần và tôn chỉ cao quý của Hướng Đạo.

Những mục đích ấy, anh đã làm trọn vẹn trong suốt cuộc đời mình…

***

Năm 1956, khi được 12 tuổi, anh gia nhập Hướng Đạo vùng Lâm Viên,

dần dần lên tới cấp Hướng Đạo Hạng Nhất là đẳng hiệu cao quý nhất của HĐVN.

Qua các khóa huấn luyện, anh trở thành Bầy Trưởng Ngàn Thông năm 1964.

Khi vào Saigon, anh tham gia sinh hoạt với Ban Trầm Ca – tiền thân của Phong Trào Du Ca – cùng với Toán Sóng Việt gồm hầu hết Hướng đạo sinh đang theo học tại Viện Đại Học Dalat.

Khi Phong Trào Du Ca được thành lập năm 1966, anh đã hoạt động trong Phong Trào này cho đến tháng Tư 1975.

Khi định cư tại Hoa Kỳ năm 1979, anh đã dấn thân vào các sinh hoạt của Liên Đoàn hướng Đạo VN trong các chương trình văn nghệ, họp bạn Hướng Đạo VN, tổ chức nhiều buổi hát nhạc rất thành công tại Úc Đại Lợi.

Anh sáng tác từ năm 17 tổi (1961) với nhạc phẩm « Gươm thiêng hào kiệt » dành cho Phong Trào Hướng Đạo.

Năm 1963, sau những biến chuyển chính trị lớn tại miền Nam, anh sáng tác những nhạc phẩm mang chủ đề về tuổi trẻ, quê hương, dân tộc, thân phận con người, nhạc tranh đấu cho một Việt Nam bất khuất…

Ngoài phần sáng tác, anh còn là Tổng Giám Đốc công ty Người Việt trong 4 năm (1984-1988), sáng lập nhật báo Viễn Đông, lập công ty báo chí QMS Media, xuất bản báo Chí Linh, Phụ Nữ Diễn Đàn, đài phát thanh và truyền hình VOC.

***

Nguyễn Đức Quang sinh năm 1944 tại Sơn Tây, theo gia đình di cư vào Nam năm 1954, định cư tại Dalat. Anh tốt nghiệp đại học Dalat, phân khoa Chính trị Kinh doanh khóa 1.

Một chi tiết nhỏ ít người biết đến là Nguyễn Đức Quang có thời gian làm việc tại Ngân hàng Phát Triển Nông Nghiệp Trung Ương, số 7 Bến Bạch Đằng Saigon. Thời đó, Tổng giám Đốc là ông Nguyễn Đăng Hải.

Ngân hàng mở khóa thi tuyển dụng Tham vụ Ngân hàng để có thêm nhân sự giữ chức vụ Giám Đốc Ngân hàng tại các địa phương. Anh ứng thi và vì đậu cao trong số mấy hạng đầu nên được chọn phục vụ tại Sở Kế Hoạch.

Tôi cũng là nhân viên tại Ngân Hàng Trung Ương, có được một nhân tài âm nhạc phục vụ cùng ngành thì mừng lắm, kết thân ngay. Anh cũng là người vui vẻ, dễ tính, cởi mở nên chúng tôi chơi với nhau thoải mái.

Những dịp khánh thành Ngân hàng Nông Thôn tại các Vùng, tôi đều rủ anh đi để quan sát, học hỏi về ngành chuyên môn này.

Hồi làm việc tại Saigon, sáng sáng chúng tôi đến sở sớm, hay la cà bên quán cà phê cạnh trụ sở, nơi qui tụ các ông tài xế, lao công, nhân viên ngân hàng hay ngồi uống cà phê, đấu hót.

Anh cũng tham gia như mọi người, ngoại trừ là không ôm cây đàn để hát cho nhau nghe, vì sắp đến giờ làm việc.

Anh em, ai cũng quý mến Nguyễn Đức Quang vì anh ấy quá nổi danh đi rồi…

Bẵng đi một thời gian sau khi mất nước, chúng tôi lại gặp nhau bên Cali. Anh làm báo Người Việt, tôi cũng viết báo Người Việt với bút hiệu Lê văn Phúc nên thân tình càng thêm đậm đà. Anh là nhạc sĩ du ca nổi danh, còn tôi thì loe hoe dăm bản nhạc viết chung lời với nhạc sĩ Tuấn Khanh gọi là văn nghệ văn gừng…

Khi nào sang Cali, tôi cũng gặp anh trò chuyện, ăn nhậu. Khi nào anh qua vùng DC, tôi cũng rủ anh đi chơi thủ đô, có lần đưa anh đi thăm nghĩa trang Arlington để anh thấy nghĩa trang buồn trắng xóa, im lặng như tờ, nơi an nghĩ của biết bao chiến sĩ anh hùng hiến thân cho tổ quốc.

Anh đã coi cảnh các quân nhân đổi gác rất uy nghi, ngày đêm canh thức bên cạnh đài tưởng niệm tử sĩ .

Nguyễn Đức Quang đã viết bài « Chiều trên nghĩa trang Arlington » sau chuyến thăm Hoa Thịnh Đốn.

***

Nói về các sáng tác của Nguyễn đức Quang, khuôn khổ tờ báo không cho phép nên tôi chỉ xin trích đoạn một vài bản nhạc đã được nhiều người biết.

Trong Tập Ca « Dưới ánh mặt trời » gồm những sáng tác trích từ các tập : Trầm ca, Những bài ca khai phá, Ruồi và kên kên, Chuyện chúng mình, Cần nhau, Khúc nhạc thanh xuân, Lòi nguyện cầu hạnh phúc, gồm 69 bản nhạc viết về quê hương, thân phân, tuổi trẻ, đồng bào, tự do, tình yêu, vượt biển, chiến tranh, hy vọng…

Trước hết hãy nói về tình yêu, chúng ta nhớ ngay đến bản « Bên kia sông » tác giả phổ từ thơ Nguyễn Ngọc Thạch :

Này người yêu, người yêu anh ơi !

Bên kia sông là ánh mặt trời

Này người yêu, người yêu anh hỡi !

Bên kia đồi cỏ hoa đan lối

Bên kia núi, núi cao chập chùng

Bên kia suối, suối réo lạnh lùng

Là bài thơ toàn chữ hư vô…

Năm 1970, anh viết « Vì tôi là linh mục », thơ Nguyễn Tất Nhiên. Một linh mục không mặc chiếc áo dòng, có được một tín đồ là người tình, là ác quỷ, bỏ tôi đi trong chuông chiều dài lê thê. Nên tôi là một linh mục rất dại khờ…

Vì tôi là linh mục, không mặc chiếc áo dòng

Nên suốt đời hiu quạnh, nên suốt đời lang thang.

Vì tôi là linh mục, có được một tín đồ

Nhưng không là thánh thần nên tín đồ đi hoang…

Và kết cục là xôi hỏng bỏng không nên than thở một mình :

Vì tôi là linh mục, vì tôi là linh mục

Người ơi ! Một linh mục rất dại khờ…

Năm 1966, anh viết một ca khúc lừng lẫy, đó là « Việt Nam quê hương ngạo nghễ », nhịp điệu hùng mạnh, lời đanh thép sống động, ca tụng một quê hương ngạo nghễ anh hùng, qua bao nhiêu thời đại vẫn kiêu dũng hiên ngang…Sau gần 40 năm, bài hát đã thấm sâu vào lòng dân tộc :

Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm

Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang..

…Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại,

Xưong da thịt này cha ông miệt mài

Từng ngày qua, cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.

Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang

Trên bàn công hát cười đùa vang vang.

Còn Việt nam, triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng…

Nhạc phẩm này có lời 2 của đoạn 1 cũng rất kiêu hùng :

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng

Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm

Da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi

Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người

Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam

Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian

Hỡi những ai gục xuống ngoi dậy hùng cường đi lên…

Năm 1967, anh viết « Hy vọng đã vươn lên » như ngọn đuốc giữa đêm đen, soi sáng những con đường quê hương, những tấm lòng rộng mở để cùng nhau đi tới :

Hy vọng đã vươn lên trong nhà hoang bên ruộng cằn

Hy vọng đã vươn lên trên nương buồn, dòng sông vắng

Hy vọng đã vươn lên trong lòng thuyền còn xa bến

Hy vọng đã vươn dậy như triều dâng cho buồm căng xuôi trường giang.

Khi nói lên tâm sự về gia đình, anh viết « Người anh Vĩnh Bình » năm 1967, kể chuyện nhà. Người anh ra đi biền biệt không nói năng câu gì, bỏ lại bà mẹ già, vợ trẻ, con thơ. Một bài ca buồn lặng lẽ, ưu phiền. Có đoạn :

Khi anh tôi đi, không nói năng câu gì.

Đem theo ba lô, cây viết xanh nhỏ bé

Mai nơi xa xôi, anh sẽ biên thư về

Cho mẹ, cho bà con, cho vợ với cậu bé.

Nhưng hai năm qua, không thấy thư anh về

Con thơ năm xưa nay đã thôi bồng bế

Đêm nghe xa xôi có tiếng ai ngang lệ

Con chờ nhé, đợi nhé, con chờ mốt ba về…

Năm 1968, Nguyễn Đức Quang đi qua một tỉnh miền Trung, anh viết bài “Chiều qua Tuy Hòa”.

Bản nhạc “gam” Mi thứ, nhịp ¾ êm nhẹ, vương vấn một nỗi buồn mênh mang.

Ai có dịp đi đường bộ từ Nha trang lên Ban Mê Thuột, nửa đường dừng lại trên đèo Ma Drak, đứng nhìn về hướng Tuy Hòa sẽ thấy bóng núi vọng phu trong sương mờ lạnh lẽo. Nhìn cảnh đó, ta cũng dâng lên một nỗi buồn vời vợi.

Tác giả đã đến tận nơi, nhìn tận mắt núi đá chơi vơi giữa cảnh núi đồi trong cảnh chiều tà.

Anh viết:

Ngày xưa tôi đã đi qua Tuy Hòa,

trời xanh le lói bao mộng mơ.

Đàn chim tung cánh bay bay đầu gió

và đâu đây tiếng sông bồi phù sa.

Ôi, những chiều mây vắt ngang lưng đèo,

vọng phu đưa mắt cũng buồn theo…

Cách đây 20 năm, khi anh về Houston trình diễn, có ở nhà tôi vài hôm.

Cả nhà tôi được nghe anh hát bài này. Riêng tôi, rất đắc ý với hai câu chót của đoạn trên:

“Ôi những chiều mây vắt ngang lưng đèo

vọng phu đưa mắt cũng buồn theo.

Tôi khen anh là có tuyệt chiêu, ít ai sánh kịp.

Anh cười, nói rằng: Ông Phạm Duy nghe bài này đã phải “chửi” ầm lên là làm sao mà nó lại viêt mấy câu hay đến thế!

Bài ca trên, tôi thuộc nằm lòng nên mỗi khi trò chuyện viễn liên với anh, tôi thường lên tiếng bằng cách hát đoạn đầu của bài này.

Nhưng phải nghe, phải thấy anh xử dụng tây ban cầm, phải nhìn vóc dáng nghệ sĩ và tâm hồn Nguyễn Đức Quang khi ca hát thì mới thấy dược những vẻ say mê, tâm hồn nghệ sĩ, tình yêu quê hương mà anh tâm sự trong những ca khúc độc đáo này.

Viết một bài hát, nhạc điệu, tiết tấu là quan trọng, mà phần lời cũng không kém để năng cao giá trị của bài hát.

Trong giới nghệ sĩ, tôi thấy Đức Huy rất thận trọng và chú tâm trong việc đặt lời.

Nguyễn Đức Quang viết hàng trăm ca khúc, mỗi bài là một lời nhắn nhủ anh em ta, đồng bào ta hãy cùng nhau gìn giữ quê hương, trân quý tình gia đình, bè bạn, đóng góp cho đất nước sớm được hùng cường, rạng danh một Việt Nam oanh liệt.

Những ngày cuối trong cuộc đời khi Nguyễn Đức Quang đứt mạch máu não, bất tỉnh trong phòng cấp cứu thì bên Toronto, Canada, một người bạn trong nhóm Du Ca, cũng là nhạc sĩ/nhà thơ Phan Ni Tấn đã có bài thơ gửi bạn như thế này:

A ha! Ê hê!

Sáng nay nghe tin người bạn già của tôi

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vừa bị đứt mạch máu não

nằm mê man như cây đàn vừa đứt một giây trầm

Sáng nay câu thơ tôi thả bay trong nắng

hỏi tôi còn nhớ từng ngày xưa

Ừ thì nhớ người du ca muôn thuở

người du ca đi vào lòng người, những lúc nắng và mưa

Trời sinh anh ra đôi chân lặn lội

đi tác động khắp nẻo quê hương

bản du ca mở ra những con đường đất

gọi người về sống với yêu thương

Trời sinh anh ra một đôi môi hát

tiếng hát bay xa đến tận lòng người

nhìn vào câu ca đã trông thấy phố

thấy cả nông thôn nhà máy vươn mình

Câu anh hát mọi người cùng hát

hy vọng vẫn vươn lên như khói lan xa

hát khúc du ca mắt người thắp lửa

sáng trong long cứ mãi hát ra

Đẹp đến nỗi em bé đánh giầy bên hè phố cũng biết hát

chị bán lạc soong nghe cũng nở môi cười

anh xích lô hát bằng đôi chân chở khách

chị nông dân thắm tháp khúc tình người

Đẹp đến nỗi cây lúa thở ra khói trắng

cũng biết kêu và hát nghêu ngao

em rót câu ca chị gặt khúc hát

người gọi người dựng một phong trào

Đứng cạnh người nghệ sĩ du ca

Ôm cây đàn cùng cao tiếng hát

Câu thơ tôi ngày xưa cũng trôi theo dòng nhạc

Trái tim xanh thắp lửa niềm tin

Sáng nay lục lại ngày thơm trang bản thảo

thấy dòng đời lặng lẽ trôi qua

thấy máu nhỏ xuống nền bệnh viện

loan thành tin người nằm bệnh phương xa

Nghĩ mà giận người bạn già thiệt ngặt

giận mà mong anh sớm được bình an

thức dậy lần này chẳng còn ai thèm nghe bạn hát

mà chính lần này chúng tôi hát anh nghe

Này huynh trưởng, này bạn gìà, bạn lớn

là người yêu của mọi đồng bào

đất nước lâm nguy như người lâm trọng bệnh

lại còn nghe văng vẳng khúc hư hao

Nghe gì đây – khà khà …nghe chúng tôi hát bản du ca cuối cùng:

Nguyễn Đức Quang, Người yêu tôi bệnh….

Phan Ni Tấn

Những người biết anh, yêu anh đều cầu mong cho anh qua cơn bệnh hiêm nghèo.

Nhưng như một định mệnh đã an bài, anh lặng lẽ ra đi không một lời giã biệt.

Để lại chốn nhân gian biết bao nhiêu nhớ thương, luyến tiếc ngậm ngùi…

Châu Ngân/Virginia

( 30 tháng Ba, 2011)

Kế tiếp là tác giả Trần Trung Thuần, bạn thân với hai thân hữu là nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và giáo sư Nguyễn Đình Cường, GS Cường ăn nói hoạt bác, kể chuyện duyên dáng mà tôi có dịp gặp cũng 2 lần khi GS Lê Hữu Mục từ Montreal sang thăm Little Saigon, nhưng nghiệt ngã thay GS Cường đã ra đi trước anh Nguyễn Đức Quang không bao lâu theo bài viết sau:

"Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang Tạ Thế

Trần Trung Thuần

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang không còn nữa! Ông đã thở hơi cuối cùng lúc hơn 4 giờ sáng ngày Chúa Nhật 27 tháng 3 năm 2011, tại California, Mỹ, sau sáu mươi tám năm sống trên cõi đời này ông thật sự ra đi vĩnh viễn!

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang nguyên quán tỉnh Sơn Tây, sinh năm 1944. Mười năm sau đó, ông mới mười tuổi, Hiệp Định Genève ký kết giữa Pháp và Việt Minh, trước sự chứng kiến của Mỹ, Anh, Liên Xô và Trung Cộng, ngày 20 tháng 7 năm 1954, một cõi đời mới phải chọn lựa, ở với Cộng Sản Việt Minh miền Bắc (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) hay vào Nam với Quốc Gia (Quốc Gia Việt Nam/Việt Nam Cộng Hòa). Gần triệu người miền Bắc đã bỏ miền Bắc, trong đó có gia đình Nguyễn Đức Quang, vào Nam, bằng đủ thứ phương tiện, máy bay của hãng Cosara, xe lửa Bắc Nam…và tàu thủy của Mỹ, của Pháp. Với tuổi lên mười, Nguyễn Đức Quang theo cha mẹ lên đường…Qua các trại tạm cư cho đồng bào di cư ở duyên hải Trung Phần, gần bốn năm, gia đình Nguyễn Đức Quang dời lên Đà Lạt sinh cơ lập nghiệp, xây dựng “bền vững” một cuộc sống mới.

Năm đó là năm 1958. Cậu học trò bé bỏng nhưng thông minh đỉnh ngộ được nhận vào trường Nam Trung Học Trần Hưng Đạo. Nguyễn Đức Quang học giỏi, chăm chỉ và lấy dễ dàng các bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, Tú Tài I, Tú Tài II và đi thẳng vào trường Chánh Trị Kinh Doanh của Giáo Sư Phó Bá Long thành lập, mượn cơ sở Viện Đại Học Đà Lạt làm giảng đường. Nguyễn Đức Quang là sinh viên ngay từ khóa I và sau bốn năm học tập Nguyễn Đức Quang cầm trong tay mảnh bằng tốt nghiệp…để đi làm! Văn bằng tốt nghiệp Chánh Trị Kinh Doanh được Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa công nhận tương đương với Văn Bằng Cử Nhân Đại Học Quốc Gia. Ở đây, tôi cũng xin bạn đọc để ý: tên trường là Trường Chánh Trị Kinh Doanh. Chữ Chánh có nghĩa là Công Việc, Việc Làm, chữ Pháp là Travail, chữ Chánh này giống như chữ Chánh của Trường Quốc Gia Hành Chánh, Bộ Tài Chánh, Bộ Giao Thông Công Chánh. Sau năm 1975, trong nước coi chữ Chánh và chữ Chính giống nhau nên chúng ta cứ hay nói lộn trường Chánh Trị Kinh Doanh ra trường Chính Trị Kinh Doanh. Để xác định từ ngữ này, tôi xin nhắc lại đây câu tuyên bố của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn văn Thiệu, năm 1972, nói với Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, Kissinger khi ông này muốn Việt Nam Cộng Hòa chịu “lép vế” Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc Miền Nam Việt Nam, bằng lòng ký vào bản Hiệp Định Ngưng Bắn tại Paris, Pháp, để quân đội Mỹ rút về trong-danh-dự và miền Nam có hòa bình. Hiệp Định Paris kéo dài dây dưa từ năm 1968 đến năm 1972. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không vui vẻ gì khi nghe Kissinger phán, ông nói thẳng thừng: “Chúng tôi muốn có Hòa Bình nhưng phải là Một Nền Hòa Bình Công Chính”, đấy, hai chữ Công Chính và Công Chánh rõ ràng là không đồng nghĩa. Nếu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Chúng tôi muốn có Hòa Bình nhưng phải là Một Nền Hòa Bình Công Chánh”, nghe thật buồn cười, thời đó Công Chánh đồng nghĩa với Lục Lộ/Làm Đường Sá Trên Đất Liền. Giáo Sư Phó Bá Long rất tinh tế trong việc dùng chữ…và chính chữ ông dùng cũng nhằm mục đích “đánh lừa” sinh viên : “Ai đời học bốn năm mà không viết đúng tên trường mình học!”. Hiệp Định Paris được bốn bên, Việt Nam Cộng Hòa, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Bắc Việt và Mỹ ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, tạo ra một bước ngoặt mới cho đất nước và dân tộc ta, đi đến chỗ miền Nam lọt trụm lũm vào tay quân miền Bắc ngày 30 tháng 4 năm 1975! Ngày đó, ai ở miềnNam cũng đổi đời…

Bây giờ trở lại với bản tin về sự từ trần của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang. Ông nằm bệnh viện khá lâu, cũng hơn một tháng, phòng cấp cứu. Ông bị té và bại liệt não. Ông ở suốt trong phòng coma/hồi sức và các bác sĩ chuyên khoa tài giỏi đều không chữa trị được! Tại đây, hơn một tuần lễ sau, người ta cũng đưa vào một người để cấp cứu, người đó quen biết Nguyễn Đức Quang, cũng ở Đà Lạt, cô giáo Đỗ Thị Tiến, dạy tại trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân có chồng là Giáo Sư Nguyễn Đình Cường dạy tại trường Nam Trung Học Trần Hưng Đạo, trường của Nguyễn Đức Quang từng theo học. Cô Giáo Đỗ Thị Tiến được định bệnh nhanh chóng và nằm tại phòng coma chỉ hai ngày rồi phải đưa về nhà…chờ năm ngày sau thì mất! Tất cả sững sờ trong đau đớn, ngày nào tôi từng gặp Nguyễn Đức Quang tại nhà anh chị Nguyễn Đình Cường, ngày nào chúng tôi họp mặt nhau chào mừng Giáo Sư Tạ Tất Thắng đến Mỹ dạy tại Đại Học Alabama trong chương trình trao đổi về giáo dục giữa hai nước Việt Nam và Mỹ, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và anh chị Nguyễn Đình Cường luôn luôn chuyện trò thân thiết…thế mà ngỡ ngàng chưa, người đến sau đi trước, người đến trước ngoắc ngoải đớn đau rồi đi sau gần nửa tháng! Họ sẽ gặp nhau hay không gặp nhau? Người thì được chồng con chôn cất (chị Đỗ Thị Tiến), người thì sẽ hỏa thiêu ( nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang) vào ngày 4 tháng Tư này. Tôi cùng dạy chung một trường với chị Đỗ Thị Tiến, tôi đã không cầm nước mắt đươc. Nay, tiếp nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, thêm một lần nữa lệ tuôn. Buồn ơi! Mới hôm nào, hai tháng trước đây thôi, Nguyễn Đức Quang vào quán Lan Hương của anh Hào Đà Lạt ăn dĩa phở xào, anh ngồi chung bàn với tôi và anh Nguyễn Đăng Sửu. Anh vạm vỡ, hồng hào, đẹp trai, nói cười vui lắm…Anh mới về Việt Nam qua lại, anh có về thăm Đà Lạt, anh lạc quan một ngày hồi hương khi nước nhà tươi sáng thật sự. Anh tin tưởng. Và anh rất yêu đời. Bà xã anh mất gần hai năm rồi, nỗi buồn trơ trọi của anh hình như có phần nguôi ngoai. Tôi nhìn anh ănuống ngon lành. Anh sung sức lắm. Anh nói chuyện gì cũng có tiếng cười. Ăn phở xong anh còn uống với chúng tôi một ly cà phê đá đen. Màu cà phê sóng sánh. Màu tóc anh cũng sóng sánh. Anh như người hồi xuân và tràn trề nhựa sống!

Vậy mà…anh đi rồi! Anh đi lúc 4 giờ hơn sáng sớm ngày 27 tháng 3 năm 2011. Tôi hét to cách nào, anh cũng không nghe nữa dù lúc anh ra đi thành phố chưa thức dậy để có xe cộ ồn ào…

*

Nguyễn Đức Quang ra đi để lại rất nhiều tiếc nhớ. Tiếc anh còn nhiều công trình dang dở, nhớ anh một người tài hoa, một tấm gương sáng trong sự học hành, nhớ anh nhất là dòng nhạc oai hùng mà êm ả, sáng trưng trong từng lời từng nhịp sáng tác cho Hướng Đạo Việt Nam, sáng tác cho Phong Trào Du Ca làm nức lòng người yêu thêm Tổ Quốc.

Có thể nói sơ lược “hành trình văn hóa” của Nguyễn Đức Quang như sau:

1, Tác phẩm đầu tay làm ra từ năm 1961 tại Đà Lạt (nơi anh gia nhập Hướng Đạo Việt Nam), bản nhạc này anh làm để làm “nền” cho Hướng Đạo: Gươm Thiêng Hào Kiệt.

2, Nguyễn Đức Quang chính thức “nổi đình đám” kể từ sau cuộc chính biến 1963 (Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết chết, sụp đổ chế độ Công Hòa Việt Nam đệ nhất). Nguyễn Đức Quang “dấn thân” hẳn vào cuộc đổi thay của thời cuộc, anh sáng tác những tác phẩm mang chủ đề thanh niên và những vấn đề nóng bỏng của đất nước. Nội dung những nhạc phẩm của Nguyễn Đức Quang có điểm ngộ là không kếu gọi Thù-Báo-Thù mà chỉ thôi thúc Tình Yêu Nước, Tình Nghĩa Người Với Người, Ca Ngợi Lịch Sử Hào Hùng của Dân Tộc. Có thể vì anh nặng lòng với Đà Lạt – một thành phố hiền hòa, mát mẻ, người đối xử nhau dịu dàng, thân ái…

Bản nhạc “để đời” của Nguyễn Đức Quang là Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Sau 30 tháng 4 năm 1975, các trại Cải Tạo thiết lập bởi chế độ mới, nhạc Nguyễn Đức Quang không bị xếp vào loại “nhạc vàng” mà được cho hát vang bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Nhiều bài hát của Phạm Thế Mỹ, của Phạm Đình Chương cũng vậy. Đặc biệt nhạc Trịnh Công Sơn thì không được nói đến!

3, Các bản nhạc nổi tiếng khác của Nguyễn Đức Quang thường được nhắc đến (chính tác giả cũng thường tự trình bày trong các cuộc hội ngộ anh em): Bên Kia Sông, Chiều Qua Tuy Hòa, Vì Tôi Là Linh Mục, Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương. Nguyễn Đức Quang sáng tác không “mạnh” lắm, chỉ trên dưới một trăm bài…

4, Sau 30 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Đức Quang sống âm thầm và cũng âm thầm trốn khỏi đất nước. Anh và gia đình vượt biển, tới Mỹ năm 1979. Nguyễn Đức Quang chúi mũi vào việc kiếm sống. Việc anh quan tâm là làm báo. Anh đóng góp tài lực, trí lực cùng với bạn bè dựng ra báo Người Việt, ban đầu là tuần báo, sau đó ra năm tờ mỗi tuần và cuối cùng là nhật báo cho đến ngày nay. Nguyễn Đức Quang từng làm Giám Đốc Trị Sự và Chủ Bút báo Người Việt và giữ chức Tổng Giám Đốc của Công Ty báo Người Việt từ năm 1984 đến năm 1988. Hình như ở Mỹ, Nguyễn Đức Quang coi âm nhạc như kỷ niệm, anh tha thiết với ngành Thông Tin Đại Chúng hơn (bây giờ thì gọi chung là Truyền Thông). Nguyễn Đức Quang sáng lập báo Viễn Đông và “làm chủ” báo này một thời gian cho đến khi nó vững vàng đi vào thương trường chữ nghĩa. Nguyễn Đức Quang hợp tác với Phạm Phú Minh, Phan Mỹ Sương dựng ra Công Ty Báo Chí Quang Minh Sương viết tắt là QMS Media, xuất bản báo Phụ Nữ Diễn Đàn, Chí Linh và đài Phát Thanh/Truyền Hình VOC.. Chừng ba năm gần đây, Nguyễn Đức Quang trở về lại với âm nhạc. Anh đi đây đi đó hát Du Ca. Anh đang vui vẻ thì bà xã anh bị bệnh và mất, đã gần hai năm nay. Nguyễn Đức Quang gần như đứng chựng trong chặng sau của đời người, nhưng nhờ tình anh em bằng hữu, tình quyến luyến của Hướng Đạo, Nguyễn Đức Quang lại…hồi sức và đang có nhiều dự định cho tương lai, tập trung cho âm nhạc. Trời không thương anh nữa, anh ra đi vào một ngày Chúa Nhật không ai hẹn hò…Ngày đó, 27 tháng 3, 2011. Giờ đó 4 giờ hơn giờ Thái Bình Dương!

Trong buổi chiều 27 tháng 3, 2011, tại nhà hàng Emerald Bay, thành phố Santa Ana, Nam California, lúc 3 giờ 30, một nhóm thân hữu của Nguyễn Đức Quang có tổ chức “Chiều Nhạc Du Ca Nguyễn Đức Quang”, một chương trình dự trù thực hiện để “cầu an” cho anh nhưng không dè đó là chương trình dành để nói lên những lời vĩnh biệt. Tại đây Hội Hướng Đạo Việt Nam trao cho anh Huân Chương Bắc Đẩu Bội Tinh – một Huân Chương Cao Quý Nhất của Hội Hướng Đạo Việt Nam trao tặng cho người Trưởng có công lớn trong việc gìn giữ và xây dựng một Phương Pháp Giáo Dục Thanh Thiếu Niên. Huân chương đó được trao cho…người nhận là con trai của Nguyễn Đức Quang. Được biết Nguyễn Đức Quang từng gia nhập Hướng Đạo Việt Nam từ năm 1966, anh sinh hoạt rất đều đặn và đắc lực khi lên định cư tại Đà Lạt. Nguyễn Đức Quang đã là Trưởng và là Linh Hồn của Liên Đoàn Lê Lợi. Chắc anh mãn nguyện…Ít ra sống ở đời, mình cũng đã làm-được-chuyện-gì-ích-lợi cho đời.

*

Nguyễn Đức Quang ra đi khi thành phố chưa thức dậy. Anh ra đi nhẹ nhàng và tan theo sương khói. Kính chào anh! Tôi vẫn ngậm ngùi nhớ lại lần gặp anh cuối cùng tại một quán ăn có uống…Cái bắt tay nồng ấm, bây giờ lạnh ngắt!

Vĩnh biệt chào Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang!

Trần Trung Thuần"

Trước khi khóa sổ vào thứ 25, email của chị Bùi Ngọc Nga, tức K’Nga, một thân hữu của Du Ca trưởng Nguyễn Đức Quang trên Bắc Cali gửi xuống, mời anh K’ Quang và các "K’ X,Y,Z" thưởng lãm bài viết dí dỏm, đượm nét hóm hỉnh về một khung trời kỷ niệm nơi miền cao nguyên xứ Thượng..

Bước chân tuổi trẻ…

Vĩnh biệt Du Ca Nguyễn Đức Quang!

Tôi nhớ đã quen với Minh Thông, vợ Nguyễn Đức Quang năm học lớp Đệ Nhất trường Gia Long. Tôi ở lớp B1 Anh Văn, Thông ở B2 Pháp Văn. Chúng tôi cùng vào Gia Long năm cuối của Trung học nhưng những buổi biểu tình bãi khóa, bầu cử ban đại diện trong trường đều không thiếu vắng hai chúng tôi.

Lên Đàlạt gặp lại Minh Thông, những ngày ở trại Suối Thông tôi nghe các bạn chọc ghẹo anh Nguyễn Đức Quang với Minh Thông. Trại công tác Suối Thông tại Đàlat (cách Đà Lạt 30 km) được tổ chức vào mùa hè năm 1966 bởi hội Thanh Niên Thiện Chí, Viện Đại Học Đàlat. Nhờ anh Nguyễn Tường Cẫm , Nguyễn Khải, anh Minh đi xin tiền tài trợ từ Tòa Tỉnh, Asia Foundation, USIS, Cha Viện Trưởng, …hội Thanh Niên Thiện Chí Đà Lạt có thể tổ chức hai trại dài hạn, mỗi trại một tháng xây dựng nhà cho đồng bào tỵ nạn mà nhân lực là bàn tay và sức lực của những sinh viên của Viện Đại học Đà Lạt.

Nhóm chủ lực của trại Suối Thông gồm anh Nguyễn Đức Quang làm trại trưởng, các anh Lỉnh, Châu, Thảo, Ý… đều là những Hướng Đạo sinh tại Đàlạt, rất có kinh nghiệm đi trại công tác. Tôi và chị Khánh Tuyết là hai người nữ ở trong trại suốt thời gian, lo việc ẩm thực cho tòan trại. Ban ngày các anh trại viên phụ trách công việc xây dựng nhà. Công việc rất nặng nhọc như vác tre, vác gỗ, trộn hồ, chuyển hồ, dựng mái, lợp mái…. Tối về sau bửa cơm tất cả chúng tôi quây quần bên nhau ca hát ; trời lạnh và mưa ngồi trong nhà (nhà sàn cao cẳng), nếu không mưa chúng tôi đốt lửa ngồi ngoài trời, có khi đến một , hai giở sáng (tuổi trẻ có khác !) Anh Quang đàn hát liên miên, chúng tôi hát những bài ca của trẻ em, của Hướng đạo và những bài ca lịch sử (Bạch Đằng Giang, Bóng Cờ lau,……,), nhac tiền chiến. Mặc dù chỉ có hai người nữ (có khi chỉ có một mình tôi, khi chị Tuyết cần về Đàlạt lấy thêm tiền, mua thêm thức ăn) chúng tôi luôn tham dự sinh hoạt cùng các anh. Riêng tôi vì đã là đòan sinh Gia Đình Phật tử đã tham dự rất nhiều trại sinh hoạt ở học đường, cũng như trại công tác vệ sinh, trại Cứu thương, trại Cứu hỏa với đoàn hướng đạo Đạo Cửu Long ở Saigon, nên tôi rất thông thạo, dạn dĩ khi tham dự trại công tác của sinh viên Viện Đại Học Đà Lạt. Lại nữa tôi thuộc lòng và rất mê hát những bài hát lịch sử, những bải hát thanh niên, nhạc tiền chiến nên không bao giờ chịu bỏ cuộc những buổi hát hò tập thể này. Ngoài ra tôi có đưa cho anh Nguyễn Đức Quang mượn tuyển tập nhạc những bài dân ca Mỹ (một IVS đã tặng tôi trước khi về Hoa Kỳ). Tôi nhớ anh Quang thường đem ra đàn và tập cho chúng tôi hát. Tôi có đòi anh Quang quyển tập nhạc này, nhưng lần nào anh cũng quên trả và tôi cũng quên đòi luôn. Có điều chắc chắn là tập nhạc này có giá trị và hữu ích cho anh Nguyễn Đức Quang hơn là ở trong tay tôi.

Điều đáng nói về trại công tác là chúng tôi sống cả tháng trời trong làng Thượng, không hề về lại Đàlạt; sống trong tiện nghi tối thiểu, thức ăn, nước uống rất hạn chế, chẻ củi, lặt rau, nhóm lửa (viết đến đây tôi nhớ anh Nghiêm Hữu Ý, đã mất khi vượt biên, chổng mông thổi lữa phù phù)…làm việc rất nặng, thời tiết vừa lạnh, vừa mưa, đất bùn, đất đỏ, trơn trợt… nhưng tôi không hề nghe một lời than vãn, gây gổ hay cãi vã nhau. Nam nữ sống chung trong căn nhà sàn không hề có những sàm sỡ hay bậy bạ, có trêu ghẹo nhau nhưng không bao giờ quá lời, rất vui vẻ và thân ái với nhau trong tình anh em một nhà.

Kết thúc những ngày trại anh em chúng tôi mỗi người có một tên mới : K’Quang, K’Lĩnh, K’Châu, K’Tuyết, K’Ý, K’Nga… (theo cách thức đặt tên của một làng Thượng, K là họ của một giòng tộc, sinh sống rải rác tại Đà Lạt, Pleiku…)

Trại Suối Thông là một trong những trại thành công của Thanh Niên Thiện Chí Đàlạt, công đầu của anh Nguyễn Đức Quang và có thể nói chính nơi đây cũng là cái nôi sản xuất ban Trầm Ca và sau này là Nhóm Du Ca do anh Quang làm trưởng, họp cùng nhóm các anh trại sinh của trại Suối Thông dựng nên.

Năm 1972, nhóm Du Ca của Nguyễn Đức Quang cùng với anh Hoàng Ngọc Tuệ có dự tính chương trình phát động phong trào Du Ca rầm rộ hơn để đáp ứng nhu cầu của thế hệ thanh niên, sinh viên nơi học đường cũng như ngoài xã hội. Việc đầu tiên là in ấn và phổ biến rộng rãi những sáng tác của Nguyễn Đức Quang và ban Trầm Ca, cùng những bài nhạc thanh niên, tuổi trẻ, dân ca của các quốc gia khác ca ngợi tự do, nhân quyền khi giới thanh niên, sinh viên Việt nam chúng tôi có dịp tham dự những trại hội nghị, công tác quốc tế. Anh Ngô Mạnh Thu và tôi được giao phó làm Thủ quỹ của Phong trào.

Tiếc thay năm 1975 tan hàng, chúng ta đã tan tác mỗi người một nơi, một chốn. Nhưng không ai có thể phủ nhận rằng thế hệ chúng ta đã được hun đúc từ một môi trường tự do, nhân bản đạo đức từ tiểu học, trung học cho đến đại học, trong gia đình, cũng như ngoài xã hội. Chúng ta, một lớp người sống có lý tưởng, một thế hệ mà khát vọng tràn trề sẵn sàng ‘đứng lên đáp lời sông núi’ qua những ca khúc của Trầm Ca , của Du Ca vừa hùng hồn, vừa mời gọi, để xây dựng, để góp lời, cho quê hương , cho dân tộc….

Năm 1980, anh Nguyễn Đức Quang có ghé thăm chúng tôi tại Portland; nói chuyện về làm báo và Du Ca….

Năm 1996, chồng trước của tôi, anh Dương Mạnh Hùng mất. Anh Lê Đình Điểu an ủi : Trần Đại Lộc và Dương Mạnh Hùng đi trước là để tìm đất trại, tổ chức trại, chúng ta sẽ cùng tham dự một trại thật lớn.

Lê Đình Điểu đã đi, Đỗ Ngọc Yến đã đến nơi, nay Nguyễn Đức Quang lên đường…. vẫn là để nhận công tác làm Trại trưởng (chăng ?), một công việc mà Nguyễn Đức Quang đã từng vác nga voi rất nhiều lần ở cõi Ta Bà…

Tiễn Anh Nguyễn Đức Quang lên đường … anh đi, anh Quang nhé, ‘đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang’….. nơi đến MIỀN CỰC LẠC MIÊN VIỄN.

Nam mô Tiếp Dần Đạo Sư A Di Đà Phật

K’NGA

Bùi Ngọc Nga

San Jose, mưa bão tháng ba, 2011

Nối tiếp là nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, cũng là người của đất Bắc Cali, viết bài "Nhạc Nguyễn Đức Quang, Tuổi Trẻ, Mặt Đất và Hiện Tại", tác giả kể về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang của những ngày quá khứ và những sinh hoạt dành cho âm nhạc, và quê hương Việt Nam. Nguyễn Xuân Hoàng và Nguyễn Đức Quang là hai bằng hữu thân thiết trên hai dịa hạt văn chương và báo chí. Nhận định về Nguyễn Đức Quang, tác giả cho là một nhạc sĩ thành công cần 2 yếu tố tài năng và nhân cách; Với Nguyễn Đức Quang, tác giả không những thích nhạc Nguyễn Đức Quang, nhưng có thể ông còn thích nhiều hơn ở nhân cách của người nhạc sĩ đáng kính phục này. Nguyễn Đức Quang là một con người nhân cách. Xin hãy theo dõi toàn bộ bài viết của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng:

"Cho dù các ca khúc của Nguyễn Đức Quang được viết cách đây hơn 30 năm ở trong nước, âm nhạc của anh mỗi khi vang lên bao giờ cũng thổi đến trong lòng người nghe hơi nóng của một trái tim bốc lửa.

Tuổi trẻ, đó là hơi thở trong toàn bộ những sáng tác của anh. Và quê hương là hình ảnh đẹp đẽ trong tiếng nói của anh. Các ca khúc của Nguyễn Đức Quang có thể nói tràn ngập những lời tình tự dân tộc.

Có người nói, âm nhạc của Nguyễn Đức Quang không thiếu những tình khúc. Điều này không sai, nếu tình khúc được hiểu như những khúc ca viết cho một mối tình khổ đau, chia ly, tan vỡ. Những Vì Tôi Là Linh Mục, Thiên Thu (phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên)… chỉ là một chút màu xanh trong bức tranh hoành tráng của tuổi trẻ trong âm nhạc của anh.

Nguyễn Đức Quang viết và hát và anh biết rõ anh đang viết gì, hát gì!

Vào giữa thập niên sáu mươi, bẩy mươi, trong khi Sài Gòn và các tỉnh trong nam vang lên một số những ca khúc não nuột, sướt mướt, những khúc bi ca nấc lên từ một trầm tư siêu hình, bốc hơi từ một thứ triết học trên mây,… Nguyễn Đức Quang – dù mới vừa bước vào tuổi hai mươi – đã chọn mặt đất, thực tại xã hội, dân tộc và quê hương làm hướng đi của anh.

Nhạc Nguyễn Đức Quang đã đánh thức một tuổi trẻ bị chìm đắm trong cơn mê dài của những dòng nhạc ru ngủ. Những ca khúc của anh mang tên Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương, Xương Sống Ta Đã Oằn Xuống, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, Không Phải Là Lúc…, Hy Vọng Đã Vươn Lên…, Đã làm nên một Nguyễn Đức Quang khoẻ mạnh và vạm vỡ.

Không phải là lúc ngồi đặt vấn đề nữa rồi, phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới… Nguyễn Đức Quang đã nói như thế với những người cùng trang lứa với anh, và cái thông điệp ấy không phải chỉ riêng cho một tuổi trẻ Việt Nam. Thông điệp ấy anh đã gửi đến cho toàn thể con người Việt Nam trong một xã hội đang tan rã, trong một đất nước đang bị chia cắt từ đất đai đến tấm lòng…

Nếu xem những khúc bi ca làm đẫm ướt trái tim là bóng tối thì những ca khúc của Nguyễn Đức Quang là ánh sáng.

Nếu xem những tình khúc nức nở, nghẹn ngào là quá khứ thì nhạc của Nguyễn Đức Quang bao giờ cũng là của hiện tại.

2-

Tôi muốn nói nhạc của Nguyễn Đức Quang sẽ thuộc về hiện tại và mặt đất bao lâu mà xã hội chúng ta vẫn còn những con buôn (ở khắp nơi), còn những em bé ngồi khóc bên vĩa hè, còn những đứa trẻ lang thang ngoài đường phố, không nhà cửa, không người thân; bao lâu vẫn còn quanh quẩn đâu đây những ruồi nhặng và kên kên… thì nhạc Nguyễn Đức Quang vẫn còn tác động trên cuộc sống chúng ta.

Hãy nghe Nguyễn Đức Quang hát:

Anh ơi, mau đi coi món hàng chúng bán

Trên Bến Chương Dương,

Bên đường Tự Do, giữa nơi rừng già,

Buôn trong Chùa, Phật không tha,

thần không qua, buôn cả Thánh Chúa.

(Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi)

Một lời phỉ báng đốt cháy một đời như là cây đuốc

một lời đàm tiếu cũng khiến họ hàng xa gần nhơ nhuốc

vậy mà một nước có mỗi ngày hàng trăm tờ tin tức

toàn lời nhục nhã mắng nhiếc phẩm bình chê bai không dứt

đó anh!

Xem đây quê hương tôi một thùng rác lớn

Nơi đây đang vây quanh một đàn ruồi xanh

Đàn ruồi xanh

ruồi xanh….

(Ruồi và Kên Kên)

Nhưng nhạc Nguyễn Đức Quang không chỉ đưa ra những mặt tiêu cực của cuộc sống. Nhạc của anh còn chứa đựng một tình yêu tràn trề về quê hương và hy vọng cho những ngày tới. Đó là những khúc hoan ca Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương, Bầu Trời Quê Hương Ta, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ… cho thấy một Nguyễn Đức Quang tích cực trước cuộc sống:

Này người yêu, người yêu tôi ơi,

Bên kia sông là ánh mặt trời

Này người yêu người yêu anh hỡi,

Bên kia đời cỏ hoa đan lối…

(Bên Kia Sông – Thơ My Sơn)

Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền

Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến

Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn, tràn nước mắt

Hy vọng đã vươn lên như làn tên

Đang rực lên trong màn đêm….

(Hy vọng Đã Vươn Lên)

Và một trong những ca khúc đã làm Nguyễn Đức Quang trở nên người của quần chúng, của đám đông, có lẽ là Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Ở ca khúc này, âm nhạc của Quang như một cơn lũ cuốn phăng đi mọi rác rưới, phá tan đi xích xiềng, đốt cháy đi ô nhục….

Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn

đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm

đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang…

(Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ)

Tôi hiểu âm nhạc của Nguyễn Đức Quang phải gắn liền với xã hội, con người, quê hương, đất nước của chúng ta. Âm nhạc của anh phải được đập theo nhịp đập của những trái tim sôi nổi của một tuổi trẻ không bằng lòng với hiện tại. Âm nhạc của anh phải được vang lên trên vĩa hè thành phố từ Bắc chí Nam, vang lên trên các sân trường đại học, trên cánh đồng, trong khu rừng bập bùng ánh lửa, ở những nơi mà đồng bào ta cần những bàn tay, những cánh tay… Có thể nói nhạc của Nguyễn Đức Quang không thích hợp trong không khí của một phòng trà, nơi mà những ly cà phê đắng, những mịt mù khói thuốc và hơi rượu cay đốt cháy một đời tuổi trẻ….

Như tên một ca khúc của anh, nhạc của Nguyễn Đức Quang là những tiếng rống của những đàn bò:

“Sao chúng tôi phải làm mãi thân bò sát, trườn mình đi trong vũng tối mất tương lai?

Sao chúng tôi phải làm mãi loài lạc đà, mang niềm đau của một người nô lệ già?…”

(Tiếng Rống Đàn Bò)

Nguyễn Đức Quang không phải là người nói nhiều. Anh tin người và yêu đời.

Trong những năm ở Quận Cam, chúng tôi từng có những buổi sáng thứ Sáu ngồi bên nhau trong tiệm ăn có tên Spires ở góc đường McFadden-Brookhurst – và lúc đó tôi thấy một Nguyễn Đức Quang hoạt bát khi anh nói về quê hương, xã hội và âm nhạc. Tôi nói, nhạc của anh chưa mất tính hiện tại, nhạc của anh vẫn còn nguyên vẹn tính chất thời sự của nó khi được vang lên trên đường phố Việt Nam hiện tại.

Tôi cho rằng sở dĩ nhạc của Quang đi vào trái tim người trẻ dễ dàng và mạnh mẽ như vậy bởi vì nhạc của anh đi thẳng từ một trái tim lọc qua một khối óc tinh nhạy. Nguyễn Đức Quang suy nghĩ trên lời nhạc trước khi ghi lại những suy nghĩ ấy bằng âm thanh. Và cũng có thể ngược lại. Tôi nhớ có lần nhạc sĩ Phạm Duy nói với tôi: Nếu Lê Uyên Phương viết bằng da thịt thì Nguyễn Đức Quang viết bằng lý tưởng. Tôi không hiểu nhận định ấy của Phạm Duy đã gây cho Lê Uyên Phương và Nguyễn Đức Quang những suy nghĩ gì? Tôi chỉ có thể lập lại một điều: Nhạc của Nguyễn Đức Quang trước hết thuộc về Mặt Đất và Hiện Tại.

Là học trò của nhạc sĩ Lê Thương, nhưng âm nhạc của Nguyễn Đức Quang là một kết hợp kỳ lạ của ba dòng sông: âm hưởng của Nga qua những khúc dân ca, như Hò Kéo Gỗ Trên Sông Volga [lời Phạm Duy], những bài nhạc Do Thái [He-Sha-Luz] sáng tác cho những kibbutz, và sau cùng cốt lõi của nó chính là dân ca Việt Nam.

Những buổi sáng thứ Sáu, từ quán ăn Spires trong thị xã Garden Grove, California, chúng tôi đã hình thành một tình bạn không bằng lời nói. Cũng như những dấu lặng trong âm nhạc, sự im lặng trong tình bạn chính là một thứ ngôn ngữ chứa nhiều ý nghĩa nhất.

Tôi thích nhạc Nguyễn Đức Quang, nhưng có thể tôi còn thích anh nhiều hơn ở nhân cách của anh.

3-

Bắt chước một nhà nghiên cứu phê bình văn học, chúng ta có thể nói: Nhân vật trung tâm của âm nhạc là người nhạc sĩ, nhưng sự phát triển của âm nhạc tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác. Đó là tài năng và nhân cách. Tài năng là cái trời cho, chỉ có thể bồi đắp chứ không thể đào tạo. Nhưng nhân cách thì ai cũng cần phải có. Đôi khi nhân cách còn quan trọng hơn cả tài năng. Và người ta chỉ thật sự có nhân cách khi biết sống vì những lẽ phải lớn, biết giữ được lòng trong sáng, và biết trung thực trước mỗi thử thách của cuộc sống. Không có nhân cách thì sẽ hoặc ngông nghênh vô lối, hoặc khúm núm xu thời….

Nguyễn Đức Quang, hơn là một nhạc sĩ tài năng, anh là một con người nhân cách.

Điều đó làm âm nhạc anh lớn hơn cái chiều cao nó vốn có.

Điều đó làm cho người ta càng quý Nguyễn Đức Quang hơn và yêu âm nhạc của anh nhiều hơn. [NXH]

Nhà văn Vĩnh Liêm ở Santa Ana chuyển đến tôi bài thơ gồm nhi62u thơ họa của các thân hữu trong văn học, trong dó tôi tìm thấy bài thơ ngắn 4 câu của anh Nguyễn Ðức Quang. đó là Bài Thơ Trốn Tuyết:

Giã từ cung bậc âm ba,

Nhớ thời dĩ vãng Du-Ca cho đời.

Bây chừ Người Việt khắp nơi,

Trông Ông Giám Ðốc nụ cười quen quen.

Nhạc sĩ Trần Quang Hải từ Paris chuyển email tiễn đưa người quá cồ qua bài viết ngắn:

"Kỷ niệm với nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang.

Năm 1969, Nguyễn Đức Quang sang Pháp để trình diễn những sáng tác mới cho sinh viên Việt Nam . Tôi rất phấn khởi khi nghe bản "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" mà anh đã hát và làm sôi động lòng yêu quê hương và làm tăng tinh thần tranh đấu vào thời điểm lúc đó. Hai anh em có thì giờ tâm sự và hiểu được vai trò của anh Quang trên đường đấu tranh qua những ca khúc Du Ca mà anh là chim đầu đàn . Nay anh ra đi nhưng đã lưu lại cho hậu những ca khúc hùng tráng sống mãi trong lòng người Việt cộng hòa.

Trần Quang Hải, Pháp"

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa, một thân hữu trong giới âm nhạc của Nguyễn Đức Quang cho lời viết:

"Nhớ về Nguyễn Đức Quang

Anh Nguyễn Đức Quang và tôi vẫn có sự tương kính và có một số kỷ niệm với nhau, kỷ niệm về làm báo cũng như kỷ niêm về âm nhạc. Khi anh làm Tổng thư ký nhật báo Người Việt, vì tôn trọng ý kiến, anh cho phép đăng bài viết của tôi dù biết bài đó có thể làm buồn lòng một vài anh em. Qua nhật báo Viễn Đông, tôi cộng tác với anh trong mục nhiếp ảnh hằng tuần cho đến khi báo đổi chủ. Về sau thỉnh thoảng tôi có gặp anh ở Lily Bakery, bên cạnh Reflection Photo Studio của nhiếp ảnh gia Thái Đắc Nhã, ở Garden Grove, California, trao đổi vài câu chuyện rồi đi vì ít khi tôi ngồi lại lâu. Đặc biệt nhất là đêm nhạc 11-10-2008 ở Carpenter Performing Arts Center, Long Beachanh Quang là diễn giả chính trên sân khấu nói về con người và nhạc của Lê Văn Khoa. Tôi rất cảm động về nhiệt tình của anh đối với cá nhân tôi cũng như đối với bạn bè.Chén thù chén tạc chưa xong anh đã mau chân đi trước. Tôi thua anh một bước, nhưng cũng sẽ theo anh.

Chúc anh thượng lộ bình an. Xin được gửi ảnh này đến anh để anh thấy có cả một trời âm nhạc đang chờ đón anh."

image011.jpg

image012.jpg

Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng, cũng là một thân hữu của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang chuyển lời cám ơn và tiễn đưa như sau:

"Cám ơn anh Nguyễn Đức Quang những gì anh đã làm và để lại cho dân Việt. Coi như anh Quang đang đi một chuyến đi dài để trở về với đất Việt .

Chúc anh yên nghỉ.

Phạm Anh Dũng"

image007.jpg

Nhạc sĩ Phan Anh Dũng trên vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, phụ trách trang website văn nghệ Cỏ Thơm quy tụ tại liệu về nhiều văn nghệ sĩ, trong có nhiều bài về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, mà anh email cho bài viết chung này. Sau đây anh viết bài tiễn với chữ "tạm biệt" trong tựa đề, vì nơi chốn anh Quang đến có thể chúng ta đoàn tụ về sau…

"Tạm Biệt "người yêu quê hương" Nguyễn Đức Quang

Hồi trung học, tôi thường đến chơi trụ sở CPS – Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Sinh Viên Học Đường – vì anh họ tôi Phan Văn P., giáo sư Toán cùng thày Trần Đại Lộc, dạy Việt văn ở Petrus Ký, là 2 thành viên của CPS hay "ăn dầm ở dề" ở trụ sở đó. Tôi được nghe các đàn anh, đàn chị đầy nhiệt huyết, hát hò vui vẻ với những cây đàn guitar thùng và tổ chức những buổi trình diễn văn nghệ sinh hoạt cộng đồng cho giới trẻ, học sinh và sinh viên.

Lúc ấy, tôi cũng tham dự vào Hướng Đạo VIệt Nam và thỉnh thoảng có dịp đi "công tác từ thiện" quanh Sài Gòn – kỷ niệm không thể quên là công tác giúp đỡ dọn dẹp ở Chợ Lớn và Phú Lâm sau Tết Mậu Thân. Chúng tôi thường hát với nhau các bản nhạc trong tập in ronéo, trong đó có một số bản nhạc của Nguyễn Đức Quang như: "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ", "Về Với Mẹ Cha", "Đường Việt Nam", "Hy Vọng Đã Vươn Lên" … Các bản nhạc của anh Quang với tiết điệu rộn ràng và lời lẽ yêu nước hùng mạnh làm chúng tôi hăng hái vô cùng!

Sau khi biết chơi đàn guitar và vào Đệ Nhị Cấp, tôi yêu mến các tình khúc của các tác giả "trẻ" lúc ấy như Trần Tú, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Vũ Đức Sao Biển và đặc biệt là 2 bản nhạc của Nguyễn Đức Quang: "Bên Kia Sông" và "Như Mây Trên Cao".Giai điệu của "Bên Kia Sông" dễ nhớ, khá hay và lời của "Bên Kia Sông" trữ tình, lãng mạn, lồng trong một khung cảnh thật lý tưởng (theo thơ của Nguyễn Ngọc Thạch). Hình ảnh tươi sáng trong "này người yêu, người yêu tôi ơi, bên kia sông là ánh mặt trời", ta có thể hình dung 2 người yêu, đồng chí hướng, sẵn sàng lên đường giúp người, giúp đời … Lời của bài "Như Mây Trên Cao" cũng có nét tương tự như thế, "anh sẽ lên trên ngọn Hồng Lĩnh hái cho em một đóa hoa rừng, thầm khắc tên em vào phiến đá rêu xanh, rồi vây quanh bằng trái tim anh …" tạo cho người hát, người nghe một cảm giác lãng mạn, nhẹ nhàng, tình yêu thánh thiện trong sáng …

Tháng 3 năm 2005 anh Nguyễn Đức Quang có ghé về miền Đông Hoa Kỳ để giúp tay với Hướng Đạo trong vùng Hoa Thịnh Đốn. Cựu giáo sư Mạc Đỉnh Chi là thi nhạc sĩ Nguyễn Tường Vân cùng anh Bùi Mạnh Hùng đã tổ chức một họp mặt tiếp đón anh Quang với sự tham dự một số văn thi ca nhạc sĩ trong vùng như: Hoàng Song Liêm, Hà Bỉnh Trung, Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Tuân, Vĩnh Liêm, Nguyễn Minh Nữu, Bạch Mai, Bùi Mạnh Hùng, Nguyễn Văn Đặng, Kiều Nga … Tâm Hảo và tôi có đến gặp anh và đêm ấy, tôi hân hạnh được phụ đệm đàn vài bài chung với anh Nguyễn Đức Quang. Tuy phải dùng một cái ghế ngồi thay cho giá nhạc và một "camera stand" làm "micro stand" cho anh, nhưng người du ca vẫn vui vẻ, hát hết lòng, giọng sang sảng với những bản nhạc nổi tiếng của anh và đặc biệt nhất là bài mới sáng tác đầu năm 2005, đó là ca khúc "THÈM" (toàn bài ở dưới). Trong lúc anh hăng say trình bày, vài thính giả nghe lời hát có những ý "mới lạ": cười khúc khích …

Dù ở tuổi gần 70 nhưng anh vẫn còn nhiều nhiệt huyết, hoài bão, vẫn "thèm" được sức khỏe và năng lực như lúc còn sinh viên, đi rong ruổi đó đây với cây đàn guitar thùng, để được hát lên những lời kêu gọi giúp đỡ người kém may mắn, đầy tình tự quê hương. Thỉnh thoảng đọc tin anh đi ngao du ở Úc, Pháp, Hoà Lan và một số tỉnh ở Hoa Kỳ … đi đến đâu anh cũng được đón tiếp nồng hậu.

Nghe tin anh bị stroke nặng khi lên San Jose sửa soạn trình diễn vào tháng 2 và đã nằm trong phòng cấp cứu ở một bệnh viện từ lúc đó, tôi và nhiều người đã cầu nguyện mong anh được qua cơn hiểm nghèo. Chủ nhật vừa qua, 27 tháng 3, 2011, anh đã vĩnh viễn thanh thản rong chơi, theo lời của một Trưởng Hướng Đạo là "anh đã lìa rừng".

Đầu tuần này, tôi đã soạn một trang để tưởng nhớ anh ở website Cỏ Thơm với nhiều bài viết về anh từ thân hữu khắp nơi:

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=932&Itemid=47

Theo tôi, thính giả mê thích nhạc của anh vì lời lẽ rất thật, rất gần, không màu mè, luôn chứa đựng những thông điệp cao đẹp, không bao giờ buồn rầu và ủy mị.

Cảm ơn "người yêu quê hương" Nguyễn Đức Quang đã đem đến cho Tân nhạc Việt những đóa hoa đẹp. Tôi tin chắc rằng anh ra đi mãn nguyện vì ngọn lửa du ca đã bùng lên trở lại đến mọi Cộng Đồng người Việt trên thế giới – cũng như thập niên 60 ở Việt Nam vậy.

Phan Anh Dũng-Tâm Hảo

Richmond, Virginia USA

30/3/2011

PS: Gửi kèm:

Tên bài hát: THÈM

Nhạc và lời: Nguyễn Đức Quang

Khởi soạn tháng 10/04 – Hoàn tất tháng 1/05

Thèm – đầu ngày cất tiếng yêu đời

Thèm – giọt cà phê đắng Paris những ban mai

Thèm – trèo lên cao ốc chơi vơi kinh thành

Gọi một tiếng lớn tên quê hương mình

Truyền đi ngàn hướng – lời tôi rung bao trái tim

Thèm – nhìn sâu đôi mắt thấy hiền

Thèm – được nghe nhắc đến tên nhau ngọt êm

Thèm – cuộc đời mở những chân thang rất đều

Để em lên xuống khoan thai dặt dìu

Thèm mùi son mới – thèm câu nói tình yêu

Thèm hương mồ hôi đẫm – những lòng phố chen chúc con người

Thèm trông bờ môi xinh tha thiết nhiệt tình nói miết tương lai

Thèm mới nửa câu kinh đã thấy quanh mình nở hoa trắng trong

Thèm xem đoạn phim hay em cười trong vắt nụ hôn kéo dài

Thèm – chạm làn khói trắng lưng trời

Thèm – ngồi bên nhau hát miên man lời vui

Thèm – ngồi co chân sát vai nhau bên đồi

Nửa vòng tay ấm đốt cháy lưng người

Nửa vòng hờ hững chờ có tiếng ai gọi mời

Thèm – nửa đêm nghe tiếng oan cừu

Gọi bằng đường giây nóng xin bôi xóa chuyện xưa

Thèm – ngồi trên phiến đá chân mây cao vời

Gập ghềnh lăn bánh nhân sinh ngọt bùi

Hoàng lan thơm ngát, chiều quê ơi, em và tôi."

Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi viết marathon bài cho kịp thời hạn, tôi nghe chị thức khuya. Tác giả này xuất thân từ gia đình văn chương và âm nhạc, chị vốn dĩ thích 2 phạm vi này, trong bài viết, nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi về kỷ niệm tham dự nghe những buổi ca hát với nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, tác giả dùng lối xưng hô bằng tên LN, tức Lan Nhi. Bài "Một Chút Tâm Tình Với Anh Nguyễn Đức Quang":

"Khi được cháu Minh Phú cho biết tin anh Nguyễn Đức Quang bị coma, Lan Nhi (LN)thật sự đã lặng im, vì không biết phải nói gì lúc này.

Mới đây tt lại cũng nhắc đến anh:

" Chị LN ơi, em có nghe tin nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vừa lâm trọng bệnh, phải nhập viện tuần trước, hiện nay tuy đã qua cơn hôn mê nhưng nửa thân người vẫn còn bị liệt…"

Ông Trời chắc cũng điếc tai vì những lời cầu xin của những người ái mộ nhạc du ca của anh, và thế nào ông cũng cho anh mau khỏi để còn sáng tác nhạc và hát cho mọi người nghe nữa chứ!

Với anh Quang, có thể LN biết anh, chắc chắn anh không biết LN là ai, dù rằng, gần như lần nào anh Quang tổ chức hát, khi thì ở nhà người bạn, khi thì ở Phòng sinh hoạt Người Việt, LN đều có dự.

Người mà rủ LN đến nghe anh Quang hát tại nhà một người bạn, chính là vợ chồng hmh. Căn nhà khang trang rộng rãi, nhưng chính lại nhờ vườn sau rộng rãi, có cây lớn cho bóng mát, đã chứa được mấy chục người ái mộ nhạc du ca của anh Quang. Tới đó, LN không quen biết ai ngoài hmh và Hiền. Sau này, khách đến càng ngày càng đông, LN mới có được vài người bạn quen đã lâu tình cờ hôm đó được gặp lại.

Một bàn dài bày rất nhiều thức ăn, nước uống. LN chỉ nhớ là nhiều món ăn lắm. Làm sao nhớ để kể ra đây được, vì thời gian cũng khá lâu rồi… Thường thì có soup, chả giò, bánh cuốn Thanh Trì, bánh lá, bánh nậm, gỏi đu đủ, gỏi cuốn…hình như còn có thịt bò tái…

Chương trình bắt đầu khoảng 3 giờ, và anh đã một mình với cây đàn guitar hát cho đến 6 giờ mới tan…

hmh và Hiền ơi, lâu quá chị em mình chưa gặp lại nhau đó nha. Chị LN đang nghĩ đến một hôm nào họp ở nhà chị, hy vọng sẽ được gặp lại các em Gia Long một thuở mới quen.

Khi anh Quang tổ chức ở Người Việt, thì người đến đón LN tới dự nhạc du ca của anh Nguyễn Đức Quang lại là cháu Minh Phú.

Anh đã hát say sưa những bản nhạc do anh sáng tác, và chỉ với một cây đàn guitar, anh đã hát say mê và không ngừng.

Thời gian vẫn lướt trôi. Bây giờ, xác thân anh Quang đang nằm yên nơi gian trần khổ ải này, nhưng hồn anh đang bay bổng cõi xa. Có thể anh đang hàn huyên cùng chị Quang, có thể anh đang lang thang nơi rừng sâu, ven suối, đi tìm vần nhạc…

LN cầu chúc anh được thảnh thơi nơi cõi vĩnh hằng, để lại cùng những người ái mộ, anh vừa đàn, vừà ca những bài nhạc nói lên tình yêu nước, yêu người..nơi .bên kid thế giới …

Với riêng LN, LN rất mê bài Bên Kia Sông, và lần nào cũng thế, khi tiếng đàn guitar vừa dạo vài nốt nhạc đầu, LN đã thấy lòng xôn xao theo giọng ca trầm bổng của anh:

Này người yêu, người yêu anh ơi!

Bên kia sông là ánh mặt trời

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên kia đồi, cỏ hoa đan lối

Bên kia núi, núi cao chập chùng

Bên kia suối, suối réo lạnh lùng

Là bài thơ, toàn chữ hư vô …

Nghe những lời ngưoi yêu ru êm…và thật lãng mạn, tình tứ, LN cảm thấy như có người yêu thương đang ngồi bên cạnh thầm thì với mình những lời nồng nàn, âu yếm…

Này người yêu anh ơi!

Cho anh nồng ấm cuộc đời

Hoa thơm có ánh mặt trời

Như núi mừng – vì mây đến rồi

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Yêu nhau mình đưa nhau tới

Bước nhẹ – và nói bên môi

Nói cho vừa.. mình anh nghe thôi!

Còn gì dễ yêu hơn lời:

– nói cho vừa… mình anh nghe thôi!

LN cứ nghĩ đó là một hờn ghen nhẹ nhàng, đáng yêu, bởi anh không muốn em nói với ai cả, ngoài anh, chỉ một mình anh thôi nha.

Này người yêu, người yêu anh ơi!

Bên kia sông đường vẫn còn dài

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên kia đồng cỏ non đan lối

Trong cơn gió – thoáng nghe nụ cười

Trong khe núi – thánh thót lòng người

Lòng đòi tình vật vã khôn nguôi

Này người yêu anh ơi!

Đêm đêm lòng vỗ tình dài

Dây xanh quấn quít vào đời

Cho trái tình nở trên tiếng cười

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên trong lòng người êm ái

Rắc nhẹ từng cánh hoa rơi (*)( cánh sao rơi)

Sẽ âm thầm mình em nghe thôi!

Và cuối cùng, anh cũng hứa như một lời đoan quyết thủy chung, khi trái tình nở trên tiếng cười, đó là lúc:

- Sẽ âm thầm mình em nghe thôi.

LN lại thích thú khi nhớ đến câu: Chỉ hai đứa mình thôi nhé, khi hết chỉ mình anh nghe, rồi lại chỉ mình em nghe…

Cám ơn lời thơ của thi sĩ Nguyễn Ngọc Thạch, cám ơn dòng nhạc của nhạc sĩ kiêm ca sĩ Nguyễn Đức Quang.

Bỗng nhiên LN lại ví anh với nhạc sĩ Văn Giảng. Bởi 2 người cùng đa số có những bản nhạc hùng. Khi nghe nhạc hùng mạnh, LN không ngờ trong thâm sâu tận cùng của tâm hồn, anh Giảng cũng như anh Quang vẫn giữ được nét nhạc tình thơ mộng, lãng mạn, tình tứ đến vậy.

Tuy nhiên LN có nghĩ đến lời bóng bẩy với ý nghĩa như muốn vẽ cho ngườì bên này sông, hình ảnh một cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc, tự đo của đời sống bên kia sông…

Anh Giảng có bài Ai Về Sông Tương. Anh Quang có bài Bên Kia Sông… Cả hai bài tình ca cùng hay, cùng sống mãi với thời gian.

Lê Hữu Mục, Lê Hiền Minh, Lê Thị Hồng, Phạm Kim Long, Hồng Vũ Lan Nhi và Cát Ngọc xin vĩnh biệt chia tay"

Thân hữu Không Gian Mây Ngàn – Phân Ưu:

Sự ra đi của Nhạc sĩ Du ca Nguyễn Đức Quang là một điều buồn, môt mất mát lớn cho làng âm nhạc Việt Nam, Chúng tôi chân thành cầu nguyện cho anh sớm về nơi vĩnh hằng.

LS Thành Thanh Hiệp, GS Nguyễn Xuân Vinh, GS Nguyễn Ngọc Bích, LS Đoàn Thanh Liêm, GS Nguyễn Thanh Trang, GS Nguyễn Quốc Khải, LS Đỗ Thái Nhiên, BS Nguyễn Tri Phương, Phiến Đan, Khúc Minh, Khúc Lan, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Đỗ Tiến Đức, Huỳnh Lương Thiện, Chu Bá Yến, Đoàn Hữu Định, Phạm Đình Long, MS Trần Văn Oan, Đỗ Thị Thuấn, các Diễn đàn Thân hữu, Không Gian Mây Ngàn – (TP-NXV).

Tôi được bái viết trích đoạn sau từ trang Cỏ Thơm do nhạc sĩ Phan Anh Dũng chuyển link. Nhà văn Giao Chỉ San Jose cho cảm nghĩ về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang:

" … Nhưng thực sự phải xem Nguyễn Đức Quang hát mới thấy rõ sự quyến rũ của Du Ca.

Tham dự văn nghệ ta thường nói là đi nghe hát, nhưng với Nguyễn Đức Quang thì phải là đi xem hát. Dân Sinh Media có thu được rất nhiều lần Nguyễn Đức Quang trình diễn, nhưng đã chọn lọc được một lần xuất thần hơn tất cả nhưng lần khác. Các bài “Đường Việt Nam”, “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” trình diễn trên sân khấu nhỏ đã được thu hình trong giây phút nghệ sĩ để hồn vào lời ca, tiếng hát, bằng tay chân, bằng dáng điệu và bằng cả tấm lòng. Quí vị có thể tìm thấy và cảm thông với giây phút huyền diệu trong đĩa DVD số 2 của bộ phim San Jose 35 năm nhìn laị qua 3 kỳ biến động.

Phiếm về du ca Nguyễn đức Quang

Tôi không phải là nhà phê bình âm nhạc, nhưng gọi là phiếm luận thì ai cũng có thể. Xin phiếm như sau. Trịnh Công Sơn kêu gọi ngồi xuống thì Nguyễn Đức Quang thôi thúc đứng lên. Cùng trong cuộc chiến, Trịnh Công Sơn than thở thì Nguyễn Đức Quang chấp nhận.

Trịnh Công Sơn nhìn thế giới trong hoàng hôn thì ánh bình minh rọi sáng với Nguyễn Đức Quang. So sánh cả với du ca Phạm Duy sống trong thế giới mùa Thu thì du ca Nguyễn Đức Quang vĩnh viễn là mùa hè. Nếu Phạm Duy tuyệt vọng trong cuộc chiến bi thảm thì Nguyễn Đức Quang luôn luôn thấy hy vọng đã vươn lên. Nếu Phạm Duy và Trịnh Công Sơn soạn nhạc cho cuộc đời ca hát thì Nguyễn Đức Quang soạn nhạc để chính mình cùng ca hát với cuộc đời …"

Mời xem: Để Nhớ Nhạc Sĩ "Việt Nam quê hương ngạo nghễ" Nguyễn Đức Quang – Giao Chỉ San Jose"

Nhạc sĩ Dương Viết Điền có dịp gặp nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang tại Việt Nam và tại Mỹ, tác giả thuật kỷ niệm đầu tiên gặp anh Quang tại Huế:

Một Kỷ Niệm Với Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang

Tôi nhớ vào khoảng năm 1971, 72 gì đó, Nhac Sĩ Nguyễn Đức Quang dẫnTrung đội Chính huấn từ Trung ương ra ở lại tại Đại Đội 101 Chiến Tranh ChínhTrị thuộc Tiểu Đoàn 10 CTCT, trú đóng trong Thành Nội thuộc thành phố Huế để đi sinh hoạt ở vùng Hoả Tuyến. Năm ấy, tôi cũng giữ chức vụ Trung đội trưởng Chính huấn của Đại đội 101 CTCT nên đã đại diện Đại đội 101 tiếp đón anh ấy để rồi hai anh em chúng tôi cùng ngủ chung một phòng trong đơn vị. Sau mấy ngày công tác tại các binh chủng ở vùng Hoả Tuyến, vào những ngày nghỉ, tôi đã hướng dẫn Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang cùng tất cả các nữ Huấn Đạo thuộc Trung đội Chính huấn từ Trung ương ra, đi thăm một số Lăng tẩm của các vua Chúa nhà Nguyễn ở đất Thần Kinh. Sau chuyến thăm viếng nầy, anh Nguyễn Đức Quang nói với tôi rằng, anh ta tỏ ra rất thích thú vì không ngờ chuyến công tác ở vùng Hoả Tuyến nầy lại được một dịp may là biết được một số Lăng tẩm của những nhà vua Triều Nguyễn.

Vào một chiều thứ bảy, anh Quang nói với tôi:

-Chiều nay anh Điền đi chơi với tôi nhé

Tôi hỏi anh Quang :

-Đi đâu vậy hở anh?

-Đi xuống biển Thuận An hóng mát.

Tôi ngạc nhiên nhìn anh:

-Anh ở tận trong Sài Gòn mới ra Huế mà lại biết bãi biển Thuận An?

Anh Quang vừa cười vừa trả lời:

-Thì anh cứ đi với tôi, tôi bảo đảm anh sẽ có một buổi vui chơi thoả thích cơ mà!

Mặc dầu trong đầu tôi lúc bấy giờ bán tin bán nghi, nhưng tôi vẫn lái xe chở anh Nguyễn Đức Quang đi theo sự hướng dẫn của anh ấy!

Khi ra tới đườngTrần Hưng Đạo ( lâu ngày quá tôi có thể nhớ lộn đường), anh Quang chỉ đoàn xe GMC khoảng 4 chiếc chở đầy cả người đang đậu sát lề đường ở đằng kia rồi bảo tôi :

-Khi nào đến sau đoàn xe đó thì anh dừng lại nhé.

Tôi vừa ngạc nhiên vừa lái xe đi theo sự hướng dẫn của anh Quang. Vừa đến sau đoàn xe, tôi liền dừng lại. Khi anh Nguyễn Đức Quang vừa bước xuống xe, anh ta liền đưa tay ngoắt rồi vừa cười vừa vẫy tay chào những người ngồi trên xe GMC. Vừa nhận ra Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang, tất cả những người ngồi trên 4 chiếc xe GMC liền đưa tay vẫy chào lại và reo hò thật to như đã thấy được thần tượng :

-Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đến rồi, Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đến rồi !

Nhìn lướt nhanh những người ngồi trên bốn chiếc xe GMC, tôi thấy tất cả đều thuộc vào lứa tuổi thanh thiếu niện, thiếu nữ. Và mọi người đều bận đồng phục: bộ áo quần bà ba màu nâu. Thì ra đây là đoàn du ca ở miền Trung. Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đã cùng họ sắp xếp đâu từ lâu rồi để chờ dịp Nguyễn Đức Quang ra công tác ở vùng Hoả Tuyến sẽ cùng nhau đi du ngoạn và trình diễn một chuyến!

Nguyễn Đức Quang liền nhìn tôi vừa cười vừa nói:

-Anh dẫn tôi đi du ngọan trên núi, bây giờ tôi dẫn anh đi du ngoạn dưới biển thôi.

Tôi cũng vừa cười vừa nói:

-Tôi xin thua ông! Ông kín đáo quá, làm tôi đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác !

Thế rồi hai anh em chúng tôi ôm nhau cười xoà.

Sau đó tôi lái xe chở Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đi đầu, hướng dẫn đoàn du ca ngồi trên 4 chiếc xe GMC trực chỉ xuống bãi biển Thuận An để thực hiện chương trình văn nghệ của đoàn du ca đã vạch sẵn.

Đêm ấy, đúng như lời anh Quang nói với tôi, tôi “đã có một buổi vui chơi thật thỏa thích”. Chương trình văn nghệ của đoàn du ca nầy thật hấp dẫn, sống động, kỳ thú vàvui tươi.

Dưới ánh trăng mờ ảo trong đêm, anh chị em trong đoàn du ca đã đốt lửa trại sáng rực cả một góc trời và họ ngồi quây quần bên nhau quanh bếp lửa hồng rồi vừa đàn vừa hát suốt đêm thâu thật vui tươi và ấm cúng. Người nổi bật nhất đêm ấy dĩ nhiên là Nhạc Sĩ Ngyễn Đức Quang, một trong những người sáng lập ra Phong Trào Du Ca ViệtNam từ thập niên 1966.

Cứ mỗi khi anh Quang hát xong một bài do anh sáng tác, những tràng pháo tay tán thưởng nhiệt liệt vang dội cả một góc trời, át luôn cả tiếng sóng biển ở đằng xa đang vỗ rì rào trong đêm tối. Có lẽ vì lâu ngày và có một số ”fan”chưa bao giờ được nghe và thấy Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang hát bao giờ nên đêm ấy, họ đã thấy rõ ràng thần tượng của họ bằng xương bằng thịt đang đứng hát trước mặt nên khoái chí quá đã vỗ tay liên hồi không muốn ngừng lại.

Chương trình đêm hôm ấy đủ các tiết mục: song ca, hợp ca, tam ca, tập thể ca v v…

Riêng Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang, anh ta vừa đánh đàn vừa hát. Với giọng hát khi bổng khi trầm, anh ta khi đi tới, khi đi lui, khi nghiêng bên trái, khi nghiêng bên phải, khi cúi xuống khi ngững lên như muốn diễn tả những ý nghĩ của anh nằm trong những bản nhạc mà anh ta đang hát. Đây là lần đầu tiên ( năm 1971), tôi thấy Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang trình diễn những bản nhạc do chính anh sáng tác. Tôi nghe tiếng tăm Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang từ lâu nhưng chưa bao giờ gặp anh ta vì tôi ở ngoài miền Trung, anh ấy lại ở trong Nam mặc dầu cả hai chúng tôi đều cùng ở trong ngành Chiến Tranh Chính trị.Và đúng là danh bất hư truyền nếu nói đến nội dung của từng bản nhạc và bộ tịch diễn tả lúc anh ta đang trình diễn! Thảo nào khi tôi lái xe dừng lại sau đoàn xe GMC, khi anh Quang vừa bước xuống xe đưa tay lên vẫy chào, gần cả trăm thiếu niên thiếu nữ la oang oang trên xe như tỏ vẻ quá vui mừng rồi reo hò như họ được thấy một thần tượng đã ấp ủ trong giấc mộng từ lâu. Tôi bỗng buột miệng nói nho nhỏ:

– Không ngờ Nguyễn Đức Quang nổi tiếng đến thế!

Nếu tôi nhớ không lầm, vì lâu ngày quá cách đây đã 40 năm, đêm đó cũng có Nhạc Sĩ Trần Đình Quân, tác giả của bản nhạc tình ca nổi tiếng vang bóng một thời là bài” KHÚC TÌNH CA XỨ HUẾ”. Nhạc Sĩ Trần Đình Quân, giáo sư dạy học tại Trường Trung Học Phan Châu Trinh ở Đà Nẵng, cũng là một trong những người sáng lập ra Phong Trào Du Ca thưở ấy.

Nếu tôi nhớ không lầm thì đêm ấy, Nhạc Sĩ Trần Đình Quân cũng có trình diễn một,hai bài gì đó.

Thế rồi đêm đã về khuya, chương trình văn nghệ cũng chấm dứt. Tất cả anh chị em trong đoàn Du Ca chia tay nhau ra về mà lòng ai cũng bâng khuâng tiếc nuối vì niềm vui qua mau.

Tôi liền chở Nhạc Sĩ Ngyễn Đức Quang trở về lại đơn vị trong Đại Đội 101 CTCT trú đóng sát phi trường Tây Lộc ở trong Thành Nội Huế để nghỉ ngơi .

Sáng hôm sau, Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang cùng toàn thể nữ Huấn Đạo trong Trung đôi Chính huấn của Trung ương từ giả tôi, từ giả đơn vị trưởng của Đại đội 101 CTCT để về lại Sài Gòn.

California, ngày 28 tháng 03 năm 2011

( Viết sau khi vừa nhận được e- mail của chị Bích Huyền báo cho biết, Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang vừa qua đời lúc 04giờ sáng).

Các thân hữu Bích Huyền, Quỳnh Giao, Phong Vũ Lê Anh Dũng, Vương Trùng Dương, Nguyễn Thanh Huy, Trần Trung Đạo, Vũ Hoài Mỹ, Hoàng Tiến Long, Nguyễn Đức Cường, Vũ Văn Tùng, Trần Thế Cung, Song Thuận, Nguyễn Phục Hưng, Nguyễn Ngọc Tuấn, Khiếu Long, Ngọc Hoài Phương, Xuân Điềm, Trần Đại Nam,Tâm An Đỗ Văn Học, Lê Bình, Phan Bá Thụy Dương, Võ Thạnh Văn, Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, Nguyễn Cao Can, Diệu Tần, Chinh Nguyên, Nguyễn Ngọc Linh và Dương Viết Điền xin đồng thành kính phân ưu cùng tang quyến.

Dương Viết Điền"

image008.jpg

Ca sĩ Thanh Lan viềt bài tưởng niệm, chị nhắc dến chuyến văn nghệ ở Âu châu, một văn thuở văn khoa với nhạc du ca Nguyễn Đức Quang…

"Tưởng nhớ anh Nguyễn Đức Quang.

Anh Quang mến,

Từ những năm 70 xa xứa, Thanh Lan đã luôn nghĩ đến anh như một người thanh niên đầy nhiệt huyết, yêu đời và yêu đất nước Việt Nam vô bờ bến.

Trong khi bao nhiêu thanh niên hứ hỏng vì hoài nghi cái tương lai của chính mình, bỏ học vì nghĩ rằng dù sao cũng sẽ bỏ mình ở chiến trường mà thôi, thì anh luôn vững tin vào một Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Anh có cái ý chí mạnh mẽ và trong sáng của một anh hùng dân tộc. Một bài hát của anh có hiệu quả hơn ngàn viên đạn đồng.

Đêm nay, hình ảnh anh trong chuyến đi Âu Châu mấy mươi năm trước lại trở về, rõ nét hơn bao giờ hết, khi nghe tin anh đã vĩnh viễn ra đi. Anh gầy gò vói cây đàn guitar, nhưng nét mặt luôn rạng rỡ. Khi anh hát, anh tặng cho khán giả tất cả sừc sống của ngúóì trai trẻ muốn gửi gấm một thông điệp cho đời.

Chỉ mời mấy tháng đây thôi, đến với anh trong đêm Nguyễn Đừc Quang tại sân khấu nhỏ của tòa sọan báo Người Việt, nụ cười của anh làm ấm lòng mọi người. Vẫn gầy gò, vẫn năng động, vẫn Nguyễn Đức Quang.

Nhớ lại một thõi sinh viên ………

Gửi anh vài dòng…….

Một người bạn cũ,

Thanh Lan"

Người nộp bài đầu tiên là anh Phan Tấn Ngưu, một người năng động trong các sinh hoạt cộng đồng tại Quận Cam, anh ôn về dĩ vãng xa xưa khi nhạc du ca của Nguyễn Đức Quang thịnh hành vang dội khắp phố phường, cũng như tại các sân trường đại học của thủ đô Sài gòn, hãy đọc:

"Đối với tôi, trong 3 năm, 1963 đến 1965, những bài hát của Nguyễn Đức Quang đã vang khắp phố phường cũng như trong các trường Đại Học của thủ đô Sài gòn mà tôi được góp tiếng với anh, chị em ngay sau khi vừa rời mái trường Petrus Ký. Đó là tiếng nói của lớp trẻ muốn đóng góp hoặc muốn làm gì đó cho đất nước trong thời điểm cuộc chiến tranh đang đến hồi ác liệt.

Kỷ niệm với Nguyễn Đức Quang là kỷ niệm của cả một đời, mà đến nay, trong số chúng tôi, ít ai dám quên. Không phải bài hát "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" đã chỉ được hát ở Sài Gòn hoặc sau này tại hải ngoại, mà ngay sau 1975, đã được anh em tù chúng tôi hát hàng đêm sau bản Quốc Ca VNCH, trong 6 buồng tại trại Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú khi được đưa từ trại Thủ Đức ra đây vào ngày 13 tháng 3 năm 1977 bằng tàu Sông Hương. Hậu quả sau đó, chắc mọi người cũng đã đoán được những gì dưới bàn tay sắc máu của kẻ thù, của bọn công an giữ trại. Tôi không thể không nhắc đến các anh: Nguyễn Hữu Hiệp (phi công F5), Đỗ Khương (Thủ Đức), Trần Hà Phỗ (Quận Trưởng), Hà Công Tư (Quận Trưởng), Bửu Uy (TH Sinh Viên), Trần Văn Nhuận (SĐ.7), Lê Văn Tính (hiện còn đang trong tù ở VN), và… (không nhớ hết).

Mong sao, nước cứ mãi dâng tràn, không bao giờ tàn…

Xin được góp lời cầu nguyện cho bạn Nguyễn Đức Quang.

Thành kính phân ưu:

Võ Văn Xét, Tiểu Tử Võ Hoài Nam, Nguyễn Hữu Của, Trần Quan An, Phan Tấn Ngưu"

Người nộp bài thứ hai là tiến sĩ Mai Thanh Truyết, cũng như anh Phan Tấn Ngưu, hai anh đều tốt nghiệp trường Petrus Ký, cùng mang gốc đồng hương Tây Ninh, những đàn anh của tôi vốn yêu thích nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, bởi vì phần chính trong lời nhạc của Nguyễn Đức Quang không ủy mị, yếm thế, thê lương, tắc trách, vì cuộc chiến dâng cao, nhạc tiêu cực khiến tuổi trẻ bơ vơ, hoang mang về cuộc sống, VNCH dễ dãi khi cho lưu hành những dòng nhạc ảm đậm đáng trách của đại bác ru đêm, của bom B-52, người chiến binh về với đôi nạng gỗ, hay trên chiếc trực thăng trắng,… Nhạc Nguyễn Đức Quang trong cũng thời điểm có phần đóng góp tích cực hơn cho lý tưởng VNCH, anh nhìn về khía cạnh xây dựng tuổi trẻ tích cực dấn thân, tuổi trẻ vì dân tộc, vì quê hương, nhạc anh ôn lại Việt Nam với lỉch sử kiêu hùng, tuổi trẻ là tương lai đất nước, hãy giữ niềm tin yêu quê hương, những giá trị cao quý cúa gia đình Việt Nam, ví dụ Không Phải Là Lúc, Về Với Mẹ Cha, Dưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Một Giấc Chiêm Bao, Về Miền Gian Nan, v..v.. Những điểm mà anh em chúng tôi đồng ý với nhau. (VH – LGT). Sau đây là lời của tác giả Mai Thanh Truyết:

"Nhớ về Nguyễn Đức Quang

Năm 1968, lúc đó tôi đang ở Besancon, Pháp. Hội đàm Paris gồm Việt Nam Cộng Hòa, Bắc Việt, Mặt Trận Giảo phóng miền Nam, và Hoa Kỳ bắt đầu nhóm họp vào tháng 5 tại Paris.

Các buổi họp hàng tuần thật gay gắt chỉ nhắm vào vị trí của từng phái đoàn, và hình thể chiếc bàn vuông hay bàn tròn… Sau cùng chọn bàn hình bầu dục…

Tinh thần sinh viên, đặc biệt là Tổng hội sinh viên tại Paris lúc đó rất hăng say. Tôi hầu như chạy lên Paris hàng tuần sau trưa thứ sáu, sau khi ra khỏi phòng thí nghiệm. Vì như cầu, tôi, lúc đó là Tổng thư ký Hội sinh viên Besancon, đề nghị thành lập tờ báo để góp mặt vào phong trào đấu tranh ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa.

Tờ báo có tên là TIẾNG NÓI, quay bằng rénéo mượn của một Cha giáo xứ tại đây (Anh Nguyễn Ngọc Lân phụ trách trình bày hiện đang ở tại Orlando). Báo hoàn toàn do anh chị em sinh viên cùng một số mạnh thường quân tức bà con cư ngụ trong vùng Franche Comté (là tỉnh và Besancon là thi xã của tỉnh). Thời đó, Người Việt mình chưa có business nào hết.

Tinh thần anh chị em sinh viên rất cao lúc đó, hàng tuần thường sinh hoạt tại giáo xứ hay tại câu lạc bộ của ký túc xá. Và bài hát khởi đầu luôn luôn là bài “Không phải là lúc…” của Nguyễn Đức Quang được tôi khởi xướng. Và cũng chính bài hát nầy, tôi đã đưa Gíao sư Nguyễn Ngọc Huy (Cố vấn của Phái đoàn VNCH) và BS Trần Văn Bình, bác sĩ riêng của Cụ Trần Văn Hương, lúc đó là Tùy viên Văn hóa của Tòa Đại sứ VNCH đi cùng khắp các tỉnh miền Đông nước Pháp như Colmar, Mulhouse, Strasbourg, Nancy…

Anh nhạc sĩ du ca ơi!

Tôi không quên anh, những lời “Không phải là lúc ta ngồi đặt vần đề…” tôi đã được nghe anh và Đinh Quang Anh Thái hát trong một buổi du ca tại nhựt báo Người VIệt cách đây không lâu vẫn còn văng vẳng đâu đây.

Tôi và những anh chị em sinh viên tranh đấu thời đầu 1960 sẽ không bao giờ quên anh đâu anh Quang. Anh ra đi, nhưng tối thiểu anh còn để lại cho những anh chị em cùng thế hệ với nhau ngọn lửa đấu tranh cho chính nghĩa thích ứng với dòng máu năng động và hăng say của tuổi thanh niến.

Và bây giờ và mãi mãi về sau, anh vẫn còn để lại cho hậu thế niềm tin sắt son để làm một cái gì cho tổ quốc là…”làm việc đi không lo khen chê, làm việc đi hãy say và mêcứ bắt tay gan lì chúng ta giải quyết. Mình chậm chân đi sau người ta, mà ngồi đây mãi lo viễn vông, thắc mắc ngại ngùng biết bao giờ….mới làm xong”.

Lời ca của anh đã là một kim chỉ nam cho tôi không những ngày còn là thanh niên, mà vẫn còn tiếp tục trong tôi, một “ông già” chỉ còn một tuổi nữa và được xếp vào “thất thập cổ lai hy”. Tôi không đặt vấn đề với anh em, nhưng chắc chắn tôi đặt vấn đề những người đang tàn phá Đất và Nước của chúng ta, thưa anh Quang.

Dù lớn hơn anh hai tuổi, tôi vẫn tiếp tục con đường anh đã vạch ra và cố gắng nuôi dưỡng tinh thần thanh niên khai phá cho tương lai của anh mà không nề hà, do dự, cũng như chùng bước trước mọi trở ngại.

Anh Nguyễn Đức Quang ơi! Ngồi trong office, mặc dù tôi đã đủ tuổi về hưu từ hơn 3 năm qua, mặc dù tôi không còn lo nghĩ về tài chánh cho tương lai nữa, nhưng tôi vẫn tiếp tục bước đi cho trọn con đường đời của một người trai thời loạn.

Anh Quang ơi!

Anh mất đi nhưng anh không chết!

Lịch sử Việt Nam sẽ mãi mãi ghi tên một người con nước VIỆT lúc nào cũng nặng lòng với non sông.

Vĩnh biệt anh,

Mai Thanh Truyết

West Covina, 29/3/2011

Nguyễn Thanh Liêm, Trần Văn Thuần, Phan Văn Song, Châu Văn Để, Phan Đình Minh, Phạm Gia Cổn, Phan Nhật Nam, Huy Phương, Paul Vân, Phạm Kim, Phạm Quốc Bảo, Đinh Quang Anh Thái, Chu Tất Tiến, Trần Minh Xuân, Trần Minh Nhật, Vi Anh, Đỗ Hải Minh, Mai Thanh Truyết, Lê Ngọc Điệp, Diễn đàn Từ Cánh Đồng Mây và Đồng Nai Cửu Long.

Đồng Thành Kính Phân Ưu"

Nhạc sĩ Ngọc Mai như nhạc sĩ Dương Viết Điền, như nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi, thức khuya cho xong bài, những nghệ sĩ của Tình Nghệ Sĩ, theo tinh thần một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ. Tôi xin cám ơn các tác giả hưởng ứng lời kêu gọi:

"Bên kia sông có ánh mặt trời …….*

Và rồi anh cũng đã buông bỏ bụi trần để về lại bên kia sông !

Tôi vẫn còn như nghe đâu đây tiếng hát anh trong buổi nhạc Nguyễn Đức Quang tại hội trường báo Người Việt năm vừa qua. Anh hát say mê nhiệt huyết như chàng thanh niên trẻ đã làm tôi hình dung lại được cái tuổi trẻ hăng hái , lý tưởng của một Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ mà vào thưở đó tôi còn rất nhỏ để không thể nào được phép tham gia phong trào du ca. Tuy nhiên, sau này, trong giờ sinh họat tại trường những bài hát du ca của anh được hát vang vang trong sân trường.

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm

Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng

(Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ)

Lời nhạc hùng hồn say mê mà khi hát lên đã dấy động được lòng yêu quê hương đất nước không những vào thưở đó mà mỗi khi bài hát đó được hát trên xứ người lúc nào cũng làm tôi rung cảm với một quê hương bỏ lại !

Nguyễn Đức Quang, chàng lãng tử của phong trào du ca đã dừng bước phiêu bồng của đời sống hiện tại . Anh đã về lại “ bên kia sông “ , nơi đó tôi mong rằng anh sẽ tìm thấy ánh mặt trời với đồi cỏ hoa đan lối , để trong cơn gió sẽ thấy anh thóang nụ cười của thánh thót trong lòng mọi người đang nở hoa trong lời ca tiếng nhạc của anh sẽ còn vang vang mãi của những người mang dòng máu Việt Nam ngạo nghễ với khí khái kiêu hùng với lòng yêu quê hương tha thiết.

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng

Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm

Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời

Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người

Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam

Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian

Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên

(Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ )

Âm nhạc như con người của anh : khí khái, kiêu hùng nhưng rất nhân bản vì chan chứa tình yêu thương . Tình yêu với quê hương dân tộc, tình yêu thương con người . Anh đã trở về bên kia núi cao chập chùng , bên kia suối reo lạnh lùng để câu ca còn văng vẳng nơi đây . Anh có hay chăng có tiếng nấc nhẹ khi tin anh rời cõi trần của mỗi người VN đã một lần vang câu hát của anh.

Tiếc thương cho Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang chưa kịp hát câu cuối trong đời , khi con tim vẫn còn nhiều hòai bão cho quê hương , cho âm nhạc ! Yên nghĩ anh nhé vì tin chắc rằng bên kia sông anh đã đến , nơi đó có ánh mặt trời với an bình , yên ả và còn lại đây chúng ta chỉ tìm anh trong bài thơ hư vô , trong câu hát muôn đời mà anh để lại .

Còn Việt Nam

Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng

( Việt Nam Quê Hươgn Ngạo Nghễ )

Trái tim người nhạc sĩ đã ngừng đập những nhịp yêu thương nhưng sức nóng của bầu nhiệt huyết cho một quê hương vẫn còn ngạo nghễ trong lòng mỗi người Việt Namcòn ở lại .

Này anh hỡi, bài thơ giờ chỉ còn hư vô , nhưng núi mừng vì mây đã đến rồi …..!

Yên nghĩ anh nhé .

Tạm biệt người nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang !

Ngọc Mai

032011

* Trích tựa bài Bên Kia Sông . Thơ Nguyễn Ngọc Thạch. Nhạc : Nguyễn Đức Quang"

Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện và nghệ sĩ Thanh Vân từ Paris gửi lời cho anh Nguyễn Đức Quang, hứa sẽ cùng nhạc sĩ Phương Oanh tham dự chương trình hát tưởng niệm nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang tại Paris:

"Quách Vĩnh Thiện xin cầu chúc anh Nguyễn Đức Quang ra đi bình an.

QVT

On Thu, 3/31/11, Vinh-Thien QUACH <… > wrote:

From: Vinh-Thien QUACH <… >

Subject: Re: Ngay Van Hoa Truyen Kieu – Tho va Nhac – 10 Juillet 2011

To: "phuongoanh voquang" <… >

Cc: "Viet Hai Tran" <viethai712>

Date: Thursday, March 31, 2011, 10:16 AM

Phương Oanh thân mến,

Thiện nhớ Nguyễn Đức Quang nhiều lắm.

Chính Thiện đệm đàn cho Nguyễn Đức Quang hát bài Chiều Qua Tuy Hòa ở Paris 1969 … Anh Nguyễn Đức Quang cùng tuổi, sanh năm 1943 với Thiện.

Thiện sẽ cố gắng có mặt ngày đó.

Thân mến

Quách Vĩnh Thiện.

2011/3/31 phuongoanh voquang <….fr>

Chào Thiện

Không biết Thiện nhớ Nguyễn Đức Quang không?

thứ bảy này 2-4, Phượng Ca – Du Ca làm buổi tưởng niệm tại trung tâm Paris Pour Tous , so 32, rue Javelot 75013 luc 14h…

Nếu Thiện có thì giờ, đến với tụi này.

Than men

PO.

oOo

Phương Oanh, Paris

Quang ơi

Hôm nay, tôi mở email chậm vì có một ông cha người da đen đến thăm.

Trần Quang Hải gửi tin về sự ra đi của Quang sau một thời gian dài nằm trong coma…..Tôi giậc bắn người…vì đêm hôm qua, ngày hôm qua, tôi vẫn còn đang mong chờ tin Quang hồi phục….

Thế là từ đây tụi mình sẽ chỉ còn gặp nhau trong mơ mà thôi…..

Cuộc đi thăm bè bạn hồi năm ngoái của Quang là một kỷ niệm đẹp đối với mọi người.

Tôi nhớ mãi khi gặp Quang ở cửa phòng sinh hoạt, câu đầu tiên Quang nói với tôi là tưởng đã chết năm trước rồi, chứ đâu có ngờ được gặp lại Oanh ở đâu. Hôm đó, tình thật tôi cũng rất bận, nhưng cũng cố thu xếp mọi việc nhờ con trai chở mẹ đến thăm bác Quang….và phải về ngay, vì có người chờ đợi tôi ở nhà.

Nhìn da mặt hồng hào, dáng người nhanh nhẹn của Quang, vẫn như cách đây 40 năm, tôi không nghỉ Quang bỏ cuộc chơi quá sớm, bỏ bạn bè quá nhanh để đi vào cõi vĩnh hằng.

Trong suốt thời gian Quang nằm ở bệnh viện, tôi vẫn hằng nghe ngóng tình hình Quang qua bè bạn, nhất là qua trang Du Ca để thông báo tin tức của Quang……

Tôi vẫn hy vọng Quang đứng dậy với mọi người, tôi vẫn hy vọng Quang nghe lời cầu nguyện của mọi người cho Quang mau tỉnh lại.Nhưng lần này, thì Quang đã bỏ cuộc hẳn, để làm cuộc hành trình mới với những bè bạn đã về bên kia thế giới…và Quang cứ việc tiếp tục rong chơi nhế, sẽ có ngày chúng ta lại gặp nhau và sẽ cùng nhau hát lại những bài ca khai phá tự thuở nào.

Khi tôi viết những giòng chữ này cho Quang, thì chắc là Minh Thông đã đến gần Quang, để hai người trở lại như lúc mới đầu yêu nhau.

Nhớ phù hộ cho con cháu và lôi cuốn các bạn du ca khắp nơi tiếp nối con đường Quang đã đi qua nhé.

Và mỗi khi du ca cất tiếng hát, thì Quang phải có mặt bên cạnh nhé.

Con chim đầu đàn của ban Trầm Ca đã tách rời nhóm để đi tìm một chân trời mới,

Phong trào Du Ca mất đi người trưởng sáng lập tài ba

Tất cả chúng ta tiếc nuối một người bạn thiệt thân vừa qua đời…

Thương yêu

Phương Oanh.

Kế tiếp anh Francis C. Khuc cùng bằng hữu gửi lời chia tay như sau:

Vô cùng xúc-động nhận được tin buồn

Anh/Nhạc Sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG

Tốt-nghiệp Khóa 1 Trường Chánh-Trị Kinh-Doanh

Viện Đại-Học Đà-lạt

đã vĩnh-biệt cõi trần lúc 04:00 sáng ngày Chúa Nhật 03-27-2011

tại tiểu-bang California, Hoa-Kỳ

Xin thành-kính phân-ưu cùng toàn-thể tang-quyến

và nguyện-cầu hương-linh anh Nguyễn Đức Quang được ngàn đời yên-nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

Gia đình Nguyễn Đình Dũng-Minh Lý,

Gia đình Nguyễn Văn Tâm-Thanh Thủy

Gia đình Hà Trọng Minh-Mai Phương

Francis C. Khuc

Email Hồ Ái Việt cùng các bạn trong forums ĐỜI SỐNG VUI và CLBTNS:

Anh VIỆT HẢI thân quý,

Nhờ Anh giúp VIET LOAN cùng ACE forums ĐỜI SỐNG VUI và CLBTNS gởi lời phân ưu và cầu nguyện đến gia đình Nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG. Sự ra đi của ANH QUANG là một mất mát to lớn cho mọi người còn mang giòng máu và tinh thần Dân tộc VIỆT NAM . "VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ " , " GƯƠM THIÊNG HÀO KIỆT " , " VỀ VỚI MẸ CHA " và rất nhiều bài khác đã là Động lực thúc đẩy VIỆT, LOAN và nhiều bạn hữu cùng thế hệ Hăng say họat động trong Sinh Họat HƯỚNG ĐẠO, trong Binh Chủng HAI QUÂN mà HỒ ÁI VIỆT đã phục vụ nhiều năm, và tiếp tục chuyển tiếp Tinh Thần Dân Tộc VIỆT NAM đến thế hệ kế tiếp.TINH THẦN DÂN TỘC VIỆT NAM của Anh NGUYỄN ĐỨC QUANG sẹ tồn tại mãi mãi.

Các thân hữu diễn đàn ĐỜI SỐNG VUI:

Trần Trọng Nhân, Trang Sĩ Phước, Trầm Lãng, Hoảng Trí Dũng, Don Hồng, Olivia Tú Trâm, Phương Nga, Annie Ngọc Ánh, Thanh Đào, Chiêu Lê, Nguyên Nhung, Thanh Loan,Hồ Ái Việt cùng các bạn trong forums ĐỜI SỐNG VUI.

Email Cao Minh Hưng – CLBTNS:

"Sáng hôm nay trên đường đến chỗ làm, tôi nghe lại giọng nói của Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang trong chương trình "Tản Mạn Văn Học-Chân Dung Tác Giả và Tác Phẩm" trên làn sóng phát thanh Little Saigon Radio. Giọng anh rất khoẻ, rất hùng hồn, say sưa nói về những kỷ niệm cho một số sáng tác của anh, trong đó có nhạc phẩm bất hủ "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ"…Vậy mà anh đã rời xa chúng ta đã một tuần rồi, dù tiếng nói của anh vẫn còn văng vẳng bên tai. "Còn Việt Nam, triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng!"….Mượn câu hát của anh, tôi xin được viết thêm, "Còn Việt Nam, chúng ta còn mãi nhớ đến người Nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang."

Cao Minh Hưng, Lê Thúy Vinh, Thy Linh, Minh Tuấn, Hồng Vân, TriNa Thu Hà, Lan An, Hạnh Cư, Lưu Mỹ Lan, Hà Trúc Mai, Quang Huy, Thúy Anh, Nguyên Vũ, Xuân Thanh, Lan Hương, Fatima, Giáng Ngọc, Ngọc Như Hoa, Cẩm Sa, Quốc Toản, Dạ Lan, Ngọc Hà, Nhã Lan, Ngọc Bích, Cao Minh Hưng, các bạn hữu Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ.

Email của Du Ca Chi Bảo Diễm Chi:

Anh Quang nay đã đi rồi

Diễm Chi kính điếu tới Trưởng Xướng Du Ca Nguyễn Đức Quang….

Anh Quang nay đã đi rồi,

Về nơi vĩnh cửu Ngàn đời Du Ca

Chúng tôi nước mắt chan hòa

Cùng nhau hát những bài ca anh làm

Hướng Đạo, Chính Huấn,Áo Lam,

Trầm Ca tư tưởng bao hàm mến yêu,

Du Ca vận nước tiêu điều

Những ngày tháng cũ bao nhiêu thăng trầm.

Anh đi bỏ lại dư âm….

Nhạc, ca, nghiệp viết, cõi trần còn đây

Chúc anh Tiến thẳng đường mây

An vui cõi phúc tháng ngày thênh thang

Diễm Chi, Dương Hữu Chương và An Nguyễn Kiều Mỹ Duyên

Đồng Thành Kính Phân Ưu

Ký giả Nguyễn Toàn từ Sydney gửi cảm nghĩ và chia buồn:

"Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã viết nhạc từ năm 16 tuổi .Đa số viết cho Hướng đạo.

Nhưng khi nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang trở thành nhạc sĩ Du Ca – anh đã sáng tác bản "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ". Tên tuổi anh đã thành danh – quần chúng khángỉa đã biết đến anh.

Phải công nhận mỗi khi được nghe hay hát bản nhạc "Việt Nam Quê hương ngạo nghễ " – máu trong người như chảy cuồn cuộn .

Bản nhạc dễ hát – nên mọi người chóng thuộc – bất cứ đâu – như đi Lửa trại – hay xuống đường Biểu tình chống Cộng -bản nhạc cũng được mọi người cất cao với tiếng vỗ tay nhịp nhàng theo bài hát- thậm chí trong Tù – bản nhạc cũng được hát .

Xin chia tay nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang . Chúc anh ra đi trong an bình.

Các bạn:

Nguyễn Toàn, Sydney, Huỳnh Kỳ Phát, Nam Lộc, Việt Dzũng, Nguyễn Xuân Nam, Duy Khiêm, La Anh Dũng.

Nhạc sĩ Thanh Trang, San Diego cho thơ tiễn đưa:

Thuyền đời xa bến

Bạn bè cũ còn bao người ?

Bạn tính cũ ngoài phương trời !

Cùng năm tháng như mái tranh chiều

nhạt màu nắng phai !

Một thời đó đã qua rồi !

Dù chẳng theo tiễn chân người

Một lần thuyền rời bến không lời từ biệt

rồi thôi !

Nói đi lời cuối cho vừa nỗi thiết tha !

Nói đi lời cuối đây rồi mai cách xa !

Tiễn nhau lần cuối mai này không thấy nhau !

Sóng đưa thuyền đó trôi về nới bến nào?

Thanh Trang

Nam Cali 26 tháng 03-2011

“Nhạc sĩ Ái Hoa, Palm Springs cho lời chia tay nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang:

Xin được cùng quý vị nghệ sĩ phân ưu với tang quyến về sự ra đi của NS Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn của Du Ca/Trầm Ca Việt Nam.

Nguyện cầu hương linh của NS Nguyễn Đức Quang thảnh thơi về nơi Cực Lạc cùng với tiếng đàn và những nốt nhạc Du Ca.

Xin cám ơn quý vị đã cho cơ hội để đóng góp lời phân ưu!

Các bạn: Nguyễn Minh Châu, Hoàng Thy, Diệp Thanh Thủy, Tiểu Thu, Múi Quý Bồng, Trương Ngọc Thạch, Khanh Phương, Phan Bái,Thanh Lan, Hồ Ai Việt, John Thụy, Nguyễn Cao Thăng NJ, Hồ Đăng, Nguyễn Văn Thành MN, Lê Hân SJ, Thái Đắc Nhã, Đường Sơn Aussie, Ái Hoa – Đồng Thành Kính Phân Ưu. Forum Đời Vui Sống"

Kế tiếp là bài do diễn đàn Hoa Tự Do của chị Trương Mỹ Loan chuyển sang, tác giả là nhà báo Phan Tấn Hải, cộng tác viên với báo Việt Báo:

"Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã ra đi. Nhạc sĩ đã đóng góp quá nhiều cho lịch sử, cho văn hóa, và cho âm nhạc Việt Nam — nhiều hơn những gì mà một đời người có thể làm.

Tôi tin rằng nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang là một người tiền định. Thời như thế, vận nước như thế, dân mình đau thương như thế… tất phải có một người như Nguyễn Đức Quang tới để hát lên những đau thương đó, và để ngợi ca những ước mơ và hy vọng về một ngày mai bình an, thương yêu, hàn gắn…

Anh đã trở thành một phần của lịch sử Việt Nam. Những ca khúc của anh tuy đang còn bị cấm hát tại Việt Nam hiện nay, nhưng điều chắc chắn có thể thấy rằng nhạc của Nguyễn Đức Quang sẽ không thể bị biến mất, bởi vì những dòng nhạc của anh đã len khuất sâu vào tim người nghe, bởi vì đó là những ước mơ đẹp nhất của tuổi trẻ Việt một thời nội chiến.

Tôi đã mơ hồ thấy như thế từ thời học trò. Lúc đó là sau Tết Mậu Thân 1968. Tôi trong nhóm các học sinh thiện nguyện trung học Chu Văn An nhận xây cất một phần trong khu tạm cư Lý Thái Tổ, một vùng đất nằm giáp giới quận 3 và quận 5, Sàì Gòn – nơi đây, phụ trách xây cất gồm học sinh nhiều trường trung học, và nhiều hội đoàn như Hướng Đạo, Nghĩa Sinh…

Giữa những ngổn ngang của cây, của ván, của các tấm bạt che mưa nắng, giữa các gia đình dân Việt mất nhà cửa vì các trận giao chiến Tết Mậu Thân… tuổi trẻ học trò đang ra sức dựng nhà tạm cư cho đồng bào. Chính trong những đêm thức lửa trại và rồi ngủ vì mệt vùi ở trại này, nhạc Nguyễn Đức Quang là những âm thanh không rời với một thời tuổi trẻ của tôi.

Sau năm 1975, khi còn trong nước, có những lúc đi xe đạp trên đường Sương Nguyệt Ánh, ngang qua ngôi nhà từng làm trụ sở Phong Trào Du Ca, tôi vẫn thắc mắc tự hỏi, không biết nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đang ở đâu và có vượt biên được không. Lúc đó, nhạc Nguyễn Đức Quang tất nhiên là bị cấm ở quê nhà, ai cũng hiểu như thế. Thế đấy, quê nhà lúc đó đã cấm mọi thứ.

Có những lúc lòng tôi xao xuyến, lo ngại về một tương lai bất định, lại bất chợt thoang thoảng trong đầu những lời nhạc Nguyễn Đức Quang:

“Hy vọng đã vươn lên

trong màn đêm bao ưu phiền

Hy vọng đã vươn lên

trong lo sợ mùa chinh chiến

Hy vọng đã vươn lên

trong nhục nhằn tràn nước mắt

Hy vọng đã vươn dậy

như làn tên

đang rực lên trong màn đêm…”

Thực sự, những lúc đó, tôi mở mắt thật to, nhưng vẫn không thấy hy vọng nào “đang rực lên trong màn đêm” như lời ca, chỉ thấy quê nhà đầy những bạo lực căng thẳng.Nhưng cũng ở những giây phút đó, lòng tôi mang ơn người đã viết lên những dòng nhạc đó; không mấy ai nói về một “hy vọng” đầy tha thiết như Nguyễn Đức Quang.

Nhiều năm sau, vào nghề báo, được gặp và quen với anh Nguyễn Đức Quang tại Quận Cam, California; tuy vẫn nhìn anh như một nghệ sĩ đàn anh, tôi vẫn không kể những chuyện thời học trò như thế. Nói ra, “thì là hơi cải lương,” tôi tự nhủ như thế, mỗi khi nghĩ về những gì cảm động. Thêm nữa, tôi biết rằng nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang là một người đơn sơ, không bận tâm những chuyện linh tinh, thậm chí không ưa kiểu có vẻ như chiều chuộng, xu nịnh…

Nguyễn Đức Quang là người phục vụ đồng bào, và không hề bận tâm chuyện khác.

Một điều nữa, đã có quá nhiều người ca ngợi nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang. Ca ngợi thật tâm, không phảỉ khách sáo. Mà nói cho cùng, cũng không cần phải chọn lời trau chuốt nào cả, chỉ cần trung thực kể những việc mà anh Nguyễn Đức Quang đã làm, thế cũng là một cách ca ngợi tuyệt vời. Đơn giản, những việc anh làm đã nhiều hơn một đời người có thể làm, bất chấp rằng có rất nhiều năm anh đã gác đàn vào một góc, như dường là “một kiểu nhập thất của nhạc sĩ.”

Trong bài “Viết cho Du Ca Nguyễn Đức Quang” mới hồi tháng 2-2011, nhà văn Giao Chỉ, San Jose, đã viết:

“…Du ca trở thành con đường lý tưởng của thanh niên. Tuổi 20 đi trên “Đường Việt Nam. Đi dựng lấy huy hoàng, giống da vàng này là vua đấu tranh.”

Ai cũng có thể vào một buổi sáng thức giấc nghêu ngao : “Đường Việt Nam ôi vô cùng vô tận, Đường ngang tàng ngoài biển Nam, giữa Trường Sơn”.

Nguyễn Đức Quang là người viết nhạc hùng với những lời ca lý luận hết sức thực tế. Đó là bài “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề.” Hãy đứng dậy đón chào bình minh với “Hy vọng đã vươn lên. Trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong mồ sâu quá ưu sầu.”…”(hết trích)

Tương tự, nhà báo Phạm Trần cũng nhận xét về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang: “Anh Nguyễn Đức Quang là người hoạt động và dấn thân cho tuổi trẻ Việt Nam rất tích cực và đáng ghi nhớ với những đóng góp cho Phong trào Du ca. Nếu không có bước đi khởi đầu của Nguyễn Đức Quang thì chưa chắc đã có những ca khúc gắn liền tuổi trẻ thành phố với xóm làng miền Nam trước năm 1975.”

Trong tiểu sử ngắn gọn về Nguyễn Đức Quang, trang nhà Du Ca www.ducavn.com viết:

“Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây.

Theo gia đình vào Nam năm 1954.

Sinh sống tại Ðà Lạt từ năm 1958.

Tốt nghiệp đại học Ðà Lạt phân khoa Chính Trị Kinh Doanh khóa 1.

Bắt đầu sáng tác nhạc năm 1961. Ca khúc đầu tay dành cho Hướng đạo với tên Gươm Thiêng Hào Kiệt.

Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam năm 63, bắt đầu cảm hứng về nhạc Thanh niên và những vấn đề đất nước.

Năm 1964, chuyển qua hẳn những ca khúc có chủ đề Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc.xây dựng những đề tài mới cho tập Trầm Ca, hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên và thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam năm 1966.

Năm 1979 cùng gia đình đến Hoa Kỳ, hoạt động liên tục trong nghành truyền thông tại hải ngoại. Hiện vẫn định cư tại Little Saigon, California USA.”(hết trích)

Trong tiểu sử Nguyễn Đức Quang ở Wikipedia (http://vi.wikipedia.org), cũng ngắn gọn gần như thế.

Một điều để suy nghĩ, trong cả 2 tiểu sử ở 2 trang nhà này, đều tránh nói tới những năm phục vụ trong quân lực VNCH của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang — thời mà nhạc sĩ là một sĩ quan chiến tranh chính trị. Tại sao các trang này tránh nói tới thời nội chiến của một nhạc sĩ lớn như Nguyễn Đức Quang? Có phải là để cho trang web không bị tường lửa? Hay có phải, dòng nhạc của anh lớn hơn những biên giới chính trị? Không thể đoán chính xác các chuyện này.

Hôm Chủ Nhật 27-3-2011, Hướng Đạọ VN đã thực hiện nghi lễ Trao Bắc Đẩu Huân Chương đến nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang tại Quận Cam.

Bản văn của Hội Đồng Trung Ương Hướng Đạo Việt Nam giảỉ thích:

“…Bắc Đẩu Huân Chương là huy chương cao quý nhất của phong trào Hướng Đạo Việt Nam được trao tặng cho quý Trưởng Hướng Đạo có công gìn giữ và xây dựng một phương pháp giáo dục thanh thiếu niên do Huân Tước Baden Powell thành lập từ năm 1907 tại Anh Quốc.

Quý Trưởng nhận được Bắc Đẩu Huân Chương có những thành tích phục vụ tha nhân và luôn đeo đuổi lý tưởng Hướng Đạo. Quý Trưởng này còn là những nhân tố góp phần trực tiếp vào công cuộc gầy dựng các thế hệ thanh niên Việt Nam nối tiếp nhau dấn thân vào các công xã hội từ tromg nước cho đến sau này tại hải ngoại.

Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang gia nhập Hướng Đạo năm 1956, thuộc Đội Voi, Thiếu Đoàn Lê Lợi, Đạo Lâm Viên, là đội sinh của Trưởng Hoàng Kim Châu. Trưởng Hoàng Kim Châu hiện đang sinh hoạt với Liên Đoàn Đất Việt và Tráng Đoàn Nguyễn Trải Hướng Đạo tại Houston Texas. Sau này Trưởng Nguyễn Đức Quang thay Trưởng Châu và trở thành Đội Trưởng Đội Voi….”(hết trích)

Nghi lễ trao đã diễn ra xúc động. Một người con của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã thay cha vừa từ trần để nhận Bắc Đẩu Huân Chương.

Một sự thật để nhìn thấy rằng, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vẫn không hề rời cõi này. Bởi vì dòng nhạc của anh vẫn còn âm vang, còn ẩn tàng trong tim chúng ta. Và đã trở thành một phần của lịch sử dân tộc, bất kể rằng nhà cầm quyền có muốn hay không.

Cũng tương tự như thơ Nguyễn Du đã trường tồn, đã trở thành tài sản văn hóa của dân tộc, bất kể không mấy ai nhớ chính xác rằng Nguyễn Du có “lập trường chính trị” thế nào trong thời Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, thời Lê Mạt, thời Tây Sơn Nguyễn Huệ, thời Nguyễn Ánh Gia Long, thời mà chàng trai trẻ Nguyễn Du dấy binh làm loạn và rồi trốn về quê vợ, ăn rau tới xanh cả mặt…

Cũng y hệt như thơ Nguyễn Du, như bài “Lời Mẹ Dặn” của Phùng Quán, như cuốn “Nhật Ký Rồng Rắn” của Tướng Trần Độ, như tác phẩm “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội” của Nguyễn Văn Trấn… nhạc của Nguyễn Đức Quang sẽ còn mãi. Bởi vì, những gì viết bằng trái tim sẽ không thể biến mất, bất kể mọi trở lực của lịch sử.

Nguyễn Đức Quang đang trở thành tài sản văn hóa cho cả nước. Du Ca và Hướng Đạo có thể đang bị xóa sổ trên cả nước, nhưng dòng nhạc của Nguyễn Đức Quang vẫn được nghe trân trọng trên YouTube, và cả trong các buổi cắm trại tại quê nhà của Gia Đình Phật Tử, Thiếu Nhi Thánh Thể… Và rồi, chế độ cộng sản hiện nay chắc chắn sẽ biến mất, nhưng tôi tin rằng nhạc Nguyễn Đức Quang sẽ vẫn còn được hát.

Những ca khúc lưu trữ nơi đây:

http://www.ducavn.com/duca_files/VanNghe_files/TacGia/NDQuangB.htm

chắc chắn là sẽ còn được hát nhiều thập niên sau, thậm chí nhiều thế kỷ sau…

Và dòng chữ cuối bài này, xin thành kính chia buồn cùng gia quyến nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, người đã trao cho các thế hệ trẻ quá nhiều ước mơ và hy vọng.

Nhà thơ Nhược Thu gửi vào diễn đàn Tình Nghệ Sĩ bài "Tiễn Biệt Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang…", nội dung gồm kỷ niệm gặp gỡ người nhạc sĩ sắp rời chúng ta…

"Anh đi đi thật rồi sao ?

Bỏ quê bỏ cả mộng đào dở dang

Nghe tin thoáng những ngỡ ngàng

Mùa xuân vừa chớm đã bàng hoàng đau

Anh đi đi thật rồi sao ?

Quê hương ngạo nghễ chợt nhầu tiếng ca

Anh vừa mới bỏ đi xa

Hay đang hát khúc du ca tìm về ..?

Nhược Thu

Mar – 29 – 2011

Tôi được gặp Nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG rất muộn màng dù ngưỡng mộ tài danh anh từ thưở còn đi học …

Vài năm trước đây tôi mới hân hạnh lần đầu được diện kiến anh tại nhà Thi nhạc sĩ HOÀNG THY , San Diego , trong một buổi Họp mặt ..

Lần sau cùng , trước ngày hiền nội anh ấy qua đời vài tháng , tôi lại được hân hạnh gặp lại anh tại nhà Thi nhạc sĩ THY LINH trong buổi Họp mặt nhân dịp anh chị Nhạc sĩ NGUYỄN MINH CHÂU từ Pháp qua .. Phong thái của anh vẫn làm tôi rất ngưỡng mộ trong 2 lần gặp khi anh ôm đàn hát những ca khúc do anh mới sáng tác ..

Lần gặp sau này , nhìn anh vẫn còn rất phong độ và mạnh khỏe .. Thế mà thoáng cái nghe tin anh đã ra đi ..Tôi không nén được bàng hoàng xúc động vì cuộc đời quả rất vôthường …

Xin chân thành cầu nguyện hương linh anh sớm được về cõi vĩnh hằng …..

Kính

Nhược Thu"

Nhà thơ Tâm Vô Lệ, chủ nhân của website Thư Viện Toàn Cầu gửi sang 4 bài của bốn tác giả, mà anh là một trong những tác giả của những bài chia tay nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang:

* Nhà thơ Sóc Lanh Lợi :

"Lời ru non nước ngày xưa,

Vang vang xiềng xích đã vừa ra đi,

Tiếng ca quật khởi xuân thì,

Hận lời vong quốc từ khi đổi đời,

Đức Quang ơi! Đức Quang ơi!

Giả từ nhau những nghẹn lời từ ly!

Sóc Lanh Lợi"

Tác giả Hoàng Lan Chi:

"Anh, sẽ bất tử như “Quê Hương Ngạo Nghễ”

Thế là chuyện phải đến. Anh đã ra đi thật rồi. Khi anh nằm bệnh viện, người bạn chuyển tin anh ra đi, tôi buồn. Rồi không phải. Dù đa đoan công việc, tôi cũng cố gắng cầu nguyện cho anh. Anh ra đi hơi sớm so với tuổi bây giờ.

Nhớ lại …

Thuở sinh viên, không biết từ đâu tôi nghe được bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”. Khỏi nói, tôi mê mẩn ngay tức khắc. Vì tôi yêu nhạc hùng, dân hùng và chí khí hùng. Tôi ghét ủy mị sướt mướt nên những câu như “Lê sau bàn chân gông cùm của thời xa xăm, đôi mắt ta rực sáng ..” mê hoặc tôi vô cùng.

Một bài khác cũng làm tôi xúc động không kém là “.. Không phải là lúc chúng ta ngồi mà cãi suông. Không tin nơi nhau thế ta định nhờ ai bắc cầu?”

Tuy mê nhưng tôi bận học và không tham gia cái gì ngoài xã hội nên không hề biết tác giả là Nguyễn Đức Quang. Phong trào du ca ra sao, tôi cũng không tỏ tường.

Năm 2005, tôi gặp NĐQ đầu tiên khi anh đến Virginia để tham dự chương trình nhạc gây quỹ cho trẻ em gì đó ở Việt Nam. Ấn tượng sâu đậm nhất là khi tôi hỏi rằng đa số nhạc sĩ về già, hay có khuynh hướng nghiêng về đạo có thể Phật, Chúa hay Thiền thì NĐQ trả lời, không bao giờ NĐQ viết những loại nhạc đó! Nghĩa là trái tim NĐQ lúc nào cũng thế, cũng rất trẻ trung, sôi nổi và luôn yêu đời, trong đời, chưa bao giờ muốn thoát đời..

Cũng trong 2005, tôi viết bài về một nhạc phẩm của NĐQ. Tiếc là tôi bị thất lạc bài đó. Chả hiểu web duca còn lưu lại không.

Nghe youtube ĐQAT phỏng vấn Quang, tôi mỉm cười. Rất ngang tàng khi Quang nói “Tôi thích thiên tả vì ..”.

Tôi không biết du ca nhiều nhưng nói rằng NĐQ phản chiến tức thiên tả theo nghĩa thích cộng sản thì tôi nghĩ có lẽ không phải. Những con người sống động, thích họat động xã hội thì luôn như thế. Anh đã đóng góp nhiều và nhạc phẩm “Quê Hương Ngạo Nghễ” của anh là một hùng ca bất tử. Cho tuổi trẻ Việt Nam ngày xưa. Cho tuổi trrẻ Việt Nam ngày nay. Và cả cho tuổi trẻ Việt Nam ngày mai.

Ngủ yên, bình an nhé.

Anh, sẽ bất tử như Quê Hương ngạo nghễ..

Hoàng Lan Chi"

Tác giả Tâm Vô Lệ:

"Thần tượng Nguyễn Đức Quang của tôi

Văn phòng Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu nằm rất gần với bệnh viện Fountain Valley, ngày nào tôi tự lái xe đến văn phòng cũng đều ghé bệnh viện. Thỉnh thoảng gặp người quen, thỉnh thoảng gặp người lạ. Quen hay lạ đều có cùng một sợi dây nối: Xem Trưởng Hướng Đạo, linh hồn Hưng Ca Nguyễn Đức Quang đã đỡ chưa.

Ngày nhận được tin đăng trên Diễn Đàn Chào Nhau Thân Ái của Thư Viện Toàn Cầu "Anh Quang đã ra đi", tôi sững người. Bỏ ngang việc, chạy vội xuống cầu thang, vừa lái xe vừa gọi cho Trưởng Sóc Lanh Lợi để xác định tin buồn này mà không ai trả lời. May, anh Quang vẫn còn năm trên giường bệnh; thế là về lại văn phòng, vui vô cớ. Cầm đàn ghi ta lên hát nghêu ngao "Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn …"

Hôm nay lái xe từ Reseda về lại Fountain Valley mới biết anh đã "lìa rừng" – cách nói của dân Hướng Đạo chúng tôi chỉ người quá vãng -. Ngồi trong xe hát lẩm bẩm "Người tình bỏ tôi đi, thiêu hủy lời kinh xưa …" và nhớ đến Nguyễn Đức Quang.

3 giờ 30 chiều, ghé nhà hàng Emerald để webstreaming live lễ trao tặng Bắc Đẩu Huân Chuơng cho Trưởng Nguyễn Đức Quang, sau đó mang lên 300 trang nhà chuyên host về video. Đây là một hành động rất nhỏ để trân trọng tưởng nhớ thần tượng quê-hương-ngạo-nghễ của tôi.

Trưởng đã lìa rừng nhưng đời không lìa Trưởng.

Tâm Vô Lệ"

Và người sau cùng là nhạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa:

"Nghĩ về anh, Nguyễn Đức Quang

Tôi nhỏ hơn Nguyễn Đức Quang 7 tuổi, gọi anh bằng “anh”, xưng “em”, từ khi tôi mới được 15. Tôi học ở Tây Ninh, cuối tuần về Sài Gòn sinh hoạt du ca. NĐQ từ Đà Lạt về, và ở luôn Sài Gòn, thỉnh thoảng mới về Đà Lạt thi cử ở trường Chính Trị Kinh Doanh và thăm gia đình. Hai anh em ngụ ở cái gác xép trong nhà để xe của anh Hoàng Ngọc Tuệ, số 114 đường Sương Nguyệt Anh.

Con đường này ngộ lắm. Đường nhỏ và ngắn, song song với đường Bùi Thị Xuân (có nhà anh Đỗ Ngọc Yến) và Hồng Thập Tự, nối hai đường Lê Văn Duyệt và Bùi Chu (có trụ sở Hướng Đạo Việt Nam). Cái ngộ nhất của đường này là phía bên Bùi Chu, bảng tên đường ghi là “Sương Nguyệt Ánh”, trong khi phía bên Lê Văn Duyệt, bảng ghi “Sương Nguyệt Anh”. Đâu mất tiêu cái dấu sắc, và kiểu chữ, cỡ chữ cũng khác, rõ ra là bảng được thực hiện vào hai lúc khác nhau, do hai người khác nhau.

Tôi thắc mắc hỏi anh Quang: “Anh hay Ánh?” Có lẽ đang bực điều gì đó, hoặc nghĩ rằng tôi còn con nít mà đã lẩm cà lẩm cẩm, nên anh lầm bầm đáp bừa: “Chả biết là con mụ nào!” Lát sau, anh trả lời nghiêm chỉnh: “Sương Nguyệt Ánh”.

Cho đến ngày nay, rất nhiều người vẫn nghĩ như anh Quang. Ngay trong cuốn “Sài Gòn Vang Bóng” (2011) mà tôi đang lên trang giúp ông Hoàng Hải Thủy, cũng ghi là “Sương Nguyệt Ánh”, mặc dù tác giả biết “con mụ nào đó” là con gái cụ Đồ Chiểu, và viết rằng (đại ý): Con gái ở đây mà ông bố (tức đường Nguyễn Đình Chiểu) ở tuốt bên Tân Định, làm sao mà đi thăm!

Nhân đây, cũng xin nói lại cho đúng: Sương Nguyệt Anh, không có dấu sắc, tên thật là Nguyễn Xuân Khuê, con gái thứ năm của Nguyễn Đình Chiểu, bút hiệu là “Nguyệt Anh”, sau khi chồng mất, bà ghi thêm chữ “Sương” (goá phụ) vào trước bút hiệu. Sương Nguyệt Anh là bà chủ báo đầu tiên của Việt Nam, tờ “Nữ Giới Chung”.

Đường Sương Nguyệt Anh rợp bóng mát của hai hàng cây rất cao rất to. Hỏi “cây gì?”, có người bảo là cây sao, có người nói là cây dầu; sau tôi mới biết, “sao” hay “dầu” cũng vẫn là một cây, “sao” là chi, “dầu” là họ, tên khoa học của nó là Hopea Odorata. Mùa lá rụng, tôi thường thơ thẩn nhìn lá khô đuổi nhau bay lăng quăng trên mặt đường, nhìn quả khô “nhảy dù” xuống với hai nhánh quay tít như chong chóng. Nhưng, thích mắt nhất không phải là lá bay hay quả rụng, mà có lẽ là những tà áo trắng trường Nguyễn Bá Tòng bên đường Bùi Thị Xuân, tan lớp Chủ Nhật, chiều chiều lũ lượt về ngang…

Trở lại với anh Quang và gác xép nhà để xe ở đường Sương Nguyệt Anh.

Anh có một chiếc Veloz Solex làm chân. Khi anh về Đà Lạt hay đi đâu xa, tôi lấy xe anh đi chơi khắp Sài Gòn, Chợ Lớn,.. cho tới khi hết xăng thì kéo cần máy lên, biến thành xe đạp, è ạch đạp về. Ít khi tôi có đủ tiền để đổ xăng. Sau đó anh Quang lại phải è ạch đạp xe ra đường Lê Văn Duyệt mua xăng, khi anh cần tới nó. Anh không rầy rà gì cả, chỉ ghim một tờ tiền vào mảnh giấy, để lên chiếc bàn nhỏ: “Chỉ được dùng để đổ xăng!” Từ đó không ai phải tháo mồ hôi ra đạp xe nữa.

Anh Quang chỉ có một cậu em – Vinh, ở Đà Lạt. Anh có rất nhiều bạn và rất nhiều đàn em, nhưng có lẽ thân với tôi hơn cả, vì ở chung “nhà”. Tôi dùng xe anh, thỉnh thoảng mặc áo của anh, xài tiền anh cho và … đọc trộm nhật ký của anh (nói ra thì mắc cỡ với mọi người, nhưng không nói ra, tôi mắc cỡ với chính tôi!). Nhật ký anh để ngay trên bàn, và ít khi gấp lại; khi cần bàn viết, tôi lại “phải” giở ra đọc. Đọc đi đọc lại, đọc tới đọc lui, thuộc lòng còn hơn thuộc Kiều. Tất nhiên là tôi không bao giờ tiết lộ những điều anh Quang viết; tôi chỉ có thể nói rằng văn chương của anh trong sáng, lạc quan, yêu đời, kể cả những lúc anh buồn, giống như thơ tình Nhất Tuấn mà anh rất thích.

Cũng năm 15 tuổi, tôi bắt đầu viết ca khúc, và anh Quang là người sửa cho tôi những bài đầu tiên: Một Ngày Công Tác, Lời Một Ánh Lửa,.. Anh sửa tài ở chỗ là giúp cho bài hát hay hơn mà không làm mất bản sắc của nó. Có lần tôi thử đưa cùng một bài cho hai người sửa, bài Cờ Dân Chủ, phổ thơ Quách Thoại. Kết quả, bài anh Quang sửa hay hơn bài do Phạm Duy cải biên. Tôi giữ cả hai bài, khi thì trình diễn bài này, khi thì sinh hoạt bằng bài kia; nhiều người cũng bảo tôi, bài do anh Quang sửa “hay hơn.”Đến lúc vượt biên, tôi mất cả hai bài. Anh Quang cũng vượt biên, bài của anh cũng mất, cứ gì bài của tôi. Có lúc đến chơi nhà Phạm Duy khi ông chưa về Việt Nam, hỏi, ông bảo “Còn giữ chứ, để anh tìm xem”; nhưng sau đó không thấy ông nói gì nữa.

Ít ai biết NĐQ làm thơ. Tôi biết. Tôi phổ bài “Em Đã Đến” của anh thành ca khúc. Nhiều người hỏi anh Quang: “Em nào vậy?” Anh cười cười, nói lảng. Hỏi tôi, tôi lặp lại câu nói mà anh từng lầm bầm về cái tên đường: “Chả biết con mụ nào!”

Bóng hồng cai trị đời anh là chị Minh Thông, bạn cùng lớp và cùng nhóm với anh ở Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt. Anh Quang sinh hoạt thanh niên thì hăng hái nhưng học thì lười … gần bằng tôi. Bài làm tập thể, có chị Minh Thông lo. Đi thi thì, như anh kể, có “thằng” Nguyễn Đức Quang khác “học khiếp lắm” ngồi bên cạnh gà bài. Đúng là thân cư thê và cung nô bộc, bằng hữu toàn sao sáng tụ hội! Rồi anh và chị Minh Thông cùng tốt nghiệp. Tôi chúc mừng anh, dò dẫm: “Đậu là quý rồi, cầm đèn đỏ thì đã sao!” Anh chống chế: “Đâu có tệ thế! Ít nhất cũng trên dăm ba người chứ!”

Chị Minh Thông được sở làm gửi đi Phi Luật Tân tu nghiệp một năm. Năm đó, chúng tôi sống rất kỷ luật theo đúng chương trình chị đã soạn sẵn cho 365 ngày: Ngày nào, giờ nào làm việc gì, ăn cơm ở đâu, cuối tuần xem xi nê rạp nào, v.v. và và v.v. Hai anh em rất thuộc bài. Tới giờ, nhìn nhau hô lên một lượt: “Cơm tấm Trần Cao Vân!” hay “Xi nê Vĩnh Lợi!”. Thế là phóng lên xe, cứ thế mà đi, khỏi phải nghĩ ngợi, sắp xếp làm chi cho lôi thôi mệt óc!..

Anh Quang nhập ngũ trước, làm quản ca trong đại đội SVSQ, và trưởng ban Văn nghệ của tiểu đoàn, ra trường về Cục Chiến Tranh Chính Trị. Tôi nhập ngũ sau, cũng làm quản ca trong đại đội SVSQ, và trưởng ban văn nghệ tiểu đoàn, về tác chiến ở Kiến Hoà, chờ giấy tờ gọi về làm Ty Dân Vận như Vũ Thành An, Đỗ Việt Anh. Chưa về đâu cả thì tới ngày miền Nam sụp đổ, tôi từ chiến trường về Sài Gòn, trốn cho tới ngày xuống thuyền, mang bà ngoại và vợ con vượt biên…

Cái nhà xe của anh Tuệ, ngoài anh Quang và tôi, đôi khi có thêm các anh Trần Trọng Thức (sĩ quan Hải Quân, ký giả Việt Tấn Xã, sau này có lúc là chồng của kịch sĩ Kim Cương), Trương Lộc (ký giả, sau 1975 tôi mới biết là cán bộ nội thành) ngụ ở tầng dưới. Khách khứa thì lu bù, toàn là chính khách và ký giả, ở nhà trên là khách của anh Tuệ, sau nhà xe, là khách của anh Thức. Anh Quang ít giao du với khách của anh Thức, nhưng qua lại thân mật với khách của anh Tuệ. Anh Thức gọi anh Quang là Nguyễn Đứt Cu. Có gì đâu, chữ Q, người miền Nam đọc là “cu” để khỏi phải chúm môi chúm miệng chi cho vất vả, còn /đức/ hay /đứt/, Trung và Nam kỳ phát âm như nhau!

Cũng ở cái nhà xe, Trịnh Công Sơn và Tôn Thất Lập thỉnh thoảng tới chơi, rủ rê tôi làm nhạc cách mạng, nhưng thấy không hợp, tôi không làm. Khác với cách tôi xưng hô “anh, em” với NĐQ, không hiểu sao tôi không xưng “em” với TCS và TTL, dù tuổi tác của hai người này lớn hơn anh Quang 5, 6 tuổi. Họ gọi tôi bằng tên, xưng tên hay xưng “mình”, và bảo tôi cũng xưng hô như vậy. Có lần Tôn Thất Lập khoe với tôi một bài hát anh mới viết xong, đã chép lại tử tế; nhưng không phải khoe bài hát, mà khoe thứ mực đen anh dùng, màu mực đen nhánh, khi khô thì nổi lên, và đặc biệt, không bao giờ lấm lem. Để chứng minh, anh dấp nước bọt lên đầu ngón tay, bôi lên mực cho xem. Quả thực không lem, không nhoè! Tôi khen mực tốt, nhưng đùa: “Ai lại đi phun nước bọt lên tác phẩm của mình như thế!” Anh Quang quay mặt chỗ khác, phì cười…

Nhà trên của anh Tuệ chỉ có hai phòng, một phòng cho anh và một phòng cho hai người: Em gái và cháu gái của anh. Khi hai cô xuất giá, phòng trống; và anh Quang đã nhập ngũ, anh Tuệ lấy lại nhà xe để cất xe, gọi tôi lên ở trong khuê phòng trước đây của hai cô. Khi tới phiên anh Tuệ cưới vợ, tôi dọn về căn gác của anh chị Ngô Mạnh Thu, cùng ngụ với nhạc sĩ Giang Châu, một bạn thân của anh Thu, cho tới ngày tôi nhập ngũ.

Từ khi NĐQ vào lính, ít khi tôi gặp lại anh. Từ khi tôi vào quân trường, rồi ra chiến trường, chẳng bao giờ tôi gặp lại anh. Cho tới sau 1975, anh đi tù Cộng Sản, rồi ra tù, anh em mới bàng hoàng gặp lại nhau. Anh Quang và anh Tuệ mua xe đò, chở khách kiếm sống. Tất cả chúng tôi đều tìm đường vượt biên, nhưng mỗi người một lối. Anh Quang mang tặng tôi cây tây-ban-cầm 12 giây mà anh thích và anh biết thuở nhỏ tôi cũng thích. Tôi hiểu là anh sắp đi, và chúc anh may mắn. Rồi tới phiên tôi, mua giấy tờ người Hoa, mang cả nhà xuống Cà mau nằm chờ, qua nhiều sự lôi thôi, cuối cùng rồi cũng ra khơi, sang tới đảo Bidong. Tôi gặp lại gia đình anh Quang, chị Thông cùng các cháu Tường và Nhiên, ở đó. Anh được nhận sang Mỹ. Gia đình tôi đi Gia Nã Đại. Lại một lần nữa chia tay.

Khi biết tin anh Quang bị lao phổi cấp tính, tôi và Nguyên Hương đến thăm, nhân dịp đi California. Rồi anh khỏi. Sau đó, trong một lần cùng Hưng Ca sinh hoạt 30 tháng 4 ở Sacramento, ngụ ở nhà bạn du ca Hoàng Gia Hùng, tôi gặp lại anh Quang. Đó là lần cuối cùng tôi gặp lại anh.

Tôi thấy anh khoẻ mạnh, nhiệt tình dù hơi mệt mỏi về tinh thần, nhưng không có dấu hiệu gì sẽ lìa nhau ở tuổi 68, dù trước đó, những người bạn du ca của anh, và là bạn bè hay đàn anh của tôi, như Giang Châu, Lê Đình Điểu, Trần Đại Lộc, Trần Đình Quân, Lý Văn Chương, Trầm Tử Thiêng, Ngô Mạnh Thu,.. đã ra đi khá sớm, chưa ai tới tuổi 70, thậm chí, phần lớn chưa tới 60!

Viết về anh, chỉ bấy nhiêu, nhưng lòng tôi ở với anh. Đường đời muôn vạn nẻo, nhưng chỉ có một nẻo để chúng tôi, chúng ta, mọi người, gặp lại nhau. Hẹn gặp lại anh, anh Quang!

Nguyễn Hữu Nghĩa"

Nhà thơ Cát Biển, một thành viên trong hệ thống liên diễn đàn, anh là đồng sáng lập diễn đàn Tin Văn Nghệ Sĩ cho bài kỷ niệm và mô tả cá t1ình niềm nở vui vẽ của nhạc sĩ Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang trong tâm khảm của anh. Nhận xét của nhà thơ Cát Biển đổng thuận với nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, trên cao của mọi lãnh vực mà anh Nguyễn Đức Quang họat động thì nhân cách của anh hay phong cách giao tế, xử sự của anh là nổi bật hôn cả:

"Nụ Cười Nguyễn Đức Quang

Năm 1985 một cơ duyên bất ngờ đã tạo cơ hội cho tôi biết đến anh Nguyễn Đức Quang, mà mãi sau này khi biết anh là tác giả bài hát Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ tôi mới thấy bất ngờ và càng quý anh hơn. Trong tôi anh luôn có hình ảnh của một nụ cười. Dù là thời mà anh làm Giám Đốc Công Ty Người Việt khoảng 1985, được yêu quý là nỗi danh, hay thời anh mới trở ra làm tờ báo mới có tên Viễn Đông tại 1 góc nhỏ đường Bolsa gần đường Beach, trước khi dọn về đường Moran, cuộc đời trầm bổng vẫn cho anh một nụ cười thân tình với bè bạn. Anh quả là có tài giao tiếp, có lẻ bẩm sanh từ tánh sinh hoạt quay quần cùng bao nhiêu bè ban.

Năm 1985 lúc báo Người Việt trên đà phát triển, văn phòng đường Moran lúc nào cũng nhộn nhịp với bao nhiêu con người, không, phải nói là bao nhiêu “quả tim” và “ước mơ” mới đúng. Các anh chị cùng lứa sồn sồn đầy hi sinh cùng cặm cụi hằng ngày chăm bón cho mảnh vườn truyền thông Người Việt càng lúc càng đơm hoa. Hai nhân vật chính yếu biểu tượng linh hồn báo Người Việt lúc ấy chính là Nguyễn Đức Quang và Đỗ Ngọc Yến, người thứ ba là anh Lê Đình Điểu nhưng phải nói mọi việc quán xuyến đều do anh Nguyễn Đức Quang cả.

Dạo đó báo Người Việt hợp tác với chú Lương Văn Tỷ để làm chương trình Truyền Hình Việt Nam, và nhóm 4 người xướng ngôn viên chúng tôi gồm tôi (Quảng Linh), Thùy Hương, Kim Lan và Vũ Chung cùng tụ tập thu hình vào mỗi chiều Thứ Tư kéo dài đến khuya. Anh Trầm Tử Thiêng vừa sang Hoa Kỳ đảm nhận quán xuyến soạn thảo phối hợp chương trình này với chú Lương Văn Tỷ lo về kỹ thuật. Các nhạc sĩ Trần Đình Quân, Lý Văn Chương, Nguyễn Thiện Cơ vẫn thường xuyên ghé qua thăm chúng tôi. Thời gian đó thật vui, bên Người Việt luôn có các dịp sinh hoạt lễ lộc và cứ liên tục đón tiếp các nhân tố thành viên du ca từ VN sang Mỹ định cư, trở thành đại gia đình Người Việt cả. Mọi người đều hi sinh không quản khó khăn.

Có những tháng đầu tiền lương hơi chậm, anh Nguyễn Đức Quang xuất hiện với những nụ cười chịu đựng, chúng tôi vui trong công việc nên cũng không hỏi, cho đến ngày nhận được cái check đầu tiên mới biết lương của mình là bào nhiêu. Các dịp Tết, công ty Người Việt luôn có khoản “lương đặc biệt” để cùng chia sẻ tình thâm. Chúng tôi có những tiệc vui riêng với nhóm truyền hình, và cũng có tổ chức mấy lần tại tư gia anh chị Nguyễn Đức Quang. Các bản nhạc mới nhất của anh Trầm Tử Thiêng vừa sáng tác chúng tôi đều được nghe đầu tiên.

Ngày anh Nguyễn Đức Quanh rời công ty Người Việt chúng tôi nhận tin như một cú sốc.

Bẵng đi mấy năm sau mới gặp lại anh ở tòa soạn nhỏ lúc anh mới ra lò tờ báo Viễn Đông. Dù cuộc đời đưa anh lên cao hay hất anh xuống vực Nguyễn Đức Quang vẫn có một nụ cười thân tình khiến mọi người quý mến. Trời cho anh khả năng giao tế mà tôi cho là nổi bật hơn mọi tài năng khác của anh.

Nguyễn Đức Quang trong xã hội là một nhạc sĩ tài danh từng sánh vai cùng các nhạc sĩ nỗi tiếng khác nhưng trong lòng tôi và những người thương anh quý anh, thì anh là một con người bản lảnh, giàu tình bạn, đầy phấn đấu, ngang nhiên ngạo nghễ đi giữa luân hồi.

Trong thân tình xin gửi về anh vài hàng cảm tạ sự hiện hữu của anh trong cõi đời này.

Cát Biển

http://catbien1.blogspot.com/

(29-03-2011)"

Tác giả Trần Trọng Nhân là sáng lập viên của Diễn Ðàn Huyết-Hoa và đồng sáng lập viên những diễn đàn khác trong hệ thống liên kết diễn đàn, anh góp ý kiến về bài ca "Quê Hương Việt Nam Ngạo Nghễ":

"" Còn Việt Nam…triệu con tim là còn triệu khối kiêu hùng" …

những lời ca đó: đã, đang vang lên trên Quê Hương Việt Nam và Hải Ngoại trong năm thập niên qua và sẽ còn lưu mãi đời đời trong lịch sử Nhạc Ðấu Tranh của Dân Tộc Việt.

Nguyễn Ðức Quang: anh đã ra đi rồi… " Chết đi là một việc dễ dàng hơn là đã chết ở nơi tự mình một lần rồi sống lại với thai cốt mới". Nguyễn Ðức Quang đã ra đi…nhưng Nguyễn Ðức Quang vẫn sống mãi mãi nơi lòng mọi người Dân Việt trong "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ"

Chân thành chia buồn cùng Gia-Ðình Nhạc-Sĩ Nguyễn Ðức Quang.

Trần Trọng Nhân"

Anh Bùi Thạc, thành viên của diễn đàn Không Quân Việt Nam đồng ý với ý kiến của anh Trần Trọng Nhân: "Còn Việt Nam…triệu con tim là còn triệu khối kiêu hùng. Xin thành kính phân ưu cùng tang quyến.

Bùi Thạc và Trần Văn Ngọc, diễn đàn Không Quân Việt Nam"

Nhà văn, nhạc sĩ Hà Thúc Sinh viết về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang:

"… Năm 1995, mấy ông trong Hội Người Việt và nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang có tổ chức đêm 30 năm hát cộng đồng có mời Hà Thúc Sinh hát, mong gặp Phan Ni Tấn mà không thấy. Quang viết vài dòng về mình và mình thấy… bâng khuâng.

Dù sao bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ sẽ là một trong hnững sáng tác phẩm sống mãi.

Đời nghệ sĩ thế là tạm yên tâm đi rồi, đúng chứ?

Hà Thúc Sinh"

Nhạc sĩ du ca Phan Ni Tấn, một người bạn nhạc của du ca trưởng Nguyễn Đức Quang viết những về sinh hoạt hướng đạo cùng với ba than hữu gửi dòng tiễn đưa người huynh trưởng, đính kèm lời của 2 bài nhạc kỷ niệm của anh Nguyễn Đức Quang

"Tin nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn của Ban Trầm Ca và Phong Trào Du Ca Việt Nam vừa tạ thế vào ngày 27-03-2010 tại Nam California, với tôi là môt nỗi bàng hoàng, sửng sốt, đây là một mất mát lớn trong cộng đồng. vì anh là một thành viên lâu đời của Phong Trào Du Ca, và tôi có rất nhiều kỷ niệm sinh hoạt vui buồn với anh từ hồi trong nước ra đến ngoài nước. Tôi đang viết một bài về anh. Còn bây giờ tôi thành thật chia buồn cùng gia đình nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và cầu xin Thượng Đế thương xót anh khi về nước Chúa.

Trưởng Nguyễn Đức Quang lìa rừng vào lúc 4 giờ sáng Chủ Nhật ngày 27 Tây tháng Ba năm 2011 tại bệnh viện Fountain Valley, Nam California, Hoa Kỳ. Ban Thường Vụ Hội Đồng Trung Ương Hướng Đạo Việt Nam đã tổ chức nghi thức Trao Bắc Đẩu Huân Chương đến nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang tại buổi sinh hoạt văn nghệ "Chiều Nhạc Du Ca Nguyễn Đức Quang" tổ chức vào lúc 3 giờ 30 chiều Chúa Nhật 27 tháng 3 năm 2011 tại Emerald Bay Restaurant.

Đây là môt nghi thức được phối hợp của Ban Tổ Chức "Chiều Nhạc Du Ca Nguyễn Đức Quang và quý Trưởng thuộc HĐTƯ-HĐVN tại Nam California. Bắc Đẩu Huân Chương là huy chương cao quý nhất của phong trào Hướng Đạo Việt Nam được trao tặng cho quý Trưởng Hướng Đạo có công gìn giữ và xây dựng một phương pháp giáo dục thanh thiếu niên do Huân Tước Baden Powell thành lập từ năm 1907 tại Anh Quốc. Quý Trưởng nhận được Bắc Đẩu Huân Chương có những thành tích phục vụ tha nhân và luôn đeo đuổi lý tưởng Hướng Đạo. Quý Trưởng này còn là những nhân tố góp phần trực tiếp vào công cuộc gầy dựng các thế hệ thanh niên Việt Nam nối tiếp nhau dấn thân vào các công xã hội từ trong nước cho đến sau này tại hải ngoại.

Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang gia nhập Hướng Đạo năm 1956, thuộc Đội Voi, Thiếu Đoàn Lê Lợi, Đạo Lâm Viên, là đội sinh của Trưởng Hoàng Kim Châu. Trưởng Hoàng Kim Châu hiện đang sinh hoạt với Liên Đoàn Đất Việt và Tráng Đoàn Nguyễn Trải Hướng Đạo tại Houston Texas. Sau này Trưởng Nguyễn Đức Quang thay Trưởng Châu và trở thành Đội Trưởng Đội Voi.

Chúng tôi, các bạn hữu: Cao Thọai Châu, Nguyễn Thanh Trí, Diệp Mỹ Linh và Phan Ni Tấn xin đồng thành kính phân ưu.

– Đính kèm hai nhạc phẩm của Nguyễn Đức Quang

Chiều Qua Tuy Hòa

Ngày xưa tôi đã đi qua Tuy Hòa

Trời xanh le lói bao mộng mơ

Đàn chim tung cánh bay bay đầu gió

và đâu đây tiếng sông bồi phù sa

Ôi, những chiều mây vắt ngang lưng đèo

Vọng Phu đưa mắt cũng buồn theo!

Chiều nay lơ lững tôi ngang Tuy Hòa

Ngồi đây nhưng thấy như còn xa

Trường xưa hoang vắng, hiu hiu bên ruộng lúa

Một con chim én nô đùa ngoài kia

Ôi, bước dài ngao ngán bên nương buồn

Nhìn quanh trơ đứng bao đồng nương!

Rồi khi tia nắng phía non Tây tàn

(Thì) Người đây như cũng như dần tan

Nhịp đêm tiếng súng đong đưa ngoài ngõ

Người qua song chắn hé nhìn trời xa

Ôi đỉnh trời lấp lánh trong đêm dài

(mà) mình tu chưa chín nên nào hay!

Đường đi đưa tới phía Nam nhưng lòng

triền miên ray rứt theo miền Trung

Cầu xưa xơ xác sau cơn bão tố

(còn) người dân tan tác bên đường ngẩn ngơ

Ôi, bước buồn theo mãi không gian buồn

Một đêm qua biết bao sầu thương!

BÀI DU CA CUỐI CÙNG

Tôi đến từ núi lạ

Hát mấy lời tăm tối

Mang dấu buồn trên dòng cuồng lưu

Trong suốt cuộc sinh tồn

Anh có đợi lời tôi

Dù úa tàn mấy ngọn trầm hương

Tôi buồn cuối ngày khiêng lời anh nằm hấp hối

Qua vùng đất xưa du hồn bay về chốn bụi

Quê hương bây giờ chắc cũng buồn vì một tiếng ca

Thầm nuôi lại trái tim ngậm những lời mệt mỏi

Này người du ca muôn thuở

Anh có nghe gì không

Quê hương đang lắng nghe

Và đồng bào đang lắng nghe

Người ta nghe văng vẳng ở khắp nơi trên mặt đất đầy đau khổ này

Những người du ca đang hát bản du ca cuối cùng như một lời cầu nguyện

Tôi đã thấy những tấm lòng nhân ái băng bó vết thương cho tiếng hát

Tôi đã thấy những bàn tay cứu rỗi cho cây đàn vang vọng

Tôi biết người tìm về phía hư vô

Nghiêng câu hát buồn như viên gạch cũ

Theo đoàn người chậm bước qua con phố

Dàn kèn đồng nghẹn những khúc âm ma

Tôi muốn hát cho cây cỏ nghe

Những chữ viết bằng âm đầu tình tự

Còn sót trên tường vôi một thời quá khứ

Những bàn chân trôi giạt vào cuộc lữ

Cũng dừng bên quán nhớ bùi ngùi

Tôi có những niềm vui nằm trong tủ sách

Những niềm vui âm ỉ đời người

Và những vẻ đẹp của những nét đớn đau đốt cháy mọi tiếng cười

Tôi có những niềm vui treo ngoài lồng ngực

Nép mình sau những rặng trường xuân

Sau cánh cửa cuối cùng lòng anh vừa khép lại

Ôi cuộc đời

Ôi nhân loại

Để đắp đổi đợi chờ từ năm tháng

Ới tôi là kẻ bổng mừng

Vói tay gỡ anh ra xa khuất mái ưu phiền

Buổi sáng ở Sài Gòn

Mặt trời không còn đẹp nữa

Chốn quê người gió tháng ba vẫn còn thổi lạnh.

PHAN NI TẤN

03/2011"

Anh Bùi Bảo Sơn từ bên Canada chuyển bài viết của bào huynh là nhà báo Bùi Bảo Trúc viết bài tiễn đưa nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, sự so sánh tương phạn giữa hai nhạc sĩ cùng thời, Trịnh Công Sơn và Nguyễn Đức Quang, họ sáng tác nhạc, nhất là khi đặt lời nhạc, hai ý hướng khác nhau. Xin xem bài dưới đây:

"Có thể nói chắc rằng ở Việt Nam, không có một thế hệ nào kém may mắn bằng thế hệ của những người ra đời trong những năm cuối của thập niên 30 bắt sang đầu thập niên 50.

Thế hệ này vừa ra đời thì đã phải chạm mặt ngay với hai cuộc chiến lên tiếp ở Đông Dương của những năm 50 , rồi những năm 60 và 70. Họ lớn lên, để tử trận nhiều nhất, góa bụa nhiều nhất và mồ côi nhiều nhất.

Mồ côi trong cuộc chiến Đông Dương thứ nhất. Tử trận và góa bụa trong cuộc chiến Đông Dương thứ hai.

Trong đời sống với cái chết cận kề rình rập như lúc nào cũng sẵn sàng ghé vào thăm, người ta vẫn cần, hay có thể nói là rất cần đến âm nhạc. Âm nhạc để vỗ về, an ủi, để khóc, để đau đớn cho những bất hạnh của thế hệ.

Kháng chiến có âm nhạc của kháng chiến trên những chiếc banjo, những chiếc mandoline, những Hạ Uy cầm, Tây Ban cầm trên vai của những thanh niên thành phố lên đường đổ máu cho quê hương với những bản nhạc của Hoàng Quý, Việt Lang, Văn Cao, Hoàng Giác, Tử Phác … quay quay thương nhớ quyến vào tơ, quay quay may áo rét dâng chàng… Những ca khúc hết sức lãng mạn của thành thị từ chàng ra đi lưng khoác chiến y, mà lòng vương bóng quốc kỳ… Ai qua miền quê binh khói, nhắn giúp rằng nơi xa xôi … lờ lững đôi chim giang hồ bay.. dưới ánh trăng mơ màng, ngồi kề bên nhau nối tơ lòng, của Ngọc Bích, Nguyễn Thiện Tơ , Đào Thừa Liệt …

Cuộc chiến Đông Dương thứ nhất kết thúc với cảnh đất nước bị chia cắt. Thanh bình tạm bợ ở với chúng ta vài ba năm thì lại một trận đao binh khác ập tới. Những khúc ca thanh bình của Lam Phương, Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Nguyễn Văn Khánh … bỗng thấy không còn hợp thời nữa. Thơ lãng mạn tiền chiến trở thành vô nghĩa, ngượng nghịu trên môi người đọc Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Thế Lữ, Xuân Diệu.. .

Tuổi trẻ Việt Nam lúc ấy thỉnh thoảng lắm mới tìm được một hai bài hát cho họ.

Một buổi sáng mùa đông, một đứa bé ra đồng, đạp trái mìn nổ chậm, chết không còn đôi chân…. Về đây nghe em, về đây nghe em, mặc áo the đi guốc mộc, kể chuyện tình bằng lời ca dao …

Họ hát để quên đi những ca khúc đầy bi thảm, chết chóc : trực thăng sơn mầu tang trắng, em ngại ngùng dạo phố mùa xuân , viên đạn đồng đen, em sang ngang cho làm kỷ niệm…

Không có mặt ở Việt Nam mấy năm, đến lúc về nước, thì tôi đã thấy có một phong trào nhạc đang lớn mạnh.

Đó là phong trào Du Ca. Du là đi đây đó. Du ca là vác đàn đi hát ở đây đó. Đây đó là những buổi lửa trại, là sân trường đại học, ở trường Văn Khoa đường Nguyễn Trung Trực, ở đại học Đà Lạt, ở trụ sở sinh viên đại học quốc tế đường Duy Tân, Hồng Thập Tự.

Nhạc khí là những chiếc ghi ta với những accord giản dị. Và giọng hát là những tiếng hát bằng tâm tình, bằng lòng thành, bằng tất cả tấm lòng cho cái quê hương có một thời ngạo nghễ ấy, cho giống dân mà gọi là vua đấu tranh… .

Ở một quán nước trên đường Tự Do, tôi gặp hai người, hai tác giả có những ca khúc đặt cạnh nhau chỉ để nói lên những tương phản, nhưng lại cũng nói lên được những ưu tư, những quan tâm, khắc khoải của cái hế hệ bất hạnh ấy.

Trịnh Công Sơn và Nguyễn Đức Quang.

Trịnh Công Sơn đụng vào nhiều khía cạnh hơn Nguyễn Đức Quang. Những viên thuốc an thần của Trịnh Công Sơn được gửi đến người nghe, đồng thời vẽ ra một đất nước tan hoang với người yêu chết trận Pleime, đại bác ru đêm, đàn bò ngu ngơ vào thành phố, ngươi con gái Việt Nam da vàng đi trong đêm đầy tiếng súng…

Nguyễn Đức Quang viết những ca khúc khác hẳn của Trịnh Công Sơn.

TCS viết "em chưa hát ca dao một lần, em chỉ có con tim căm hờn."

Nguyễn Đức Quang viết những ca khúc như thế này: "Đường Việt Nam ôi vô tận đường ngang tàng ngoài biển Nam giữa Trường Sơn. Đường ngày qua đầy vết kinh hoàng mỗi xóm làng một dở dang…"

"Từ Nam Quan Cà Mau từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam quay về với xóm làng .Tiếng reo vui rộn ràng trong lòng. Gặp nhau do non nước xây cầu… Cùng đi lay Trường Sơn. Cùng đi xoay Hoành Sơn …"

Hay: "Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn. Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang. Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm. Đôi mắt ta rực sáng theonhịp xích kêu loàng xoàng."

Rồi lại: Ta còn những người ngồi quanh đây trán in vết nhăn. Đêm nằm nghe lòng quặn sôi lên giữa cơn chiến tranh. Ôi cùng đau thương cùng hoang mang giữa khi khó khăn. Xin chọn nơi này làm quê hương….

Nguyễn Đức Quang như thế đấy. Không đứng ngoài để đi hành quân làm lính cậu như Nguyễn Bắc Sơn… Không một lời thù hận bên này hay bên kia. Nguyễn Đức Quang là tiếng hét nhân bản, là lời réo gọi của nguyên một thế hệ sắp bị mất đi những giá trị của một xã hội đang bốc cháy.

Nguyễn Đức Quang không phòng trà não ruột, không tình ái bi thảm, không chính trị một chiều, không thù hận đằng đằng.

Nguyễn Đúc Quang đến với người nghe và nhất là những người hát nhạc của ông bằng tất cả chân tình của một thanh niên Việt.

Sự quyến rũ của Nguyễn Đức Quang là ở đó.

Mấy chục năm đã qua, nhưng Nguyễn Đức Quang không bao giờ rời xa hẳn chúng ta. Vẫn còn có những buổi sáng, hai ba câu hát của chàng vẫn tiếp tục ám ảnh chúng ta.

Và như thế, có nói là thế hệ này đã tìm được người phát ngôn thì cũng không sai. Nguyễn Đức Quang nói hộ chúng ta biết bao nhiêu điều chúng ta loay hoay nói không được và có nói cũng không hết.

Nguyễn Đức Quang qua đời sáng hôm Chủ Nhật nhưng ông vẫn sống tiếp bằng âm nhạc của ông, chừng nào mà quê hương Việt Nam còn ngạo nghễ, chừng nào mà còn những người đi trên những nẻo đuờng Việt Nam, chấp nhận đó là quê hương.

Nguyễn Đức Quang, ông đang nằm đó. Nhưng chúng tôi biết ông đang nghe chúng tôi. Ông sẽ còn nghe mãi những bản nhạc ông viết cho thế hệ này. Chúc ông thanh thản về cõi vĩnh hằng.

Vĩnh biệt Quang.

Bùi Bảo Trúc

27/3/2011"

Tác giả sau cùng là nhạc sĩ Nguyễn Quyết Thắng cho bài viết thật cảm động, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang có những dự tính, những ước mơ, những chương trình cuối đời, nay dang dở, mơ ước không trọn vẹn… những lời tâm sự cùng con chim đầu đàn du ca: Nguyễn Đức Quang:

"Anh Nguyễn Đức Quang qúi mến,

Không có một điều gì đau buồn hơn là phải nói lời vĩnh biệt nhau , chỉ mới vài tháng trước đây mình chỉ nói lời chia tay và hẹn sẽ gặp lại thôi mà, suốt hơn 4 tuần lễ ngày và đêm bên nhau, em đã được nghe anh nói , nghe anh hát, nghe những lời tâm sự thật thầm kín thật qúi báu mà dường như anh chưa thổ lộ với ai, mình đã hứa với nhau những điều phải làm, và anh đã hứa với em những công việc sẽ phải thực hiện trong năm nay, giờ anh nằm thờ ơ, lặng lẽ, làm bộ quên…

Anh Quang kính, ngày xưa biết anh qua tiếng hát trên đài phát thanh, với những bản nhạc “ Anh Em Tôi – Đường Việt Nam-Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của những năm 1965, với 16 tuổi đời em chẳng biết yêu nước là gì ? thế nhưng em đã theo anh từ đó . Lần đầu tiên từ chốn xa trở về , được nhìn và nghe anh hát từ một góc nhá nhem tối bài “ Nỗi buồn nhược tiểu “ lòng em đã trùng xuống bởi tiếng kêu gào thống thiết của tình yêu-thân phận và quê hương mãi mãi vẫn đen tối không lối thoát :

“ Tôi chót sinh ra làm dân nhược tiểu , nỗi nhọc nhằn trĩu nặng đôi vai”

“ Tôi chót sinh vào nước chia cắt – tình anh em máu chẩy thành dòng”

“Ơ hay Thượng Đế có buồn chứng dám dùm những linh hồn “

“Người dân tôi nhìn tương lai nước mắt tuôn tràn đầy “

bất chợt nước mắt tự đâu rơi xuống , em đã cảm thông với anh .. Và 45 năm sau , được nhìn và nghe anh hát lần cuối cùng “ Trên Đồi Arlington “ cũng vẫn mãi tấm lòng quặn hiu đó, vẫn hơi thở thống khổ và trái tim vỡ nát đó, lòng em đã được mở ra với tiếng gọi tình người trong con người :

“ Này bạn, cùng chiến đấu,

cùng gục ngã viên đạn ngược đường bay

Về đây, cùng tới đây, chia nhau nghĩa trang này

không lời hờn oán đắng cay

Bắc Nam cùng mạch sống!

Thắng thua đều anh hùng !

Bốn mùa hoa nở rộ, dưới mộ đài hùng tráng

chung dòng “Tổ Quốc Ghi Công”

Xin giới thiệu hồn này từ cầu Đồng Hới,

hồn kia cuối Trường Sơn

Đồng lúa xanh, có lắm anh đi nhẹ nhàng,

có người thịt nát xương tan

Nay mộ phần, rào quanh bằng oán thù,

một lần thành thiên thu,

sống hay là đã chết đều mất lối bơ vơ.

……

Triệu linh hồn oan khuất-

Chiều nay xa quê nhà

Còn chỗ không người lính gác,

chúng tôi về đây nằm,

trên đồi Arlington

Và bây giờ, anh đã thực sự về nằm nơi đây, nơi xứ lạ quê người này , không mang theo “lời chê, tiếng khen, không mang theo hờn oán đắng cay “ anh đã để lại nguyên khối óc cho bằng hữu của anh, anh đã để lại nguyên con tim cho người yêu của anh , và hơi thở nhọc nhằn cho người dân Việt của anh. Anh đã để lại những hịch truyền qua những tác phẩm anh viết , về nhân tính anh đã nói ,em đã học được của anh về tình yêu nhân loại như : “Từ Nay Gánh Vác”, tình yêu đằm thắm “ Chiều Qua Tuy Hòa “, tình yêu rực lửa “ Về Đồi Hoang “, tình yêu dại khờ “ Vì Tôi Là Linh Mục “,tình yêu tự hào bất khuất “ VN Quê Hương Ngạo Nghễ “ tình yêu dân tộc “ Cho Đồng Bào Tôi “ tình yêu bằng hữu “ Anh Em Tôi “, Tình yêu Đồng Đội “Đuốc Hồng Tuổi Trẻ “, tình yêu lứa đôi “ Cần Nhau “, tình yêu chia sẻ “ Người Yêu Tôi Bệnh “, tình yêu đằm thắm : “ Bên Kia Sông “, tình yêu hiến dâng “Đoàn Ta Ra Đi”, tình yêu phẫn nộ “ Ruồi Và Kên Kên”, tình yêu mời gọi “ Tìm Về Công Trường “, tình yêu thân phận “ Xương Sống Ta Đã Oằn Xuống”, tình yêu tủi hổ “ Nỗi Buồn Nhựợc Tiểu”, tình yêu phẫn uất “ Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi “, tình yêu hoài niệm “ Tình Tôi Con Dốc Nhỏ”, và tình yêu dung thứ, thức tỉnh “ Trên Đồi Arlington” v..v..

Tất cả tình yêu của nhân loại đều hiện hữu trong anh, anh tỏ tình mạnh mẽ bằng tiếng hát, và trao tình bằng nụ cười.

Lần cuối ngồi bên anh bên qúan café ở Place Itali, Paris đột nhiên anh đề nghị: “Chiến chụp cho anh và Thắng chung một tấm ảnh ở đây đi ! biết đâu nó chẳng “đi vào lịch sử” hi …hì “. Không ngờ nó “đi vào lịch sử “ của anh em mình thực sự, một kỷ niệm em không thể quên được . Cám ơn anh đã nuôi lớn tâm hồn em, cùng được rong ca bên nhau trên con đường Việt Nam vô tận, hôm nay tiếng hát của anh vụt bay nhanh lên cao, nhưng chắc chắn dư âm của nó sẽ còn vang vọng mãi trên mặt đất này, anh đi để lại niềm thương tiếc cho bao người, với riêng em, anh để lại cho em thật qúa nhiều điều dặn dò qúi báu lẫn những khó khăn em chắc sẽ không chu toàn nổi, qúi mến anh bao nhiêu , em lại giận anh bấy nhiêu .. anh à !

anh đi vội vã qúa, mình còn qúa nhiều việc phải làm mà….

Nguyễn Quyết Thắng"

oOo

Xin cám ơn tất cả tác giả, quý thân hữu ở xa, không đến Little Saigon đưa tiễn anh Nguyễn Đức Quang. Tôi muốn dùng câu nói cuối cùng trên của nhạc sĩ Nguyễn Quyết Thắng cho kết luận một sự chia tay hầu như không như ý. Tất cả chúng ta bùi ngùi trước một người đồng hương Nguyễn Đức Quang, hay chính xác hơn, một nhân tài của đất nước Việt Nam, bao năm miệt mài đóng góp cho xứ sở bằng lòng xả thân không quảng ngại cực nhọc, khó khăn khi hướng dẫn tuổi trè hướng về tương lai của sự hữu dụng cho quốc gia, anh trải rộng lòng nhiệt tâm, bầu nhiệt huyết xây dựng tuổi trẻ Việt Nam;

Thưa anh Quang,

Tuổi trẻ chúng tôi noi gương đóng góp cho xứ sở từ bậc đàn anh như anh, dùng hình thức này hay hình thức khác, có người theo học chính trị, kinh doanh hay kinh tế, như email của anh Francis Khúc cùng bạn bè từ trường Chánh Trị Kinh Doanh mà anh theo học, những tuổi trẻ ngày xưa chọn những ngành mà anh và họ đã kinh qua tại quê nhà một thuở, có người như HQ Hồ Ái Việt tâm sự anh chọn đi hải quân VNCH, sau này HQ VNCH đã hiên ngang bảo vệ bờ cõi, ngăn cản xứ ngoài xâm lăng đất nước chúng ta; hay anh Dương Viết Điền của ngành Chiến tranh Chính Trị, họ thường ca hát nhạc của anh. Và rồi anh, bạn bè anh, tuổi trẻ chúng tôi đồng ca khắp nơi vang vang "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ", bài ca này gắn liền với biến cố Hoàng Sa 1974 mà nhiều người mang nỗi uất hận Hoàng Sa theo kiếp này, chúng tôi cám ơn anh, bằng âm nhạc, anh nhắc nhở thanh niên về dòng sử xanh oai hung của dân tộc ta, về lòng yêu nước vô biên; Và nói đến Nguyễn Đức Quang không phải người ta chỉ quý trọng tài năng âm nhạc của anh mà thôi, nhưng trên cao tất cả, một Nguyễn Xuân Hoàng, một Cát Biển Nguyễn Sáng cùng với nhiểu người nhận định điều quý nhất của Nguyễn Đức Quang là nhân cách. Nhân cách là điểm mà bạn bé anh trân quý anh, gắn bó với anh, quyến luyến qua bao bài viết tiễn đưa anh.

Thôi anh Quang nhé, chúng tôi xin bắt tay anh lần cuối, lên đường đoàn viên lại với chị Minh Thông cùng bao bạn bè cũ mới của anh trên cao ấy, hãy bảo trọng và sống an bình …

Như cháu hướng đạo Bùi Bảo Kim của LĐ Hướng Đạo Thăng Long, Arlington, Virginia, là tác giả bé nhất xin tiễn đưa chào vĩnh biệt bác Trưởng Nguyễn Đức Quang. Tất cả chúng tôi xin sửa lời của cháu lại là:

"Anh Quang,

You are a talented composer, a respected friend as well as a great leader for many of us. Above all, you are the best man, anh Quang.

And we all will miss you…

Farewell with your pleasant journey heading high up there, the destination that you chose at peace!"

All your friends, here.

image009.jpg

Nhận được tin buồn:

Nhạc sĩ Du ca Nguyễn Đức Quang dã ra đi

Chào Vĩnh Biệt

Xin thành kính phân ưu cùng các cháu, con anh Nguyễn Đức Quang,

cùng tang quyến, nguyện cầu nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang ra đi về miền

vĩnh cửu, để yên nghỉ ở chốn an bình ngàn thu.

Xin một lần cuối chào vĩnh biệt tiễn đưa anh!

Trường Sa, Nguyễn Đức, Nhật Ngân, Song Ngọc, Huỳnh Anh, Ngọc Chánh, Đỗ Kim Bảng, Lam Phương, Tuấn Khanh, Lê Mộng Nguyên, Bích Xuân Paris, Lê Văn Phúc, Đan Thọ, Phó Quốc Lân, Linh Phương, Phạm Khải Tuấn, Thanh Thúy, Mai Châu, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh, Lệ Thu, Lệ Thanh, Phương Hồng Quế, Trang Mỹ Dung, Mạnh Quỳnh, Lê văn Khoa, Bà Hoàng Lan, Bà Nghiêm Phú Phi, Bà Văn Phụng, Bà Lê Trọng Nguyễn, Xuân Điềm, Anh Bằng, Việt Hải và Lê Dinh.

ĐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

image010.jpg

Posted in văn nghệ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

RFI. Công du Mỹ và nhân quyền : Bộ trưởng Quang « đặc biệt » hơn TBT Trọng

Nguồn RFI
Đăng ngày 18-03-2015 Sửa đổi ngày 21-03-2015 21:53

Thụy My
mediaNhà bình luận Phạm Chí DũngRFI/Capdevielle

Một trong số những sự kiện gây nhiều chú ý mới đây là chuyến công du Hoa Kỳ của Bộ trưởng Công an Việt Nam Trần Đại Quang, trong bối cảnh hồ sơ nhân quyền lâu nay vẫn là vấn đề gai góc nhất trong quan hệ Mỹ-Việt.

RFI Việt ngữ đã trao đổi với nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở Saigon về vấn đề này.

RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã nhận trả lời phỏng vấn. Thưa anh gần đây đã có một số hoạt động khá nhộn nhịp trong quan hệ ngoại giao Việt – Mỹ, đặc biệt năm 2015 là dịp kỷ niệm 20 năm tái lập quan hệ, bên cạnh đó là những hy vọng về hiệp định TPP. Nhưng riêng chuyến thăm Mỹ của Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang được dư luận rất chú ý ?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Chuyến đi của ông Trần Đại Quang sang Hoa Kỳ rất đặc biệt, thậm chí đặc biệt hơn cả chuyến đi dự kiến của ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam được thông tin vào cuối tháng 5/2015.

Nếu chuyến đi của ông Trọng nghe nói là được vận động từ đầu năm 2014, và Ban Đối ngoại Trung ương cố gắng làm sao để cho Tổng thống Obama tiếp ông Nguyễn Phú Trọng tại Phòng bầu dục với nghi lễ cao nhất, thì chuyến đi của ông Quang lại khá đột ngột. Thông tin này chỉ mới xuất hiện sau chuyến đi của bà Rose Gottemoeller, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đến Việt Nam vào đầu tháng Ba.

Tôi muốn nêu kỹ thế này : bà Rose đến Hà Nội làm việc vào đầu tháng Ba, khoảng ngày 3 tháng Ba năm 2015. Sau đó đến ngày 5, bà gặp ông Tô Lâm, Thứ trưởng Bộ Công an phụ trách về an ninh chính trị. Không biết là cuộc gặp này đã diễn ra một cách thuận lợi như thế nào mà ngay sau đó hai ngày, ông Ted Osius, tân đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội đã thông báo ngay lập tức về một chuyến đi của tướng Trần Đại Quang, Bộ trưởng Bộ Công an, tới Hoa Kỳ trong một thời gian gần. Và ông còn nói thêm là sẽ làm việc với nhiều quan chức, nhiều cơ quan về nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề nhân quyền.

Đặc biệt là tin tức mà ông Ted Osius đưa ra không phải tại một cuộc họp báo hay trong một cuộc họp ngoại giao chính thức, mà ngay tại giảng đường của Đại học Quồc gia Hà Nội, khi ông đến nói chuyện.

Đó là một tin rất thú vị, cho thấy dường như là lần đầu tiên một viên tướng, một Bộ trưởng Công an Việt Nam, đại diện cho một ngành bị quốc tế chỉ trích, công kích, lên án khá nhiều vì những vi phạm về nhân quyền ; lại xuất hiện tại Hoa Kỳ. Và chỉ một tuần sau khi có thông tin do ông Ted Osius nêu ra, thì ông Quang đã có mặt ở Hoa Kỳ rồi.

Có thể nói đó là một chuyến đi vừa đột ngột, vừa đặc biệt. Và quả đúng như lời ông Osius, ông Quang đã làm việc với một loạt các cơ quan, các quan chức của Hoa Kỳ. Từ Bộ Ngoại giao cho đến Bộ Tư pháp, Bộ An ninh Nội địa, Cơ quan Điều tra Liên bang FBI, kể cả Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA, và cuối cùng không quên gặp những thượng nghị sĩ tiếng tăm của Hoa Kỳ, đặc biệt là ông John McCain, chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ.

RFI : Theo như anh phân tích ở trên, chuyến đi của ông Trần Đại Quang đúng là rất đáng quan tâm…

Điều đặc biệt thứ hai mà tôi muốn nêu, là chuyến xuất hành đầu tiên của các quan chức đảng cầm quyền Việt Nam lại bắt đầu bằng một Bộ trưởng Công an, trước cả chuyến đi Úc của ông Nguyễn Tấn Dũng. Còn vào năm 2013, chuyến xuất hành đầu tiên đến Vatican là của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đến tháng 7/2013 ông Trương Tấn Sang đi Mỹ gặp Tổng thống Obama. Sau đó mới là những chuyến đi con thoi của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến New York, Hoa Kỳ.

Năm nay rất đặc biệt là ông Quang xuất hiện ! Và điều đó làm dấy lên khá nhiều dư luận về mục đích của chuyến đi này. Theo tôi, mục đích chuyến đi trước hết vẫn là mối quan hệ đi dây giữa Việt Nam với Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Và những gì mà ông Quang đề cập với thượng nghị sĩ John McCain, về vấn đề Hoa Kỳ nên linh động dành cho Việt Nam quy chế thị trường đầy đủ, hay là thông qua Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và một loạt vấn đề khác, có thể cho thấy ông Quang đã nhận lĩnh những chỉ đạo của Bộ Chính trị, đặc biệt là của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hay Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Nhưng thực ra những vấn đề đó cũng không khác gì những nội dung mà trong chuyến đi Hoa Kỳ vào tháng 7/2014 ông Phạm Quang Nghị, ủy viên Bộ Chính trị và là Bí thư Thành ủy Hà Nội đã phát biểu. Tất cả những vấn đề đó chỉ là chung nhất thôi.

Vấn đề còn lại chúng ta cần tìm hiểu là những nội dung sâu sắc nhất trong chuyến đi của ông Quang có thể là những gì ? Và điều đó có liên quan mật thiết tới vấn đề nhân quyền mà phía Hoa Kỳ đã đặt ra như là một điều kiện tiên quyết, then chốt để có thể giải quyết hồ sơ TPP hay không ?

Một vấn đề khác thuộc về chính trị nội bộ của Việt Nam : Liệu chuyến đi này có phải là một chuyến « diện kiến » như là ông Phạm Quang Nghị đã từng ra mắt giới chính khách ở Mỹ vào tháng 7/2014 hay không ?

Vì hiện nay trên chính trường Việt Nam thì tướng Quang được coi là một trong những nhân vật có thể kế thừa tại Đại hội 12, diễn ra vào năm 2016 của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người ta cũng bàn tới khả năng ông có thể đảm nhiệm một chức vụ cao hơn chức Bộ trưởng Bộ Công an. Chẳng hạn như vai trò Chủ tịch nước, thậm chí còn có thể cao hơn nữa. Mà cao hơn Chủ tịch nước thì chúng ta biết là chức vụ nào rồi, tức là có thể thay thế vị trí của ông Nguyễn Phú Trọng hiện nay.

Nếu dư luận đó là đúng, thì chuyến đi của ông Quang còn hàm chứa một mục đích khác ngoài việc đi tiền trạm cho ông Nguyễn Phú Trọng và dọn đường cho một ngã rẽ về phương Tây. Rằng mục đích đó có lẽ liên quan tới động cơ cá nhân của ông Quang.

Tại vì bất kỳ một chính khách nào ở Việt Nam hiện nay cũng đều hiểu rằng tên tuổi, vị thế của họ trong tương lai, phần lớn sẽ được xác định không chỉ bởi Ban chấp hành Trung ương hay Bộ Chính trị, mà còn bởi thế đứng của họ trên trường quốc tế. Hay nói cách khác, là được sự chấp nhận của cộng đồng các nước G7.

Vì vậy tôi nghĩ rằng chuyến đi của tướng Quang có hàm ý về cả cái chung lẫn cái riêng. Và nếu như điều đó là đúng, thì trong thời gian tới, cụ thể trong năm nay chúng ta sẽ nhận ra một số vấn đề liên quan đến những động thái dịch chuyển nội bộ ở Hà Nội.

Một điều không kém quan trọng là vấn đề nhân quyền cũng vì thế có thể được xem xét theo quan điểm cởi nới hơn. Chúng ta vừa mới thấy một ví dụ khá sống động, khi một giám đốc Công an Hà Nội là Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung lần đầu tiên đã đứng ra nói về những đối tượng dư luận viên đã phá buổi lễ tưởng niệm Gạc Ma 1988 tại Hà Nội ngày 14 tháng Ba vừa qua. Tướng Chung đã gần như phủ nhận vai trò của nhóm dư luận viên này, khi nói rằng không phải do Công an hay Ban Tuyên giáo tổ chức, và còn nói có thể sẽ xác minh để xử lý đối với nhóm dư luận viên ấy.

RFI : Báo chí nhà nước lại còn gọi những người biểu tình chống Trung Quốc trong dịp tưởng niệm Gạc Ma là « người yêu nước »…

Đó là hiện tượng đặc biệt của báo chí « lề phải » – báo chí nhà nước Việt Nam. Vì trước đây, những thông tin đưa ra từ Ban Tuyên giáo Trung ương và hệ thống Bộ Thông tin Truyền thông, Sở Thông tin các tỉnh thành, ít nhất cũng gọi những người đi biểu tình chống Trung Quốc như vậy là những người « gây rối trật tự ». Hoặc cao hơn nữa là những « bè nhóm phản động », thậm chí quy cho họ cái tội « tuyên truyền chống Nhà nước » hoặc « lật đổ chế độ ».

Nhưng còn lần này tôi không cho là Ban Tuyên giáo Trung ương chủ xướng hoặc bật đèn xanh cho hàng loạt tờ báo Việt Nam lên tiếng gọi thẳng những người đi tưởng niệm Gạc Ma là những « người yêu nước ».

Trong khi đó từ năm 2011 tới giờ báo chí nhà nước hầu như im tiếng. Họ không hùa theo Ban Tuyên giáo Trung ương hay Bộ Thông tin Truyền thông đã là điều tốt rồi, nhưng họ không dám phản đối những chính sách, chủ trương hoặc những từ ngữ áp đặt từ Ban Tuyên giáo của Đảng.

Nhưng lần này, hàng loạt tờ báo lớn từ VnExpress, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi Trẻ…đều lên tiếng. Một số tờ báo dù sao vẫn còn tỏ ra thận trọng. Điều rõ ràng nhất là họ gọi những người đi biểu tình là « người yêu nước », và không đồng tình với số dư luận viên quá khích, kiêu binh kia.

Còn có những tờ báo can đảm hơn, chẳng hạn tờ Giáo dục Việt Nam, coi hành động của số dư luận viên quá khích như vậy là « không thể chấp nhận được ». Và còn đòi hỏi Công an thành phố Hà Nội phải điều tra xác minh cho rõ, để đưa những người này ra tòa án dư luận, nhằm làm rõ việc họ đã phản lại tinh thần dân tộc, bảo vệ chính nghĩa của người dân Việt Nam.

Đó là hiện tượng mà theo tôi lần đầu tiên từ trước đến nay, báo chí quốc doanh và truyền thông xã hội đã có một sự hòa nhịp trong bài ca mang tinh thần dân tộc. Tôi cho rằng điều đó cũng xuất phát từ những điều bất hợp lý, bất cập mà trước Tết nguyên đán năm 2015 chúng ta đã chứng kiến : vụ báo Người Cao Tuổi, một trong số ít những tờ báo được coi là chống tham nhũng mạnh mẽ nhất Việt Nam bị khởi tố, và ông Kim Quốc Hoa (Tổng biên tập) cũng bị khởi tố theo.

Tôi cho là báo chí nhà nước, tinh thần họ luôn luôn có, nhưng họ ở vào một tâm thế không thể mở miệng được. Đến lúc này, cảm thấy mọi việc đã đi quá xa, nhân chuyện ông Trần Đại Quang đi Mỹ, và nhân chuyện ông Nguyễn Đức Chung buộc phải thanh minh về việc Công an Hà Nội không đứng sau nhóm dư luận viên quá khích, báo chí Việt Nam đã đồng loạt lên tiếng. Hiện tượng đặc biệt này là sự giao thoa giữa truyền thông xã hội và báo chí quốc doanh.

RFI : Theo anh, chuyến công du của Bộ trưởng Công an Việt Nam sẽ có những tác động về mặt nhân quyền, và có lẽ cụ thể là trong dịp Đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ sắp tới ?

Đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ được thông tin là vào tháng 5/2015, cũng trùng với thời điểm dự kiến ông Nguyễn Phú Trọng sẽ sang Hoa Kỳ làm việc. Đó là một cái mốc theo tôi là rất quan trọng. Còn liên quan đến hiệu quả giải quyết những vấn đề nhân quyền tồn đọng ở Việt Nam, thường xuyên bị vi phạm ở Việt Nam, có lẽ chúng ta cần nhìn lại lịch sử.

Biểu hiện gần nhất là năm 2014 : tôi muốn nhắc lại chuyến đi của bà Wendy Sherman. Có một điểm trùng hợp giữa năm 2014 và 2015 là hai nữ Thứ trưởng Hoa Kỳ đều đến Hà Nội vào tháng Ba. Thậm chí là vào cùng ngày luôn, tức là ngày 3 và ngày 4, năm 2014 và năm 2015.

Chuyến đi của bà Wendy Sherman, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đến Hà Nội đã giải quyết một vấn đề là sau đó ông Nguyễn Hữu Cầu, cựu đại úy quân lực Việt Nam Cộng Hòa, được coi là « người tù xuyên thế kỷ » khi đã ở nhà tù cộng sản tới 38 năm, được thả vô điều kiện. Và mở đầu cho một chiến dịch thả tới 14 tù nhân lương tâm trong năm 2014 ở Việt Nam. Sau đó chúng ta biết là kể cả những nhân vật nổi tiếng như Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Vi Đức Hồi và cuối cùng là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải cũng đã ra tù.

Tôi cũng cho rằng nếu mà lịch sử lặp lại, thì cũng có hy vọng sau chuyến đi của bà Rose Gottemoeller, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ đến Việt Nam vào tháng 3/2015, và đặc biệt là làm việc với Bộ Công an về nhân quyền ; tiếp theo đó là chuyến làm việc của tướng Trần Đại Quang ở Hoa Kỳ, có thể dẫn tới một chính sách thả người rộng rãi, cởi mở, hoạt náo hơn của chính phủ Việt Nam trong năm 2015.

Tôi cũng có cảm giác – một chút thôi – rằng độ mở ở Việt Nam dường như đang có nét lặp lại những biến động chính trị và thả tù nhân chính trị ở Miến Điện vào khoảng giữa năm cho đến cuối năm 2011. Tôi chỉ dám so sánh tình hình ở Việt Nam với nửa cuối năm 2011 ở Miến Điện mà thôi, vì thời gian đó Tổng thống Thein Sein vừa chấp chính.

Cuối năm 2010 ông đã phóng thích nữ lãnh tụ của đảng đối lập là bà Aung San Suu Kyi, để đến giữa năm 2011 thì Miến Điện bắt đầu thả tù nhân chính trị. Họ thả một lúc tới vài ba chục người chứ không phải là ít. Cho đến năm 2012 thì họ thả đại trà hơn, và làn sóng thả người của Miến Điện chấm dứt vào cuối năm 2013. Có nghĩa là thả toàn bộ các tù nhân chính trị ở Miến Điện !

Tôi cũng thấy rằng ở Việt Nam đang chấp chới, nhập nhoạng một nét nào đó của Miến Điện. Tất nhiên không thể trùng hợp hoàn toàn với Miến Điện, nhưng chúng ta có thể hy vọng rằng trong tình thế khó xử như hiện nay – khó xử về kinh tế, xã hội, chính trị và đặc biệt là mối quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ, thì Hà Nội bắt buộc phải chấp nhận cởi mở hơn. Phải duy trì một độ mở nhất định nào đó, không chỉ là độ mở đối ngoại mà còn là độ mở về nhân quyền.

Trong độ mở nhân quyền thì họ phải tính tới những danh sách mà phía Mỹ đã yêu cầu ròng rã trong nhiều năm qua. Danh sách mà Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và hơn 220 đề nghị của các nước trong Hội đồng Nhân quyền đã yêu cầu Việt Nam, đặc biệt là việc thả tù nhân lương tâm, trong đó có các blogger và giới nhà báo.

Thành thử tôi hy vọng là năm 2015 Nhà nước Việt Nam phải thả và có thể thả tù nhân lương tâm nhiều hơn so với năm 2014. Không những thế, họ còn có thể làm những động tác trả lại quyền tự do đi lại, tự do tôn giáo, kể cả quyền tự do báo chí đối với mọi người dân trong nước, đặc biệt là với các nhà báo.

RFI : Nếu đã có những nhượng bộ về nhân quyền theo như như nhận định của anh, có lẽ đổi lại thì việc gia nhập TPP của Việt Nam sẽ được thuận lợi hơn ?

Về xu thế thì TPP chắc chắn sẽ phải thuận lợi hơn. Có đến 95% hy vọng hoặc hơn thế nữa, là TPP có thể được ký kết ngay trong năm nay, 2015. Và nếu xét theo hệ quy chiếu của tân đại sứ Mỹ Ted Osius, thì trong tháng Ba này, tức thời điểm chúng ta đang bàn luận, có thể chứng kiến một sự kiện nào đó liên quan đến TPP.

Theo thông tin mới nhất mà tôi nhận được, cuộc đàm phán về TPP cấp bộ trưởng ở Hawai, Hoa Kỳ từ ngày 9 tới ngày 15 tháng Ba dường như chưa kết thúc, chưa giải quyết được những vấn đề then chốt. Những vấn đề then chốt đó là gì thì người ta chưa công bố.

Nhưng chúng ta có thể hiểu, một trong những điều kiện tiên quyết mà phía Mỹ đưa ra ròng rã suốt mấy năm vừa rồi. Đó là muốn vào TPP thì Việt Nam phải chấp nhận mô hình công đoàn độc lập và đưa mô hình này vào thực tiễn chứ không phải chỉ trên lý thuyết.

Thứ hai là rào cản kỹ thuật. Hiện nay một số nước trong TPP cũng đang bàn v ấn đề gỡ bỏ những rào cản kỹ thuật, chẳng hạn xuất xứ hàng hóa, nhãn mác, nguồn gốc nhiên liệu, nguyên vật liệu, nguyên tắc « từ sợi trở đi » đối với hàng dệt may của Việt Nam.

Một vấn đề khác cũng rất quan trọng, nếu thiếu thì Việt Nam cũng không thể vào TPP, đó là quyền đàm phán nhanh mà chính phủ Hoa Kỳ đang yêu cầu Quốc hội trao cho.

Nếu những vấn đề chính của TPP được giải quyết trong tháng Ba hoặc tháng Tư năm 2015, thì có hy vọng vào cuối năm nay chính phủ Hoa Kỳ sẽ đệ trình một sắc lệnh đề nghị Quốc hội trao cho quyền đàm phán nhanh. Nếu mọi chuyện thuận lợi thì có hy vọng là trùng với thời điểm Tổng thống Obama dự kiến sang Việt Nam vào tháng 11/2015, vấn đề TPP sẽ được giải quyết xong. Có nghĩa là được ký chính thức, và Việt Nam lúc đó sẽ trở lại như thời kỳ năm 2007, khi được vào Tổ chức Thương mại Thế giới.

RFI : Nếu đúng như dự báo, tháng 5 tới ông Nguyễn Phú Trọng sẽ là Tổng bí thư đầu tiên sang thăm nước Mỹ, và đến tháng 11 Tổng thống Mỹ Obama sẽ sang thăm Việt Nam, không chừng quan hệ Mỹ-Việt sẽ có những bước chuyển mới, hay đây vẫn chỉ là hình thức ?

Không dám chắc là quan hệ Việt-Mỹ sẽ bước hẳn sang một chương mới như thời điểm năm 1995, khi bắt đầu bình thường hóa. Vì có một điểm đặc thù là cả Tổng thống Obama lẫn Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đều đã gần hoàn thành nhiệm kỳ cuối của mình.

Chỉ còn ít tháng nữa thôi, là cả hai người đứng đầu hai nước sẽ kết thúc nhiệm kỳ. Mà như vậy khó thể nói rằng ê-kíp tiếp theo, những người kế thừa ông Trọng và ông Obama sẽ duy trì một đường lối, hoặc ít nhất là hình ảnh giống như những người tiền nhiệm của họ muốn tạo ra. Nhưng ít nhất trong năm 2015 này về mặt quan hệ ngoại giao họ đang cố gắng làm cho hình ảnh kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ trở nên xán lạn và rõ ràng hơn.

Bản thân tôi nghĩ rằng mọi chuyện nếu diễn ra cách đây khoảng sáu, bảy năm, thì tôi sẽ cho đó là chuyện thuần túy hình thức, và Việt Nam vẫn giữ quan điểm bảo thủ của mình tuy vẫn duy trì những động thái bắt tay với Mỹ, với Liên minh Châu Âu.

Nhưng có một điểm khác biệt đối với cách đây sáu, bảy năm. Như chúng ta đã phân tích, đó là vấn đề kinh tế chính trị xã hội nội bộ và kinh tế đối ngoại của Việt Nam hiện nay đã khác rất nhiều trên trường quốc tế. Hiện nay trong nước người ta đang bàn tới việc có nên bỏ cụm từ « định hướng xã hội chủ nghĩa », và « nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa » hay không.

Đây là vấn đề rất lớn, đã đưa ra bàn thảo ở một số Đại hội lần trước. Dự thảo báo cáo Đại hội Đảng lần thứ 12 sắp tới cũng đưa vấn đề này ra. Theo chúng tôi được biết, nội dung này đã được đưa về một số các trường đại học, các cơ sở đào tạo, và thậm chí ngay tại một số ban cán sự đảng đã xuất hiện những ý kiến cho rằng, hóa ra mục tiêu « định hướng xã hội chủ nghĩa » là mục tiêu còn rất xa lạ, chưa thể áp dụng vào Việt Nam. Tốt nhất là tạm gác lại, hoặc là bỏ đi !

Nếu bỏ đi thì cuối cùng chỉ còn lại « nền kinh tế thị trường » mà thôi. Và nếu chuyển đổi hoàn toàn từ « nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa » sang « nền kinh tế thị trường », thì không những Việt Nam sẽ có được quy chế thị trường đầy đủ – ít nhất là lý thuyết, mà còn chuyển sang một mô hình có vẻ hợp thời hơn. Đó là mô hình tư bản chủ nghĩa.

Có nghĩa là không đốt cháy giai đoạn, không "bỏ qua tư bản chủ nghĩa để đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội", mà phải duy trì đất nước này, chế độ này trong một giai đoạn nhất định, là chủ nghĩa tư bản. Dư luận đang tranh luận về vấn đề này.

RFI : Trong bối cảnh chạy đua ráo riết cho Đại hội Đảng lần thứ 12 sắp tới, nội tình Việt Nam dường như cũng rất sôi động ?

Nội bộ của Việt Nam hiện nay rất căng, đặc biệt từ sau sự xuất hiện của blog Chân Dung Quyền Lực vào cuối năm 2014, đầu 2015 ; dẫn đến sự kiện đình đám liên quan tới một người đã khuất là nguyên Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh.

Năm 2015 sẽ là cuộc đấu gay go giữa các ứng cử viên chức vụ Tổng bí thư trong thời gian sắp tới. Tất cả những ứng cử viên đó dĩ nhiên đều muốn tôn tạo hình ảnh của họ trên trường quốc tế. Cũng giống như tình hình ở Ukraina thôi, không có một ứng cử viên nào thắng lợi nếu không có sự ủng hộ của phương Tây.

Tôi cho là ở Việt Nam họ đang buộc phải nghĩ tới việc đó. Và không phải ngẫu nhiên mà ngay sau chuyến đi của ông Quang, kể cả chuyến đi của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Úc và New Zealand – mặc dù chỉ là vấn đề thương mại thôi, và cũng có lên tiếng một cách chung chung rằng cần phải kềm chế ở Biển Đông, là những vấn đề mà Thủ tướng đã nhắc đi nhắc lại một cách nhàm chán ở Việt Nam – còn có một chuyến đi khác mà có vẻ như dư luận không để ý.

Đó là chuyến đi của ông Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tới Miến Điện. Để làm gì ? Ông Nhân đến để gặp gỡ đảng Đoàn kết Liên bang Miến Điện, tức đảng cầm quyền, và lại vào thời điểm Trung Quốc đang đưa quân áp sát biên giới nước này, với cái cớ là máy bay Miến Điện thả bom làm chết từ 4 đến 6 người Trung Quốc.

Nhưng việc ông Nguyễn Thiện Nhân, ủy viên Bộ Chính trị Việt Nam xuất hiện tại Miến Điện vào một thời điểm được coi là nhạy cảm trong quan hệ Miến Điện và Trung Quốc như thế này, có thể được hiểu rằng Việt Nam dường như đang muốn bắt tay với Miến Điện để trở thành một đồng minh trong tương lai. Cũng như một số động thái để kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, mà Việt Nam đã bày tỏ một cách kín đáo với người Philippines.

Đó là những động thái cho thấy năm 2015 sẽ là một năm đặc trưng cho hai xu thế. Một là xu thế đấu tranh phân hóa trong nội bộ và ly tâm chính trị nội bộ ở Việt Nam. Xu thế lớn thứ hai là xu thế đối ngoại và mở cửa, nói thẳng ra là mạnh ai người đó đối ngoại.

RFI : Chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở Saigon đã vui lòng dành thì giờ trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ hôm nay.

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng_Saigon20/03/2015 – Thụy MyNghe

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Đoan Trang : “Cẩm nang” làm việc với CA – dành cho các bạn trẻ trong chiến dịch bảo vệ c ây

Nguồn phamdoantrang

Monday, March 23, 2015

Trong chiến dịch bảo vệ cây xanh ở Hà Nội những ngày qua, chúng tôi được biết là đã có một vài bạn sinh viên bị công an cản trở, sách nhiễu, hoặc lôi về đồn làm việc.

Số trường hợp sinh viên bị làm việc kiểu này chắc sẽ tăng lên trong những ngày tới. Do đó, chúng tôi xin cung cấp cho các bạn bài viết mang tính chất hướng dẫn pháp lý sau đây. Nó chắc chắn chưa đầy đủ để có thể trở thành một cuốn cẩm nang, tuy nhiên, chúng tôi hy vọng nó sẽ giúp các bạn có thêm hiểu biết về pháp luật và cách sử dụng pháp luật để bảo vệ mình.

Bài viết được trình bày dưới dạng câu hỏi và trả lời, dựa trên các nguyên tắc luật pháp phổ quát và “đặc thù” pháp luật Việt Nam.
* * *

1. Công an có thể “mời” bọn mình về đồn không?

Thực ra, hành động cậy số đông, cậy sức mạnh thể chất và cậy thế công vụ để đưa những sinh viên lẻ loi, không mang vũ khí và không có dấu hiệu tội phạm, vào đồn, là “bắt” chứ không phải “mời”, bất kể công an và/hoặc dân phòng gọi đó là gì.

Cho nên, đề nghị các bạn hãy gọi sự vật hiện tượng bằng đúng tên của nó, thay vì tìm cách bóp méo từ ngữ như thói quen lâu nay của tuyên giáo. Đó là bắt, không phải là mời. Còn nếu là mời thì bạn có quyền từ chối.

2. OK, thì gọi là “bắt”. Vậy công an có thể bắt bọn mình về đồn không?

Bắt người là một trong những biện pháp ngăn chặn do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo, hoặc người chưa bị khởi tố nhưng bị bắt khẩn cấp. Mà các bạn thì chẳng ở dạng nào trong số này cả, đúng chưa?

3. Đúng rồi… nhưng “bắt khẩn cấp” là gì, nghe sợ thế? Như kiểu bắt Trang Trần ấy hả?

Ừm, đúng là nếu không hiểu luật pháp thì nghe cụm từ “bắt khẩn cấp” sợ thật. Theo Điều 81 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì có 3 trường hợp công an được phép bắt người khẩn cấp, các bạn thử xem các bạn, hay là o Trang Trần, có thuộc diện nào không nhé?

– Trường hợp thứ nhất: Khi có căn cứ để cho rằng người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thắt ruy-băng lên cây hoặc đi biểu tình mà là tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng hử? Bạn có tự tin về độ nguy hiểm của mình quá không đấy?

– Trường hợp thứ hai: Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đó đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.

Ờ, nếu bạn cho là bằng hành động thắt ruy-băng lên cây hoặc đi biểu tình, bạn đã hại một ai đó, thì có nghĩa là bạn tự cho rằng mình phạm tội. Nhưng kể cả như thế đi nữa thì bạn có định trốn không?

Tuy nhiên, dù sao thì cụm từ “xét thấy cần ngăn chặn” cũng khá mơ hồ. Có khi chúng ta chẳng hề định chạy trốn, nhưng mà cả lô công an vẫn ụp vào bắt, vì họ “xét thấy cần ngăn chặn” chúng ta trốn. Nhưng bạn yên tâm, chỉ có thắt nơ lên cây và đi biểu tình thì bạn chưa đủ độ nguy hiểm để lọt vào diện này đâu.

– Trường hợp thứ ba: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cớ.

Bạn rõ ràng không thuộc trường hợp này rồi nhé.

4. Ôi phức tạp, phức tạp… Thế bắt khẩn cấp thì khác gì bắt thường?

Thì vừa nói đấy: Bắt là biện pháp ngăn chặn, áp dụng đối với bị can, bị cáo, hoặc người chưa bị khởi tố nhưng bị bắt khẩn cấp.

Nghĩa là, bắt khẩn cấp là dành cho người chưa bị khởi tố (không phải bị can, bị cáo), càng chưa bị kết án. Việc bắt khẩn cấp cho phép công an tiến hành bắt ngay lập tức một người nào đó mà chưa cần làm thủ tục bắt người theo trình tự thủ tục do luật định, tức là không cần phải có lệnh bắt do viện kiểm sát phê chuẩn.

Nói vậy chứ bắt khẩn cấp là cần thiết chứ các bạn, trong trường hợp bắt đối tượng bị truy nã hoặc bắt quả tang tội phạm. Lúc ấy, tình thế khẩn cấp như vậy mà đòi hỏi công an phải có lệnh bắt, xin viện kiểm sát phê chuẩn, thì sao mà kịp. Nhưng các bạn (và, nhân tiện, cả Trang Trần) đều không ở diện đó.

5. Công an có thể ép bọn mình phải làm việc với công an không? Nếu bọn mình từ chối, họ lại bảo “chỉ là làm việc bình thường thôi mà, có gì đâu”.

Trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử án hình sự), chẳng có hoạt động nào của công an được gọi là “làm việc” cả. Đấy là họ cứ nói thế để tỏ ra nguy hiểm, để dọa bạn đấy thôi.

Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự thì hoạt động của cơ quan điều tra là khởi tố vụ án và điều tra. Mà bạn chỉ đi buộc nơ lên cây hoặc biểu tình thì làm gì có vụ án nào được khởi tố cơ chứ.

Đó là chưa kể điểm này rất quan trọng: Công an phường, an ninh thường phục không có thẩm quyền khởi tố vụ án và điều tra.

Tóm lại, công an không có cơ sở pháp lý nào để “làm việc” với bạn được.

SV.jpg
Ảnh chụp tại sự kiện Tree Hugs, sáng 22/3, Hà Nội.
Nguồn ảnh: FB 6,700 người vì 6,700 cây xanh.

6. Họ hỏi bọn mình về tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp, gia đình, họ tên cha, họ tên mẹ, địa chỉ và hộ khẩu… Bọn mình có quyền từ chối trả lời không?

Công an hỏi thế là vi phạm nhân quyền quá lắm. Như đã nói ở trên, họ không có cơ sở pháp lý nào để “làm việc” với bạn, cho nên thẩm vấn bạn đã là sai phạm rồi, nói gì đến chuyện hỏi thông tin cá nhân, thông tin đời tư của bạn.

Chưa kể, khi hỏi như thế, công an cũng vi phạm một nguyên tắc căn bản của pháp luật: Ai làm thì người đó tự chịu trách nhiệm, không liên quan đến gia đình. Chỉ có thời phong kiến mới có kiểu một người bị tội thì cả nhà vạ lây thôi. Đấy, bạn cứ nói vậy với công an. Mà này, bạn có thấy khó chịu không, khi “biên bản làm việc”, “biên bản lời khai” lại nêu cả tên bố, mẹ, anh, chị của bạn như thế?

Quên mất một điều nữa: Theo các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền, thì mọi công dân đều có quyền im lặng nữa cơ. Bạn chẳng có nghĩa vụ gì với công an trong quá trình làm việc” của các chú ấy cả, nhất là khi chính công an làm sai.

Quyền im lặng được thể hiện bằng nhiều cách: Bạn có thể chẳng nói gì cả, hoặc đơn giản nói: “Tôi không biết”, “Tôi không có ý kiến”, “Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi này”, “Tôi không có quan điểm gì”, v.v. Bạn chỉ cười cũng là một cách thực thi quyền im lặng rồi đấy.

7. Dán khẩu hiệu, thắt ruy-băng lên cây có vi phạm luật gì không?

Không. Các bạn hãy yên tâm: Việc làm đó của các bạn không vi phạm pháp luật về quản lý hành chính, mà càng không vi phạm pháp luật hình sự.

8. Bên công an và dân phòng bảo bọn mình “làm mất mỹ quan đô thị”…

Luyên thuyên, đáng vả cho mấy cái vào mồm! Chẳng có văn bản pháp luật nào quy định thắt nơ lên cây là phạm pháp hay “làm mất mỹ quan đô thị” cả. Có một số nghị định hơi hơi liên quan đến trật tự đô thị, nhưng chỉ toàn nói về chuyện bán hàng rong, xây nhà trái phép, kinh doanh dịch vụ lấn chiếm lòng đường và hè phố.

Mà cứ giả sử là việc thắt ruy-băng lên cây là làm mất mỹ quan đô thị thật, thì công an hay dân phòng đều không có thẩm quyền xử lý. Thẩm quyền thuộc về cơ quan quản lý đô thị cơ, các chú ạ.

9. Đi tuần hành, biểu tình có vi phạm luật gì không?

Có thể công an sẽ quy kết các bạn “tụ tập đông người trái phép”, vi phạm Nghị định 36/CP. Tuy nhiên, các bạn chú ý này: Nghị định 36/CP vi hiến, vì nó xâm hại quyền tự do hội họp và quyền biểu tình của các bạn, mà quyền ấy đã được quy định tại Điều 25 Hiến pháp Việt Nam sửa đổi năm 2013.

Hoặc cũng có thể, họ buộc tội bạn “gây rối trật tự công cộng”. Thực ra, họ cố đánh đồng hành động biểu tình với hành vi gây rối trật tự công cộng đó thôi, chứ giữa biểu tình và gây rối, có sự khác biệt chứ. Theo nguyên tắc chung, gây rối trật tự được hiểu là sự phá vỡ một trật tự hợp lý ở không gian công cộng, ví dụ bật nhạc nhảy ở nơi đang yên tĩnh như đền, chùa… Nhưng bạn đi tuần hành ôn hòa chứ đâu có hò hét, mở nhạc lớn ở đền, chùa, phải không?

Công an có muốn đè các bạn ra mà xử phạt hành chính, thì cũng phải cung cấp cho bạn biên bản sự việc hay biên bản vi phạm lập tại hiện trường.

Nếu đủ cứng, bạn cứ nói thẳng vào mặt các chú công an: “Cáo buộc mơ hồ, vô căn cứ, muốn bắt lỗi phải có bằng chứng. Tại sao các chú dám nói cháu gây rối trật tự công cộng? Bằng chứng đâu? Biên bản tại hiện trường đâu?”. (Các bạn chú ý là, biên bản lập ngoài hiện trường không có giá trị, bởi lẽ nó không còn tính trung thực, khách quan và trực tiếp nữa).

10. Công an thường bảo bọn mình là “Ai cho phép biểu tình mà biểu tình? Làm gì đã có luật biểu tình?”.

Các bạn đừng quên: Hiến pháp là luật nguồn, là gốc của mọi loại luật khác. Hiến pháp Việt Nam quy định công dân có quyền biểu tình, thì công dân đương nhiên có quyền biểu tình. Các đạo luật được làm ra phải nhằm giúp dân chúng thực hiện quyền biểu tình, phải cụ thể hóa, hiện thực hóa quyền ấy, chứ không phải để ngăn cấm dân dưới chiêu bài “quản lý”.

Chưa có luật biểu tình thì chúng ta cứ theo luật nguồn, luật gốc mà làm, tức là tuân theo Hiến pháp. Bất cứ sự cản phá, bắt bớ nào cũng đều là vi hiến và vi phạm luật hình sự (phạm tội bắt giữ người trái phép).

Ngay cả khi có luật biểu tình rồi, nhưng luật ấy không giúp dân chúng thực hiện quyền biểu tình mà chỉ nhằm hạn chế quyền này của dân, thì tức là luật đã vi hiến và phải bị bác bỏ.

n%C6%A1.jpg
Ảnh: Nguyễn Lân Thắng


11. Khi bị hỏi là ai tổ chức, nếu là mình tổ chức thì có nên nói thật không? Nếu là người khác tổ chức thì có nên nêu tên người đó ra không?

Như đã nói ở trên, về nguyên tắc, các bạn có quyền im lặng, có quyền nói: “Cháu chẳng biết”. Riêng việc công an bắt các bạn về đồn để làm việc đã là sai ngay từ đầu rồi, nên các bạn càng chẳng cần phải hợp tác, cung cấp thông tin gì cho họ. Tốt nhất, nên cương quyết phản đối việc ép cung, mớm cung, dụ dỗ và khiêu khích để bạn phải buột miệng trả lời (kiểu như “thằng cu này hèn thế, dám làm dám nhận chứ, hay là cháu cũng nghĩ việc cháu làm là sai?”).

12. Khi bị hỏi là ai xúi giục, ai cho tiền để làm việc này, mình nên trả lời sao?

Mắng thẳng vào mặt mấy chú công an, nếu bạn cảm thấy họ đang xúc phạm nhân cách và khả năng tư duy độc lập của bạn.

Cương quyết phản đối việc ép cung, mớm cung, dụ dỗ và khiêu khích: “Các chú bỏ cái trò ấy đi nhé, người lớn cả rồi, không phải chơi cái kiểu khích bác ấy”.

13. Công an đưa ra một loạt giấy tờ bắt bọn mình ký la liệt, sợ lắm. Phải làm thế nào?

Các bạn nhớ này: Khi công an đưa cho bạn loại giấy tờ có tên “biên bản lấy lời khai”, bạn từ chối thẳng thừng, không ký. Bạn chẳng phải nghi can, bị can, bị cáo gì mà phải khai báo cả – riêng cái tiêu đề đã thấy xúc phạm rồi.

Chưa kể, “biên bản lấy lời khai” là loại văn bản được sử dụng theo Bộ Luật Tố tụng Hình sự, dùng cho việc điều tra các vụ án hình sự. Trong khi đó, gây rối trật tự công cộng chỉ là lỗi hành chính mà thôi. Chính công an mới đang phạm luật, chứ không phải bạn! Họ thường lôi loại giấy này ra để hăm dọa bạn, khiến bạn lo sợ vướng vòng lao lý mà thành thật khai nhận hết cả.

Nếu công an lập “biên bản làm việc”, bạn cũng có quyền không ký (bên cạnh những quyền như giữ im lặng, hoặc nêu quan điểm phản đối, hoặc thể hiện lập trường rằng bạn không sai, họ mới sai). Bạn còn có quyền buộc họ phải lập thành hai bản, bạn phải được giữ một bản. Nếu công an không đồng ý, bạn từ chối ký.

14. Công an bắt mình viết cam kết đủ thứ, đại loại “tập trung học tập, không đi gây rối nữa”…

Và trước đó, các chú còn tặng cho bạn cả một bài giáo huấn, rao giảng đạo đức dài phải không, haha…

Nhưng sau tất cả những gì được trình bày ở trên thì các bạn đã thấy ai mới là người làm sai pháp luật, rất thiếu hiểu biết về nhân quyền, và cần được giáo huấn rồi chứ?

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Ngô Thị Hồng Lâm: Những món nợ phải trả của ngành Tư pháp Việt Nam

Nguồn boxitvn

22/03/2015

Ngô Thị Hồng Lâm

Biền biệt đằng đẵng xa con sông Thương đã lâu. Nay trở về với một tâm trạng buồn, khi mà người dân quê tôi đang phải sống với bộ luật của đảng độc quyền – một bộ luật “do dân, vì dân” mà không hiểu sao lại cứ giáng xuống đầu dân mọi thứ tai họa trời ơi đất hỡi! Trong khi người thực thi pháp luật là những người cầm cân nảy mực, thì lại cũng chính họ lại là người ung dung ngồi xổm lên trên pháp luật, ung dung ngồi xổm trên đầu dân.

Người đầu tiên tôi đến là thầy giáo Nguyễn Danh Ngọc. Đối diện với tôi là một thanh niên cao, to, khỏe mạnh, điềm đạm. Anh là giáo viên bộ môn thể dục của Trường phổ thông trung học Đồi Ngô, Bắc Gang.

clip_image003

Là một người thầy tâm huyết với nghề, không đồng ý với căn bệnh dối trá, thành tích một cách trầm kha, năm 2012, thầy giáo Nguyển Danh Ngọc đã tổ chức quay clip tố cáo về gian lận trong thi cử, tố cáo về việc cấu xén tiền bảo hiểm và tiền hỗ trợ học sinh nghèo của ngành giáo dục cho các em học sinh trường Đồi Ngô (xem đây).

Cũng như trong một lần thi đấu, Ban Giám hiệu Trường phổ thôngĐồi Ngô đã thuê các vận động viên thể dục về để thi tuyển lấy giải, điều đó cũng gây sốc cho Nguyễn Danh Ngọc. Đạo đức truyền thống của người giáo viên trong anh không thể nào chấp nhận nổi khiến anh phải lên tiếng. Và tất cả những đơn tố cáo ấy của thầy giáo Nguyễn Danh Ngọc đã được báo chí và truyền hình đưa tin. Thế nhưng, cho đến nay chúng vẫn rơi vào “im lặng”!!!

Kết quả thường thấy ở xứ ta đối với những người dám chống lại gian dối và tiêu cực là việc thầy giáo Nguyễn Danh Ngọcđã bị nhà trường phổ thông trung học Đồi Ngô, Bắc Giang, sa thải ngay năm đó. Đặc biệt là sau đó, nơi nào trong tỉnh cũng từ chối nhận thầyvào làm việc.

Thậm chí còn có bọn giả danh côn đồ thường xuyên uy hiếp tấn công thầy giáo Nguyễn Danh Ngọc.

Để kiếm kế mưu sinh thầy giáo Ngọc xin đi làm công nhân tại Nhật. Nhưng rồi việc xuất cảnh của thầy cũng đã bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Đối với một con người không thỏa hiệp với một nền giáo dục dối trá thì bộ máy chuyên chế đã lập tức buông ngay xuống quanh người đó cả một mạng lưới vô hình. Đi đến đâu anh cũng không thoát khỏi cái mạng bùng nhùng vây bủa này.

Xin hỏi: bao giờ những người có thẩm quyền ở Bắc Giang mới trả lại sự công bằng cho thầy giáo Nguyễn Danh Ngọc???

Người thứ hai tôi gặp là ông Nguyễn Thanh Chấn ở thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Tìm vào ngôi nhà của ông, nơi đây đã từng là tổ ấm của một gia đình hạnh phúc. Giờ đây trước mắt tôi là một ngôi nhà xập xệ, cũ kĩ, ẩm mốc… lâu ngày không có bàn tay chăm chút sửa sang của người đàn ông.

clip_image005

Chỉ gặp một cháu trai con ông đang xay thóc cho khách hàng. Cháu cho biết: mẹ cháu bị tâm thần đi nằm bệnh viện. Hậu quả do sự kéo dài của những ngày khổ công đi kêu oan cho bố khắp nơi. Còn bố cháu đang đi xin cây chuối ở trong làng về cho heo ăn. Mấy con heo con thả rông, thấy có người lạ thì thi nhau chạy trốn.

clip_image007

Con chó mẹ thấy có người lạ cũng tha từng con giấu vào trong bếp. Chúng tôi đang chờ thì ông Chấn chở một cây chuối to về tới.

clip_image009

Thoạt gặp người lạ, một phản xạ hoảng loạn vô thức xuất hiện ngay trong ông mà tôi nắm bắt được. Lúc đó trông ông như một người không còn hồn vía. Tôi chạy nhanh ra cùng đỡ cây chuối ra khỏi xe cho ông và giới thiệu về tôi, để ông yên tâm.

clip_image011

Ông bắt đầu kể cho chúng tôi nghe về cái ngày đen tối ập xuống với ông, kéo theo sự sụp đổ tan hoang về danh dự cũng như vật chất cho người vợ, cho mẹ già (là vợ của một liệt sĩ) và những đứa con còn rất nhỏ không thể thiếu đi sự chăm sóc của ông – người đàn ông duy nhất và là người cha của các con. Còn ông thì tuổi trẻ bị “bọn thảo khấu” cảnh sát điều tra Bắc Giang vùi dập man rợ trong nhà tù của trại giam Kế ở Bắc Giang.

clip_image013

clip_image015

Trước khi bị bắt nhà ông là con liệt sĩ, một nhà có kinh tế khá giả trong làng. – có một hiệu bán tạp hóa ở chợ và lắp đặt điện thoại công cộng cho dân trong làng đến gọi, cùng một cỗ xe ngựa để chở hàng thuê và một chiếc máy xay xát gạo ăn công; trong chuồng khi nào cũng có một đàn lợn hơn mười con. Bỗng nhiên ông bị công an tình nghi gọi lên điều tra về vụ chị Hoan bị giết trong đêm. Tài sản đội nón ra đi, con cái thất học, gia đình thì tan tác.

Ông kể tiếp trong nước mắt với gương mặt vẫn không giấu được sự hoảng loạn đuổi theo dòng hồi ức: “Họ còng tay tôi lên song sắt cửa sổ, rồi họ đặt ghế lên chân tôi, họ ngồi hỏi cung tôi nhiều giờ liền. Tôi trả lời tôi không giết chị Hoan! Thì họ dùng tay tát, chán rồi họ lấy dép Lào quật vào mang tai và đấm đá. Họ hù dọa sẽ chích thuốc lú, v.v. Họ thay nhau tra hỏi tôi suốt 24 giờ trong nhiều ngày liền, không cho nghỉ. Khi bị họ đánh lên đầu, tôi giơ tay đỡ, thì chân họ đi giày, họ đá vào tay, khiến tay tôi bị gãy và thành tật tới bây giờ. Họ nhốt tôi vào nhiều phòng giam cho đầu gấu làm nhục. Chúng bắt tôi hát, đang hát thì bắt phải khóc, đang khóc thì bắt phải cười. Một phòng có một thằng “đại bàng” hung ác nhất trong những phòng tôi bị nhốt. Nó tụt quần bắt tôi quỳ xuống chơi trò “thổi kèn” bỉ ổi!

Vì không chịu nổi đòn tra tấn của họ, nên tôi phải nhận đã giết chị Hoan để sớm thành án cho tôi được đi tù, thoát khỏi cảnh hỏi cung tra tấn dã man. Tôi là con người bằng da, bằng thịt chứ đâu phải sắt thép. Tôi liên tục kêu oan. Nhưng đơn kêu oan của tôi đều bị bác bỏ.

Đến đây ông đưa tôi xem quyết định Tái thẩm của Tòa án tối cao ngày 9/11/2014: tuyên hủy hai bản án hình sự của hai cấp tòa Bắc Giang xét xử oan sai với ông.

Ông kể tiếp: “Kể từ ngày tôi bị bắt, các con tôi đi học thì bị bạn bè nguyền rủa và phải bỏ học. Mẹ tôi thì bị dân làng xỉ mắng. Đứa con trai lấy vợ, sinh được hai đứa cháu thì cũng vì áp lực dư luận, nên vợ nó đã ly hôn. Vợ tôi cùng gia đình thì liên tục đi gõ cửa kêu oan cho tôi khắp nơi, dẫn đến kiệt sức và chuyển sang thần kinh nặng, nay phải nằm viện. Tài sản thì đội nón ra đi”.

Sự việc oan sai của ông Chấn đã rõ, đã kỷ luật Giám đốc và Phó Giám đốc Công an tỉnh Bắc Giang, cho nghỉ sớm (đó là Đại tá Phạm Văn Minh và Đại tá Nguyễn Văn Dư). Khởi tố, bắt tạm giam ông Trần Nhật Luật (nguyên Thượng tá, Phó công an huyện Việt Yên, Bắc Giang) và ông Đặng Thế Vinh (nguyên Trưởng phòng 10, Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Bắc Giang) để điều tra về hành vi cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án. Thẩm phán Phạm Tuấn Chiêm bị khởi tố với tội danh: “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã ban hành. Thế nhưng những cơ quan có trách nhiệm thi hành việc bồi thường lại đặt ra những yêu cầu rất thiếu “thiện chí” mà những tội ác của các cơ quan tố tụng đã gây ra với gia đình ông Chấn: “người tù oan phải chứng minh được tổn thất tinh thần bằng những chứng từ”.

Câu hỏi được đặt ra là, trước khi vào tù ông Chấn là một người đàn ông khỏe mạnh, không bệnh tật. Ở trong tù ông Chấn từng bị cán bộ điều tra ép cung, đánh đấm, đá, tát, hậu quả để lại là gãy một cánh tay nay đã thành tật, hai lỗ tai nay đã nghễnh ngãng. Sức lao động bị suy giảm nghiêm trọng. Ông Chấn bị cảnh sát điều tra dẫn đi nhốt bốn phòng trong ngày cho “đại bàng” trong trại giam bắt hát, bắt khóc, bắt cười, làm nhục. Bốn đứa con ông Chấn phải bỏ học. Mẹ già một quả phụ vợ liệt sĩ không ai chăm sóc. Con trai thì bị vợ ruồng rẫy vì có cha là hung thủ “giết người” đã bỏ và ly hôn.

Còn chứng từ nào cụ thể hơn những chuyện sờ sờ như thế nữa. Mà điều tra để thu thập những chứng từ ấy thì đó đâu còn là việc của ông Chấn. Nó trước hết phải là việc của các cơ quan pháp luật muốn thực sự trả lại sự công bằng cho ông Chấn chứ! Sao lại “thọc gậy xuống nước” mặc kệ ông Chấn trong hoạn do chính mình gây ra với một sự bắt buộc kỳ lạ là “ông Chấn phải tự mình tìm ra chứng từ” cho mình?

Gây ra những hậu quả đau lòng này cho ông Chấn, nào có ai khác là công an điều tra Bắc Giang!!!

Vậy công an điều tra Bắc Giang có dám dũng cảm chứng thực sự thực này cho ông Chấn không???

Phải đâu ông Chấn tự cạy cửa trại giam Kế để vào đó ngồi tù? Để rồi nay ông Chấn tự sinh sự… ăn vạ Tòa???

Thế thì, một lôgic đơn giản là cần phải đưa ông Chấn đi giám định thương tật và sức khỏe để sớm bồi thường thỏa đáng cho gia đình ông Chấn. Nếu không, dù có bắt bớ người này người kia, cho nghỉ hưu sớm quan này quan nọ, thì dư luận dân chúng vẫn “đóng đinh” lên cái đầu chuyên chế không chỉ của ngành tư pháp Bắc Giang mà của cả một đất nước vốn nhìn vào đâu người ta vẫn cảm nhận được sự hiển hiện vô hình của hai chữ “chuyên chế” làm cho ai cũng khiếp hãi ấy.

Thiết nghĩ, những tổn thất đau đớn về thể xác cũng như vật chất của gia đình ông Chấn liệu 10 tỉ đồng bồi thường của Tòa với ông Chấn liệu có lấy lại được sự bình yên cho gia đình ông khi ông bị tù oan sai 10 năm trời???

Qua sự việc này chúng tôi có điều tra thêm một số việc ít nhiều có liên quan, và bỗng cảm thấy có điều gì kỳ lạ, hình như luật nhân quả là chuyện có thật trên đời.

– Ông Nguyễn Hữu Tâm, cảnh sát điều tra tỉnh Bắc Giang, sau cuộc hỏi cung ép cung ông Chấn, trên đường từ cơ quan về nhà đã đâm vào ô tô chết bất đắc kì tử!

– Ông Thân Văn Sắc, là công an xã Nghĩa Trung, sau vụ việc đẩy ông Chấn vào tù, bị ung thư vòm họng và chết sau đó!

– Ông Hoàng Văn Vui, Phó thôn Me, sau khi ông Chấn đi tù cũng bị ung thư gan và chết!

– Ông Nguyễn Minh Năng, Chủ tọa phiên tòa xử sơ thẩm ông Chấn, ngay hôm sau phải đi viện cấp cứu!

Phải chăng trên cao kia, Ông Xanh vẫn còn có mắt? Tất nhiên đấy chỉ là một chuyện mơ hồ, chẳng ai dám tin là thật, nhưng trong một tình trạng xã hội nhập nhoạng như hiện nay thì nghĩ về một đấng Cao Xanh có lẽ cũng là cách duy nhất để giữ được không gục ngã cho rất nhiều, rất nhiều con người bé cổ thấp họng hiện đang sống trên mảnh đất gọi là Việt Nam.

Người thứ ba tôi đến là chị Đỗ Thị Hằng trú tại số 21, tổ 12 phường Mỹ Độ, Bắc Giang. Chị nguyên là một giáo viên dạy toán và có năm con nhỏ. Vào thời kỳ kinh tế khó khăn 1980, chị xin nghỉ dạy để chạy chợ nhằm có thêm thu nhập trong việc nuôi các con.

Nhưng từ khi chuyển sang chạy chợ chị đã bị kẻ xấu lừa bán sang Trung Quốc hai lần (lần thứ hai là do người đàn ông tên Ngọ lừa bán chị). Nhưng vì chị đã biết tiếng Trung, nên trong một lần công an Trung Quốc đến kiểm tra, chị tố cáo và công an Trung Quốc đã đưa chị về lại Việt Nam.

Khi bán được chị Hằng trót lọt, bọn buôn người (tên Ngọ) lại tiếp tục tìm cách lừa bán một chị tên Liễu qua Trung Quốc. Khi chúng đưa chị Liễu sang đến biên giới, chúng để chị Liễu ở nhà một người cũng tên Hằng để chờ mối lái đến ngã giá bán tiếp.

Sau này việc làm của Ngọ bị bại lộ. Ngọ bị công an Bắc Giang bắt. Ngọ nghĩ rằng chị Hằng sẽ không thể trở về Việt Nam được nữa, nên Ngọ đã khai đồng bọn là chị Đỗ Thị Hằng ở Mỹ Độ, Bắc Giang cộng tác với Ngọ để bán chị Liễu sang Trung Quốc. Cho nên khi chị Hằng vừa thoát được khỏi tay bọn Tú Bà trở về Mỹ Độ, Bắc Giang, chị liền bị công an Bắc Giang bắt giam với tội danh “buôn bán phụ nữ qua biên giới”. Trước đó trong giao dịch dân sự, chị Hằng có vay mượn tiền của anh Phương và bà Mỹ. Mặc dù anh Phương và bà Mỹ không có đơn kiện chị Hằng, Thế nhưng công an điều tra Bắc Giang cũng đưa việc vay mượn dân sự này của chị Hằng cấu thành tội danh “lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” mà người bị hại lại không có đơn khởi kiện đương sự!!! Thời gian này thì Ngọ đã chết trong trại giam. Nên việc minh oan cho chị Hằng là mò kim đáy bể.

Trong thời gian tạm giam để lấy lời khai, chị Hằng cho biết đã bị công an tát và chị bị rụng liền một chiếc răng. Bằng nhiều thủ đoạn dụ dỗ khác, họ dụ chị Hằng khai nhận để cho ra tại ngoại, họ đưa tờ giấy trắng bảo chị ký lúc tranh tối tranh sáng; vì nhẹ dạ chị đã ký vào một tờ giấy khống để rồi họ phù phép biến thành tờ khai nhận tội của chị và oan nghiệt ập xuống đầu với chị từ đó.

Phiên tòa hình sự xử sơ thẩm chị ngày 24/3/1998, một phiên tòa mà người nắm pháp luật đã vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Không có luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo và phiên tòa cũng không có người bị hại nào tham dự phiên tòa. Thế nhưng phiên tòa vẫn xử và tuyên án chị Hằng tổng hợp hình phạt tù cho hai tội danh là 5 năm 6 tháng. Vào 24/ 3/2002, do cải tạo tốt nên chị được giảm 12 tháng.

Sau khi chị Hằng thụ án xong thì bất ngờ chị Liễu trở về từ Trung Quốc. Chị Liễu xác nhận: chị Hằng không phải là người chủ nhà mà Ngọ đã gửi chị Liễu để bán cho đàn ông Trung Quốc. Và chị Liễu cũng không hề quen biết chị Hằng.

Từ xác nhận của nhân chứng là chị Liễu với các cơ quan công an, công việc điều tra đã được tiến hành và ngày 19/8/2014 Tòa án Tối cao đã mở phiên xét xử Giám đốc thẩm, tuyên hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xét xử lại từ đầu.

Từ đó đến nay tiếp xúc với nhân chứng, cảnh sát điều tra Bắc Giang Đoàn Văn Canh đã gọi chị Liễu ra uống cà phê nhiều lần và dọa nạt chị Liễu bắt phải nói là “trong chuyến xe đưa chị Liễu sang Trung Quốc có chị Hằng ngồi ở hàng ghế sau”. Thông tin này đã được chị Liễu tố giác, bị chị Hằng phản đối, nên nay đã phải thay một cảnh sát điều tra khác!

Các báo Người lao động, ĐS &PL, Phụ nữ VN đã viết và đề cập nhiều lần về chuyện “tù oan” của chị Hằng. Nhưng cho đến nay câu chuyện oan trái nhiều năm vẫn chưa có hồi kết! Dễ đã hơn cả thời gian lưu lạc của nàng Kiều.

Những bản án “oan” cho chị Hằng và gia đình chị Hằng đã đưa đến hậu quả đẩy một gia đình có năm đứa trẻ đang tuổi lớn cần có sự kèm cặp, dạy dỗ của người mẹ, thành ra cầu bơ cầu bất, trong khi người cha của các cháu vì phẫn uất với nỗi oan ức của vợ đã lao đầu xuống ao tự tử. Không chỉ thế. Điều đau lòng không tránh được còn kế tiếp xảy ra: ba đứa trong số năm đứa con của chị Hằng dính vào pháp luật.

Những nỗi đau cùng tột trên đây ai trả cho ông Chấn? Ai trả cho chị Hằng và gia đình của chị? Và cán cân công bằng khi nào mới đến với thầy giáo Nguyễn Danh Ngọc? Khi mà dưới gầm trời này, bất kỳ đâu, từ lâu rồi vẫn hầm hập một không khí “công an trị” lan tỏa khắp Nam cùng Bắc? Khi mà đến đâu trong các dinh thự to lớn của các loại công sở từ huyện lên tỉnh, lên đến trung ương, người ta cũng chỉ gặp rặt những khuôn mặt giống nhau, những khuôn mặt hoàn toàn lạnh lùng vô cảm, mà muốn tìm ở đó một chút tia sáng của lòng nhân thì thực là hiếm như tìm một giọt nước trên sa mạc – nếu như trong túi mình không nghe thấy, ngửi thấy, rổn rảng tiếng kêu cũng như mùi tanh của… hơi đồng ?

N.T.H.L.

Tác giả gửi BVN.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Thiện Tùng : “Hồng vệ binh” xuất trận

Nguồn boxitvn

22/03/2015

Còn gì đau đớn, xấu hổ cho bằng, chỉ có việc dâng hương tưởng niệm liệt sĩ mà luôn diễn ra tranh chấp trước đền thờ Tổ, tại thủ đô được mệnh danh ngàn năm văn vật, ở một đất nước có bề dài lịch sử 4000 năm, với một dân tộc có truyền thống đoàn kết đấu tranh dựng nước và giữ nước – đó là Việt Nam.

Không như những năm trước, lực lượng “phá đám” lễ tưởng niệm liệt sĩ bị lãng quên năm nay, không phải nhóm cưa đá gây tiếng ồn, khói bụi; không phải cụ ông cụ bà chiếm chỗ tập thể dục củng cố dáng hình; cũng không phải nhóm trẻ dựng sân khấu ca hát, nhảy múa cuồng loạn… mà nhóm đặc chủng “hồng vệ binh”.

Số “hồng vệ binh” này mặc áo đỏ, mang khẩu hiệu “Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc”, cầm logo DLV, giương cao cờ Đảng xông vào đền Tổ như chỗ không người, với vẻ kiêu binh, đằng đằng sát khí.

Hành động hung hăng của hồng vệ đối với những người từ tâm đang thiện nguyện cho liệt liệt sĩ trước đền thờ Tổ, gây phản phản cảm và phản ứng dây chuyền chẳng những trong nước mà lan ra cả bên ngoài.

Theo báo điện tử VnExpress 17/03/2015, Thiếu tướng, Giám đốc Công an Hà Nội Nguyễn Đức Chung và Phó Ban Tuyên giáo Hà Nội Phan Đăng Long phải xuất trận chữa cháy. Hai ông cố trấn nhưng khó an trong dư luận xã hội về việc này. Bởi vì lý lẽ các ông đưa ra không đủ thuyết phục, mang tính chất đối phó, chạy tội, đổ trút lên đầu nhóm lục tặc DLV (chữ nghiêng là trích, chữ đứng là ý kiến của người viết bài):

Ông Chung nói:

– “Một số người ngăn cản tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh khi bảo vệ chủ quyền đất nước không thuộc quản lý của Công an Thành phố và Ban Tuyên Giáo. Chức năng công an là quản lý an ninh trật tự mọi mặt, mọi đối tượng trong khu vực mình phụ trách chớ đâu phải chỉ quản lý người trong ngành? Sao Công an lại phải nói giúp cho Ban Tuyên Giáo với dụng ý gì?

-Chúng tôi luôn tôn trọng hành vi, hoạt động của người dân có lòng yêu nước với tất cả các sự kiện, đặc biệt liên quan đến chủ quyền, lãnh thổ và tưởng nhớ những anh hùng liệt sĩ, những người đã tham gia bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước. Kiểm tra lùi lại xem có phải thế không? Ông Chung giải thích thế nào về việc công an và côn đồ trấn áp, đánh đập, bắt bớ, giam cầm những người tổ chức tưởng niệm liệt sĩ bị lãng quên hoặc những cuộc biểu tình chống nhà cầm quyền Trung Quốc xâm chiếm biên giới, hải đảo…

– Chúng tôi “yêu cầu giải tán nhóm thanh niên trên và sau khi được thuyết phục họ tự động rút đi. Sao kỳ vậy?Biểu tình yêu nước, tưởng niệm liệt sĩ trong trật tự, bất bạo đông lại bị công an xử trị không nương tay, còn bọn chống lại người yêu nước thương nòi – đồng nghĩa với phản nước, chuyên nghề phá đám (đám tang người quá cố, đám biểu tình yêu nước, đám tưởng niệm liệt sĩ) thì công an chỉ yêu cầu, thuyết phục để họ tự giải tán. Sao lại hữu khuynh đến như vậy, để rồi giờ đây phải hứa “sẽ điều tra”, khiến cho người dân nghi ngờ ông lại hứa cuội. Hôm 17/03/2015, Trần Nhật Quang, đại diện cho số DLV phá phách hôm 14/3, viết thư nói đầu đuôi cớ sự gởi cho Giám đốc Công an Hà Nội (tôi có đọc). Ông Chung chỉ cần gọi Trần Nhật Quang đến hỏi là biết cặn kẽ – “điều tra” chi cho mất thời gian, thêm hao tốn?

Ông Long nói:

- Hà Nội có hơn 900 dư luận viên. Dư luận viên là lực lượng đại diện cho các từng lớp thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh nằm rải khắp từ thành phố đến quận huyện. Họ nắm những vấn đề người dân đang bàn luận, quan tâm rồi tập hợp lại báo cáo cho Thành phố.Vậy là rõ rồi, DLV như những điệp viên không số, do Thành phố chọn từ những tổ chức quần chúng của đảng, họ ẩn mình ở khắp nơi, theo dõi xem dân “bàn luận, quan tâm” những gì báo cho Thành phố.

- Ông Long khẳng định: “Những DLV không bao giờ xuống đường. Vậy thì đám quậy phá hôm 14/3 là lực lượng nào mà giữa thanh thiên bạch nhật, dám giả danh xông vào phá rối lễ tưởng niệm liệt sĩ? Ban Tuyên giáo Thành ủy có trách nhiệm điều tra xử lý vụ này. Và phải giải thích rõ những vấn đề công chúng đang quan tâm:

+ Cơ quan nào ở TP Hà Nội tổ chức, quản lý DLV? Có trả lương cho họ không? Nếu có thì bao nhiêu một tháng trên mỗi đầu người? – vì nó có quan hệ đến tiền thuế của dân.

+ Sao họ mặc áo đỏ giống như “hồng vệ binh” Trung Quốc, mang khẩu hiệu “Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc”, với logo DLV, cầm cầm cờ Đảng xông vào đền thờ Tổ phá lễ tưởng niệm liệt sĩ chết vì chống quân Trung Quốc xâm lược?

+ Ban Tuyên giáo, cơ quan thuộc đảng cầm quyền, chuyên trách về chính trị và tư tưởng, phải có trách nhiệm trả lời trước công chúng: “Vì sao cấm biểu tình chống Trung Quốc khi họ xâm lược?”, và “Vì sao chết trận trong chống quân Trung Quốc xâm lược không được vinh danh?”.Nếu Ban Tuyên giáo không lý giải một cách thuyết phục hai câu hỏi này thì, dù muốn dù không, phải tôn trọng quyền của người dân biểu tình hay tưởng niệm về những gì có mang yếu tố Trung Quốc.

Qua giải thích của ông Long vừa trích, người ta có thể ngầm hiểu DLV là lực lượng cấp Thành phố, do Ban Tuyên giáo tổ chức, quản lý, sử dụng. “Trận chiến” 14/3 chỉ là cuộc diễn tập, thử nghiệm binh chủng.

Với Dư luận viên:

Qua hình ảnh video, Dư luận viên “tham chiến” hôm 14/03/2015 phần lớn tuổi đời còn non choẹt. Chú là cán bộ nghỉ hưu, tuổi 70, sau khi đọc bức thư tự biện kém thuyết phục của Trần Nhật Quang, đại diện cho nhóm DLV, gởi Giám đốc Công an Hà Nội và những gì xảy ra trong và sau 14/03/2015, chú có đôi điều cần trao đổi với các cháu DLV nói chung:

– Qua vụ việc, chú liên tưởng và thấm thía hơn câu ngụ ngôn “Con chó và người đi săn” – người đi săn phải biết ăn thịt chó khi nó không còn khả năng săn.

– Nhà cầm quyền tổ chức Dư luận viên, các cháu có quyền tham gia, được xem như một cái nghề làm để mưu sinh như những người làm bao nghề khác, miễn là giữ được phẩm hạnh con người.

– Các cháu hiểu sai rồi, liệt sĩ chống Pháp, Mỹ, Polpot đều được truy tìm hài cốt và được vinh danh, chỉ có số hy sinh trong những trận chống Trung Quốc xâm lược (ở biên giới phía Bắc, ở Hoàng Sa, Trường Sa) không/chưa được vinh danh mà thôi.

– Với vẻ trách móc, khinh bỉ, các cháu nói rằng chỉ có một số người quen nhẵn mặt biểu tình, tưởng niệm gây rối đó thôi. Thử nghĩ xem có đau lòng không: ở thủ đô người đông như kiến cỏ mà chỉ bấy nhiêu người còn “có lòng” với nước với dân, nên trân quí hay nên mạt sát họ? Muốn kết tội họ, các cháu phải có bằng chứng cụ thể chớ không được tự suy diễn rồi kết luận hồ đồ.

– 64 chiến sĩ hy sinh ở Gạc Ma là có thật, Đảng và Nhà nước đều công nhận điều đó. Người ta tưởng niệm 64 chiến sĩ ấy, các cháu mang trên người khẩu hiệu “…chống xuyên tạc” xông vào phá đám – chính các cháu mới là những người xuyên tạc sự thật!

– Điều chú thấy cần cho các cháu biết: từ lâu người ta luôn theo dõi từng cử chỉ, lời nói, hành động của các cháu. Cử chỉ và hành động không đúng của các cháu hôm 14/3 chắc chắn được trong nước và thế giới ghi, lưu lại để cần dùng về sau.

– Qua những hình ảnh ghi nhận được, người ta quả quyết những vụ phá đám (biểu tình, tưởng niệm, đám tang…) có những người trong nhóm DLV các cháu – khi đối mặt tất nhận ra nhau.

– Nên nhớ: “làm đĩ mười phương cũng phải để một phương lấy chồng”. Người chân chính, thà cạp đất ăn chớ quyết không làm những điều bất nhơn, thất đức. “Hùm chết để da người ta chết để tiếng” – chỉ có tiếng thơm hoặc tiếng nhơ.

Không biết có đâu như ở Việt Nam ta, ngoài biết bao thi thể liệt sĩ ở những mặt trận chống Trung Quốc khác bị lãng quên, đã 27 năm trôi qua (14/03/1988 – 14/03/2015), thi thể 61 liệt sĩ (có 3 đã lấy được xác) hy sinh ở đảo Gạc Ma vẫn còn nằm dưới lòng biển lạnh. Dầu dân chúng thương xót, người thân đau lòng trước thảm cảnh cũng phải tuân thủ câu nói ghẻ lạnh: “Để họ nằm ở đấy có sao đâu, thốt ra ở một diễn đàn, từ miệng Tổng Bí thư đảng cầm quyền Nông Đức Mạnh. Có lẽ ông Mạnh thuộc nhóm 50 người con lên núi, quen sống vùng cao (Bắc Kạn), nên không thấu hiểu sự giá lạnh của 50 người con xuống biển. Còn đau xót nào hơn, là lính chiến, khi đối mặt với kẻ thù, “Tổng tư lệnh” không cho nổ súng dù để tự vệ; chết Tổng Bí thư không cho tìm xác; Nhà cầm quyền không cho vinh danh! Thử hỏi, nếu Trung Quốc tiếp tục xâm lăng, còn mấy ai đủ dũng khí xung trận?

Chỉ là chuyện nhỏ, nếu hôm ấy (14/3) để yên cho người ta tưởng niệm liệt sĩ trong trật tự tại đền thờ Tổ, cao lắm vài giờ sau họ sẽ giải tán thì có hại gì đâu? Đàng này để/cho “hồng vệ binh” quấy nhiễu trở thành chuyện lớn, thất nhân tâm. Lớn cỡ nào? Lối ăn vận, hống hách, trương cờ Đảng phá phách của DLV hôm 14/3 làm cho dư luận xã hội rộ lên bất bình, phản đối. Nói theo cách lập luận của giáo sư Ngô Bảo Châu: “Dù những ai cố tình chống Đảng đến mấy cũng không hơn DLV làm hôm 14/3 tại đền thờ Lý Thái Tổ!

21/03/2015

T. T.

Tác giả gửi BVN.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Luật sư Ngô Ngọc Trai : Công an Việt Nam và quyền bắt người

Nguồn BBC

Luật sư Ngô Ngọc TraiGửi tới BBC từ Hà Nội

  • 18 tháng 3 2015

Chia sẻ

Hôm 13/3 trả lời chất vấn của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án oan sai Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình đã phát biểu:

‘Tòa sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ nếu được kiểm soát từ đầu dù công an bắt sai, VKS truy tố sai. Nhưng nếu tòa không được phê chuẩn, công an bắt sai thì công an chịu. Tòa sẽ chịu trách nhiệm từ giai đoạn xét xử’.

Ý kiến của ông Chánh án tuy ngắn nhưng có tính gợi mở theo đó đặt ra khả năng tòa án sẽ kiểm sát việc điều tra ngay từ đầu trong đó có việc phê chuẩn lệnh bắt của cơ quan điều tra.

Vai trò của viện kiểm sát

Trong bài viết ‘Công an điều tra không được bắt người’ tôi đã đưa ý kiến luận giải vì sao không nên để cơ quan công an điều tra được quyền bắt giam giữ.

Nhưng có ý kiến tranh luận lại rằng việc bắt giam giữ lâu nay không hoàn toàn do một mình cơ quan điều tra quyết định.

Mà cơ quan này sau khi bắt phải xin sự phê chuẩn của viện kiểm sát, như thế là thêm một khâu kiểm soát sàng lọc đảm bảo cho việc bắt là chính xác rồi.

Đó là quy trình bắt giữ lâu nay và có hai vấn đề xung quanh quy trình này.

Thứ nhất tại sao lại bắt rồi mới xin phê chuẩn mà không xin phép được cho rồi mới bắt? Thứ hai, lâu nay viện kiểm sát có chịu áp lực từ cơ quan điều tra nên bị thúc giục phê chuẩn lệnh bắt hay không?

Chúng ta thấy rằng với việc bắt rồi mới xin phê chuẩn như thế hành vi đã tạo ra hệ quả, viện kiểm sát khi đó đứng trước một việc đã rồi.

Chánh án Trương Hòa Bình: "Nếu tòa không được phê chuẩn, công an bắt sai thì công an chịu. Tòa sẽ chịu trách nhiệm từ giai đoạn xét xử".

Khi xét phê chuẩn lệnh bắt ngoài việc đánh giá công tâm khách quan hành vi đã đến mức bị bắt hay chưa viện kiểm sát còn phải cân nhắc thêm một yếu tố khác.

Nếu từ chối lệnh bắt thì cơ quan điều tra phải thả người, nhưng việc thả người chỉ có nghĩa là chưa đáng bị bắt chứ không có nghĩa kẻ đó không phạm tội và vẫn phải tiếp tục điều tra.

Việc phải thả người sẽ làm suy yếu vị thế của cơ quan điều tra trong mắt kẻ tình nghi và cơ quan điều tra cho rằng điều đó sẽ gây khó cho hoạt động điều tra.

Đây chính là thành tố thêm vào khiến cho việc cân nhắc của viện kiểm sát bớt đi tính công tâm khách quan mà dễ hòa theo hướng đồng ý với lệnh bắt để hoàn tất trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cả hai cơ quan này.

Trong khi đó nếu xin phép tòa rồi mới được bắt thì người quyết định việc bắt là tòa án khi đó chỉ phải làm một việc là đánh giá thật công tâm xem hành vi sai phạm đã đến mức bị bắt hay chưa.

Tòa án đúng ra không phải cơ quan có trách nhiệm chứng minh tội phạm nên không chịu áp lực trong việc phải tìm ra hung thủ gây án.

Trong điều kiện không chịu áp lực mới có được sự công tâm vô tư khi đó mới có thể tin tưởng quyết định bắt của tòa án được xác đáng.

Ngoài ra việc bắt rồi mới xin phê chuẩn cho thấy việc làm của cơ quan điều tra không theo nguyên tắc suy đoán vô tội mà ngược lại là suy đoán có tội.

Vì suy đoán nhận định có tội nên mới bắt trước, sau đó mới giải trình biện bạch về lý do cần thiết phải bắt sau.

Bắt để khai thác điều tra

Trong khi bắt giam giữ là biện pháp ngăn chặn chỉ đơn thuần nhằm ngăn ngừa bị can tiếp tục phạm tội, bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Song lâu nay chẳng còn ai tin rằng việc bắt giam giữ chỉ nhằm mục đích ngăn chặn.

Thực tế việc bắt giam giữ một nửa mục đích là nhằm ngăn chặn, nửa còn lại là nhằm tạo môi trường điều kiện thuận lợi cho việc khai thác điều tra.

Cần định hướng lại cho quan hệ tòa án – công an ở Việt Nam?

Từ lâu nay hầu như tất cả giới tư pháp từ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán lẫn luật sư đều hiểu việc bắt là nhằm phục vụ điều tra còn người bị bắt là nguồn để khai thác chứng cứ.

Trong khi đúng ra việc bắt chỉ là biện pháp ngăn chặn còn thì cơ quan điều tra muốn làm rõ vụ án phải đi theo các hướng khác để lần theo manh mối dấu vết tội phạm.

Quy định pháp luật hiện tại cũng chính là nguồn cơn đưa đến nhận thức và lề lối làm việc như vậy khi bỏ qua đòi hỏi về thuộc tính khách quan của chứng cứ lại quy định lời khai của người bị bắt là sản phẩm của ý chí mang nặng tính chủ quan, cũng là chứng cứ.

Cho nên trong hoạt động điều tra người ta luôn xoáy vào việc lấy lời khai mà để làm việc này thuận lợi thì cần phải bắt.

Không vụ án nào là không lấy lời khai và ngoại trừ một số trường hợp hiếm hoi tự nguyện khai báo do đầu thú tự thú thì số còn lại đều là do bức cung hoặc tệ hơn là nhục hình.

Lề lối tư duy làm việc cũ kỹ tiêu cực đã ăn sâu vào nhận thức nghề nghiệp như vậy cho nên bây giờ mà có chế định về quyền im lặng thì các cán bộ tư pháp sẽ đứng trước một bỡ ngỡ hụt hẫng lớn.

Vấn đề chính trị?

Có ý kiến cho rằng nếu rút bỏ quyền bắt người của cơ quan công an điều tra sẽ làm suy yếu đi lực lượng này.

Nghiêm trọng hơn có ý kiến cho rằng công an là thanh gươm sắc để bảo vệ chế độ, nếu rút bỏ quyền được bắt người thì chẳng phải sẽ làm cho lưỡi gươm cùn đi hay sao?

Những ý kiến lo lắng này đều không có cơ sở do kém hiểu biết và cần được giải đáp sáng tỏ.

Phải công nhận quyền được bắt giam giữ là một tính năng sắc bén của ngành công an.

Nhưng ngành công an còn sắc bén ở nhiều khía cạnh khác, đó là có lực lượng hùng hậu, được trang bị vũ khí, được đào tạo bài bản về chuyên môn nghiệp vụ kỹ năng chiến thuật chiến lược và nhiều điểm khác.

Trong khi đó đừng quên rằng công an điều tra chỉ là một bộ phận nhỏ trong cả một ngành công an rộng lớn với cả chục phiên hiệu khác nhau.

Và vai trò của công an điều tra thực ra lại phát huy công năng ở giai đoạn hậu, tức là khi sự việc đã xảy ra rồi, tổn thất đã có rồi và việc tiếp theo là cần xử lý hậu quả vụ việc theo một trình tự thủ tục luật định.

Còn khi tội phạm đang ở trạng thái dự mưu hoặc khi đang diễn ra thì việc xử lý lại thuộc lực lượng công an khác có tính năng như một lực lượng răn đe hoặc đơn vị tiến công.

Và đây mới là giai đoạn mang ý nghĩa quan trọng hơn cả trong luận đề ‘thanh gươm bảo vệ chế độ’ vì cái cần trọng yếu là phòng ngừa ngăn chặn chứ không phải dọn dẹp.

Ở nhiều nước có hệ thống pháp luật tiến bộ, họ xác định cơ quan điều tra thuộc khối tư pháp tách bạch với cơ quan công an thuộc khối hành pháp.

Ở đấy việc cơ quan điều tra không được tự ra lệnh bắt giam giữ (trừ trường hợp phạm tội quả tang) chẳng hề làm suy yếu lực lượng công an thuộc khối hành pháp.

Như thế có thể thấy nếu ở ta mà sửa đổi quy định rút bỏ quyền bắt giam giữ khỏi cơ quan công an điều tra thì điều đó cũng không làm cho ngành công an bị suy yếu đi hay thanh gươm bảo vệ chế độ sẽ bị cùn.

Ông Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nguyên là một Thứ trưởng Bộ công an hẳn là người thông hiểu vấn đề nên mới phát biểu như trên tại Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Nguyễn Thị Từ Huy : Bản chất tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mao

Nguồn rfablog

Sat, 03/21/2015 – 00:14 — nguyenthituhuy

Tiếp theo bài trước, tôi định viết một bài về nạn đói kinh hoàng ở Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông, mà chính ông ta phải chịu trách nhiệm về cái chết của nhiều chục triệu người. Tuy nhiên tình cờ tôi đọc được một tài liệu của Viện nghiên cứu Viễn Đông, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên xô, in ở Liên Xô năm 1977, và được Học viện Chính trị Việt Nam dịch sang tiếng Việt dùng làm tài liệu tham khảo nội bộ, năm 1979 (chúng ta đều biết đây là một năm không bình thường ở Việt Nam, bởi tiếng súng đã vang trên bầu trời ở biên giới Trung Quốc). Tôi nghĩ chúng ta cần biết về tài liệu này, dù chỉ là một vài đoạn trong đó.

Tài liệu này có nhan đề « Bản chất tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mao », do một nhóm các nhà nghiên cứu chính trị của Liên Xô thực hiện, phê phán chủ nghĩa Mao trên mọi phương diện. Công trình này, dưới nhãn quan của một người nghiên cứu như tôi, thực sự rất đáng quan tâm. Nó cho thấy ngôn từ có thể dối trá đến mức độ nào, nó cho thấy ngôn ngữ trở nên cằn cỗi, nghèo nàn, xơ cứng, công thức đến mức như thế nào khi chỉ phục vụ cho mục đích tuyên truyền. Nó cũng giúp soi sáng rất nhiều điểm của cái gọi là « hệ thống xã hội chủ nghĩa », của nghiên cứu khoa học xã hội kiểu xã hội chủ nghĩa, của « trí thức xã hội chủ nghĩa ».

Chỉ đưa ra đây một điểm : các học giả Liên Xô phê phán Mao và xã hội của Mao về chính những gì đã và đang xảy ra tại Liên Xô. Và trong khi phê phán Mao kịch liệt, thì họ ca ngợi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô không tiếc lời, rồi cũng chính cái chủ nghĩa xã hội được họ đưa lên tận mây xanh đó lại là cái mà họ sẽ vứt bỏ chỉ hơn một thập kỷ sau cùng với sự tan rã của Liên Xô.

Tôi xin giới thiệu một đoạn trong tài liệu đó, để thấy các học giả Liên Xô đã phê phán Mao như thế nào. Và với tài liệu này, những người mác-xít ở Việt Nam (ít nhất là những người thuộc Học viện Chính trị Quốc gia) biết là Mao Trạch Đông đã phản bội chủ nghĩa Mác-Lê Nin, sự phản bội được đích danh hậu duệ của Lê Nin ở nước Nga chỉ ra, nhưng các học giả Việt Nam hiện nay vẫn dùng chính cao ông Mao ấy làm kim chỉ nam cho tư tưởng của mình. Bài tiếp theo tôi sẽ đưa ra bằng chứng về điều này, bằng chứng về sự tụng niệm Mao của các giáo sư Việt Nam đang được trọng vọng hiện nay.

Trích đoạn dưới đây thuộc chương I, phần V, của cuốn « Bản chất tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mao ». Tôi giữ nguyên cách viết chính tả như trong tài liệu nguồn.

Paris, 20/3/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

Bản chất phản nhân đạo của những sự xuyên tạc chủ nghĩa xã hội

của những người theo chủ nghĩa Mao

Đặc điểm quan trọng trong quan điểm của chủ nghĩa Mao đối với các vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết là đem lý tưởng và phương pháp của chủ nghĩa xã hội phục vụ việc thực hiện những mục tiêu bá quyền sô-vanh nước lớn. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà người mác-xít dùng thuật ngữ « chủ nghĩa xã hội sô-vanh » để định rõ tính chất tư tưởng của chủ nghĩa Mao.

Về thực chất, những người theo chủ nghĩa Mao coi giá trị chủ yếu của chủ nghĩa xã hội khoa học không phải ở cương lĩnh cải tạo xã hội một cách căn bản sau thắng lợi của cách mạng và sau khi thiết lập nền chuyên chính vô sản, mà ở sức lôi cuốn đặc biệt của chủ nghĩa xã hội đối với đông đảo quần chúng. Chúng mưu toan lợi dụng tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa xã hội, tư tưởng có khả năng phát động tất cả những người lao động để thực hiện những mục tiêu bá quyền nước lớn, để chuẩn bị chiến tranh thế giới.

Vì thế, khi phát biểu tại hội nghị toàn quốc bàn về công tác tuyên truyền tháng ba năm 1957, Mao Trạch Đông đã tuyên bố : « Chúng ta phải thấy rằng chúng ta sẽ xây dựng một nước vĩ đại trên nền tảng chủ nghĩa xã hội ». Ở một trong những bài phát biểu năm 1959, Mao đã nhấn mạnh rằng sự quan tâm chủ yếu của Trung Quốc là « thực hiện cho được mục tiêu duy nhất : xây dựng một nước hùng cường bằng những nỗ lực của cả dân tộc trong một vài kế hoạch 5 năm ». Tiếp theo Mao đã trình bày công khai cương lĩnh bá quyền trên phạm vi toàn cầu : « Chúng ta phải chinh phục được trái đất. Đối tượng của chúng ta là toàn bộ trái đất. Còn về công tác và chiến đấu, thì theo tôi, trái đất của chúng ta là quan trọng hơn cả, chúng ta sẽ xây dựng trên đó một quốc gia hùng cường. Nhất định phải thấm nhuần lòng kiên định đó ».

Chủ nghĩa Mao đã tuyên bố lấy bạo lực, chiến tranh, chủ nghĩa quân phiệt làm phương sách thực hiện các mục tiêu sô-vanh nước lớn của mình : « Toàn thế giới chỉ có thể được cải tạo bằng súng », « Súng đẻ ra chính quyền ».

Như vậy, chủ nghĩa Mao đã tỏ ra là một hệ tư tưởng và chính sách hoàn toàn thù địch với hệ tư tưởng nhân đạo vĩ đại của chủ nghĩa xã hội.

Đối với những người cộng sản, tư tưởng của chủ nghĩa nhân đạo không phải là những luận thuyết trừu tượng về bản chất tính « thiện » hay « ác » của con người, về tình yêu đối với con người, mà là kim chỉ nam thực tiễn cho hành động.

Ngay trong « Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản », những người sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học đã viết rằng những người cộng sản đưa ra mục tiêu xây dựng một xã hội trong đó « sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người ».

Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Liên-xô đã được thông qua năm 1962 là xuất phát từ nguyên tắc « tất cả vì con người, vì lợi ích của con người ». Trong cương lĩnh nói rằng « Chủ nghĩa cộng sản đang thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là giải phóng con người khỏi sự bất bình đẳng về xã hội, khỏi tất cả các chế độ áp bức và bóc lột, khỏi những thảm họa chiến tranh và kiến lập trên trái đất nền hòa bình, lao động, tự do, bình đẳng, hữu ái và hạnh phúc của tất cả các dân tộc ».

Hoạt động hàng ngày của Đảng Cộng sản Liên-xô, của các đảng mác-xít – lê-nin-nít anh em trong các nước cộng đồng xã hội chủ nghĩa đang chứng minh một cách rõ ràng và hiển nhiên hiệu lực của chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Điều đó nói lên rằng chủ nghĩa nhân đạo không phải là ước mơ cao xa, mà là sự nghiệp của ngày hôm nay. L.I.Brê-giơ-nhép, Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên-xô, đã nhấn mạnh : « xã hội xô-viết ngày nay là hiện thân của chủ nghĩa nhân đạo vô sản, xã hội chủ nghĩa. Nó đem việc sản xuất của cải vật chất, những thành tựu văn hóa tinh thần, toàn bộ hệ thống các quan hệ xã hội để phục vụ con người lao động ».

Thắng lợi của chủ nghĩa xã hội càng to lớn và hấp dẫn, thì bọn chống cộng càng ra sức bôi đen, vu khống chủ nghĩa xã hội. Trên phương diện đó, những kẻ thù của chủ nghĩa xã hội khoa học đã tìm được đồng minh và đồng lõa trực tiếp là hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mao.

Lý luận của chủ nghĩa Mao xét lại những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học, phủ nhận những tư tưởng của chủ nghĩa nhân đạo, coi chúng là tư tưởng tư sản. Đồng thời, thích ứng với điều đó, chủ nghĩa Mao bằng thực tiễn làm mất uy tín của chủ nghĩa xã hội, vũ trang « luận cứ » cho kẻ thù của chủ nghĩa Mác – Lê-nin để đấu tranh với chủ nghĩa khoa học chân chính. […]

Những sai lầm mang tính chất duy ý chí trong chính sách đối nội càng tăng thêm, khi ở Trung-quốc những quan niệm về bình quân trại lính tiểu tư sản lạc hậu về chủ nghĩa xã hội và những mục tiêu sô-vanh, bành trướng, nước lớn trong chính sách đối ngoại được để lên hàng đầu. Điều đó đã dẫn đến chỗ xuất hiện một lập trường chính trị, tư tưởng đặc biệt, trên thực tế có nghĩa là hoàn toàn xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thế giới. Nó đã trở thành thù địch công khai với chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

[…]

Chủ nghĩa Mao tước bỏ linh hồn sinh động của học thuyết về chủ nghĩa xã hội : tư tưởng xã hội phục vụ lợi ích của con người, phục vụ hạnh phúc của con người. Do đó nó làm tổn thất truyền thống xã hội chủ nghĩa đã có hàng bao thế kỷ. Thay cho lý tưởng về mặt xã hội xây dựng nên vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân lao động, chủ nghĩa Mao đưa ra « những ý tưởng » khác : nhân dân phục vụ vô điều kiện « lãnh tụ vĩ đại », phục vụ sự thắng lợi của « tư tưởng », chính sách của lãnh tụ. Những phương châm đó của Mao-Trạch-Đông đã thể hiện trong thực tiễn chính trị của Trung-quốc dưới hình thức tuyên truyền các khẩu hiệu « tinh thần vô tư tuyệt đối » ; « Phấn đấu đạt mức cao nhất trong sản xuất, giữ mức độ thấp trong đời sống ; thiếu thốn là vinh quang, là hạnh phúc »… […] Chúng đã công khai kêu gọi nhân dân lao động Trung-quốc « sống nghèo khổ », « khi ở nhà, thì hãy ăn ít đi » bởi vì « ít cơm đi, thì nhiều súng lên ». Trong vấn đề này, về thực chất, chủ nghĩa Mao đã kết hợp với những quan điểm của Tờ-rốt-kít. Trước đây Tờ-rốt-kít cũng đã yêu cầu : đi đầu trong sản xuất và bình quân trong tiêu dùng.

(Trích các trang 417-424)

Tập thể tác giả : X.A.Vô-e-vô-din, L.M.Gu-đô-sni-cốp, E.Ph.Cô-va-li-ốp (và 9 tác giả khác)

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , | Leave a comment

Đỗ Trường : Lệnh trục xuất và 10 giờ làm việc với an ninh

Nguồn danchimviet
09:28:am 17/03/15 | Tác giả: Đỗ Trường
Tác giả Đỗ Trường - bên phải

Tác giả Đỗ Trường – bên phải

Vậy là 9 năm tôi mới được trở về Việt Nam. Thời gian dài phải ngăn cách với quê hương ấy, nguyên nhân có lẽ bởi bài “ Không Cảm Thấy Tự Hào Khi Là Người Việt…“ của tôi, viết về thực trạng sĩ hão, tự sướng trong cộng đồng người Việt cùng một số nhược điểm của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức. Và từ đó, tôi không nhận được Visum nhập cảnh vào Việt Nam, dù đã có vài lần đệ đơn. Mãi đến năm 2013, Lãnh sự quán Việt Nam ở Frankfurt/M cấp giấy miễn thị thực có giá trị 5 năm, một cách bất ngờ, khi tôi đặt đơn. Nhưng cảm hứng về nước lúc đó trong tôi không còn nữa. Gần đây do gia đình, bạn bè thúc giục, nên tôi đã đặt vé của hãng hàng không Vietnam Airlines theo lịch trình: Ngày mùng một Tết từ phi trường Frankfurt bay về Hà Nội vào sáng mùng hai Tết Ất Mùi 2015. Ngày 7-3-2015(dương lịch)từ Hà Nội bay vào Sài Gòn. Và ngày 12-3- 2015 từ Sài Gòn về thẳng Đức.

Máy bay hạ cánh xuống phi trường Nội Bài vào 6 giờ 40 sáng mùng hai tết. Trời Hà Nội hửng nắng, sân bay vừa xây xong còn ngai ngái mùi vôi vữa. Tôi bước ra khỏi máy bay với tâm trạng buồn vui lẫn lộn. Vui, bởi anh chị em tôi đang đứng chờ ngoài khung cửa kính kia. Buồn, bởi có thể tôi sẽ bị trục xuất ngay về Đức như một số trường hợp khác, dù đã có Visa nhập cảnh hay giấy miễn thị thực…

Và ngày tết, dường như nhân viên an ninh làm việc cũng nhanh gọn hơn. Hộ chiếu của tôi được rọi qua máy…chỉ một phút chờ đợi, người sỹ quan trẻ cộp con dấu nhập cảnh chắc nịch vào trang bên cạnh giấy miễn thị thực. Cầm lại cuốn hộ chiếu, bước chân tôi nhẹ như trên không, bởi đã nhìn thấy những cánh tay đang vẫy của các anh, các em và các cháu tôi đằng sau hàng rào chắn trước mặt.

Đường về nhà rút ngắn lại không hẳn vì ngày tết Hà Nội ít xe cộ và vắng lặng hơn, mà còn bởi nỗi mừng và những câu chuyện không đầu, không cuối nổ như ngô rang trên xe…

Hơn hai tuần trôi đi quá nhanh, những kỷ niệm đẹp với gia đình, bạn bè cũ, mới gieo vào lòng và dính chặt trong tâm khảm tôi. Tuy nhiên, từ sau ngày mùng 6 tết thỉnh thoảng lại có những cú điện thoại tự xưng với những cái tên lạ hoắc nhận là bạn bè tôi ở Đức gửi đến anh và em tôi. Công an hộ tịch nơi em tôi cư ngụ, nhắn tôi ra đăng ký tạm trú. Và lần cuối công an quận và thành phố mời anh tôi ra để trao đổi về tôi. Tôi muốn đi cùng, nhưng anh nói không cần thiết. Khi trở về, tôi hỏi, anh cười không tỏ vẻ bực bội: Không có vấn đề gì. Nhưng nhìn gương mặt anh, tôi nghĩ, anh cố kìm nén cảm xúc.

Thứ bảy ngày 7-3- 2015 gia đình và bạn bè tiễn tôi ra sân bay Nội Bài khá đông. 12 giờ tôi đến quầy Check vé và hành lý cho chuyến bay 13 giờ15 phút vào Sài Gòn. Khi cô nhân viên hãng hàng không kiểm tra đi kiểm tra lại vé và cầm hộ chiếu đi đâu đó một lúc, tôi đã có cảm giác chẳng lành. Nhưng sợ mọi người lo lắng, nên tôi im lặng. Ngay sau đó, tôi từ biệt mọi người để vào phòng chờ cách ly. Lúc này, trong phòng khá đông người chờ đi Huế và Đà Lạt. Loanh quanh một hồi, tôi đứng vào hàng chờ cửa số 9, khi nghe thông báo hành khách đi Sài Gòn ra máy bay từ cửa này. Khoảng chừng 12 giờ 30 phút, hành khách bắt đầu rục rịch lên máy bay. Tôi xốc lại túi đeo trên vai, định bước đi. Từ phía sau, hai công an vọt lên chặn lại và bảo: Mời anh đi theo chúng tôi có chút việc. Tôi hiểu, việc chẳng lành đã đến. Tuy trong lòng rất bực, nhưng tôi vẫn giữ được bình tĩnh:

-Các anh làm thế này, sẽ lỡ chuyến bay của tôi.

-Không mất nhiều thời gian của anh đâu.

Hai người công an dẫn tôi vào căn phòng phía sau cửa hàng ăn và bán đồ lưu niệm. Trong phòng có mấy người an ninh trẻ và một người mặc thường phục khó đoán tuổi. Bởi nhìn rất hom hem, lưng còng còng hình con tôm. Đầu tóc bơ phờ, da sần sùi nổi mụm. Dường như bộ quần áo không hợp với khổ người, làm chiếc đũng quần bò lùng phùng sau đít như con nít đang đeo tã vậy.

Vừa bước chân vào phòng, một trong hai người cảnh sát đề nghị tôi cho kiểm tra hộ chiếu và đưa điện thoại cho anh ta. Đưa cuốn hộ chiếu, còn điện thoại ở trong túi quần, tôi lấy ra, cầm trên tay. Bất ngờ, anh ta thò tay rút mạnh, lấy đi. Tôi giải thích, đây là tài sản và bí mật cá nhân và điện thoại này chỉ có thể sử dụng được ở Đức. Thật vậy, trong thời gian ở Hà Nội, tôi sử dụng điện thoại của anh tôi, trước khi vào phòng chờ, tôi đã đưa lại cho anh ấy. Anh ta bảo, em cũng không muốn như vậy, nhưng vì nhiệm vụ, mong anh “Nguyên“ thông cảm, hợp tác. Tôi hơi bị sững người bởi bị gọi nhầm tên:

-Tôi tên Trường, Đỗ Trường.

Anh ta xin lỗi và cầm cuốn hộ chiếu, điện thoại đưa cho người mặc thường phục.

Tôi nhìn thẳng vào người này, hỏi: Anh là ai? Bởi lúc đó tôi vẫn nghĩ, anh ta là người chỉ điểm, hay người bụi đời lang thang nào đó. Khi anh ta chìa cái thẻ đỏ và tự giới thiệu là Tuấn, tôi mới tin đó là công an. Và sau này, tôi mới biết Tuấn là trưởng ca trực hôm đó. Tôi hỏi Tuấn lý do và nhắc lại câu:

-Các anh làm thế này sẽ lỡ chuyến bay của tôi.

-Chúng tôi sẽ bố trí cho anh đi chuyến tới.

Và Tuấn nhấn mạnh: Chúng tôi giữ anh lại, bởi anh không đăng ký tạm trú. Anh có biết luật pháp Việt Nam, người nước ngoài nhập cảnh phải đăng ký tạm trú không? Tôi bảo không biết, hơn nữa tôi không ở một nơi cố định, khi ở nhà anh chị em, khi ở nhà bè bạn, hoặc về thăm quê. Vâng! Có thể đây là lỗi, nhưng tôi tin, nó không phải lý do chính các anh giữ tôi.
Tuấn không trả lời ngay, mà đưa cuốn hộ chiếu cho người công an đứng cạnh, bảo đi lấy lại hành lý của tôi. Rồi quay lại: Anh “Nguyên“ những bài viết của anh sâu sắc lắm. Anh cứ ở Hà Nội, rồi về thẳng Đức, có lẽ đỡ rắc rối cho chúng tôi và anh.

Lúc này, tôi không nghĩ Tuấn cũng nhầm tên tôi, mà sự nhầm lẫn này dường như có chủ đích. Có thể họ nghi tôi còn một bút danh khác tên Nguyên, hay họ đang đi tìm người tên Nguyên chăng? Tôi nhắc cho Tuấn biết, tên tôi là Đỗ Trường. Và tôi lại nhận được một lời xin lỗi từ Tuấn.

Như vậy, họ cố tình ngăn cản không cho tôi vào Sài Gòn, những truyện, bài viết phê bình của tôi mới là nguyên nhân họ giữ tôi lại. Tuy nhiên tôi vẫn bình tĩnh: Là người dốt về chính trị và cũng không thích chính trị, nên những bài viết của tôi chỉ là tư tưởng cũng như suy nghĩ cá nhân mà thôi.

Tuấn cười, đọc anh, tôi không nghĩ anh là người dốt chính trị. Và chúng tôi cũng biết gia đình dòng họ bên ngoại anh có nhiều người có công với đất nước, chế độ và đã nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và nhà nước. Tuy nhiên anh lại có những suy nghĩ rất khác…

Đang diễn thuyết, chuông điện thoại chợt reo, Tuấn bước ra ngoài nói chuyện. Cùng lúc, người công an trẻ đã đẩy xe hành lý của tôi về. Lúc sau, Tuấn quay lại cùng ba người công an và bảo tôi:

– Chúng ta chuyển sang khu T2 để làm việc.

-Như vậy, buộc tôi phải chuyển, phải không anh Tuấn?

-Mong anh hết sức thông cảm, lệnh của cấp trên, tôi cũng không muốn như vậy.

Theo tôi là bốn nhân viên an ninh đi xuống tầng dưới để ra ô tô chạy sang khu T2. Hành lý của tôi đã được cho lên thùng, tôi ngồi giữa hai người an ninh ở hàng ghế dưới. Tuấn lùi lại, đi xe sau. Xe đến khu T2, khi bước vào thang máy, tôi hỏi người an ninh trẻ đẩy xe hành lý: Tại sao lại đưa tôi lên đây? Anh ta bảo, có lẽ tối nay, anh bị trục xuất về Đức. Rồi anh ta kể: Hôm mùng hai tết, trước giờ máy bay hạ cánh 4 tiếng, bọn em đã biết anh về, từ hãng hàng không. Dù trong diện còn cấm, nhưng xét thấy đã lâu anh không về, hơn nữa là ngày tết, do vậy để cho anh nhập cảnh. Nếu anh đừng đi Sài Gòn, có lẽ điều rắc rối này không xảy ra.

Tôi được đưa vào căn phòng hình như dưới tầng hầm. Phòng khá rộng, trong cùng có một công an mặc thường phục đang ngồi làm việc. Từ giữa phòng có chiếc bàn dài nối liền đến bức tường bên trái. Xung quanh lẩn quất khá nhiều máy móc, đồ đạc. Nhìn vào ta có thể nghĩ ngay, đó là nơi thẩm vấn hay hỏi cung của cơ quan công quyền. Góc đối diện với cửa ra vào, kê một bộ sofa nhỏ. Để hành lý vào phòng, mấy người an ninh bảo tôi nghỉ ngơi, tý nữa quay lại dẫn đi ăn.

Ngồi xuống sofa, mùi sơn tường hôi nồng làm tôi hơi khó thở. Khi tôi hỏi người cảnh sát có thể mở cửa phòng ra không. Lúc này, anh ta mới ngẩng mặt lên. Một thanh niên còn rất trẻ. Anh ta bảo, khu này do Nhật vừa xây xong, do vậy chỗ nào cũng nặng mùi sơn, mùi hóa chất cả. Tuy vậy, anh ta vẫn đứng dậy mở hé cửa ra vào và đưa cho tôi chai nước, bảo: Chú uống đi cho đỡ khô cổ. Trong câu chuyện, tôi biết bố anh ta ít tuổi hơn tôi và đang làm thợ nấu ăn (Chefkoch) cho một nhà hàng ở München(CHLB Đức) cách nhà tôi chừng 400 km. Không biết do tính nghiệp vụ hay do còn trẻ, anh ta nói chuyện và có những câu hỏi khá (hồn nhiên?) ngây ngô về nước Đức cũng như cuộc sống. Khi tôi cho biết mức lương (khoảng chừng) của người thợ nấu ăn (như bố anh ta) ở thành phố München, làm anh ta giật mình: Bố cháu lương cao thế mà chẳng bao giờ nói với cháu. Lần này, dứt khoát cháu phải xin tiền bố để mua ô tô…

Chừng nửa giờ sau, Tuấn cùng mấy người đến bảo tôi đi ăn. Tuy bụng cũng như người còn ấm ách, căng phồng, nhưng muốn thoát ra khỏi căn phòng bí bức này, tôi đi theo họ. Tuấn đưa tôi vào quán ăn trên tầng cao, trước mặt là những tấm kính trong suốt. Ngồi đây, có thể quan sát được những chuyến bay đang cất và hạ cánh. Quán lúc này khá đông khách, nhưng chủ yếu vẫn là sắc màu an ninh cảnh sát. Trong khi chờ đợi đồ ăn, Tuấn thông báo, tôi sẽ phải trở về Đức trong chuyến bay hãng hàng không Vietnam Airlines vào 22h 30 tối nay. Tuy đã lường trước, nhưng tôi vẫn không kìm được cảm xúc của mình:

-Như vậy, các anh cố tình trục xuất, trong khi tôi được phép nhập cảnh của chính phủ Việt Nam. Và chương trình du lịch, quyền con người của tôi đã bị các anh chà đạp… Vậy ai là người ký quyết định trục xuất này và nó đâu?

Mặt Tuấn dường như không có một chút biểu cảm:

-Chúng tôi chỉ là những người chấp hành lệnh (miệng) từ cấp trên và phải làm cái điều không muốn này. Hơn hai tuần, chắc chắn anh đã đủ thời gian thăm thú gia đình và bạn bè. Chúng tôi theo anh cũng mệt mỏi lắm rồi. Rất may, anh không tham gia hội họp, tổ chức nào. Gỉa dụ như anh cố tình đi Sài Gòn, điều đó bất lợi cho anh, cho bạn bè anh và cả chúng tôi nữa.

Biết nói tiếp cũng vô ích, nên tôi lặng im nhìn đĩa cơm rang đang bốc khói, mà nghẹn đắng không thể ăn…

Dấu trục xuất trên hộ chiếu của tác giả

Miễn thị thực của tác giả bị đóng dấu hủy

Tôi buộc phải chấp nhận về Đức, sau đó đề nghị Tuấn thông báo cho bạn tôi ở Sài Gòn và gia đình tôi khỏi lo lắng. Tuấn chấp nhận, nhưng đến tối, tôi hỏi lại. Tuấn bảo, cấp trên chỉ cho phép điện cho bạn tôi ở Sài Gòn, không phải ra đón tôi. Còn không được phép thông báo cho gia đình tôi biết, tôi sẽ bị trục xuất về Đức.

Ăn xong, Tuấn bảo tôi: Bây giờ phải về phòng, người của bộ xuống làm việc với anh. Tôi đứng dậy, định trả tiền, Tuấn đưa tay ngăn lại, tiền ăn trách nhiệm chúng tôi phải trả.

Tôi và hai người công an vừa về phòng, thấy Tuấn cùng ba an ninh trên Bộ vào. Sắp xếp chỗ ngồi, máy móc xong, họ mời tôi ra bàn. Ba nhân viên an ninh ngồi liền nhau, đối diện với tôi qua chiếc bàn dài. Người ngồi trong cùng lớn tuổi nhất và có vẻ là cấp trên. Hai người còn lại còn khá trẻ, khoảng chừng ba lăm, bốn mươi. (Buổi tối, trước khi lên máy bay về Đức, có một an ninh cho tôi biết, cả ba đều trong phòng (tổ) Tây Âu thuộc Cục tình báo, Bộ công an. Người lớn tuổi đang phụ trách an ninh của sứ quán Việt Nam tại Đức.)

Ngồi xuống ghế, tôi nói luôn:

-Nếu đây là cuộc hỏi cung, tôi cần luật sư và người giám định của Đại sứ quán Đức.

Người lớn tuổi nhất trả lời:

-Ở đây không như ở Đức, không có luật sư và người của sứ quán.

– Nếu vậy, tôi coi đây là cuộc nói chuyện bình thường, nếu các anh muốn. Và tôi không trả lời câu hỏi của các anh, nếu tôi không thích.

Cả ba đều im lặng. Người lớn tuổi lên tiếng trước:

-Anh cho biết một chút về bản thân mình?

-Tôi không trả lời anh câu hỏi này.

– Vậy nói về những truyện ngắn và bài viết của anh nói xấu ngành công an, nói xấu lãnh tụ và dùng từ ngữ nặng nề mạt sát đường lối đối ngoại của nhà nước, ở đây là vấn đề biên giới hải đảo.

-Tôi xin nhắc lại, đã nhiều lần tôi nói và viết, là người dốt cũng như không thích chính trị, do vậy những bài viết phê bình của tôi là tư tưởng, suy nghĩ cá nhân có thể đúng, sai cũng là chuyện bình thường.

Người an ninh ngồi ngoài cùng đọc một đoạn về truyện ngắn “Tiếng Khóc Của Xuân“ tôi viết cách nay đã trên một phần tư thế kỷ và cho rằng, nói xấu chủ tịch Hồ Chí Minh. Thật ra, truyện này tôi viết về thân phận của một cô kỹ nữ, xuất thân từ gia đình gia giáo. Ngày còn nhỏ cô nhận được nhiều phiếu bé ngoan Bác Hồ. Lớn lên cô bị chính xã hội này xô đẩy, từ một nữ sinh hiền lành thành kỹ nữ bán dâm. Trong cùng cực không lối thoát (của đêm giao thừa) bị truy bắt vào trại phục hồi nhân phẩm, cô đã hóa điên nhảy lên bàn múa may quay cuồng, xé nát những phiếu bé ngoan và giật ảnh Hồ Chủ Tịch vứt toẹt xuống đất… Hình ảnh này có nhiều cách hiểu. Hiểu như thế nào là cảm nhận hay nhận thức của mỗi người đọc. Tôi đề nghị các anh, không nên hiểu một cách máy móc, rồi đánh giá một cách chủ quan vội vàng.

Viên an ninh ngồi giữa cho rằng, truyện ký “Chuyện Ở Quê“ của tôi nói xấu ngành công an. Truyện này, tôi viết từ câu chuyện có thật của một người sĩ quan công an trẻ quê Hưng Yên, tham gia phá vụ án buôn ma túy ở vùng núi phía Bắc. Do vào vai con buôn ma túy, nên anh đã phải hút, sau đó bị nghiện. Chuyên án kết thúc, anh bị sa thải khỏi ngành bởi chưa cai dứt cơn nghiện. Câu chuyện này, tôi muốn chuyển tải đến người đọc về tình người trong một xã hội đảo điên nói chung, chứ không nhất thiết một con người hay một ngành…

Tôi đang nói, viên an ninh này, bất ngờ đập tay xuống bàn, quát: Anh đừng có ngụy biện nữa…

Quả thật, khi viết có khi tôi nổi nóng hoặc công kích đến tận cùng những vấn đề mình cho là không đúng. Ngược lại, ngoài đời với gia đình, bạn bè, kể cả những người xa lạ, dường như tôi ít khi nổi cáu mà thường hay kìm chế, nín nhịn. Nhưng trước hành động của viên an ninh này, làm tôi nổi nóng đứng dậy chỉ tay:

-Cậu chỉ đáng tuổi em út, con cháu tôi, sao lại vô lễ vậy!

Viên an ninh ngồi trong cùng và mấy công an đứng ngoài đến can ngăn, buộc cậu ta xin lỗi và chống chế một cách lạc lõng: Em vẫn gọi anh là anh đấy chứ!

Tuy nhiên, viên an ninh này vẫn tiếp tục diễn thuyết: Đã trải qua nhiều năm học tập ở Đức và đã đi thăm thú nhiều nơi. Từ thực tế này, nên anh ta nhận thấy, dù chúng tôi đã mang quốc tịch Đức, nhưng chỉ được coi là công dân hạng hai…

– Vâng! Đây là suy nghĩ của cá nhân anh, với chúng tôi không tự ti như vậy. Xã hội Đức đã mở cửa cho tất cả những tài năng và mọi cố gắng của bất kỳ ai đều đem lại kết quả. Như phó thủ tướng Đức gốc Việt, hoặc như hai con gái tôi cựu cầu thủ bóng bàn đội tuyển trẻ quốc gia CHLB Đức, hiện đang chơi cho hạng nhất của Đức (1Bundesliga) như các anh đã biết và còn nhiều gương mặt con em gốc Việt trên nhiều lãnh vực khá. Bản thân chúng tôi gần ba mươi năm sống và làm việc ở Đức chưa khi nào bị hàng xóm kỳ thị. Mà ngược lại, tuy chỉ là một thợ lắc chảo, rót bia, nhưng bằng sự cố gắng của mình, chúng tôi đã có nhà riêng cuộc sống rất ổn định trước sự tôn trọng của xã hội và con người. Cái chính, chúng tôi được nói, được quyền phê phán bất kỳ ai, khi cảm thấy việc làm của họ không đúng…

Viên an ninh lớn tuổi cắt ngang lời tôi và cho rằng bài “Tổ Quốc Tôi Con Tàu Đã Mắc Cạn“ đã có những suy nghĩ sai lệch đường lối lãnh đạo của Đảng về biên giới hải đảo. Trong đó có những câu sắc và nặng nề như yếu hèn, nhu nhược để gán cho các cấp lãnh đạo. Tôi khẳng định, bài viết này phê phán hành động bỉ ổi, đê tiện, vô học của Lê Hồng Cường, một lãnh đạo hội người Việt. Ông này, đã nhảy lên sân khấu giật thơ về biên giới hải đảo của nhà thơ Thế Dũng đang đọc, trong ngày biểu chống giặc Tàu.

Để chứng minh cho tài năng, đường lối lãnh đạo uyển chuyển của Đảng, của Hồ Chủ Tịch, viên an ninh này đã đưa hình ảnh Lê Lợi đã lấy mỡ viết trên lá, để kiến cắn đục thành tên mình, thu phục lòng người, đã làm nên chiến thắng. Vậy có đáng tự hào không?

Vâng! Tôi rất tự hào về Lê Lợi. Tuy nhiên, có thể không đồng ý với sự so sánh cũng như những suy nghĩ của các anh, nhưng tôi vẫn ngồi nghe các anh nói và tôn trọng những suy nghĩ đó.

Cũng vẫn viên an ninh này, cho rằng, bài viết“Không Cảm Thấy Tự Hào Khi Là Người Việt…“ của tôi tuy hay, nhưng với cái tựa đề này không thể chấp nhận được. Đột nhiên, anh ta rút bản Kopy bài “Tùy Anh, Từ Tháng Tư Buồn Đến Nỗi Đau Biệt Xứ“ hỏi tôi:

-Anh quen Tùy Anh từ khi nào?

-Biết tên tuổi nhau từ mấy chục năm trước. Gặp nhau chỉ một lần vào mùa hè năm ngoái, khi cùng nhau đón nhà thơ Trần Trung Đạo, tác giả của bài “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười“ từ Mỹ sang, như tôi đã viết trong bài.

-Anh nghĩ sao về Hòa Thượng Thích Như Điển?

-Là người có kiến thức uyên thâm, viết nhiều, rất đáng kính.

– Anh có biết chùa Viên Giác thuộc Giáo hội VN thống nhất, chứ không vào Giáo hội VN?

-Với tôi thuộc về đâu không quan trọng. Không thích chính trị, nên tôi không để ý điều này. Biết rằng, lúc nào tôi cũng gọi Hòa Thượng Thích Như Điển là thày và xưng con.

-Anh có hay đi chùa không?

– Rất ít, vì không có thời gian.

-Kể cả chùa Linh Thíu?

-Tôi chưa bao giờ đến chùa này.

-Tôi có đọc truyện “Sau Tiếng Chuông Chùa“ anh có nhắc đến chùa này.

– Đó chỉ là một truyện ngắn.

-Anh có quen Người Buôn Gió? .

-Gặp một lần, khi nhà xuất bản Vipen ra mắt tập Thơ Người Việt Ở Đức.

-Anh thấy những bài viết của Người Buôn Gió thế nào?

-Ít đọc, nên tôi không thể nói nhiều.

-Văn của Lê Minh Hà thế nào?

– Tôi chưa đọc, nên không thể nói.

-Còn văn của Nguyễn Văn Thọ?

-Đã đọc một số truyện ngắn, nhưng không phải là thứ văn tôi thích.

– Sa Huỳnh là tên hay bút danh?

-Tôi không biết, bởi chỉ gặp Sa Huỳnh có một lần.

Anh ta lẩm bẩm:

– Có lẽ là tên thật. Ở Đức hình như ít có người dùng bút danh. Anh nhận xét gì về thơ Sa Huỳnh?

-Sa Huỳnh viết nhiều, nhưng nếu anh ấy không đổi cách viết (bút pháp) thì thơ anh ấy chỉ dừng ở dạng nghiệp dư cộng đồng.

– Còn thơ Nguyễn Thế Dũng?

– Nhà thơ Thế Dũng họ Vũ. Tôi thích đọc thơ của anh ấy. Nhất là thơ viết trước đây.

-Ngoài ra, thơ ở Đức phải kể đến ai?

– Thu Hà và An Giang.

-Thu Hà Berlin?

-Không! Thu Hà Cottbus.

-Ở Leipzig, chắc anh biết Thời báo của Nguyễn Sỹ Phương?

-Tôi có nghe nói, nhưng chưa bao giờ đọc.

-Anh thích đọc thơ của nhà thơ nào nhất ở trong nước?

-Trần Mạnh Hảo.

-Còn văn?

-Bảo Ninh, Võ Thị Hảo.

Buổi làm việc kết thúc, chúng tôi đề nghị anh nên tham gia vào hội văn nghệ người Việt ở Đức và hội văn nghệ trong nước. Viên an ninh (Sứ quán VN ở Đức) bảo tôi như vậy.

Tất nhiên, tôi từ chối điều này.

Viên an ninh ngồi ngoài cùng chợt đứng dậy, bảo: Để trình báo với cấp trên, chúng tôi đề nghị anh viết cho mấy chữ đại loại như, sau khi suy nghĩ lại, anh nhận ra những bài viết của mình là không đúng và từ nay không viết những bài như vậy nữa. Tôi không thể giúp các anh việc này, những bài viết là tư tưởng, suy nghĩ cá nhân của tôi, đúng sai tùy thuộc nhận thức mỗi người. Người ngồi trong cùng bảo: Ngay từ đầu anh đã nói mình dốt về chính trị, thì anh cứ viết cho mấy chữ, do không hiểu chính trị, nên anh có những bài viết sai vậy thôi. Tôi goặc lại, tuy dốt và không thích chính trị, nhưng tôi có chính kiến riêng của mình. Viên an ninh trẻ ngồi giữa đưa bút giấy: Nếu anh không viết, bọn em không thể khép hồ sơ, nói thế nào với Chef đây! Tính cả nể của tôi hơi bị dao động nên cầm bút giấy, thấy vậy viên an ninh ngồi trong đọc: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN…Tôi ngắt lời, với tôi không có cụm từ này. Và tôi viết: “ Tên tôi Đỗ Trường địa chỉ CHLB Đức, những bài viết của tôi là suy nghĩ cá nhân có thể đúng, sai. Tôi là người dốt và không thích chính trị, do vậy tôi không tham gia bất cứ đảng phái, tổ chức, hội đoàn nào. Hà Nội ngày 7-3-2015 Đỗ Trường” Đưa tờ giấy cho viên an ninh ngồi giữa, đọc xong anh ta bảo, ngắn quá, anh có thể viết dài hơn chút nữa không? Tôi từ chối. Viên an ninh ngồi trong kẹp tờ giấy vào tập hồ sơ và bảo, đủ rồi.

Tôi trở lại chiếc ghế nửa nằm, nửa ngồi nói chuyện cuộc sống người dân châu Âu với viên an ninh trẻ đang ngồi phía trong căn phòng.

Bảy giờ tối, thiếu tá an ninh tên (Hoàng?) đến đưa tôi đi ăn. Vẫn cái nhà hàng buổi trưa. Hoàng bảo, em đã ăn rồi, anh thích ăn gì thì gọi. Tôi gọi cơm trắng ăn với cá kho và rau muống luộc. Trong bụng đói cồn cào, lúc này trong người cũng có một chút thanh thản hơn, nhưng khi đưa miếng cá, thìa cơm vào miệng, tôi chợt thấy gai gai rờn rợn, bởi nhớ lời anh tôi, một người qúa am hiểu về nghiệp vụ công an, dặn từ mấy hôm trước: Chú bị đeo bám như vậy, vào khách sạn nhà hàng ăn uống nhớ phải cẩn thận, thằng Tàu bây giờ nó sản xuất nhiều thuốc lú lắm đấy.

Tôi và Hoàng về phòng một lúc, Tuấn mang vé máy bay đến và bảo Hoàng đẩy hành lý của tôi ra làm thủ tục. Tuấn nói, cấp trên vẫn chưa cho phép liên lạc với gia đình tôi. Tôi vẫn im lặng, dù có to tiếng phản đối cũng vô ích, bởi chắc chắn sẽ nhận được câu trả lời muôn thuở, chúng tôi không muốn như vậy, đây là lệnh của cấp trên…

Hoàng quay về, đưa cho tôi vé máy bay và giấy gửi hành lý. Tôi hỏi hộ chiếu, Hoàng bảo, tý nữa ra máy bay Tuấn sẽ trả lại. Tôi lại nửa nằm nửa ngồi trên ghế, nghe Hoàng kể chuyện xuyên rừng bắt ma túy ngày còn làm việc ở công an Nghệ An. Kể chán Hoàng hỏi tôi về giá cả xe ô tô và cuộc sống người dân ở Đức…

22 giờ Tuấn đến. Hoàng, Tuấn và người an ninh trẻ đưa tôi ra máy bay. Tôi được đưa ra cửa ưu tiên, không phải kiểm tra người. Đến gần cầu thang máy bay, tôi phải dừng lại, chưa được phép lên. Chờ mọi người đã lên hết, máy bay sắp chuyển bánh, Tuấn đưa hộ chiếu và trả lại điện thoại cho tôi và hỏi: Tâm trạng của anh bây giờ thế nào? Tôi bảo, buồn vì nhục cho đất nước, vui bởi sắp gặp lại vợ con. Nếu bây giờ các anh có để tôi đi sài Gòn, tôi cũng không đi nữa, bởi không còn một chút cảm hứng nào. Tuấn cười, hy vọng lần sau chúng ta gặp nhau, không trong hoàn cảnh như thế này.

Tôi bước đi còn nghe thấy tiếng Tuấn báo cáo trong điện thoại: Chuyên án đã kết thúc.

Vâng! Một kẻ viết văn tép riu, không hội hè, đảng phái như tôi mà công an Việt Nam phải lập đến cả chuyên án, thì thật nực cười và quá lãng phí tiền thuế của dân.

Và tôi ngoảnh đầu lại, vẫn thấy có hai người công an mặc sắc phục, lẽo đẽo theo tôi vào tận buồng máy bay. Tìm được chỗ ngồi và tôi định mở điện thoại, xem có thể gọi hoặc gửi thư về Đức cho vợ con, nhưng đã có tiếng nhắc nhở, để an toàn cho chuyến bay, đề nghị hành khách tắt điện thoại.

Tôi ngồi lật xem lại cuốn hộ chiếu, con dấu công an hủy giấy miễn thị thực của mình do nhà nước Việt Nam cấp, đỏ chót còn chưa ráo mực, làm tôi nghĩ đến quyền lực và công an hóa chính quyền của xã hội đương thời (Việt Nam).

Sáu giờ sáng, máy bay hạ cánh xuống phi trường Frankfurt. Tôi mở máy, gọi điện cho vợ con. Vợ tôi nói trong tiếng nấc, các con đã chờ tôi ở sân bay. Trong lúc chờ lấy hành lý tôi điện thông báo và xin lỗi bạn tôi và anh chị nhà thơ Trần Mạnh Hảo, Giáng Tiên ở Sài Gòn là tôi đã bị trục xuất về tới Đức. Nghe tôi kể sơ sự việc, nhà thơ Trần Mạnh Hảo nổi khùng: Ai cho chúng nó quyền thẩm định văn chương và tước đoạn quyền tự do của con người. Chú lành quá để chúng bắt nạt. Người khác là không để yên như vậy đâu. Vâng! Không hiểu sao, em không thể nổi điên lên trước việc làm ấy của họ. Có lẽ cái tính của em như vậy rồi.

Lên xe, tôi mở FB liên lạc với bạn bè, gặp ngay nhà thơ, nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo hỏi: -Trường ơi! Em đang ở đâu đấy? (Bởi hôm thơ rằm tháng giêng gặp anh rất vội ở Văn Miếu, bắt tay hẹn gặp nhau vào những ngày tới)

-Em đã bị an ninh Việt Nam trục xuất về Đức.

-Sao vậy?

-Mới đầu họ bảo vì em không đăng ký tạm trú nên tạm giữ. Sau đó vì văn thơ của em có vấn đề, nên trục xuất.

-Lại lý do chẳng khác gì mấy bao cao su cũ và ai cho quyền họ thẩm định văn chương? Thật là, không ai làm xấu hổ đất nước bằng họ…

Trên đường về, tôi hỏi các con tôi, sao biết ba về bằng chuyến bay này?

Các cháu kể: Khi các bác ở Việt Nam báo tin sang, ba có thể đã bị an ninh Việt Nam bắt giữ, chúng con đã liên lạc với sứ quán Đức ở Hà Nội. Họ bảo, sau 24 tiếng, nếu ba không được thả, họ sẽ vào cuộc. Tuy nhiên, sau đó họ liên lạc với hàng không Việt Nam, và biết có tên ba trong danh sách bay về Đức vào 22 giờ 30. Tiếp sau đây, họ cần bản tường trình của ba, lý do bị bắt và trục xuất. Trong thời gian đó an ninh Việt Nam đối xử với ba như thế nào…

Bước chân vào nhà, gặp bà vợ mặt mũi xanh mét,(dù đã ba mươi năm sống và mang quốc tịch Đức) miệng nửa khóc nửa cười, rít lên: Ông đã tởn chưa? Thơ với chả văn, từ nay tôi phải kiểm soát ông chặt chẽ hơn nữa.

Vâng ! Vậy là tôi lại phải viết văn trộm trong cái rọ ngày càng bị xiết chặt hơn. Hỡi ông an ninh Việt Nam! Ông là ai, mà cấy vi trùng sợ hãi giỏi đến như vậy.

Đức Quốc ngày 17-3-2015

Đỗ Trường

© Đàn Chim Việt

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Bùi Tín : Nguyễn Phú Trọng – Vị khách cồng kềnh của Tòa Bạch Ốc

Nguồn VOA

16.03.2015

Trong và ngoài nước đang bàn tán về chuyến “Mỹ du” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có thể diễn ra trong năm 2015 này. Đã có lời mời chính thức của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry. Trong bài phát biểu của khi trình quốc thư trước Tổng thống Obama mới đây, Đại sứ Phạm Quang Vinh cũng nhắc đến chuyện này. Chuyến đi được hai bên đánh giá là quan trọng do năm nay có kỷ niệm 20 năm bình thường hoá quan hệ giữa 2 nước (1995-2015), cũng là năm có hy vọng sẽ đạt thỏa thuận về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa 12 nước.

Thế nhưng sự việc lại không đơn giản, vì ông Nguyễn Phú Trọng là một vị khách cồng kềnh, làm cho ông chủ Tòa Bạch Ốc lúng túng, khó xử. Đây là một vấn đề phức tạp và lý thú.

Từ trước đến nay, chưa có Tổng Bí thư nào của đảng CS Việt Nam đặt chân lên đất Hoa Kỳ. Hồ Chí Minh sau khi nắm chính quyền, các Tổng Bí thư Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh rồi đến Nguyễn Phú Trọng đều chưa đặt chân lên đất Mỹ. Sắp đến ông Trọng sẽ là Tổng Bí thư đầu tiên của đảng CS Việt Nam sang thăm chính thức nước Mỹ.

Vậy thì nước Mỹ sẽ tiếp đón ông Trọng theo nghi thức nào, theo kiểu cách lễ tân nào?

Khi ông Trọng sang thăm chính thức Cuba, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc, ông được tiếp đón như người lãnh đạo cao nhất, còn hơn nguyên thủ quốc gia, chủ tịch nước, vì là cùng chung một chế độ CS. Tổng Bí thư ở nhà khách sang trọng nhất, ngồi xe sang nhất với hai hàng xe môtô hộ tống, được mời duyệt đội quân danh dự, có 21 phát đại bác chào mừng, được mời tiệc quốc yến. Với Tổng bí thư đảng CS Trung Quốc kiêm Chủ tịch nước như Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình, những nghi thức như thế là bình thường.

Nhưng Nguyễn Phú Trọng thì lại khác: ông là Tổng Bí thư nhưng không kiêm Chủ tịch nước. Ông cũng không hề được ủy nhiệm bởi một cuộc bầu cử dân chủ nào mà chỉ do nội bộ đảng của ông ta bầu lên. Vì vậy, ông chủ Tòa Bạch Ốc có phần lúng túng, khó xử về nghi thức tiếp đón ông Trọng. Không phải nguyên thủ quốc gia, ngang vai với Tổng thống Hoa Kỳ thì sẽ không có lễ đón, không có duyệt binh, không có 21 phát đại bác, không có quốc yến, mọi thứ sẽ rất giản đơn. Sẽ không thể có chuyện mời ông khách cồng kềnh này đến thăm và nói chuyện với Quốc hội Mỹ; cũng rất khó có chuyện ông Trọng được mời nói chuyện trước các học giả, các nhà kinh doanh hay nhà báo quốc tế, như nhiều vị khách khác.

Theo ông Carl Thayer, nhà nghiên cứu ở Học viện Quân sự Úc, Tổng thống Barack Obama đã tỏ ý sẽ không tiếp ông Trọng trong Phòng Bầu dục, nghĩa là phòng làm việc chính, tiêu biểu cho quyền lực Nhà nước của Hoa Kỳ, nơi Tổng thống Mỹ làm việc với các trợ lý thân tín nhất và tiếp các các nhà lãnh đạo quốc tế thân thiết nhất.

Tuy chưa đến Hoa Kỷ, ông Trọng đã có những kỷ niệm khá u ám với Châu Mỹ. Tháng 4/2012, trong chuyến thăm chính thức Cuba, ông Trọng đã đến Trường đảng cao cấp phổ biến “kinh nghiệm chủ nghĩa xã hội kiểu Mác-Lênin ở Việt Nam”, một mưu toan tuyên truyền vụng về, lạc điệu, không phải lúc, ngay sau khi Fidel Castro công khai tuyên bố “Cái mô hình hiện nay của Cuba (tức mô hình CNXH kiểu Mác-Lênin) không còn thích hợp”. Báo chí Cuba hoàn toàn không nói tới nội dung của buổi đăng đàn vô duyên ấy trong khi báo Nhân Dân được lệnh đăng toàn văn – lại thêm một trò vụng về hớ hênh nữa.

Ngay sau đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự trù đi thăm chính thức Brazil từ 12 đến 15/4/2012, theo lời mời của Tổng thống Brazil Dilma Rousseff (thuộc đảng Công nhân cánh tả thân CS), nhưng ngay chiều 11/4, khi ông Trọng vừa kết thúc cuộc nói chuyện ở Cuba, phía Brazil ra thông cáo cho biết hoãn cuộc đi thăm của đoàn ông Trọng mà không cho biết lý do và cũng không nói hoãn đến bao giờ. Cán bộ trong Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết trong lịch sử quan hệ quốc tế, chưa bao giờ Hà Nội bị một vố bất ngờ và mất thể diện đến như vậy.

Như vậy là đoàn cấp cao Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu với cả một bộ sậu gần một trăm người với 2 chuyên cơ Nhà nước, có các Ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh, Trưởng Ban đối ngoại Trung ương Hoàng Bình Quân cùng nhân viên tùy tùng tiu nghỉu quay về nước, không rõ sự cố gì đã xảy ra.

Có ý kiến cho rằng Tổng thống Obama không muốn tiếp ông Trọng trong phòng làm việc chính thức. Đây là quyền của chủ nhà. Lại còn chuyện ông Trọng có sẽ đi thăm địa phương nào khác ở Hoa Kỳ hay không? Có sẽ gặp các nhà kinh doanh Mỹ hay không, khi ai nấy đều biết quan điểm của ông Trọng là đề cao vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước, dành ưu tiên cho kinh tế quốc doanh, trái ngược với nền kinh tế Hoa Kỳ?

Đây sẽ là cuộc gặp giữa hai con người của hai chế độ trái ngược nhau – một chế độ độc đảng toàn trị lẻ loi còn sót lại của lịch sử thế kỷ XX, và một chế độ dân chủ nhuần nhuyễn không ngừng phát triển qua hơn 2 thế kỷ. Một chế độ sinh ra từ đầu súng, từ “cướp chính quyền” rồi khư khư giữ chặt lấy không chia sẻ cho ai trong suốt 70 năm, và một chế độ cứ 4 năm lại để cho toàn dân sát hạch qua lá phiếu tự do của cử tri. Một chế độ có tự do báo chí, tự do ngôn luân, tụ do tôn giáo, tự do kinh doanh thuần thục, và mộ chế độ không có tự do báo chí, không có tự do tôn giáo, không có nhân quyền. Một chế độ có tam quyền phân lập, kiểm soát, kiềm chế nhau, mọi sự công khai, minh bạch trước nhân dân, công luận, và một chế độ độc đảng nắm giữ hết các quyền trong tay Bộ Chính trị, giải quyết mọi sự trong bóng tối, sau lưng nhân dân, với một Quốc hội bù nhìn, công cụ của đảng.

Hai con người trái ngược nhau như nước với lửa ấy có gì lý thú để trao đổi với nhau, khi mà Tổng thống Obama đã coi nhà báo Nguyễn Văn Hải Điếu Cày cùng bạn bè có chí hướng dân chủ là đáng khen, đáng phục, đáng tôn trọng, thì ông Trọng cho tất cả là tội phạm, là suy thoái, là phản động, nguy hiểm, cần loại bỏ.

Do đó, từ nay cho đến khi cuộc tiếp đón diễn ra, sẽ còn lắm chuyện phải bàn, nhất là để việc ký TPP hiện vẫn còn gay go nan giải, thiện chí của phía Việt Nam vẫn còn phải được thử thách trong thực tế.

Cũng không loại bỏ khả năng việc xảy ra ở Brazil 2 năm trước, khách mời Nhà nước chưa đến nhà, cổng đã bị đóng sầm lại, cuộc chào chia tay diễn ra trước khi tay chưa kịp bắt, do sự cách biệt hai bên còn quá xa vời. Khi trên báo Nhân Dân vẫn còn réo “đế quốc Mỹ” ra để xỉ vả, còn đầy các khái niệm “chống đế quốc Mỹ xâm lược” trên các sách dạy sử.

Còn biết bao nhiêu chuyện thiết thực phải làm để kỷ niệm thật sự có ý nghĩa 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ, để hội nhập quốc tế thuận lợi, sâu sắc, để còn có thể đón Tổng thống Mỹ sang thăm hữu nghị Việt Nam trong năm 2015 – một năm sẽ có nhiều chuyển động có ý nghĩa, như mọi người dân yêu nước, yêu dân chủ đang phấn đấu và mong đợi.

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Nguyễn Khắc Mai : Xóa bỏ dối trá lớn để đẩy lùi dối trá nhỏ

Nguồn boxitvn

14/03/2015

Dư luận đang quan tâm đến Báo cáo điều tra xã hội học về nhũng thói xấu của xã hội Việt hiện nay do Trần Ngọc Thêm chủ trì. Đây là một đề tài nhạy cảm, không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận, vì nó chính là những giá trị được hình thành một cách từ từ qua quá trình lịch sử do sự tác động bởi nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân chủ yếu là hệ ý thức ngoại lai được du nhập vào Việt Nam ngoài ý muốn của người dân.

Trước hết xin trích một câu nói của K. Marx về vấn đề này: “Tệ dối trá, tệ lớn nhất, gắn liền với báo chí bị kiểm duyệt, tệ xấu căn bản này là nguồn gốc của tất cả những thiếu sót khác của nó, trong đó cả mầm mống của mỹ đức , tệ đó là nguồn gốc của tệ đáng ghét nhất – thậm chí xét theo quan điểm mỹ học cũng thế – tệ tiêu cực. Điều đó dẫn đến cái gì? Chính phủ (ở VN thì phải nói trước hết là Đảng) chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình, duy trì sự lừa dối và cũng đòi nhân dân phải ủng hộ sự lừa dối đó. Còn nhân dân hoặc sẽ rơi vào tình trạng mê tín chính trị, hoặc hoàn toàn quay lưng với cuộc sống quốc gia , biến thành đám người chỉ sống với cuộc đời riêng tư”(Marx- Engels toàn tập,T1, tr105, NXB Sự thật).

Có một nghịch lý tồn tại từ rất lâu trong việc sử dụng chủ nghĩa Marx ở Việt Nam mà cả giới lãnh đạo chóp bu cũng như hệ thống Trường Đảng đều rất hiểu nhưng không bao giờ nói ra. Đó là, một mặt, họ lợi dụng những phần không tưởng, thậm chí sai lầm nghiêm trọng trong học thuyết của Marx làm kim chỉ nam lừa bịp nhân dân, nhằm duy trì càng lâu càng tốt chế độ độc tài toàn trị; mặt khác lại phủ nhận những tư duy khoa học, nhất là những phản tỉnh trên tinh thần phục thiện vào cuối đời khi ông nhận ra những sai lầm của mình trong quá trình viết “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”và “Tư bản luận”.

Cho dù là “tổ sư” của Chủ nghĩa duy ý chí, nhưng cách đây gần hai trăm năm, Marx cũng đã từng cảnh báo tệ dối trá là nguồn gốc của mọi thứ tệ hại khác. Chính phủ, Đảng duy trì sự dối trá là chỉ muốn nghe tiếng nói của chính mình bất chấp mọi ý kiến phản biện của các thành phần xã hội.Và kết quả của nó là đẩy xã hội tới sự bất ổn chính trị, kinh tế khủng hoảng, văn hóa đạo đức băng hoại.

Cuối đời Marx và Engels đã đính chính lại học thuyết của mình khi họ nhiều lần khẳng định rằng không có cái gọi là lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa, đó là ảo tưởng nhất thời và ấu trĩ, và, về vai trò của giai cấp công nhân trong Cách mạng vô sản chỉ là sự ngộ nhận. Hãy nghe Ph. Engels nói (Trich Lời nói đầu Cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp):“Lịch sử chứng tỏ còn làm được nhiều hơn thế, không những đã xóa bỏ mê muội của chúng ta hồi đó mà còn thay đổi điều kiện đấu tranh của giai cấp vô sản. Phương pháp đấu tranh năm 1848 nay đã lỗi thời về mọi mặt, chẳng có mục tiêu lớn Chủ nghĩa cộng sản gì cả. Đó chỉ là một mệnh đề được người khai sáng chủ nghĩa Marx dề xuất lúc trẻ, nhưng vứt bỏ nó vào cuối đời”.

Còn về quyền sở hữu, thực chất là tư hữu, Marx đã phủ nhận chính học thuyết của mình: “Những nhà sản xuất (doanh nhân), chỉ trở thành tự do, một khi họ sở hữu được những phương tiện sản xuất” (đất đai, nhà xưởng, tàu thuyền, ngân hàng, tín dụng…). Thế mà các đảng Cộng sản cầm quyền, trong đó có Việt Nam lại xác quyết với dân là Marx chống tư hữu để đưa vào Hiến pháp khẳng định thể chế công hữu là chủ đạo, tìm mọi cách hạn chế quyền sở hữu của người dân nhất là về ruộng đất, đẩy đại đa số nông dân thành “vô sản” đúng với nghĩa đen của nó.

Điều thứ hai là Marx có một quan niệm hoàn toàn khác về vai trò giai cấp công nhân so với thời kỳ đầu: “Chính quyền của giai cấp công nhân sẽ được tạo dựng bằng một chế độ ủy quyền. Người ta sẽ phó thác cho một nhóm người tự mình ứng cử và bầu cử nhằm đại diện và cai trị họ. Điều ấy sẽ khiến cho họ rơi tõm ngay vào mọi sự lừa dối, và mọi sự lệ thuộc của chế độ ủy trị và tư sản. Sau một hồi ngắn ngủi tự do và say sưa cách mạng, làm công dân của một nhà nước mới, họ sẽ bừng tỉnh thấy mình là nô lệ, là con rối hoặc là con mồi cho những tham vọng mới” (ils se reveilleront esclave, jouets,ou victimes de nouveau ambitieux). Cả hai câu trên đều trich dẫn tư Marx Cuộc đời và tác phẩm của J.Eleinstein, NXB Fayard.

Khi nói về xã hội Việt Nam hiện tại, không thể không bàn tới cái gọi là chế độ Xã hội xã hội chủ nghĩa hay Chủ nghĩa cộng sản. Trước hết phải thừa nhận chủ trương công hữu tài sản là sai sai lầm nghiêm trọng, coi giai cấp công nhân là lực lượng tiên tiến lãnh đạo cách mạng, trong thực tế chính là đánh lừa họ, vô hình chung, biến họ thành con rối, con mồi cho những tham vọng chính trị của giới cầm quyền.

Chính thể CHXHCN Việt Nam hiện nay thực chất chỉ là bản sao không hoàn chỉnh của mô hình nhà nước kiểu trại lính của Stalin và phương châm “súng đẻ ra chính quyền” của Mao Trạch Đông. Những khẩu hiệu sáng loáng như “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” hay “Thể chế XHCN của chúng ta tốt đẹp gấp triệu lần tư sản”, “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”… chỉ là những ngôn từ rỗng tuếch, bịp bợm, mê hoặc nhân dân nhằm củng cố địa vị thống trị của một tập thể “vua lãnh đạo” mà tiểu biểu là 16 danh xưng ngồi chót vót ngôi cao nhưng thiểu năng trí tuệ, não trạng đen tối.

Từ nhũng năm 1960 cho đến trước năm1975 ở miền Bắc, rồi từ 1975 đến 1986 ở cả nước, Đảng CSVN đã quán triệt một chủ trương duy ý chí đến mức điên rồ “tiến nhanh, tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Kết quả là, không phải sức mạnh hủy diệt của B52 Mỹ như R.Nixson từng tuyên bố, mà chính đường lối sai lầm của Đảng CSVN, đã xuýt nữa “đưa đất nước Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. Đến trước Đại hội VI, khi mà nền kinh tế Việt Nam đang mấp mé bên bờ vực thẳm, người dân có nguy cơ chết đói hàng loạt, khiến ông Đảng trưởng phải buột miệng kêu lên “chúng ta phải tự cứu mình trước khi trời cứu, thì cũng là lúc Đảng nhận ra sai lầm nhưng lại đổ lỗi cho hoàn cảnh “khách quan”, đó là “tại kháng chiến chống Mỹ và thằng bao cấp(?!). Ông trùm Lenin từng cảnh báo về tác hại của thói “kiêu ngạo cộng sản” nhưng Đảng không lấy đó làm bài học sửa mình mà luôn tự vỗ ngực khoe khoang, họ bao giờ cũng đúng. Chỉ có nhân dân là sai, cho nên, khi bị dồn đến bước đường cùng, Đảng vội đẩy “thằng bao cấp” ra làm vật hy sinh.

Thật ra bao cấp chỉ là một phương thức quản lý và phân phối sản phẩm xã hội, nó được hình thành ngay từ thời kỳ phong kiến. Ngày nay, “bao cấp” được duy trì dưới nhiều hình thức khác nhau trong hầu hết các quốc gia, trong đó làm tốt nhất phải nói là các nước Bắc Âu như Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch. Đó là những nước nằm trong hệ thống Tư bản chủ nghĩa, nhưng thực chất nội hàm của nó lại là “Chủ nghĩa xã hội dân chủ”. Ở đó, an sinh xã hội cao chính là một hình thức bao cấp tuyệt vời nhất, mà với Việt Nam, có lẽ đến thế kỷ XXII vẫn chỉ là giấc mơ giữa ban ngày.

Ở châu Á , Singapore là nơi phương thức bao cấp theo Lý Quang Diệu cũng là một mô hình rất đáng cho những người Cộng sản Việt Nam học tập.

Nhưng vấn đề là, “đảng ta” không bao giờ hạ mình học tập ai bởi “Đảng là trí tuệ, là văn minh…” (Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của HCM), thì làm sao còn phải học.

Ai cũng biết nhà nước pháp quyền hiện đại đều phải dựa theo nguyên lý cơ bản “Tam quyền phân lập”, một thứ được xem là “khế ước xã hội” tiến bộ cả thế giới phải thừa nhận, Đảng không dám trắng trợn xóa bỏ nguyên lý này, bèn đánh tráo bằng mệnh đề rất chi là “thớ lợ”: “sự phân công giữa ba cơ quan quyền lực!”. Thế nhưng, đến đứa trẻ con cũng biết, sự phân công là đương nhiên giữa các cơ quan quyền lực, kể cả trong cái cơ cấu nhà nước độc tài toàn trị Cộng sản.

Có thể nói Đảng CSVN là bậc thầy của những chuyên gia sáng tạo “giảo ngữ”. Ví dụ, khi đưa ra “sáng kiến” “phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN”, thì báo chí hé lộ một định nghĩa quá tức cười, bởi vì nó không định được gì cả, rằng “kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế có đầy đủ yếu tố thị trường theo định hướng XHCN”(xem bài tường thuật cuộc hội thảo “Nhận thức mới về kinh tế thị trường XHCN” trên báo Tuổi trẻ TPHCM).

Một thiết chế xã hội, trong đó những thực thể được coi là chính thống, nhưng không chính danh, lô gích nội tại không chính xác, làm sao khắc phục được sự rối loạn chuẩn mực. Một khi đã rối loạn chuẩn mực thì tất yếu dối trá sẽ lên ngôi, biến một xã hội tử tế thành xã hội lưu manh, trong đó kẻ cầm quyền là trùm lưu manh.

Đầu năm Con Dê này, ở lĩnh vực văn hóa, ngoài các tin “giật gân” như hiện tượng “cướp” trong các lễ hội đến mức ẩu đả phải vào bệnh viện mà ông Phó trưởng Ban Tuyên Huấn Thành ủy Hà Nội giải thích theo “định hướng” là “cướp có văn hóa”, tin Mạnh Vương ngự trên “ngai vàng” ở “phòng khánh tiết” tư gia, tiếp Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn (lực lượng hậu bị) thì sự kiện làm bàn dân thiên hạ “choáng” nhất là cái hôn đầy nhơt dãi mang nặng màu sắc tình dục vào má cô hoa hậu mới đăng quang của một ông Giáo sư, Anh hùng lao động, rởm. Lại nữa, ngoài đôi câu đối đầu ngô mình sở nặng mùi sex mà một vế “mượn tạm” của Lý Bạch, tặng người đẹp Kỳ Duyên, “Đương đại quốc sư” còn bị bóc mẽ khi “thuổng” trọn vẹn đôi câu đối của người khác đặt lên bàn thờ tổ tiên họ Vũ của mình.

Từ những hiện tượng không bình thường trên, ta có thể thấy nền văn hóa Việt Nam đã đến kỳ mạt vận. Trần Nhân Tông viết trong Cư trần lạc đạo: “Cùng nơi ngôn cú”, nghĩa là nơi lĩnh vực ngôn cú – lĩnh vực tư duy khoa học, nghiên cứu…phải đi đến cho tận cùng. Điều tra xã hội học để thấy rõ cái thực trạng đang diễn ra từng ngày, từng giờ trong cuộc sống. Tuy nhiên, chỉ mô tả thực trạng không đủ mà phải cứu xét đến tận cùng của nguồn gốc. Có như thế mới tìm được cách uốn nắn, điều chỉnh.

Phương Tây họ có mấy chữ bắt đầu bằng ký tự “W” để nói cả qui trình nghiên cứu. Chữ “What” là nói nội dung của thực trạng tệ giả dối. Chữ “Who” nói ai là thực thể hành xử tiêu cực, và quan trọng là “ai” đã góp phần gây nên tệ nạn. Không thể không nghĩ tời tầng lớp trí thức vốn rất bạc nhược của nước ta. Họ không phải là kẻ đầu têu, nhưng là kẻ cổ xúy rất nhiệt tình cho những tệ nạn xấu xa đó. Có thể nói, “Văn hóa Đảng” đã biến giới trí thức Việt Nam thành những kẻ bạc nhược, nhưng lại cơ hội và đầy tham vọng.

Có một “ai” nữa là hệ thống chính trị cổ hủ, lạc hậu , giáo điều. Trong cái guồng máy đầy khuyết tật ấy, 4 triệu đảng viên không thể là kẻ vô can.

Còn chữ “Why” là nói sự tìm tòi cho ra nhũng nguyên nhân khác nhau. Có nguyên nhân từ hệ ý thức, thể chế chính trị, có nguyên nhân văn hóa , đạo đức, nguyên nhân kinh tế, giáo dục, nguyên nhân tông giáo (đương nhiên là tông giáo quốc doanh). Trong lĩnh vực này, K.Marx tuy mắc không ít sai lầm , nhưng đôi lúc ông cũng có những nhận định khá chính xác về các mối quan hệ xã hội: “bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”. Tuy nhiên hầu hết cán bộ tuyên huấn thường quên chữ “bản chất” nên hiểu hiểu sai ý Marx. Khi những quan hệ xã hội lệch pha, rối loạn, không xác tín, nghĩa là những quan hệ dối trá, thì phẩm chất của con người sẽ thế nào có thể đoán định ra được.

Bản báo cáo không chỉ tìm nạn nhân, phải tìm thấy tội nhân và cả nhũng tác nhân trong vô vàn những dữ liệu sống.

Tôi xin trich một câu nổi tiếng về chính danh trong sách Lã Thị Xuân Thu: “Danh chính thì trị, danh mất thì loạn. Kẻ làm cho mất danh là kẻ nói, chủ trương quá mức. Nói, chủ trương quá mức, tức là biến cái có thể, cái cho phép thành cái không có thể, không cho phép:nên cái phải, biến thành cái không phải, biến cái đúng thành cái không đúng, cái sai thành cái không sai…Phàm mọi sự loạn là do hình danh không đúng vậy”.

Trước khi dừng bút xin chép tặng giới trí thức nước nhà một câu triết lý của Alcuin, mà Nietzsche rất thán phục và nhắc lại: “Thiên chức của triết học (Trí thức) là đính chính những điều thiên lệch, củng cố những điều chính nghĩa, và làm thăng hoa những điều thánh thiện”(La vẻritable vocation royale pour une philosophie: Prava corrigere,et recta corroborare et saneta sublimare). Liệu trí thức nước nhà đã thật sự “thức dậy” chưa đặng kê lại cho bằng nhũng thiên lệch, gia cố cho đủ mạnh những gì đứng đắn, và làm thăng hoa những gì là tốt đẹp?

N.K.M.

Tác giả gửi BVN

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment