Đến đã đủ lâu! Giờ cũng sẵn sàng để… ra đi! (… về với Chúa)

- Phổ biến thông tin đa chiều, và lên tiếng vì những bất công xã hội là việc làm cần thiết và đúng đắn. – Tự do thông tin là bước khởi đầu để có được dân chủ thực sự, giúp đưa đất nước đi lên và thoát khỏi khốn khó đói nghèo.

- Đừng lầm lẫn giữa : thứ tha những lỗi lầm đã qua, với việc nuôi dưỡng những sai phạm đang diễn ra để chúng cứ tiếp tục tồn tại và trầm trọng hơn nữa! – Đó là ác chứ không phải ái!

- Đừng để bị nhập nhằng giữa “Đất Nước, Tổ Quốc” với đảng cầm quyền! “Đất Nước, Tổ Quốc” là mãi mãi, còn đảng cầm quyền chỉ là nhất thời!

Theo dõi các links tin từ twitter, được cập nhật thường xuyên ở cột phải

Posted in khề khà | Tagged , | 1 Comment

VRNs. Tường thuật phiên tòa Dân oan Dương Nội

Nguồn chuacuuthe

ĐĂNG NGÀY: 19.09.2014 , MỤC: - TIN NỔI BẬT, TIN VIỆT NAM

Posted in Uncategorized | Leave a comment

BBC. Nhìn lại ‘Cải cách Ruộng Đất’ ở Việt Nam

Nguồn BBC

Cập nhật: 11:04 GMT – thứ năm, 18 tháng 9, 2014

https://www.youtube.com/watch?v=MhtWSQznlHw

Mặc dù cuộc cải cách ruộng đất do Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện 60 năm về trước đã trôi qua, nhưng nhiều người vẫn chưa thể ‘quên được’ ‘sự thật’ vẫn chưa được Đảng nói ra hết, cũng như Đảng phải nhìn nhận ‘tội lỗi’ của mình, theo một khách mời của tọa đàm trực tuyến về "Cải cách ruộng đất" do BBC thực hiện hôm 18/9/2014.

Từ Moscow, hôm thứ Năm, ông Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó Chủ tịch phụ trách Nông nghiệp của Hà Nội, nguyên cán bộ sửa sai cải cách ruộng đất của Đảng ở ngoại thành Hà Nội, một nhà bất đồng chính kiến nhiều năm tị nạn chính trị ở Nga, cho rằng Đảng và chính quyền phải ‘sám hối’. Ông nói:

"Bây giờ cải cách ruộng đất đã qua rồi, chúng ta muốn quên đi, nhưng mà sự thực không quên được. Vì sao, bởi vì tôi đã rất đồng ý với nhà văn Trần Mạnh Hảo, là vì trước hết Nhà nước, Đảng cầm quyền phải nói sự thật, phải nhìn nhận tội lỗi của mình, phải sám hối, mới xóa bỏ được hận thù.

"Mới xóa bỏ được: thôi, ta coi vấn đề cải cách ruộng đất là qua rồi. Điều đó nhà nước chúng ta không làm, cuộc triển lãm vừa qua không làm. Đó là điều thứ nhất tôi xin khẳng định như thế.

"Điều thứ hai là bây giờ rất cần một sự thay đổi về ruộng đất. Không phải là chúng ta làm một cuộc cải cách về ruộng đất theo kiểu của Trung Quốc, theo kiểu 1953 trước nữa, mà là phải đấu tranh để xóa bỏ điều ở trong Hiến pháp là quốc hữu hóa ruộng đất của nông dân và đem ruộng đất trả lại cho nông dân."

‘Quyết tìm sự thật’

Nhà văn Trần Mạnh Hảo, một nhân chứng mà gia đình là ‘nạn nhân’ của cuộc cải cách, như ông tự giới thiệu, nói với cuộc tọa đàm từ Sài Gòn:

"Tôi cho rằng lịch sử phải được thể hiện một cách trung thực, nếu tất cả lịch sử bị bóp méo, và bị dối trá hóa, bị tuyên truyền nhảm, tức là bịa ra lịch sử để sự tuyên truyền, thì chừng đó, sau này dù thời gian sau này chăng nữa, con cháu chúng ta họ vẫn quyết tâm đi tìm sự thật.

"Bởi vì sự thật, chỉ có sự thật mới giải phóng được con người. Chỉ có sự thật mới giúp chúng ta nhìn nhận chân lý, cái gì sai, cái gì đúng, còn cứ bịa chuyện, cứ bịp bợm nhân dân, thì mọi thứ sẽ không bao giờ tốt đẹp."

"Tôi không muốn nói lại cuộc cải cách ruộng đất, bởi vì vết thương của gia đình tôi, bố mẹ tôi. Bố tôi bị bắt, mẹ tôi phải nuôi ba đứa con, tôi phải đi bắt rận thuê để lấy gạo nấu cháo cho mẹ ăn và các em ăn, tức là rất là thảm.

"Đẩy gia đình chúng tôi vào thảm kịch có thể chết đói cả ba bốn mẹ con. Và cuộc cải cách ruộng đất tôi đã nhìn thấy nông dân ở làng đến lấy ở nhà tôi từng cái đũa, cái bát, cái mâm, cái hòn gạch, phá nhà, phá cửa, cướp hết toàn bộ những tài sản của gia đình chúng tôi, mà một gia đình lao động, không bao giờ là địa chủ.

"Và những gia đình bị bắn ở trong làng tôi cũng không bao giờ là địa chủ. Họ đã bắn, đã giết oan hàng mấy, hàng chục vạn người, thế thì làm sao mà có thể nói là một cuộc cải cách tốt đẹp được."

‘Không có cơ sở nào cả’

Từ Paris, nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả của cuốn hồi ký chính trị "Đêm giữa ban ngày" đặt vấn đề liệu vào thời điểm tiến hành cuộc cải cách, Đảng có tiến hành một cuộc điều tra ‘đàng hoàng không’.

Nhà văn đặt câu hỏi cho ông Nguyễn Minh Cần:

"Thắc mắc của tôi là vào giai đoạn đó, có một cuộc điều tra về cải cách ruộng đất đàng hoàng không, thành lập được mấy đoàn điều tra, đã đi những địa phương nào để điều tra cải cách ruộng đất, trưởng phó đoàn là ai và báo cáo về cải cách ruộng đất để chuẩn bị cho cải cách ruộng đất có hay không?"

Khách mời từ Moscow trả lời: "Sự thực ở đây là không chỉ riêng Hà Nội, mà cả toàn quốc, tỷ lệ 5% mà Hồ Chủ Tịch đưa ra, rồi vân vân, thì không có dựa trên một cơ sở điều tra nào cả," cựu Phó Chủ tịch Hà Nội phụ trách nông nghiệp nói.

"Hoàn toàn không có một điều tra nông thôn để mà quyết định vấn đề thành phần, ruộng đất, rồi vân vân, ở trong nông dân như thế nào cả, nông thôn ra làm sao cả. Đấy là một sự thật."

‘Không thể sửa được’

Về vấn đề sửa sai, ông Nguyễn Minh Cần thuật lại những gì mà ông đã trải nghiệm, cựu thành viên ủy ban sửa sai của Đảng ở Hà Nội nói:

"Ngay bản thân tôi, tôi là người phụ trách sửa sai ở ngoại thành Hà Nội, thì ông Võ Nguyên Giáp thời bấy giờ, Ủy viên Bộ chính trị, phụ trách Hà Nội trong việc sửa sai, chúng tôi bàn với nhau có bao nhiêu việc không thể nào sửa được.

"Vợ, chồng, con cái của người ta bị bắn chết thì hỏi sửa sai thế nào? Chúng tôi có mấy người liên lạc trong thời kỳ bí mật ở ngoại thành Hà Nội, thì đội cải cách về, chẳng hiểu thế nào mà họ nghèo, quy là địa chủ, bắn chết. Chúng tôi làm thế nào mà giải quyết được?

"Rồi nhà cửa người ta chia ra rồi, bây giờ sửa sai, chúng tôi phải trả lại cho những người đó, nhưng mà trả lại thế nào được? Khi mà nông dân đã nhận được nhà cửa thì họ được tin là phải trả lại, thì họ lấy ngói, lấy gạch rồi phá hết tất cả của người ta.

"Mà khi vào chia đấy, thì bao nhiêu gia đình được một ngôi nhà, thì những cây cảnh, những cái chậu v.v…, thì mình phá hết, thì bảo là trả lại thế nào?"

Khách mời tuần này là nhà văn Trần Mạnh Hảo từ Sài Gòn, nhà văn Vũ Thư Hiên từ Paris, bà Lê Hiền Đức từ Hà Nội, ông Nguyễn Minh Cần từ Moscow, và ông Nguyễn Quang Thạch từ Thái Bình.

Các khách mời cũng nhìn lại hai luồng ý kiến chính trên các mạng xã hội Việt Nam nhân cuộc triên lãm Cải cách Ruộng đất ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tại Hà Nội khai mạc rồi bị đóng cửa vì ‘lý do kỹ thuật’.

Các ý kiến cũng nhằm sáng tỏ bối cảnh chung, tác động của Trung Quốc, việc tiến hành, vai trò của Ban lãnh đạo Việt Nam khi đó như việc lập các đoàn cải cách.

Cố chủ tịch Hồ Chí Minh

Ông Hồ Chí Minh đã thừa nhận Đảng sai lầm và tuyên bố ‘sửa sai’ sau cải cách ruộng đất.

Cuộc thảo luận cũng muốn nhìn vào ý nghĩa, tác động của Cải cách Ruộng Đất với nông thôn, nông dân Việt Nam tới ngày nay.

Rút ra bài học gì?

Một số người tham gia thảo luận đã nêu ý kiến cần có một cuộc cải cách về đất đai hiện nay ở Việt Nam để giải quyết vấn đề tham nhũng đất, khiếu kiện khá phổ biến về đất đai.

Có khách mời cũng cho hay từ kinh nghiệm của Liên Xô thì sau năm 1991 vẫn không hề có sự nhìn lại về các cuộc cải tạo tiêu diệt nông dân thời Stalin.

Nhưng riêng với Việt Nam, có ý kiến thảo luận nói cần khép lại quá khứ dù không được quên những vụ tàn sát thời Cải cách Ruộng Đất.

Về bài học rút ra và thái độ đối với quá khứ, lựa chọn ứng xử trong hiện tại, ông Nguyễn Quang Thạch, nhà vận động ‘sách cho nông thôn’ nói với BBC:

"Lịch sử là thứ đã qua rồi, chúng ta không được phép quên lịch sử, mà chúng ta phải đánh giá sòng phẳng về nó.

"Chúng ta không quên quá khứ sai lầm của lịch sử, nhưng cũng không căm hận nó nữa, mà nên hành động để tạo dựng cho tương lai tốt hơn thôi.

"Chứ nếu chúng ta, như kiểu vừa rồi, là chỉ đưa trưng bày ra, phô diễn cho người ta, chỉ nói cái tốt, không nói cái sai, khuyết, để rồi cùng nhau nhìn nhận, và không lặp lạih những sai lầm trong tương lai.

"Cho câu chuyện tôi nghĩ là người Việt mình, chính quyền đã đến lúc phải đánh giá lại sai lầm của mình, và sau đó công bố rõ ràng, và chúng ta điều chỉnh chính sách đất đai để không tạo ra sự xung đột giữa chính quyền và người dân. Để không tạo ra sự dồn tích, sự căm phẫn trong đời sống cộng đồng."

‘Mong cải cách mới’

Cũng hôm thứ Năm, bà Lê Hiền Đức, nhà hoạt động chống tham nhũng và vận động cho nhân quyền, nói với tọa đàm từ Hà Nội:

"Tôi lại muốn cải cách ruộng đất bây giờ nữa, nhưng trên tinh thần của tôi bây giờ là gì: tổ chức cải cách ruộng đất không phải là đấu tố như ngày xưa, nâng thành phần từ phú nông lên địa chủ để giết chóc, đàn áp nhau.

"Nhưng cải cách ruộng đất bây giờ là gì: để người nông dân của tôi bây giờ sống bằng đồng ruộng thì nhiều bà con nông dân đã căng khẩu hiệu là ‘Nông dân coi đồng ruộng như máu xương của mình’.

"Nhưng bây giờ mất hết ruộng, mất hết vườn, mất hết rừng, thì hỏi rằng còn gì nữa, vì vậy theo suy nghĩ của tôi, tôi lại mong muốn có cuộc cải cách, nhưng cải cách bây giờ đừng lặp lại những sai lầm dã man, tàn ác, giết chóc như những năm trước đây.

"Mà cải cách bây giờ là gì: để cho những người nông dân đứng lên tố cáo những bọn tham nhũng. Bây giờ có những người nông dân không còn nhà, không còn một tấc đất để sống, trong khi những kẻ tham nhũng có bốn, năm, bảy cái biệt thự, có hàng trăm héc-ta rừng để bóc lột nhân dân…

"Vì vậy theo tôi, tôi lại muốn có một cuộc cải cách ruộng đất mới," nhà vận động năm nay 83 tuổi nói với cuộc tọa đàm của BBC từ Hà Nội.

Posted in chính trị, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Nguyễn Thị Kim Chi : ĐÊM DÀY LẤP LÁNH LÀ MỘT QUYỂN SÁCH QUÍ

Nguồn boxitvn

19/09/2014

Cuốn sách Đêm dày lấp lánh đã hấp dẫn tôi một cách kỳ lạ. Tôi đã khó có thể dừng lại khi cầm trên tay quyển sách viết về sáu mươi chân dung của các nhà Dân chủ Việt Nam của tiến sĩ khoa học Nguyễn Thanh Giang. Gần sáu trăm trang chữ in trên giấy khổ A4 với một lượng thông tin ngồn ngộn về nhân thân và công tích của sáu mươi gương sáng dấn thân cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.Tôi thực sự không hình dung nổi ông đã dành biết bao nhiêu thời gian và công sức cho một công trình đồ sộ đến thế.

Sáu mươi nhân vật trong sách Đêm dày lấp lánh đề cập đến là: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Trường Tộ, Phan Chu Trinh, Trần Xuân Bách, Nguyễn Vũ Bình, Văn Cao, Ngô Bảo Châu, Hoàng Minh Chính, Tiêu Dao Bảo Cự, Trần Dần, Phan Đinh Diệu, Nguyễn Xuân Diện, Phạm Chí Dũng, Phạm Quế Dương, Nguyễn Văn Đài, Lê Hiếu Đằng, Thích Quảng Độ, Trần Độ, Nguyễn Kiến Giang, Lê Hồng Hà, Tô Hải, Nguyễn Văn Hải ( điếu cày ) Đỗ Thị Minh Hạnh, Trần Mạnh Hảo, Vũ Thư Hiên, Vũ Hùng, Dương Thu Hương, Vi Đức Hồi, Nguyễn Hộ, Thôi Hữu, Trần Khuê, Nguyễn Gia Kiểng, Trần Lâm, Mai Thái Lĩnh, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Lý, Đỗ Nam Hải, Phan Văn Lợi. Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Thanh Nghiên, Lê Thị Công Nhân, Trần Nhơn, Hà Sĩ Phu. Lữ Phương, Lê Chí Quang, Lê Quốc Quân, Vũ Cao Quận, Nguyễn Đan Quế, Bùi Minh Quốc, Trần Đại Sơn, Phạm Hồng Sơn, Trần Đức Thảo,Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Khải Thanh Thủy, Bùi Tín, Nguyễn Mạnh Tường, Phạm Đình Trọng, Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Hữu Vinh, Cù Huy Hà Vũ, Huỳnh Thục Vy.

Năm mươi chín nhân vật sau Nguyễn Trãi trong Đêm dày lấp lánh không bị tru di tam tộc nhưng cuộc đời họ cũng bị không biết bao nhiêu hệ lụy vì dám bày tỏ chính kiến của mình. Tôi nghẹn ngào xúc động trước những gian truân mà họ từng trải và vô cùng ngưỡng mộ trí lự và chí khí của họ.Tôi nhận biết rõ là tác giả đã dành cả tình yêu, lòng quí trọng của ông cho các nhân vật của mình. Rồi tôi lại nghĩ, chính ông cũng là một nhà Dân chủ tài hoa tâm huyết rất đáng kính, nhưng không biết rồi ai sẽ viết về ông?

Cuốn Đêm dày lấp lánh hiện đã có trong Tú sách của Quốc hội Hoa Kỳ, trong Tủ sách của Viện Hàn lâm Khoa học Nữu Ước, trong Thư viện của trường Đại học Sorbonne, Thư viện của trường Đại học Paris 7 (là những nơi đã đào tạo nên triết gia Trần Đức Thảo, tiến sỹ Nguyễn Mạnh Tường, giáo sự Ngô Bảo Châu, tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ) …

Ở Việt Nam có một số ít người được tặng nhưng là bản photocopy. Nơi ấn hành từ Hoa Kỳ có gửi về cho tác giả hai thùng sách nhưng đều đã bị lẳng lặng tịch thu. Tuy là bản photocopy nhưng tác phẩm rất đẹp. Bìa sách do cháu ngoại Tiến sỹ tên là Vũ Nguyễn Thủy Tiên trình bày.

Đêm dày lấp lánh không phải là cuốn sách đầu tiên của ông Tiến sỹ khoa học này. Ngoài một số sách khoa học kỹ thuật được xuất bản công khai ở trong nước từ ba bốn chục năm trước, các sách chính luận của ông như Nhân quyền – Khát vọng ngàn đời, Suy tư và Ước vọng, Giữa Đông và Tây, Nhân quyền và Dân chủ ở Việt Nam, Sứ mệnh Công dân … chỉ được xuất bản ở nước ngoài: Hoa Kỳ, Canada, Nhật bản, Pháp … Nguyên bản các các cuốn sách này chỉ tác giả có nhưng cũng phải dấu ở nơi khác (Nhà ông đã bị khám trên chục lần).

clip_image002

Những cuốn kể trên trước đây đã được tác giả photocopy thành nhiều trăm bản để biếu tặng. Riêng cuốn Đêm Dày Lấp Lánhvì tiền photocopy quá “nặng” nên số sách biếu rất hạn chế. Ai muốn có sách nên đóng góp tối thiểu 90 000 đồng một cuốn (là giá tiền photocopy rẻ nhất).

Nghĩ cũng thuơng cho tác giả. Nếu ròng rã đêm ngày năm tháng ấy, công sức lao động vô giá ấy ông đem sử dụng để “tuyên dương công trạng” các vị lãnh đạo, các đại gia thì mỗi “nhân vật” có thể tặng ông khoản tiền hàng chục đến hàng trăm triệu và nhuận bút cuốn sách phải đến nhiều trăm triệu đồng. Đằng này nhuận bút của ông chỉ là mấy thùng sách mà người ta đã dã tâm cướp mất của ông! Cũng may mà con cái dâu rể của ông đều khá giả.

Ông tâm sự với chúng tôi, chỉ mong rồi đây bà con nào có uy thế và giỏi tạo thời cơ thì giúp con cháu ông xuất bản công khai để cuốn sách được phục vụ đông đảo độc giả. Như vậy vong linh ông sẽ được an ủi.

Chúng tôi tin rằng đây là một trong những cuốn sách rất quý trong kho tàng sách Việt Nam có thể giúp cho thế hệ đương thời và mai sau hiểu biết và chiêm ngưỡng về những ngôi sao Dân chủ Nhân quyền đã từng lóe sáng trong đêm dày Việt Nam.

Tôi rất tán thành nhận xét của đại tá Phạm Quế Dương, nhiều bài viết ở đây có giá trị như bản tóm tắt luận văn tiến sỹ. Các bài viết về Nguyễn Trường Tộ, Trần Độ, Văn Cao, Trần Dần, Nguyễn Khắc Viện, Trần Đức Thảo … theo chúng tôi (với khối lượng đọc chỉ ở mức vừa phải) đều là những bài viết đầy đủ nhất và hay nhất về các vị này, tính cho đến nay. Các bài viết về Trần Mạnh Hảo, Phan Đình Diệu, Trần Huỳnh Duy Thức, Đỗ Thị Minh Hạnh, Lê Thi Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên … thì như những bản tráng ca, đầy chất thơ, thấm đẫm tình người.

Địa chỉ liên hệ với tác giả:

Nguyễn Thanh Giang – Số nhà 6 ngõ 235 đường Trung Văn – Quận Nam Từ Liêm – Hanoi. Mobi: 0984 724 165 – Email:giangnguyen1936.

Bài viết này xin được trả lời chung cho những comment mà tôi đã nhận được trên facebook của mình.

N.T.K.C

Tác giả gửi BVN

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, sách, xã hội | Tagged , , , , , , , , , | Leave a comment

GS. Hoàng Xuân Phú : Não lòng với Hiến pháp

Nguồn hoangxuanphu

Quan càng chậm hiểu

Dân càng khổ lâu

"Thưa Quốc hội, bây giờ là cái thời khắc lịch sử quan trọng đã đến rồi. Mỗi vị đại biểu Quốc hội của chúng ta sẽ thực hiện ý chí, nguyện vọng của toàn dân, để thay mặt toàn dân quyết định thông qua cái bản Hiến pháp này, bản Hiến pháp như tôi báo cáo là đã thể hiện được ý Đảng, lòng dân. Chúng ta sẽ biểu quyết toàn văncái… cái dự thảo đã được trình bày. Bây giờ xin đề nghị phòng máy chuẩn bị… phòng máy chuẩn bị thật chu đáo, máy móc thật là thông suốt. Xin mời các vị đại biểu Quốc hội biểu quyết."

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng vừa dứt lời, ống kính đảo chiều, quay về phía gần năm trăm đại biểu Quốc hội. Sau khi đặc tả mấy cánh tay vươn ra bấm nút, ống kính trở lại với hình ảnh của ông Chủ tịch. Gọi là"giám sát trực tiếp", nhưng người xem truyền hình chỉ thấy ông đăm chiêu nhìn vào laptop, rồi quay sang dán mắt theo dõi một thiết bị truyền tin khác. Điều gì khiến Chủ tịch Quốc hội phải căng thẳng như vậy?

Trên màn hình VTV1 bỗng hiện ra bảng thông báo "KẾT QUẢ BIỂU QUYẾT" tại thời điểm 00:36, tức là lúc thời gian bấm nút biểu quyết chỉ còn 36 giây. Lúc ấy đã có 477 người "THAM GIA" biểu quyết, trong đó 453 người biểu quyết "TÁN THÀNH", 3 người biểu quyết "KHÔNG TÁN THÀNH", và 21 người… "KHÔNG BIỂU QUYẾT"?

Thế nào gọi là "KHÔNG BIỂU QUYẾT"? Rõ ràng 21 người ấy đã bấm nút, tức là "có biểu quyết", nên 453 cộng 3 cộng 21 mới bằng 477. Vốn dĩ, tiếng Việt thường gọi thứ ấy là "phiếu trắng". Tại sao Quốc hội lại đẻ ra cái tên kỳ khôi, gọi "có""không"? Đơn giản như vậy mà còn sai, thì còn cái gì đáng tin nữa? Vì cách gọi phi lý ấy, mà báo Tuổi trẻ dật tít "Tại sao đại biểu Dương Trung Quốc không bấm nút?" (mặc dù ông ấy đã bấm nút).

Một giây sau, thêm một người "THAM GIA", nhưng số "phiếu trắng" đột ngột giảm bớt 3, chỉ còn 18. Rồi một giây nữa trôi qua, số người "THAM GIA" vẫn là 478, nhưng số "KHÔNG TÁN THÀNH" tụt xuống 2 và số "phiếu trắng" tụt xuống 16. Tại thời điểm 00:30, đã có 482 người "THAM GIA", số "KHÔNG TÁN THÀNH" vẫn là 2 và số "phiếu trắng" giảm xuống 13. Có lẽ không muốn khán giả truyền hình tiếp tục chứng kiến cái diễn biến kỳ cục ấy, nên ống kính truyền hình quay về phía các đại biểu Quốc hội, phần lớn cũng đang căng thẳng như ông Chủ tịch.

Bảng thông báo "KẾT QUẢ BIỂU QUYẾT" hiện hình trở lại khi còn 4 giây, vào thời điểm 00:04. Lúc đó, số người "THAM GIA" đạt mức cực đại là 488, số "KHÔNG TÁN THÀNH" đạt mức cực tiểu là 0, và số "phiếu trắng" chỉ còn là 3. Cuối cùng, khi thời gian bấm nút kết thúc, số "phiếu trắng" tiếp tục giảm đi 1 và dừng lại ở con số 2. (Xem thông tin chi tiết trong Bảng 1.)

Thời gian còn lại(phút:giây) Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
00:36 477 95,78% 453 90,96% 3 0,60% 21 4,22%
00:35 478 95,98% 457 91,77% 3 0,60% 18 3,61%
00:34 478 95,98% 460 92,37% 2 0,40% 16 3,21%
00:31 481 96,59% 465 93,37% 2 0,40% 14 2,81%
00:30 482 96,79% 467 93,78% 2 0,40% 13 2,61%
00:04 488 97,99% 485 97,39% 0 0,00% 3 0,60%
00:00 488 97,99% 486 97,59% 0 0,00% 2 0,40%

Bảng 1: Kết quả biểu quyết Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 – Ngày 28/11/2013

Nghĩa là, trong khi số người "THAM GIA" biểu quyết tăng dần, thì số "KHÔNG TÁN THÀNH" và số "phiếu trắng" lại giảm dần. Phải chăng, trước khi hiện hình tại thời điểm 00:36 thì số người biểu quyết "KHÔNG TÁN THÀNH" còn cao hơn 3 và số "phiếu trắng" cao hơn 21, khiến ông Chủ tịch Quốc hội và nhiều vị căng thẳng?

Nở nụ cười mãn nguyện, :

"Thưa Quốc hội, với sự giám sát trực tiếp của đồng bào cử tri cả nước, Quốc hội chúng ta đã tiến hành biểu quyết thông qua Hiến pháp với kết quả như sau. Tổng số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết 488 đại biểu, bằng 97,99% tổng số đại biểu Quốc hội. Số đại biểu Quốc hội tán thành 486, bằng 97,59% tổng số đại biểu Quốc hội. Không tán thành 0. Không biểu quyết 2. Như vậy bây giờ xin mời Quốc hội đứng dậy để chúng ta chào mừng cái bản Hiến pháp mới. Dành vỗ tay thật dài."

Và tràng "vỗ tay thật dài" của gần năm trăm vị đại biểu Quốc hội vào sáng ngày 28/11/2013 đã khép lại cái chương có một không hai trong lịch sử lập hiến của chế độ.

Từ đó đến nay đã nhiều tháng trôi qua, đủ để ta bình tâm nhìn lại, mà cùng nhau trao đổi nhằm rút ra những bài học cần thiết. Muốn khắc phục thực trạng đáng buồn và tìm ra con đường dẫn tới tương lai, thì buộc phải nhìn nhận nghiêm khắc và đánh giá thỏa đáng các sai lầm đã và đang vấp phải. Bài này cùng ba bài đã công bố ("Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?", "Hiến pháp vi hiến""Bắt mạch Hiến… nháp") được viết ra với mục đích đó.

Xin kính dâng Tổ quốc và Đồng bào bốn bài viết về Hiến pháp 2013, đọng lại sau những tháng ngày trăn trở, ấp ủ cho tình yêu hiện thân qua trách nhiệm cùng hành động.

Bài viết được chia thành 7 phần như sau:

Phần 1 (Hạ màn dân chủ) điểm lại một số nét đáng chú ý của quá trình lấy ý kiến Nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Phần 2 (Phớt lờ khúc mắc) lược thuật một số ý kiến đóng góp quan trọng, song không được phía cầm quyền chấp nhận.

Phần 3 (Xuất chiêu phút chót) bàn về hai thủ thuật khác thường được tung ra vào giai đoạn cuối nhằm đoạt tỷ lệ tán thành gần như tuyệt đối.

Phần 4 (Thực trạng Hiến pháp) trao đổi về chất lượng của Hiếp pháp 2013.

Phần 5 (Kẻ thua người thắng) đánh giá cái mất, cái được của các bên liên quan.

Phần 6 (Lỗi chung ai gánh?) nhận định về trách nhiệm của bộ máy lập hiến đối với các sai lầm tồn tại trong Hiếp pháp 2013.

Phần 7 (Tâm tư đọng lại) bày tỏ suy tư và nguyện vọng của người viết.

1. Hạ màn dân chủ

"Đang yên đang lành", ai lo việc nấy. Có quyền thì tha hồ thao túng quyền lực, vơ vét càng nhiều thì càng lên cơn khát; thỉnh thoảng lại la lối về "thế lực thù địch", cứ như thể "thế lực tham nhũng" mới là chốn an lành để người người nương tựa. Phận dân thì an phận, quanh năm côi cút làm ăn, chẳng mấy ai dại dột mà dây dưa đến chuyện chính trị. Thành thử, nếu vẫn tiếp tục kiên định, duy trì Hiến pháp 1992, thì có lẽ đã không "thành chuyện". Đằng này, Quốc hội lại "tự diễn biến", ban hành Nghị quyết số 06/2011/QH13 về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 vào ngày 6/8/2011.

1.1.

Giữ nguyên như cũ cũng chẳng hề hấn gì, thì sao phải sửa? Hiến pháp luôn thừa nhận quyền tự do lập hội, không hiến định rằng chế độ này là độc đảng, nhưng nếu bàn đến chuyện đa đảng thì bị chụp mũ, nhẹ thì bị quy là "thoái hóa biến chất", nặng thì bị kết là "phản động". Hiến pháp luôn thừa nhận quyền tự do ngôn luận, nhưng nếu phê phán hay tố cáo giới cầm quyền thì dễ bị chù úm, thậm chí có thể bị tống vào tù ngục vì tội "chống chế độ". Hiến pháp luôn thừa nhậnquyền tự do hội họp, biểu tình, nhưng nếu thực thi quyền ấy, dù chỉ để phản đối thế lực ngoại bang bức hại đồng bào ngư dân, thì cũng bị ngăn cấm, thậm chí bị đàn áp. Hiến pháp không đóng nổi vai trò kiểm soát quyền lực Nhà nước và kiềm chế bộ máy cầm quyền để bảo vệ người dân, mà hay bị lạm dụng để hại người dân một cách "hợp pháp". Dù Hiến pháp viết gì, thì giới cầm quyền vẫn cứ lộng hành và người dân vẫn bị áp bức. Vậy thì sửa làm gì cho tốn công, tốn của?

1.2.

Nếu thích sửa đổi thì cứ sửa đổi, thích bổ sung thì cứ bổ sung. Phân chia lại quyền hạn của mấy ghế trên "thiên đình"chỉ là chuyện nhỏ. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) quyết rồi, thì Quốc hội giơ tay là xong. Cứ tiến hành trong nội bộ theo thông lệ, việc gì phải làm cho lớn chuyện? Thế nhưng, ngày 3/12/2012 Quốc hội ban hành Nghị quyết số 38/2012/QH13 về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Điều 7 Nghị quyết số 38/2012/QH13 quy định:

"Thời gian lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 bắt đầu từ ngày 02 tháng 01 năm 2013 và kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2013."

Ba tháng hiển nhiên là quá ngắn. Thực tế còn ngắn hơn nữa, vì khoảng thời gian ấy chứa trọn "tháng Giêng là tháng ăn chơi". Riêng kỳ nghỉ lễ Tết 2013 của công chức, viên chức đã được ấn định là 9 ngày liên tục, từ 9/2/2013 đến hết ngày 17/2/2013.

Song thời hạn quá ngắn ngủi chẳng khiến các nhà tổ chức phải vội vàng. Tận ngày 8/1/2013 (tức là một tuần sau khi phải bắt đầu "lấy ý kiến…"), Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 mới triệu tập "Hội nghị toàn quốc triển khaiviệc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992". Rồi mới tập huấn cán bộ tổ chức cấp tỉnh thành, cấp quận huyện, cấp phường xã… Thế thì còn lại bao nhiêu ngày để lấy ý kiến, để phân tích và tổng hợp ý kiến?

Ấy vậy mà họ vẫn công bố là đã "tiếp nhận khoảng 15 triệu lượt ý kiến đóng góp", và "tính đến ngày 25/3, Bộ Tư pháp, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo, đã nhận được 29/30 báo cáo kết quả lấy ý kiến của các Bộ, ngành, 59/63 báo cáo kết quả lấy ý kiến của các địa phương". Quả là công nghệ tổ chức siêu việt. Chưa biết chừng, nội dung tổng hợp ý kiến góp ý cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã hòm hòm trong đầu một số nhà tổ chức, ngay từ khi chưa có ai góp ý. Cũng giống như việc lãnh đạo tỉnh nọ đã lên ô tô ra Trung ương xin cứu trợ, mang theo bản báo cáo tổng hợp về hậu quả nặng nề của cơn bão, khi bão còn chưa kịp đổ bộ vào đất liền.

"Hội nghị toàn quốc triển khai việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992" vào sáng ngày 8/1/2013 đã được truyền hình trực tiếp. Nhờ thế, người xem truyền hình hôm đó có dịp được chứng kiến một cuộc họp cấp trung ương mà như thể họp phường. Chủ tọa Nguyễn Sinh Hùng phải "đề nghị…" nhiều lần mà hội nghị vẫn chưa thể bắt đầu. Trong bốn vị được chọn để phát biểu đại diện cho các tỉnh thành, thì một vị chỉ nói được vài câu, giải thích rằng chuẩn bị nhầm diễn văn, vì tưởng đó là hội nghị góp ý nội dung Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Ba vị kia cũng chỉ phát biểu rất ngắn. Đặc biệt, có hai vị kiến nghị mở rộng diện lấy ý kiến Ơ hay, đã gọi là "lấy ý kiến nhân dân" thì còn sót ai nữa đâu, mà phải mở rộng? Hay phải chăng, ngoài thông tin được công bố công khai, còn có chỉ thị ngầm nào đó hạn chế đối tượng "lấy ý kiến"?

1.3.

Theo "Báo cáo tổng hợp ý kiến nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (Đợt 2: từ ngày 06 tháng 03 đến ngày 26 tháng 03 năm 2013)", đã có 4.356.738 người tham gia góp ý, tức là bằng khoảng 91% tổng số cử tri của thành phố này vào thời điểm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII (5/2011). "Ngạc nhiên chưa?" Đặc biệt, "có 96,27% người dân góp ý kiến là đồng ý với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992". Hai thông tin này nói lên nhiều điều.

Một bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp với 124 điều, khoảng 13.800 chữ, nội dung phức tạp đến mức tiến sĩ luật học miệt mài nghiên cứu hàng tuần, đại biểu Quốc hội gắng đọc hàng tháng cũng chưa chắc đã hiểu hết ý tứ và hậu quả của các điều khoản. Vậy mà sau mươi phút, hay sau một đêm ngủ kỹ, hàng triệu người dưới mức "i tờ" về hiểu biết pháp luật đã thản nhiên cầm bút ghi là "đồng ý với toàn văn Dự thảo". Điều đó không chỉ phản ánh sự vô trách nhiệm công dân, mà cả nỗi sợ cường quyền đã tràn ngập mọi hang cùng ngõ hẻm, khiến người người tê liệt, chỉ còn biết hành động như cái máy, chấp hành mọi mệnh lệnh phi lý của nhà cầm quyền.

Dân Việt không hèn, điều đó đã được chứng tỏ trong bao cuộc chiến tranh. Vậy mà hàng triệu người lại run rẩy, phải nhắm mắt ký bừa vào một văn bản mà mình không hề đọc, có đọc thì chưa chắc đã hiểu, và có thể nó còn có hại cho chính bản thân. Vì sao, nếu đó không phải là thành quả của kỹ nghệ thống trị và thủ pháp "lấy ý kiến nhân dân" đã và đang được vận dụng? Với đối tượng (tức người góp ý và văn bản cần được góp ý) như vậy, mà tung ra "Phiếu lấy ý kiến nhân dân thành phố Hồ Chí MInh về dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 1992" với phương án lựa chọn đầu tiên là "Đồng ý với toàn văn Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992", rồi dùng kết quả thu được để chứng minh sự đồng thuận của Nhân dân, thì điều đó cũng đủ cho thấy sự tệ hại trong khâu tổ chức, nếu không tệ về tâm thì cũng tệ về tầm nhận thức. Tổ chức tệ hại, thì làm sao tránh được kết quả tệ hại?

Kết quả "96,27% người dân góp ý kiến là đồng ý" với toàn văn bản Dự thảo Hiến pháp ngoài tầm hiểu biết cho thấy: Kết quả "lấy ý kiến nhân dân" và kết quả bầu cử do bộ máy cầm quyền này tổ chức không đáng tin cậy! Khi giả dối đã trở thành bản năng, ngụy tạo đã trở thành công nghệ, thì với bất cứ nội dung nào, họ cũng thừa sức để có được kết quả như ý, là "đại đa số Nhân dân đều nhất trí tán thành". Những người cổ động cho việc "phúc quyết toàn dân" hay "trưng cầu dân ý" nên lưu ý đến thực trạng này, tránh ép nhà cầm quyền tiêu tốn tiền của Dân để hợp lý hóa những điều sai trái.

Nắm chắc phần thắng trong tay, nhưng thế lực cầm quyền vẫn cương quyết không chấp nhận phúc quyết Hiến pháp, mặc dù chi phí thời gian và tiền của để tổ chức "phúc quyết" ít hơn hẳn so với việc tổ chức "lấy ý kiến…", và "Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp" vốn là cam kết long trọng của chế độ này (tại Điều thứ 21 Hiến pháp 1946) khi mới ra đời. Vì sao? Phải chăng, từ trong sâu thẳm, thế lực đương quyền quyết tâm phủ nhận quyền của Nhân dân đối với việc lập hiến, và không thể chấp nhận trên thực tế rằng Nhà nước này "của Nhân dân""tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân"?

Điều đơn giản mà họ không nhận ra nổi, là cái thủ đoạn ngụy tạo đã làm hại chính bản thân họ. Nếu toàn quốc cũng tương tự như Thành phố Hồ Chí Minh, có "96,27% người dân góp ý kiến là đồng ý với toàn văn Dự thảo…", tương đương với khoảng 96,27% x 91% = 87,61% tổng số cử tri, thì họ không được thay đổi văn bản Dự thảo ấy nữa, vìnếu thay đổi thì làm trái ý đa số cử tri. Trên thực tế, họ vẫn tiếp tục sửa đổi, chưa bàn đến nội dung cụ thể, thì số chữ giảm 4,35%, từ khoảng 13.800 chữ trong bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân, xuống còn 13.200 chữ trong bản Hiến pháp cuối cùng được thông qua.

Để thấy được mức độ hoang đường của "Báo cáo tổng hợp ý kiến nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992", nên đọc kết quả khảo sát của Chương trình Pháp triển Liên Hợp Quốc (UNDP), được công bố trong ấn phẩm "Chỉ số công lý" tại Hà Nội vào tháng 7 năm 2013. Theo đó,

"Ở thời điểm Quốc hội đang bàn thảo về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, tại kỳ họp 5 Quốc hội XIII, có tới42,4% người được phỏng vấn “không từng nghe” hoặc “không biết” về Hiến pháp. Trong số những người nhận là có biết về Hiến pháp, 23% không biết về quá trình xem xét sửa đổi Hiến pháp đang diễn ra."

Lưu ý rằng kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIII diễn ra từ ngày 20/5/2013 đến ngày 21/6/2013, tức là gần hai tháng sau khi đợt lấy ý kiến Nhân dân kết thúc với "thành công rực rỡ". Nếu vận dụng số liệu chung của UNDP cho Thành phố Hồ Chí Minh, thì nhiều nhất là chỉ có khoảng (100% – 42,4%) x (100% – 23%) = 44,35% người dân vừa "từng nghe hay có biết về Hiến pháp", vừa "có biết về quá trình xem xét sửa đổi Hiến pháp đang diễn ra". Vậy thì bằng cách nào để có 91% tổng số cử tri tham gia góp ý và 87,61% tổng số cử tri "đồng ý với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp"?

1.4.

Ngày 6/3/2013 Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ký Công thư khẩn số 250/UBDTSĐHP, trong đó viết rằng:

"Kể từ sau ngày 31/3/2013 cho đến thời điểm 30/4/2013 và cho đến 30/9/2013 trước khi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được trình Quốc hội thông qua, nhân dân vẫn tiếp tục đóng góp ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992."

Tức là, về hình thức, thời hạn góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp được gia hạn thêm 6 tháng.

Còn về thực chất thì thế nào? Sau bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2/1/2013, thì còn mấy bản Dự thảo thay thế khác được ra đời. Ví dụ như bản "Dự thảo tiếp thu, chỉnh lý trên cơ sở ý kiến của nhân dân trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XIII (ngày 17/5/2013)". Nhưng không thấy báo chí chính thống đăng tải, cũng không thấy bộ máy tổ chức "lấy ý kiến nhân dân" in ra để phân phát cho người dân. Chẳng nhẽ dân lại ngây ngô thêm 6 tháng, góp ý cho cái bản dự thảo được đăng tải để lấy ý kiến Nhân dân, nhưng đã bị bỏ đi, hay sao?

Nếu góp ý cho bản mới hơn, thời sự hơn, thì là bản đề ngày 17/5/2013 hay bản sau đó? Lấy đâu ra mấy bản đó để mà đọc, mà góp ý? Liệu "xía vô" mấy văn bản dự thảo không được công khai trên báo chí, và cũng không được chính quyền phân phát, thì có bị kết vào tội làm lộ bí mật nhà nước, chiếm đoạt bí mật nhà nước hay không?

Khi viết những mấy bài về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, tôi muốn trích dẫn nguồn internet gần "gốc" nhất, tức Dự thảo được đăng trực tiếp trên trang mạng của Quốc hội. Nhưng tìm kiếm mãi vẫn không thấy tung tích. Một ngày nọ lần mò đến được trang mạng Dự thảo Online – Nơi các cử tri cùng các đại biểu Quốc hội xây dựng luật. Nhưng, ngay giữa thời gian đang lấy ý kiến Nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, lần nào vào trang chủ của website ấy cũng không tìm được thông tin về nó.

Toàn bộ tin tức, tư liệu trên website được phân thành các mục "Trang chủ", "Dự thảo luật", "Dự thảo pháp lệnh", "Dự thảo nghị quyết", "Tin tức lập pháp", "Chương trình lập pháp", "Thảo luận chính sách""Trợ giúp". Không hề có mục dành cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp! Dùng công cụ "Tìm kiếm dự thảo" của website ấy cũng không thể tìm được Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, vì khi tìm kiếm thì chỉ có thể lựa chọn giữa ba thể loại "Dự thảo luật", "Dự thảo pháp lệnh""Dự thảo nghị quyết". Mãi sau này, khi vào mục "Dự thảo nghị quyết" để tra cứu "Nghị quyết sửa đổi, bố sung Hiến pháp năm 1992", thì chẳng thấy nội dung nghị quyết đâu, mà ẩn sâu trong mục "Toàn văn dự thảo" tại đó lại là nội dung toàn văn của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Thử hỏi, những người quan tâm đến Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng không có đủ kiên trì và kinh nghiệm tìm kiếm trên internet, thì có thể lần mò đến chỗ cất dấu kín đáo ấy hay không? Nếu chẳng có được bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp mới nhất, thì có thể tận dụng 6 tháng được "ban thêm" để góp ý hay không? Tại sao lại "chơi ú tìm" với Nhân dân như vậy?

Quốc hội lập ra trang mạng Dự thảo Online, để làm "Nơi các cử tri cùng các đại biểu Quốc hội xây dựng luật", trong đó trình bày rõ ràng mọi dự thảo thuộc loại "Dự thảo luật", "Dự thảo pháp lệnh""Dự thảo nghị quyết". Thế nhưng lại xử sự "kín đáo" với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, không hề dành cho nó một mục riêng, mặc dù Điều 4 Nghị quyết số 38/2012/QH13 đã viết rõ, rằng:

"Các hình thức lấy ý kiến nhân dân bao gồm: …

c) Thông qua Trang thông tin điện tử của Quốc hội htttp://duthaoonline.quochoi.vn và các phương tiện thông tin đại chúng."

(Xin lưu ý rằng Nghị quyết số 38/2012/QH13 viết sai tên địa chỉ, "htttp" thay vì "http", nên nếu tin tưởng và làm theo Nghị quyết thì không thể truy cập được vào đấy.) Điều đó cho thấy thực chất Quốc hội coi trọng ý kiến của Nhân dân góp ý cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đến mức nào.

1.5.

"Nhân dân có thể cho ý kiến đối với điều 4 Hiến pháp như với tất cả các nội dung khác trong dự thảo, không có gì cấm kỵ cả." Đó là khẳng định của ông Phan Trung Lý, Trưởng Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (tại cuộc họp báo triển khai thực hiện việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 vào chiều 29/12/2012).

Tuyên bố nổi tiếng ấy của vị Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội khiến dư luận sững sờ. Bao trái tim hồn nhiên bỗng dồn nhịp hy vọng. Song những khối óc chai sạn theo thời gian đã trở nên miễn… tin vào thực tâm tôn trọng dân chủ của nhà cầm quyền. Không phải đợi lâu, chưa đầy hai tháng sau, Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ trắng đen:

"Vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chứ gì nữa? Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không? Phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn ‘tam quyền phân lập’ không? Hả? Muốn ‘phi chính trị hóa quân đội’ không? Người ta đang có những quan điểm đấy. Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa! Chỉ ở đâu nữa nào? Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể, thì nó là cái gì…ì? Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này."

Đề nghị "bỏ Điều 4 Hiến pháp", "đa nguyên đa đảng""tam quyền phân lập" không phải là những ý kiến dị thường, mà chỉ nhằm giúp cho Hiến pháp Việt Nam tiến tới hòa nhập với cộng đồng các hiến pháp lành mạnh trên Thế giới. Hiển nhiên, những trao đổi ấy hoàn toàn phù hợp với bối cảnh góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Phải có tư tưởng chính trịkhỏe khoắn và hiểu biết tương ứng thì mới đưa ra được những đề nghị ấy. Phải có đạo đức và lối sống vì Tổ quốc, vì Nhân dân thì mới vượt qua nỗi sợ, bất chấp nguy hiểm để công khai đề nghị như thế.

Vậy mà "các luồng ý kiến"ấy lại "có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống", khiến Tổng Bí thư ĐCSVN phải chỉ thị "các đồng chí quan tâm xử lý cái này". Riêng điều đó cũng đủ để chỉ ra, các ngài ấy có thực tâm muốn Nhân dân góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp hay không.

2. Phớt lờ khúc mắc

Nhà cầm quyền đã kêu gọi góp ý và đã nhận được nhiều ý kiến góp ý. Vậy họ tiếp thu đến mức nào?

2.1.

Ngay cả trong nội bộ của đảng cầm quyền, việc lấy ý kiến đảng viên cũng chỉ là hình thức. Ngay cả trong nội bộ của các nhà quản lý hay các nhà khoa học, khi lấy phiếu tín nhiệm để chọn cán bộ lãnh đạo cơ quan cũng còn dấu kín kết quả. Vậy thì làm sao có thể thành tâm lấy ý kiến góp ý của mấy chục triệu thường dân?

Những cuộc "lấy ý kiến nhân dân" đã được tổ chức không nhằm "lấy", mà để "cho" người dân niềm tin, để "nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức…" và để "tạo sự đồng thuận của nhân dân", như được viết trong Điều 2 (về "Mục đích của việc tổ chức lấy kiến nhân dân") của Nghị quyết số 38/2012/QH13. Những màn trình diễn như vậy thường được gọi một cách mĩ miều là "sinh hoạt chính trị", vừa để tô điểm cho chế độ, vừa đẩy dân chúng vào hoàn cảnh phải tham gia học tập chính trị.

Thực ra, việc "lấy ý kiến Nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp" quả là cần thiết. Lý do là phải hỏi ý kiến của chủ nhân Hiến pháp – đó chính là Nhân dân. Mục đích là để hoàn thiện Hiến pháp, để Hiến pháp thể hiện đúng ý muốn của chủ nhân. Nhưng khi thế lực cầm quyền không thực tâm coi Nhà nước và Hiến pháp là của Nhân dân, thì khó có thể hy vọng rằng họ sẽ thành tâm "lấy ý kiến Nhân dân".

2.2.

Để Hiến pháp thực sự là của Nhân dân, phản ánh đúng ý chí và nguyện vọng của đa số người dân, thì không thể chỉ "lấy ý kiến Nhân dân" về hành văn hay lỗi chính tả, cũng không thể đơn giản "phúc quyết cả gói", mà phải để toàn dân biểu quyết cụ thể từng điểm then chốt. Ví dụ:

- Có chấp nhận hay không mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?

- Có chấp nhận hay không việc hiến định quyền lãnh đạo đương nhiên và vĩnh viễn của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội?

- Có chấp nhận hay không việc hiến định "đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu"?

Ở các nước dân chủ thì không cần phải biểu quyết những nội dung này, đơn giản vì chúng không thể xuất hiện trong hiến pháp của họ. Chính vì chúng quá bất thường, nên càng cần được biểu quyết toàn dân về từng điểm, nếu muốn ghi vào Hiến pháp của Nhân dân.

Có nhiều nội dung của Hiến pháp cần được thảo luận kỹ càng và đem ra biểu quyết toàn dân. "Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992" (thường được gọi tắt là "Kiến nghị 72", do 72 người ký tên trực tiếp trên văn bản) đã đề xuất một số ý kiến cụ thể. Nó được một đoàn đại biểu gồm 16 nhân sĩ trí thức trao trực tiếp cho ông Lê Minh Thông (Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Phó Ban Biên tập Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992) vào ngày 4/2/2103 tại trụ sở 37 Hùng Vương, Hà Nội.

Nhiều kiến nghị, ý kiến trao đổi đa chiều được tập hợp trên trang mạng "Cùng Viết Hiến Pháp". Đặc biệt, bên cạnh"Tuyển chọn những bài đáng lưu ý đã đăng", còn có Tổng hợp ý kiến khảo sát của 3.122 người, được thu thập từ ngày 1/3/2013 đến ngày 20/3/2013. Kết quả trả lời của 8 trong số 30 câu hỏi khảo sát từ đấy được trình bày ở Bảng 2. Theo đó, 82,3% cho rằng "nên bỏ quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân" và 86,8% cho rằng "không nên đưa vào Hiến pháp quy định về quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam".

Câu hỏi Trả lời:

nên

Trả lời:

Khôngnên

Câu 5: Có nên điều khoản giới hạn quyền con người trong Hiến pháp hay không? 9,8% 80,6%
Câu 10: Có nên bỏ quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân không? 82,3% 10,6%
Câu 11: Có nên đưa vào Hiến pháp quy định về quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hay không? 6,4% 86,8%
Câu 16: Hiến pháp có nên quy định các lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam và bảo vệ Đảng không? 8,4% 91,6%
Câu 19: Có nên quy định trong Hiến pháp cơ chế phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp hay không? 92,5% 2,0%
Câu 21: Có nên thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp không? 88,2% 5,3%
Câu 23: Có nên đưa vào Hiến pháp nguyên tắc "Nhà nước chỉ được làm những gì Hiến pháp và luật cho phép. Nhân dân được làm tất cả những gì Hiến pháp và luật không cấm" không? 85,2% 7,0%
Câu 26: Có nên đưa Dự thảo Hiến pháp 2013 ra trưng cầu dân ýkhông? 89,7% 3,8%

Bảng 2: Tổng hợp ý kiến khảo sát trên trang Cùng viết Hiến pháp

Ngoài ra, còn có Câu 25: "Nếu được bỏ một điều trong Hiến pháp thì bạn bỏ điều gì?" Kết quả thu được là:

63,19% đề nghị bỏ quy định về sự lãnh đạo của ĐCSVN,

12,18% đề nghị bỏ quy định về hạn chế quyền con người,

11,24% đề nghị bỏ quy định về sự trung thành của lực lượng vũ trang với ĐCSVN,

8,27% đề nghị bỏ quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân.

Có thể ai đó cho rằng các chủ nhân trang mạng ấy chỉ muốn thể hiện quan điểm một chiều, chống lại quan điểm chính thống của nhà cầm quyền. Không phải như vậy! Động cơ xây dựng và thái độ khách quan, mềm mỏng được thể hiện rõ trong bản tuyên bố "Một số ý kiến về việc sửa đổi Hiến pháp", do 8 người tham gia làm trang mạng "Cùng Viết Hiến Pháp" (Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Ái Cần, Vũ Công Giao, Trần Kiên, Bùi Đức Lại và Nguyễn Xuân Long) cùng ký tên và công bố ngày 30/3/2013. Ví dụ, về Điều 4, họ đã viết như sau:

"Chúng tôi cho rằng việc bổ sung Điều 4 vào Hiến pháp 1980 nói về sự lãnh đạo của Đảng là không thực sự cần thiết, nhưng đã là một thực tế lịch sử. Chúng tôi cũng cho rằng trong hoàn cảnh hiện tại, việc bỏ Điều 4 có thể dẫn đến những hậu quả chưa thể lượng định đối với tiến trình phát triển trong ổn định của đất nước…"

2.3.

Thực ra, điều quan trọng nhất, đáng bàn nhất không phải là Điều 4, mà là: Nhà cầm quyền có thực sự tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp hay không?

Nếu Hiến pháp chỉ đóng vai trò "hàng mã", để mê hoặc, hù dọa và thống trị muôn dân, nhưng lại bị chính nhà cầm quyền coi thường và tùy tiện chà đạp, thì phí công bàn đến nội dung của nó để làm gì?

Một số người đề nghị thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp (gọi tắt là "bảo hiến"). Tên gọi này nghe chừng không ổn, vìHiến pháp là công cụ để bảo vệ Nhân dân và Nhà nước, chứ không phải là đối tượng để được bảo vệ. Nhưng ngay cả cái đích khiêm tốn ấy cũng không được chấp nhận, và cuối cùng chỉ xuất hiện ở dạng "hoãn binh" tại Điều 119 Hiến pháp 2013: "Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định."

Cái mà ta cần có, nhằm góp phần đảm bảo rằng mọi điều khoản của Hiến pháp đều được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh, là Tòa án Hiến pháp. Chức năng của nó là giám sát việc thi hành Hiến pháp, chỉ dựa trên văn bản Hiến pháp để phán quyết chuyện đúng sai của các luật và văn bản quy phạm pháp luật, của các quyết định và chính sách do bộ máy quản lý nhà nước ban hành… Nếu điều nào đó bị Tòa án Hiến pháp phán quyết là sai, thì phải sửa, sửa không được thì phải hủy bỏ, chứ tác giả không hề bị giam vào tù ngục. Còn có gì nhẹ nhàng hơn thế?

Nếu thực tâm coi trọng Hiến pháp, muốn nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, thì chẳng có lý do gì để phản đối việc thành lập Tòa án Hiến pháp. Thậm chí còn phải biết ơn chân thành, vì nó giúp ta tránh được vi phạm Hiến pháp. Khi chỉ định làm điều tử tế, thì không sợ phán xử công bằng, bởi "cây ngay không sợ chết đứng". Nếu có sơ suất phạm phải sai lầm, thì cũng chỉ là chuyện thường tình, Tòa án Hiến pháp phán sai thì sửa là xong.

Trong chế độ độc đảng lãnh đạo thì càng an toàn hơn. Lãnh đạo ĐCSVN quyết định nội dung Hiến pháp, sinh ra "Hiến pháp như ý", nên việc giới cầm quyền chấp hành nó cũng chẳng quá khó. Hơn nữa, trong thể chế do ĐCSVN lãnh đạo triệt để và toàn diện, các chánh án và các thẩm phán đều do đảng chỉ định và "dẫn dắt", thì tòa án khó có thể ra phán quyết bất lợi đối với lãnh đạo đảng. Vậy thì còn gì để e ngại?

Hợp lý và an toàn như vậy, mà vẫn cương quyết chống lại việc thành lập Tòa án Hiến pháp, thì vì sao? Phải chăngvì ý định túc trực làm trái Hiến pháp?

Chừng nào nhà cầm quyền còn không chịu chấp nhận thành lập Tòa án Hiến pháp, thì chừng ấy họ không có ý định tôn trọng và tuân theo Hiến pháp, nên Hiến pháp viết gì cũng vô ích, và việc thảo luận về nội dung Hiến pháp chỉ mang ý nghĩa thể thao trí tuệ mà thôi.

2.4.

Đã có nhiều bài viết đầy tinh thần trách nhiệm và nhiều ý kiến tâm huyết được công bố. Cả những người đã từng đảm nhận những cương vị rất cao trong bộ máy nhà nước cũng tham gia. Cả những vị lão thành cách mạng gần một trăm tuổi như Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh cũng lên tiếng. Nhưng nhà cầm quyền đều bỏ ngoài tai.

Rõ ràng là không thể thuyết phục được thế lực cầm quyền rời bỏ những tư duy cố hữu để chấp nhận xây dựng ngay một bản Hiến pháp tiến bộ. Cho nên, ngày 15/11/2014 những người khởi xướng và hưởng ứng "Kiến nghị 72" đã ra lời kêu gọi dừng việc thông qua Dự thảo Hiến pháp sửa đổi 2013, trong đó viết rõ:

"Việc Quốc hội khóa XIII thông qua một bản hiến pháp như thế sẽ chỉ đẩy đất nước lún sâu hơn nữa vào tình trạng khủng hoảng và bế tắc, cướp đi cơ hội chuyển đổi một cách ôn hòa thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ, tạo điều kiện đẩy mạnh sự phát triển và bảo vệ Tổ quốc."

"Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi các đại biểu Quốc hội khóa XIII, với tất cả lương tri và ý thức trách nhiệm của những người có danh nghĩa đại diện cho nhân dân, hãy nhìn thẳng vào thực trạng đất nước, lắng nghe những ý kiến tâm huyết đóng góp xây dựng hiến pháp, để có đủ dũng khí quyết định dừng việc thông qua Dự thảo hiến pháp sửa đổi và trả lại quyền lập hiến cho nhân dân."

Nhiều người khác cũng đề nghị tương tự. Nhưng tất cả đều vô ích.

3. Xuất chiêu phút chót

Thế lực cầm quyền cương quyết thông qua bằng được Dự thảo sửa đổi Hiến pháp vào thời điểm ấy. Không chỉ là thông qua, mà phải thông qua với tỷ lệ tán thành gần như tuyệt đối. Để chắc chắn đạt được mục tiêu, ngoài các thủ pháp sở trường, hai chiêu khác thường đã được xuất ra vào phút chót.

3.1.

Chiêu khác thường thứ nhấthủy bỏ phiên thảo luận cuối cùng ở hội trường về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được dự định vào ngày 18/11/2013. Đổi lại, theo Chương trình phiên họp ngày 18/11/2013 của Quốc hội khóa XIII, "Đại biểu Quốc hội góp ý trực tiếp vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2013) và ghi Phiếu xin ý kiến vềmột số vấn đề quan trọng còn ý kiến khác nhau." Điều đó chứng tỏ những người điều khiển Quốc hội nhận thức được rằng Dự thảo vẫn còn cần được "góp ý", và vẫn tồn tại "một số vấn đề quan trọng còn ý kiến khác nhau". Hơn nữa, không hề thiếu thời gian, thậm chí Quốc hội còn rút ngắn chương trình làm việc của Kỳ họp thứ 6, bế mạc vào chiều 29/11, thay vì vào sáng 30/11 theo kế hoạch ban đầu. Vậy thì tại sao không tăng thêm một ngày thảo luận về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, mà còn quyết định ngược lại, hủy bỏ nốt phiên thảo luận cuối cùng ở hội trường?

Đối với việc hoàn thiện và thông qua các dự thảo hiến pháp và luật, không hình thức nào khác có thể thay thế thảo luận tại cuộc họp toàn thể của Quốc hội. Việc chia nhỏ ra để thảo luận đồng thời ở các tổ chỉ phù hợp với mục đích tập huấn, nâng cao trình độ đại biểu, hay nhằm "chia để trị", chứ không có lợi cho mục tiêu hoàn thiện bản thảo. Đáng buồn hơn, đã triệu tập nhau về Hà Nội, đã có kế hoạch thảo luận ở hội trường, mà lại hủy bỏ kế hoạch; thay vào đó không phải là thảo luận ở tổ, mà là "Góp ý trực tiếp vào Dự thảo""ghi Phiếu xin ý kiến", tức là mỗi người ngồi một nơi và dùng ngòi bút để thảo luận "trực tiếp" với… tờ giấy. Phải chăng, cách làm đó chỉ có ích khi muốn cô lập các đại biểuvô hiệu hóa các ý kiến trái chiều?

Để hoàn thiện dự thảo, những người lãnh đạo chủ chốt và những người tham gia viết dự thảo phải trực tiếp lắng nghe tất cả các ý kiến góp ý, và điều đó chỉ thực hiện được tại các phiên thảo luận ở hội trường. Không ai có thể tổng hợp đầy đủ và chính xác tất cả các ý kiến được trình bày ở tổ hay thông qua văn bản, để rồi báo cáo lại một cách khách quan cho họ. Vì vậy, việc hủy bỏ buổi thảo luận cuối cùng ở hội trường chứng tỏ thế lực cầm quyền không muốn nghe thêm các ý kiến góp ý.

Đối với các đại biểu Quốc hội, thảo luận ở hội trường cũng là hình thức tối ưu. Người nói thì được tất cả các đại biểu khác nghe, người nghe thì được nghe tất cả các ý kiến góp ý. Qua đó có thể tham khảo đầy đủ các quan điểm, mà hình thành hay hiệu chỉnh chính kiến của bản thân. Nếu thấy nhiều người khác cũng nghĩ giống như mình, thì đại biểu càng vững tin hơn để duy trì và bảo vệ chính kiến của mình. Phải chăng, đây chính là điều mà thế lực cầm quyền không muốn, nên mới hủy bỏ buổi thảo luận cuối cùng ở hội trường?

Đặc biệt, đối với cử tri, chỉ khi thảo luận ở hội trường thì họ mới có cơ hội chứng kiến đầy đủ các ý kiến thảo luận thông qua truyền hình hình trực tiếp. Phải chăng, đây cũng là điều mà thế lực cầm quyền muốn tránh?

3.2.

Chiêu khác thường thứ hai là thông qua Hiến pháp bằng cách "biểu quyết cả gói" (mà Chủ tịch Quốc hội gọi là "biểu quyết toàn văn"), và thu được kết quả như trong Bảng 1. Tại sao lại gọi "biểu quyết cả gói""chiêu khác thường"? Bởi vì việc biểu quyết riêng rẽ một số điều còn "khúc mắc", trước khi biểu quyết toàn bộ dự thảo, đã trở thành thông lệ trong hoạt động của Quốc hội. Tại Kỳ họp thứ 6 của Quốc hội khóa XIII, trong thời gian từ ngày 25 đến ngày 29/11/2013, tức là trong cùng một tuần với thời điểm thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Quốc hội đã biểu quyết thông qua năm luật, và cả năm luật đều được biểu quyết riêng rẽ cho hai hoặc ba điều luật, trước khi biểu quyết toàn bộ luật, như được liệt kê trong Bảng 3. (Xem kết quả cụ thể trong các Bảng 6 – 9 tại Phụ lục I.)

Tên luật Luật số Ngày biểu quyết Các điều được biểu quyết riêng trước biểu quyết toàn bộ
Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật 41/2013/QH13 25/11/2013 Điểu 9, Điều 74, Điều 75
Luật tiếp công dân 42/2013/QH13 25/11/2013 Điểu 10, Điều 18, Điều 20
Luật đấu thầu (sửa đổi) 43/2013/QH13 26/11/2013 Điểu 1, Điều 8
Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí(sửa đổi) 44/2013/QH13 26/11/2013 Điểu 1, Điều 5, Điều 7
Luật đất đai (sửa đổi) 45/2013/QH13 29/11/2013 Điểu 26, Điều 126, Điều 166

Bảng 3: Năm luật được Quốc hội biểu quyết thông qua trong thời gian 25 – 29/22/2013

Ví dụ, Luật đất đai số 45/2013/QH13 được biểu quyết thông qua vào sáng ngày 29/11/2013. Trước khi biểu quyết thông qua toàn bộ dự thảo Luật đất đai (sửa đổi), Quốc hội đã biểu quyết riêng rẽ ba điều sau:

- Điều 26 (quy định về những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất),

- Điều 126 (quy định về đất sử dụng có thời hạn),

- Điều 166 (quy định về quyền chung của người sử dụng đất).

Kết quả cụ thể được tổng hợp trong Bảng 4.

Biểu quyết Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
Điểu 26 469 94,18% 460 92,37% 4 0,80% 5 1,00%
Điều 126 466 93,57% 453 90,96% 8 1,61% 5 1,00%
Điều 166 469 94,18% 463 92,97% 2 0,40% 4 0,80%
Toàn bộ 473 94,98% 448 89,96% 20 4,02% 5 1,00%

Bảng 4:Kết quả biểu quyết Luật đất đai (sửa đổi) – Ngày 29/11/2013

Nếu vào website Dự thảo Online của Quốc hội, tại trang Toàn văn dự thảo của Luật đất đai (sửa đổi), ta sẽ thấy 9 bản dự thảo khác nhau. Còn tại trang lưu trữ Toàn văn dự thảo của Hiến pháp sửa đổi thì chỉ có 5 bản dự thảo. Điều đó cũng thể hiện việc sửa đổi Hiến pháp được Quốc hội coi trọng đến mức nào.

Ai cũng biết rằng Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, được trình Quốc hội thông qua vào ngày 28/11/2013, vẫn còn chứa nhiều điều gây tranh cãi ở cả trong và ngoài Quốc hội, ví dụ như:

- Điều 4 (quy định "Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội"),

- Điều 51 (quy định "kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo"),

- Điều 53 (quy định "đất đai… là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý"),

- Điều 65 (quy định "Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành… với Đảng…, có nhiệm… bảo vệ… Đảng…").

Khi phát biểu mở đầu phiên họp thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cũng thừa nhận:

"Thưa đồng bào cử tri cả nước, chúng tôi cũng hiểu rằng một bộ phận, một số người thuộc các tầng lớp nhân dân chúng ta, ngay cả một số vị đại biểu Quốc hội của chúng ta cũng còn có những ý kiến khác."

Hiến pháp là luật gốc, hiến định những vấn đề hệ trọng nhất, nên chứa đựng những vấn đề gai góc nhất của toàn bộ hệ thống văn bản pháp lý. Hơn nữa, Hiến pháp có ảnh hưởng quyết định đến tất cả các luật. Cho nên, càng phải thận trọng hơn, phải chi tiết hơn khi thảo luận và biểu quyết thông qua Hiến pháp, hay ít nhất cũng phải được như khi thông qua các luật. Vậy mà, trong cùng một thời gian, họ cho biểu quyết riêng rẽ một số điều khi thông qua năm luật, nhưng lại chỉ cho "biểu quyết cả gói" khi thông qua Hiến pháp. Vì sao?

Hai chiêu khác thường kể trên cho thấy, thế lực cầm quyền sẵn sàng làm mọi chuyện nhằm thỏa mãn khát vọngKhát vọng gì vậy?

Nhìn vào Bảng 5, ta có thể nhận ra kết quả biểu quyết thông qua Hiến pháp 2013 là tốt nhất, tốt hơn hẳn, tốt đến mức quá bất thường. Đó chính là thành quả của các thủ pháp tổ chức đã được vận dụng để thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Nhưng Bảng 5 cũng cho thấy, cho dù không tung ra hai chiêu khác thường, thì đại đa số đại biểu của Quốc hội này vẫn bấm nút "TÁN THÀNH", và tỷ lệ "TÁN THÀNH" thấp nhất có thể thu được (84,14%) vẫn còn là điều mơ ước đối với nhà cầm quyền ở các nhà nước thực sự dân chủ. Vậy thì tại sao vẫn cố giở chiêu…?

Biểu quyết Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật 436 87,55% 434 87,15% 0 0,00% 2 0,40%
Luật tiếp công dân 430 86,35% 419 84,14% 8 1,61% 3 0,60%
Luật đấu thầu(sửa đổi) 443 88,96% 440 88,35% 0 0,00% 3 0,60%
Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí(sửa đổi) 436 87,55% 432 86,75% 2 0,40% 2 0,40%
Luật đất đai(sửa đổi) 473 94,98% 448 89,96% 20 4,02% 5 1,00%
Hiến pháp 2013 488 97,99% 486 97,59% 0 0,00% 2 0,40%

Bảng 5:Kết quả biểu quyết Hiến pháp và năm luật trong thời gian 25 – 29/11/2013

Trong buổi tiếp xúc với cử tri quận Tây Hồ vào buổi chiều 6/12/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói:

"Người khó tính nhất cũng phải thừa nhận là kỳ họp thành công tốt đẹp, thông qua Hiến pháp với tỉ lệ gần như tuyệt đối – 97,59%. Nếu các đại biểu có mặt đầy đủ thì tỉ lệ cao hơn."

Tức là, tỷ lệ 97,59% tán thành (trên tổng số các đại biểu Quốc hội, kể cả những đại biểu vắng mặt) vẫn chưa cao đến mức khiến ông cảm thấy lo, rằng nó ảnh hưởng xấu đến hình ảnh dân chủ của chế độ, mà ngược lại, vẫn còn muốn "các đại biểu có mặt đầy đủ" để "tỷ lệ cao hơn".

Phải chăng khát vọng "tuyệt đối" ("lãnh đạo tuyệt đối", "quyền lực tuyệt đối", "uy tín tuyệt đối", "tin tưởng tuyệt đối", "trung thành tuyệt đối", "tán thành tuyệt đối"…) đã trở thành căn bệnh mãn tính, một loại nghiện khó cai? Và khi đã lên "cơn nghiện", thì "tuyệt đối" bao nhiêu cũng chưa thỏa mãn, quên cả chừng mực, bỏ qua thể diện của bản thân và bất chấp cảm giác của thiên hạ?

4. Thực trạng Hiến pháp

Tác phẩm nào cũng khó tránh được khen chê – Khen thường quá đà, chê hay quá mức. Hiến pháp cũng rơi vào hoàn cảnh ấy. Thời gian sôi động đã qua, giờ đây ta có thể bình tâm hơn mà tìm hiểu về thực trạng của Hiến pháp.

4.1.

Trước khi các đại biểu Quốc hội bấm nút thông qua Hiến pháp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã tuyên bố:

"Tôi xin khẳng định lại bản Hiến pháp được chuẩn bị thông qua lần này và hôm nay trình bày trực tiếp trước đồng bào cử tri cả nước đã thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, ý Đảng hợp với lòng dânđể chúng ta có thể yên tâm thông qua. Đây là một bản Hiến pháp đã chuẩn bị công phu, đã chuẩn bị tâm huyết với tinh thần làm việc tận tụy, khoa học và thực sự là một bản Hiến pháp đổi mới cho một thời kỳ mới của đất nước chúng ta."

Sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp 2013, Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: "Bản Hiến pháp mới đã nói lên tiếng nói của 90 triệu đồng bào."

4.2.

Trong "Lời Tạm Biệt" của trang mạng "Cùng Viết Hiến Pháp", với bản tính điềm đạm, thận trọng và tinh thần xây dựng vốn có, những tên tuổi như Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn… vẫn phải đưa ra nhận xét ngược lại, rằng:

"Chúng tôi thấy cần nói rõ là ở những điểm quan trọng nhất, Hiến pháp sửa đổi mà Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 khác hẳn với những đề xuất của chúng tôi và đa số ý kiến bạn đọc."

Ngày 29/11/2013 những người khởi xướng, hưởng ứng "Kiến nghị 72" và đã ký lời kêu gọi dừng việc thông qua Hiến pháp sửa đổi (gửi Quốc hội ngày 15/11/2013) ra "Tuyên bố về Hiến pháp sửa đổi", trong đó có đoạn:

"Quốc hội khóa XIII đã thông qua một bản hiến pháp thể chế hóa cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam,coi thường nguyện vọng của đông đảo nhân dân muốn xây dựng một hiến pháp làm nền tảng cho một chế độ dân chủ với nhà nước pháp quyền thật sự của dân, do dân và vì dân. Như vậy, Quốc hội khóa XIII đã tự chứng tỏ không đại diện cho nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc; hiến pháp này không thật sự là hiến pháp của nhân dân và người dân có thể sử dụng quyền bất tuân dân sự của mình."

4.3.

Đáp lại là hàng loạt bài trên báo chí "lề phải", hết lời ca ngợi bản Hiến pháp mới được Quốc hội thông qua, đồng thời lên án "thế lực thù địch rắp tâm phủ định" giá trị của nó. Chẳng hạn, báo Nhân dân – Cơ quan Trung ương của ĐCSVN – đã đăng bài "Hiến pháp kết tinh ý chí và trí tuệ của toàn dân, toàn Đảng", viết rằng:

"Tuy nhiên, đây đó vẫn xuất hiện những tiếng nói lạc lõng, phủ nhận bản Hiến pháp này; vẫn khư khư bám lấy những luận điểm đi ngược lại lợi ích đất nước và nhân dân ta. Những việc làm thiếu thiện chí đó, tự họ bộc lộ dã tâm xấu xa, bị đông đảo dư luận vạch trần và phê phán."

Theo quan điểm chính thống này, thì có lẽ bản thân tôi cũng bị họ coi là "thiếu thiện chí""đã bộc dã tâm xấu xa", bởi đã viết một số bài góp vào "những tiếng nói lạc lõng, phủ nhận bản Hiến pháp này". Thực ra, nếu nhằm "phủ định" nó, thì chỉ cần vài bài ngắn gọn và đanh thép là quá đủ. Nhưng, để chỉ ra rõ ràng và cụ thể nhiều lỗi và hạn chế đang tồn tại mà khắc phục, tôi đã dành rất nhiều thời gian và công sức viết bốn bài khá dài về Hiến pháp 2013. Ngoài ra còn sáu bài được công bố trong thời gian thảo luận về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, cụ thể là: "Hai tử huyệt của chế độ", "Teo dần quyền con người trong Hiến pháp", "Chỗ đứng của Nhân dân trong Hiến pháp", "Quốc hiệu nào hội tụ lòng Dân?", "Uẩn khúc trong Điều 4 Hiến pháp""Đảng và Nhân dân – Vị thế bị tráo". Tất cả là mười bài viết về Hiến pháp, tổng cộng khoảng 212 trang (khổ giấy A4, phông chữ Arial, cỡ chữ 11, khoảng cách dòng 1,5).

Bài "Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?"xem xét hệ quả của một số thay đổi trong Hiến pháp, trong đó chú trọng đề cập một số nội dung vẫn còn cần thiết của Hiến pháp 1992 nhưng nay bị bỏ rơi, và một số sửa đổi theo hướng tích cực mà người dân nên tận dụng. Đồng thời cũng chỉ ra mấy sai lầm không đáng có thuộc về kỹ thuật lập hiến, khiến ta phải nghi ngờ, không hiểu một số biểu hiện tiến bộ trong Hiến pháp 2013 là sửa nhầm hay đổi thiệt.

Bài "Hiến pháp vi hiến" chỉ ra rằng chính Hiến pháp 2013 cũng vi hiến, vì nó chứa đựng một số điều khoản vi phạm mấy điều quan trọng khác trong Hiến pháp. Ví dụ như quy định "Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội", quy định "đất đai… là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý", và quy định "Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành… với Đảng…, có nhiệm… bảo vệ… Đảng…".

Bài "Bắt mạch Hiến… nháp" phân tích hàng loạt lỗi sơ đẳng thuộc về thuật ngữ, văn phạmkỹ thuật lập hiến trong Hiến pháp 2013, được phân loại theo các hội chứng "tất định", "lắm lời", "ít chữ", "tuyên giáo", "lan man", "đại ngôn", "bất chấp" "vu vơ", để chứng tỏ rằng chất lượng của bản Hiến pháp được Quốc hội thông qua mới đạt tầm bản nháp.

Ba bài ấy góp phần khắc họa thực trạng của Hiện pháp. Tất nhiên mới chỉ phản ánh một phần thực trạng. Sai lầm và hạn chế thì còn nhiều, vẫn chưa kể hết. Những nét tích cực trong Hiến pháp 2013 cũng có, nhưng người viết bàn đến ít hơn, vì việc ngợi ca đã được bao cây bút chuyên nghiệp hưởng lương và nhuận bút đảm nhiệm. Những người viết không công chỉ nên tập trung vào những vấn đề rất tâm huyết, chưa được hoặc còn ít được đề cập đến; chẳng cần và cũng chẳng nên lấn sân, kẻo lại vô tình ảnh hưởng tới "miếng ăn" của người khác.

Những người không có thời gian đọc ba bài viết kể trên, hoặc đọc rồi nhưng vẫn chưa thấy đủ thuyết phục, xin tham khảo thêm ví dụ tiếp theo, để hiểu tầm Hiến pháp.

4.4.

Hiến pháp 1992 quy định:

"Hai tháng trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong." (Điều 85)

"Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là hai tháng kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội khoá mới." (Điều 86)

Hai nội dung tương tự cũng được quy định trong Hiến pháp 1959 (Điều 45, Điều 46) và Hiến pháp 1980 (Điều 84, Điều 85). Nghĩa là chúng đã được duy trì trong ba Hiến pháp liên tiếp và có hiệu lực suốt 54 năm.

Song Hiến pháp 2013 đã sửa đổi như sau:

"Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong." (Khoản 2 Điều 71)

"Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch Quốc hội." (Khoản 3 Điều 83)

Tức là "hai tháng" được thay bằng "sáu mươi ngày". Khi viết "hai tháng" thì có thể hiểu một cách tương đối. Nếu"Quốc hội khoá mới… được bầu xong" 55 ngày "trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ", hay nếu "kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập" sau 65 ngày "kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội", thì không mấy ai thắc mắc, vì vẫn có thể coi như vậy là "khoảng hai tháng". Nhưng khi đã sửa lại thành "sáu mươi ngày", thì có nghĩa là đòi hỏi phảichính xác theo ngày, đúng là "sáu mươi ngày", chứ không thể là "năm mươi chín ngày" hay "sáu mươi mốt ngày".

Vốn chỉ cần "tương đối chính xác", nay lại đòi hỏi "tuyệt đối chính xác". Phải chăng đó là một bước tiến mới của Hiến pháp Việt Nam?

Nhằm đánh giá đúng mức "bước tiến" này, ta hãy cùng nhau thực hiện mấy bước suy luận đơn giản. Để đảm bảo rõ ràng và chính xác, ta sử dụng mấy ký hiệu toán học, chỉ ở tầm sơ đẳng, đơn giản đến mức những ai đã học xong chương trình tiểu học đều không cần phải né tránh.

Gọi ngày Quốc hội hết nhiệm kỳc, ngày bầu cử đại biểu Quốc hộix, ngày bầu xong Quốc hội khóa mớiy ngày kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tậpz.

"Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới… do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch Quốc hội"

nên không thể coi nó là một buổi liên hoan thuần túy, nhằm chia vui giữa những người vừa cùng trúng cử, mà phải là một ngày làm việc thực sự của Quốc hội khóa mới. Do Quốc hội khóa mới không thể họp để bầu những chức vụ quan trọng, như Chủ tịch Quốc hội, trước khi nhiệm kỳ của Quốc hội khóa cũ kết thúc và nhiệm kỳ của Quốc hội khóa mới bắt đầu, nên cz.

"Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội"

nên zx + 60.

Vì thời điểm bầu xong Quốc hội khóa mới y không thể nằm trước ngày bầu cử x, nên x y, và do đó x + 60 ≤ y + 60.

"Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong"

nên yc – 60, tức là y + 60 ≤ c.

Nối bốn bất đẳng thức vừa thu được, ta thu được

cz x + 60 ≤ y + 60 ≤ c.

Vì số lớn nhất và số nhỏ nhất trong dãy bất đẳng thức cùng chiều trên đều bằng c, nên tất cả các thành phần đều phải bằng nhau, tức là c = z = x + 60 = y + 60. Từ đó suy ra

x = y = z – 60 = c – 60.

Như vậy, về thực chất, Hiến pháp 2013 quy định rằng: Ngày bầu xong Quốc hội khóa mới y phải trùng với ngày bầu cử đại biểu Quốc hội x, và ngày ấy phải cách ngày Quốc hội hết nhiệm kỳ c và ngày kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập z đúng 60 ngày.

Nếu đòi hỏi tuyệt đối cố định như thế, thì tại sao không viết thẳng ra, mà vòng vo qua "trước khi" với "chậm nhất"? Chẳng nhẽ muốn thử thách khả năng tính toán của những người thực thi Hiến pháp hay sao?

Đáng nói hơn, đấy là đòi hỏi vô cùng phi lý, không bao giờ thỏa mãn được!

Thật vậy, sau khi kết thúc bỏ phiếu vào bảy giờ tối hay mười giờ đêm (theo quy định của Điều 57 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội), thì ngày hôm sau mới có thể kiểm phiếu giữa "thanh thiên bạch nhật" để những ai quan tâm có thể chứng kiến. Rồi cần một số ngày để tổng hợp và công bố kết quả bầu cử Quốc hội. Ví dụ: Ngày bầu cử Quốc hội khóa XIII là 22/5/2011ngày công bố kết quả bầu cử Quốc hội là 1/6/2011, tức là 10 ngày sau ngày bầu cử đại biểu Quốc hội xthì Hội đồng bầu cử mới công bố kết quả bầu cử.

Có thể quan niệm rằng ngày Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử chính là ngày bầu xong Quốc hội khóa mới yhay không? Không thể như vậy! Bởi vì còn phải chờ đợi tiếp nhận khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Và nếu sau đó khiếu nại được thừa nhận là đúng, thì có thể phải tổ chức bầu cử lại (khi phải hủy bỏ kết quả của đơn vị bầu cử nào đó) hoặcbầu cử thêm (khi phải loại bỏ một vài người vốn được coi là trúng cử và không ai trong số các ứng cử viên còn lại của đơn vị bầu cử đó "được quá nửa số phiếu hợp lệ" để có thể "trúng cử" theo quy định của Điều 70 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội). Vì vậy, chỉ sau khi công bố kết quả bầu cử Quốc hội, chờ đợi và giải quyết xong khiếu nại, rồi đi đến kết luận là không phải bầu cử lại hay bầu cử thêm, hoặc tổ chức xong bầu cử lại hay bầu cử thêm (nếu cần), thì mới có thể coi là "Quốc hội khóa mới… được bầu xong".

Điều 78 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định:

"1. Mọi khiếu nại về kết quả bầu cử phải được gửi đến Hội đồng bầu cử chậm nhất là mười ngày kể từ ngày Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử.

2. Hội đồng bầu cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại…"

Rõ ràng, chỉ có thể coi là không có hoặc đã tiếp nhận đầy đủ "khiếu nại về kết quả bầu cử" sau khi đã đợi đủ "mười ngày kể từ ngày Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử". Do đó, trong mọi trường hợp đều phải chờ đợi khiếu nại đủ 10 ngày. Và nếu có "khiếu nại về kết quả bầu cử" thì "Hội đồng bầu cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại". Tức là thời gian chờ đợi và giải quyết khiếu nại ít nhất phải lớn hơn 10 ngày và nhiều nhất là 10 + 30 = 40 ngày kể từ "ngày Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử".

Vì thế, hiệu số y – x giữa thời điểm "bầu xong" y và ngày bầu cử xphải bằng tổng số của thời gian chờ đợi "Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử" (có thể là 10 ngày như năm 2011), cộng với 10 ngày chờ đợi khiếu nại (theo luật định), và cộng với thời gian giải quyết khiếu nại (nhiều nhất là 30 ngày theo luật định). Nghĩa là hiệu số y – x ít nhất phải lớn hơn10 và có thể bằng10 + 10 + 30 = 50 ngày. Ấy vậy mà Quốc hội khóa XIII quy định trong Hiến pháp 2013 rằng hiệu sốy – x phải bằng 0 ngày.

Chưa hết, trong trường hợp phải tổ chức bầu cử lại thì có thể phải mất đến 15 ngày, và nếu phải bầu cử thêm thì có thể mất đến 20 ngày, theo quy định của Điều 71Điều 72 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (xem Phụ lục II). Do "ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật" (Điều 54 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội), nên khoảng cách giữa hai ngày bầu cử kế tiếp ít nhất là 7 ngày. Trong những hoàn cảnh ấy, hiệu sốy – x có thể còn tăng thêm từ 7 đến 15 hay 20 ngày, khiến cái đích hiến địnhy – x = 0 của Quốc hội khóa XIII càng trở nên xa vời.

Cần phải khẳng định rằng: Dù có sửa lại Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, thì cũng không bao giờ có chuyện ngày bầu cử đại biểu Quốc hội x trùng với ngày bầu xong Quốc hội khóa mới y, vì tổng thời gian cần thiết để tổng hợp vàcông bố kết quả bầu cử Quốc hội, để chờ đợi và giải quyết khiếu nại, để tổ chức bầu cử lại hay bầu cử thêm (nếu cần) bao giờ cũng lớn hơn nhiều so với 0 ngày.

Tóm lại, không thể tồn tại ngày bầu cử đại biểu Quốc hội x, ngày bầu xong Quốc hội khóa mới y và ngày kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập z thỏa mãn quy định của Điều 71Điều 83 Hiến pháp 2013.

Như vậy, Điều 71Điều 83 mâu thuẫn với nhau, nói cách khác là chúng vi phạm lẫn nhau, nên cả hai đều thuộc vào những điều khoản hiến định vi hiến (đã được đề cập trong bài "Hiến pháp vi hiến"). Hậu quả là: Dù chọn bất cứ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội x nào và bất cứ ngày kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập z nào thì cũng vi phạm Điều 71 hoặc Điều 83. Do đó, nếu không sớm khắc phục lỗi hiến định này, thì sắp tới việc chuyển tiếp nhiệm kỳ Quốc hội sẽ chẳng thoát khỏi vi phạm Hiến pháp.

Hiến phápvi hiến, đến mức không thể chọn được ngày bầu cử đại biểu Quốc hội xngày kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập z một cách hợp hiến, thì có xứng đáng là Hiến pháp hay không? Lỗi này cùng với đống lỗi đã được chỉ ra trong ba bài "Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?", "Hiến pháp vi hiến""Bắt mạch Hiến… nháp" đã đủ khiến bạn thấy não lòng với Hiến pháp hay chưa?

Còn gì đơn giản và thiết thân đối với Quốc hội hơn so với việc hiến định ngày bầu cử đại biểu Quốc hộingày kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập? Những thứ đơn giản và thiết thân như vậy mà còn hiến định sai, thìcó xứng đáng với vai trò lập hiến hay không?

Trớ trêu thay, bộ máy lập hiến đã quá tập trung năng lực vào việc chế tác những điều khoản hiến định mập mờ hằng đánh lừa Dân, cuối cùng lại đuối sức mà sa bẫy của chính mình.

Hiến pháp "lẩm cẩm" như thế, mà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng lại "khẳng định… chúng ta có thể yên tâm thông qua… đã chuẩn bị công phu, đã chuẩn bị tâm huyết với tinh thần làm việc tận tụy, khoa học".

Hiến pháp đầy sai sót rõ ràng như thế, mà bao chiến binh của đảng trên mặt trận văn hóa tư tưởng hết lời ca ngợi, rồi còn lên án những ý kiến phê phán là "lạc lõng", "thiếu thiện chí""bộc lộ dã tâm xấu xa"

Biết não lòng thay ai?

4.5.

Sai lầm của cặp Điều 71Điều 83 trong Hiến pháp 2013 thực ra đã tồn tại trong Hiến pháp 1959 (Điều 45, Điều 46),Hiến pháp 1980 (Điều 84, Điều 85) và Hiến pháp 1992 (Điều 85, Điều 86). Việc thay "hai tháng" bằng "sáu mươi ngày"không phải là nguyên nhân chính tạo ra sai lầm, mà chỉ là nhân tố khuếch đại sai lầm. Riêng việc hiến định thời điểm bầu cử Quốc hộithời điểm triệu tập kỳ họp thứ nhất của Quốc hội, họ đã phạm phải bốn sai lầm thuộc về kỹ thuật lập hiến, lập pháp.

Sai lầm thứ nhất là dùng thời điểm "Quốc hội hết nhiệm kỳ" làm mốc hiến định. Vì "Quốc hội là… cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam" (Điều 69 Hiến pháp 2013) và vì bộ máy Nhà nước không thể "vô chủ", nên bình thường thì nhiệm kỳ của Quốc hội khóa trước kết thúc đúng vào lúc Quốc hội khóa sau tiếp quản nhiệm vụ, thông qua "kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau". Và Điều 3 Luật Tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10 đã qui định như vậy:

"Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là năm năm, kể từ kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa đó đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau."

Cho nên, dùng thời điểm "Quốc hội hết nhiệm kỳ" để xác định thời điểm bầu cử, rồi lại dùng thời điểm bầu cử để xác định thời điểm triệu tập "kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau", như thế là luẩn quẩn, "lẫn đuôi với đầu". Hơn nữa, thời điểm "Quốc hội hết nhiệm kỳ" là yếu tố có thể thay đổi, nên việc dùng nó để quy định hai thời điểm quan trọng khác là"vu vơ", cũng tương tự như quy ước rằng "vị trí cất dấu thư mật cách chỗ… vện vàng nằm đúng một mét về phía tây nam", trong khi chỉ cần lăn mấy vòng do lên cơn ngứa thì vện vàng đã dịch chuyển hàng mét, đó là chưa kể tình huống chàng vện vàng chợt thấy nàng mực đen vẫy đuôi phía xa xa…

Sai lầm thứ hai cũng tương tự, thuộc loại "bắt mèo vồ đuôi". Đó là, thay vì quy định về thời điểm phải tổ chức bầu cử Quốc hội (tức là ngày bầu cử đầu tiên), thì lại đưa ra quy định về thời điểm "Quốc hội khoá mới phải được bầu xong". Rõ ràng là không thể đoán trước thời điểm "bầu xong", vì chẳng ai biết trước có phải bầu cử thêm, bầu cử lại hay không, và thực tế phải giải quyết khiếu nại trong bao lâu.

Sai lầm thứ ba là chỉ quy định cận trên, mà không quy định cận dưới cho thời gian bầu cử Quốc hội. Vì thế, nếu chỉ phải thỏa mãn điều kiện "Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong" (Điều 71 Hiến pháp 2013), thì có thể tổ chức bầu cử Quốc hội khóa sau sớm hơn thường lệ mấy năm. Một số tổ chức quốc tế vẫn thường làm như vậy, nên bên cạnh President (Chủ tịch đương nhiệm) còn có President Elect (Chủ tịch đã được bầu cho nhiệm kỳ sau). Có điều, nếu Quốc hội khóa sau được bầu sớm hơn mấy năm, thì điều đó sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu. Chẳng hạn, các vị "đại thần" đương nhiệm sẽ dễ dàng hơn trong việc tác động để mình được tái đắc cử cho khóa sau, bởi nếu ai không ủng hộ thì có thể bị trả thù trong thời gian khá dài. Hơn nữa, đối với các vị đại biểu thực dụng, bình thường họ cố gắng gương mẫu đến cuối nhiệm kỳ, với hy vọng được bầu thêm một khóa nữa, nhưng nếu mới giữa nhiệm kỳ đã biết đó là khóa cuối cùng, thì có thể họ chỉ còn lo tận dụng điều kiện thuận lợi trước khi "gác kiếm".

Sai lầm thứ tư là dùng "ngày bầu cử đại biểu Quốc hội" (tức là ngày bầu cử đầu tiên) để quy định thời điểm "chậm nhất""kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập", trong khi không thể biết trước: Kỳ bầu cử sẽ kéo dài bao lâu? Có xảy ra tố giác gian lận bầu cử hay không? Nếu đến thời điểm "chậm nhất" ấy mà bầu cử vẫn chưa xong thì làm sao có thể triệu tập "kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới"?

Vấn đề đang bàn không phải là đặc thù riêng biệt của Việt Nam, để phải tự lần mò sáng tạo. Chỉ cần cầu thị và khiêm tốn học hỏi hiến pháp các nước khác, thì có thể dễ dàng tránh được những sai lầm sơ đẳng như vậy. Chẳng hạn, Điều 39Hiến pháp CHLB Đức quy định như sau:

"(1) Quốc hội được bầu cho bốn năm, theo các quy định sau đây. Nhiệm kỳ của nó kết thúc khi Quốc hội mới được triệu tập. Bầu cử cho nhiệm kỳ sau xẩy ra sớm nhất là bốn mươi sáu và muộn nhất là bốn mươi tám tháng sau khi nhiệm kỳ bắt đầu. Trong trường hợp giải thể Quốc hội, bầu cử xảy ra trong vòng sáu mươi ngày.

(2) Quốc hội được triệu tập muộn nhất vào ngày thứ ba mươi sau bầu cử."

Nghĩa là:

(a) Thời điểm "nhiệm kỳ bắt đầu" (chứ không phải thời điểm "nhiệm kỳ kết thúc") của Quốc hội khóa này được lấy làm mốc để xác định thời điểm bắt đầu bầu cử Quốc hội khóa sau. Thời điểm "Quốc hội mới được triệu tập"thời điểm "nhiệm kỳ kết thúc" của Quốc hội khóa này. Tức là thời điểm "nhiệm kỳ kết thúc" chỉ là hệ quả, chứ không phải là tiền đề để xác định các thời điểm khác.

(b) Hiến pháp chỉ ràng buộc về thời điểm bắt đầu bầu cử, chứ không ràng buộc về thời điểm bầu cử xong (vì không thể biết trước bầu cử sẽ kéo dài bao nhiêu lâu).

(c) Có cả cận trên và cận dưới cho thời điểm bắt đầu bầu cử: Không được sớm hơn 46 tháng và không được muộn hơn 48 tháng kể từ khi nhiệm kỳ bắt đầu.

(d) Dùng thời điểm bầu cử xong ("sau bầu cử", chứ không phải là thời điểm bắt đầu bầu cử) để xác định thời điểm"Quốc hội được triệu tập".

Đáng tiếc là sai lầm vừa được đề cập đã tồn tại hơn nửa thế kỷ, nhưng các nhà lập hiến Việt Nam vẫn không nhận ra để khắc phục, mà ngược lại còn làm trầm trọng hơn trong Hiến pháp 2013. Ví dụ này cho thấy sai lầm có thể được bộ máy cầm quyền kiên định duy trì và khuếch đại như thế nào.

5. Kẻ thua người thắng

Đã tranh đua thì có kẻ thua, người thắng. Có điều, trên chính trường, đôi khi đinh ninh thắng lại là thua, và đã tưởng thua thì hóa ra là thắng.

5.1.

Điều khiển Quốc hội thông qua bản Hiến pháp được sửa đổi theo ý muốn, với tỷ lệ tán thành gần như tuyệt đối, thế lực cầm quyền coi đó là thắng lợi rực rỡ. Với tinh thần "quyết chiến quyết thắng", họ đã bỏ ngoài tai mọi phản biện khuyên can, luôn sẵn sàng phản công bằng cách chụp mũ "tư tưởng thù địch". Độc chiếm cabin, ỷ vào tay lái, họ hưng phấn nhấn ga cán đích. Nhưng phải chăng, đằng sau cái đèo được coi là đích ấy là… vực thẳm chờ chế độ? Liệu còn vực thẳm nào sâu hơn thất vọng trong lòng Dân?

Một lực lượng khác cũng được chia sẻ thắng lợi, đó là những người theo quan điểm "cách mạng dân chủ triệt để". Họ cho rằng chỉ có được xã hội dân chủ ở Việt Nam thông qua một cuộc cách mạng triệt để, tức là phải xóa sạch dấu vết của chế độ độc tài. Bởi họ hoàn toàn không tin vào khả năng tỉnh ngộ và thích nghi dân chủ của "tập đoàn lợi ích cầm quyền". Bằng việc khư khư khẳng định trong Hiến pháp 2013 những quan điểm đã quá lỗi thời và lộ rõ là sai lầm, có hại cho Dân tộc và Nhân dân, bất chấp bao ý kiến góp ý tâm huyết, thế lực cầm quyền đã phụ họa cho xu hướng "cách mạng dân chủ triệt để" (không đội trời chung); đồng thời cũng phủ nhận quan điểm "cách mạng dân chủ ôn hòa"của xu hướng chấp nhận những người xứng đáng trong giới đương quyền có chỗ đứng hợp lý trong tương lai Dân tộc.

Phần lớn những người theo quan điểm "cách mạng dân chủ ôn hòa" đều hiểu rằng việc xây dựng một nhà nước dân chủ đích thực, thực sự của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, là một quá trình phấn đấu lâu dài và gian nan. Dẫu biết rằng "ôn hòa" thì lâu tới đích, nhưng vẫn muốn kiên trì "ôn hòa" để tránh lãng phí máu Dân và hỗn loạn xã hội. Hơn nữa, dân chủ hóa xã hội là quá trình bền bỉ nâng cao dân trí, vì dân chủ chỉ hình thành và trụ vững trong xã hội mà đa số người dân đủ giác ngộ và chín muồi dân chủ. Khi tỉnh táo và đã sống đủ lâu trong chế độ này thì khó có ảo tưởng, nên cũng chẳng bị bất ngờ về việc nhà cầm quyền thông qua bằng được Hiến pháp như vậy. Song vẫn dội lên một đợt sóng buồn trong lòng những người cố nuôi hy vọng vào hiệu quả của cuộc đấu tranh ôn hòa vì dân chủ xã hội.

5.2.

Tổn thất nặng nề nhất rơi vào Quốc hội. Thông qua Hiến pháp như vậy với tỷ lệ 486/488 = 99,59% "TÁN THÀNH", 0/488 = 0% "KHÔNG TÁN THÀNH" và 2/488 = 0,41% "phiếu trắng" (tính trên tổng số các đại biểu đã tham gia biểu quyết), Quốc hội khóa XIII đã đồng thanh tự phủ định mình một cách toàn diện và triệt để.

Nhất trí thông qua một bản Hiến pháp có hại cho Nhân dân và trái với nguyện vọng của đông đảo cử tri, Quốc hội khóa XIII đã tự phủ định tư cách cơ quan đại diện của Nhân dân, tự phủ định tư cách Quốc hội của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

Đừng tưởng như thế là chứng tỏ lòng trung thành với đảng và chế độ. Nhất trí thông qua một bản Hiến pháp có hại cho uy tín của ĐCSVN và gây ảnh hưởng xấu đối với sự tồn vong của chế độ, các đại biểu Quốc hội khóa XIII không chỉ bộc lộ hạn chế về bản lĩnh, mà còn thể hiện rằng họ thiếu trách nhiệm đối với cả đảng và chế độ của họ. Việc tôn vinh đại biểu "dám bỏ phiếu trắng" cũng phản ánh cách nhìn vô vọng của dư luận đối với bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm của đại biểu Quốc hội.

Nhất trí thông qua một bản Hiến pháp chứa đựng nhiều quy định phi lý có hại cho sự phát triển của Đất nước, lạc hậu so với thời cuộc và quá tụt hậu so với tầm lập hiến phổ biến trên Thế giới, Quốc hội khóa XIII đã tự phủ định trình độ và khả năng nhận thức của mình.

Nhất trí thông qua một bản Hiến pháp phạm quá nhiều lỗi thô thiển, không chỉ về lô-gíc, văn phạm và thuật ngữ, mà cả về kỹ thuật lập hiến lập pháp, Quốc hội khóa XIII đã tự phủ định khả năng lập hiến và lập pháp của mình.

Mất mát lớn nhất thuộc về những đại biểu Quốc hội đã từng được đông đảo cử tri tín nhiệm và đặt nhiều kỳ vọng. Với những ý kiến góp ý trái với "định hướng chỉ đạo", nhưng lại hợp lý và hợp với lòng Dân, họ đã thắp lên trong đêm đông ngọn lửa hy vọng. Buồn thay, phần lớn các góp ý mang tính then chốt đã không được chấp nhận. Buồn hơn nữa, với một dự thảo có nhiều điểm trái với chính kiến của bản thân (đã được trình bày công khai trên diễn đàn Quốc hội và đã được các phương tiện truyền thông phổ biến rộng rãi), lẽ ra phải bấm nút "KHÔNG TÁN THÀNH", hoặc ít nhất cũng bỏ"phiếu trắng", song họ lại quyết định "TÁN THÀNH". Điều đó khiến bao cử tri thất vọng và nuối tiếc đã lạm phát lòng tin.

5.3.

Sau khi chủ động thừa nhận công khai, rằng "Tôi là một trong 2 người không bấm nút" (mặc dù đã bấm cái nút mang tên"KHÔNG BIỂU QUYẾT"), đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc được ca ngợi như người hùng. Trái lại với sự lo ngại của dư luận, đại biểu Dương Trung Quốc không bị lãnh đạo chê trách, mà còn được "trân trọng", như ông đã thổ lộ:"Chủ tịch Quốc hội nói với tôi rằng Quốc hội không những tôn trọng mà còn là trân trọng nữa."

Tất nhiên, nếu không "trân trọng" và tin tưởng cao độ, thì tổ chức đã chẳng cơ cấu ông vào Quốc hội suốt 3 khóa liên tục (XI, XII và XIII). Được "trân trọng" cũng phải thôi, bởi phát biểu của ông thường giúp chứng tỏ tính hữu ích của hoạt động Quốc hội, góp phần giải tỏa bức xúc dư luận vì đề cập đúng những vấn đề mà người dân muốn nghe, nhưng lại không khiến giới lãnh đạo cảm thấy đáng lo ngại vì biết dừng đúng chỗ. Một trong hai lá "phiếu trắng" quá hiếm hoi ấy chẳng gây ảnh hưởng xấu cho kết quả biểu quyết tán thành gần như tuyệt đối, mà ngược lại còn giúp cho việc thông qua Hiến pháp 2013 tránh được vết nhơ dân chủ của trạng thái kỳ dị "100% tán thành". Hơn nữa, khi đã được dự luận đánh giá là thẳng thắn và có tinh thần trách nhiệm, thì lời đảm bảo của đại biểu Dương Trung Quốc về tính dân chủ của quá trình thảo luận và thông qua Hiến pháp 2013 càng có giá trị thuyết phục:

"Như nhiều lần tôi đã phát biểu, và bản thân tôi cũng trực tiếp tham gia vào dự thảo Hiến pháp với tư cách là một thành viên ban biên tập, rằng tôi có thể khẳng định công tác chuẩn bị đã tiến hành trong thời gian dài, đầu tư nhiều công sức, thảo luận dân chủ. Trong quá trình đó, hầu như tất cả ý kiến đều được ghi nhận và có hồi âm, giải trình rõ ràng."

Phát biểu trên khiến ta phân vân, nhớ lại lời "thú nhận" của đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch:

"Trước khi phát biểu tôi xin tự kiểm điểm tôi là thành viên của ban biên tập, tham gia hai chương, nhưng khi ra tới bản dự thảo lần này thì không có chữ nào của tôi cả. Tất cả những đề xuất của tôi không được đưa vào."

Cùng một hình hài "dân chủ", lại được nhìn nhận từ hai tỉnh thành kề cận, tại sao phản ánh của đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh lại vênh với đánh giá của đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai đến như vậy?

Phải chăng, Tiến sỹ Kinh tế và Cử nhân Luật Trần Du Lịch"tư duy thực dụng", nên đo "dân chủ" bằng hiệu quả, tức làmuốn ý kiến góp ý phải được lắng nghe và tiếp thu? Còn nhà sử học Dương Trung Quốc thì có "nhãn quan lịch sử", không quên quá khứ phải "ngậm tăm", nên bây giờ được nói thì dễ hài lòng với mức độ "dân chủ" hiện tại? Chính trị gia có "nhãn quan lịch sử" cũng tốt, nhưng lịch sử thời nay của nước nhà sẽ được thể hiện thế nào dưới "ngòi bút chính khách" của ông Tổng Thư ký Hội Sử học Việt Nam?

Đài Tiếng nói Hoa Kỳ đã đặt ra câu hỏi:

"Theo ông, vì sao lại có nhiều người lên tiếng không đồng tình với việc tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu tán thành Hiến pháp sửa đổi?"

Và nhận được câu trả lời của đại biểu Dương Trung Quốc như sau:

"Rất khó để có thể đánh giá nhiều người không đồng tình. Anh căn cứ vào đâu? Còn nếu dư luận xã hội, nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng, thì rất khó định lượng."

Lạ thay! 7 người đã đủ nhiều để quyết định "thống nhất cả ba nhóm thành một đảng" – Đảng Cộng sản Việt Nam. 5 người đã đủ nhiều để bị quy kết là "tập trung đông người ở nơi công cộng" và bị cấm đoán. 488 người đã đủ nhiều để quyết định thông qua Hiến pháp 2013, áp đặt lên cuộc sống của hơn 90 triệu dân. Ấy vậy mà 72 người ký tên trực tiếpgần 15 nghìn người ghi tên tán thành "Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992" vẫn chưa đủ nhiều để "có thể đánh giá nhiều người không đồng tình" với Hiến pháp 2013.

Nếu thành tâm tin rằng số người không đồng tình là ít, tức là đại đa số người dân đều đồng tình với dự thảo Hiến pháp 2013, thì với tư cách "Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước" (Điều 97 Hiến pháp 1992Điều 79 Hiến pháp 2013), ông phải bỏ phiếu "TÁN THÀNH", chứ sao lại bỏ "phiếu trắng"?

5.4.

Chứng kiến thành công của người khác, 22 đại biểu (thực tế có thể còn nhiều hơn thế) đã biến thắng thành thua có lẽ không tránh khỏi chạnh lòng. Đó là 3 đại biểu đã bấm nút "KHÔNG TÁN THÀNH" và 19 đại biểu đã bấm nút "KHÔNG BIỂU QUYẾT", nhưng sau đó chữa lại thành "TÁN THÀNH". Chưa chắc cấp trên coi việc đính chính của họ là biểu hiện"biết vâng lời", mà có khi còn ngầm đánh giá là "hèn". Giả sử ngược lại, nếu vẫn kiên định giữ nguyên biểu quyết ban đầu, thì biết đâu họ cũng được cấp trên "trân trọng" như ai. Tiếc rằng, cả đời nghị trường chỉ có cơ hội tham gia biểu quyết thông qua Hiến pháp một lần, nhưng họ lại bỏ lỡ cơ hội, chịu thua… chính mình.

Rút kinh nghiệm, để có được kết quả biểu quyết trung thực và khách quan hơn, nên chăng không để các đại biểu Quốc hội chứng kiến diễn biến kết quả biểu quyết khi chưa kết thúc, nhằm tránh ảnh hưởng đến tâm trạng của họ khi bấm nút? Có thể bạn sẽ lập luận là không nên, vì việc để các đại biểu Quốc hội chứng kiến trực tiếp kết quả biểu quyết một cách liên tục sẽ giúp hạn chế biến báo. Nhưng nếu muốn, người ta thừa sức tiến hành thao tác kỹ thuật để sửa kết quả hiển thị ngay trước mắt năm trăm đại biểu Quốc hội.

6. Lỗi chung ai gánh?

Thường thì thành tích dễ có năm bà xưng là mẹ, mười ông nhận là cha. Song sai lầm lại dễ bị rơi vào cảnh mồ côi, khó tìm nổi người tự nguyện đứng ra chịu trách nhiệm.

Hiển nhiên, một tác phẩm như Hiến pháp 2013 không chỉ có năm mẹ mười cha, mà hàng trăm cha mẹ cùng chia sẻ thành công. Song từ đó cũng tòi ra hàng đống lỗi, liệu "những đứa con ngoài ý muốn" đó có lâm cảnh mồ côi?

Những ai phải chịu trách nhiệm về chất lượng của Hiến pháp 2013? Có thể quy về ba thành phần như sau:

(1) Thế lực thực quyền quyết định, tức là những người thuộc thế lựcthực quyền và trên thực tế đã dùngquyền đó để quyết định những nội dung quan trọng nhất của Hiến pháp, đồng thời quyết định đưa Dự thảo ra Quốc hội để biểu quyết thông qua vào thời điểm nào.

(2) Nhóm soạn thảo sửa đổi Hiến pháp, tức là những người tham gia viết và hiệu chỉnh Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

(3) Quốc hội, nơi xem xét, thảo luận góp ý và biểu quyết thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Thành phần Quốc hội được công khai. Thành phần thế lực thực quyền quyết địnhnhóm soạn thảo sửa đổi Hiến phápgồm những ai, thì người ngoài không biết. Mà ta cũng chẳng cần biết. Như vậy sẽ khách quan hơn khi đánh giá.

Ngoài ba thành phần kể trên, còn có Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, gồm 30 thành viên, được nêu tên đích danh trong Nghị quyết số 06/2011/QH13 của Quốc hội. Ở đây, ta không xem xét trách nhiệm riêng của Ủy ban này đối với việc sửa đổi Hiến pháp. Vì sao? Một mặt, có lẽ nó chỉ là tập hợp mang tính đại diện, có ý nghĩa tượng trưng, khiến ai đó bình luận trên internet là nó giống như một Ban lễ tang cấp Nhà nước. Mặt khác, có lẽ nó đóng vai trò trung gian giữa ba thành phần kể trên, và mọi thành viên của Ủy ban đều có mặt trong một, hay hai, hay cả ba thành phần kể trên.

6.1.

Do thế lực thực quyền quyết định những nội dung quan trọng nhất của Hiến pháp, nên họ cũng phải chịu trách nhiệm về những hạn chế của chúng, đặc biệt về những nội dung bất hợp lý đã được nhiều người góp ý, nhưng họ vẫn cương quyết bảo lưu. Ví dụ như những điều được đề cập trong bài "Hai tử huyệt của chế độ" và bài "Đảng và Nhân dân – Vị thế bị tráo". Vì bị thế lực thực quyền xác định là "bất di bất dịch", nên một số nội dung phi lý được duy trì trong Hiến pháp 2013, nhưng với tư cách vi hiến, như đã được trình bày trong bài "Hiến pháp vi hiến".

Bản thảo chứa nhiều lỗi và nhiều điểm gây bất đồng là chuyện thường tình. Còn lỗi thì còn sửa. Còn bất đồng thì còn trao đổi để thiết lập phương án dung hòa. Tiếc rằng, thế lực thực quyền đã quyết định dừng quá trình thảo luận nhằm hoàn thiện bản thảo, và thông qua bằng được Dự thảo vào thời điểm ấy. Cho nên, dù các lỗi bắt nguồn từ đâu, thì trách nhiệm về sự tồn tại của chúng trong Hiến pháp 2013 trước hết thuộc về thế lực đã quyết định dừng lại, không được sửa tiếp. Và trách nhiệm về việc thông qua Hiến pháp ở tầm bản nháp trước hết thuộc về thế lực đã quyết định phải thông qua vào thời điểm ấy.

Trách nhiệm về từng vấn đề cụ thể thực sự thuộc về những cá nhân nào? Điều đó chỉ những vị trong cuộc mới biết. Người ngoài có thể suy đoán, nhưng nếu chỉ đoán mò, thì dễ nghĩ oan cho ai đó. Sẽ là quá tùy tiện, nếu mặc nhiên dồn hết mọi sai lầm cho mấy người và phủ định mọi đóng góp của họ, chỉ vì họ hay gây phản cảm. Để góp phần hạn chế bớt những kết luận âm tính do định kiến gây ra, xin nhắc lại hai ký ức dương tính.

Ký ức thứ nhất có được khi đọc bài "Chính phủ kiến nghị: Quyền lập hiến thuộc về nhân dân", đăng trên VietNamNet ngày 11/4/2013 (theo báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh). Bài này thuật lại một số kiến nghị của Chính phủ đối với Dự thảo Hiến pháp. Ví dụ:

"Chính phủ cho rằng cần ghi nhận nguyên tắc các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được bảo đảm thực hiện bằng luật và cũng chỉ có thể bị hạn chế bằng luật."

Đây là điều quan trọng. Vốn dĩ, Hiến pháp Việt Nam hay có mệnh đề "theo quy định của pháp luật", nên không chỉ Chính phủ, mà cả Ủy ban nhân dân cấp phường xã cũng có quyền đưa ra quy định nhân danh pháp luật. Nay, nếu thay từ"pháp luật" bằng từ "luật", thì chỉ Quốc hội mới có thể hạn chế quyền con người và quyền công dân, vì chỉ Quốc hội mới có quyền ban hành luật. Điều đó cũng có nghĩa là: Chính phủ không có quyền ban hành nghị định để hạn chế quyền con người và quyền cơ bản của công dân, và tất cả các nghị định thuộc loại này đều vi hiến.

Có lẽ nhiều người ngạc nhiên trước việc Chính phủ đưa ra một số kiến nghị sửa đổi Dự thảo Hiến pháp theo hướng tiến bộ, mặc dù có thể thu hẹp quyền hạn của Chính phủ. Và ngạc nhiên không kém, khi chỉ một phần kiến nghị theo hướng tiến bộ của Chính phủ được chấp thuận trong bản Hiến pháp 2013.

Việc Chính phủ chủ động kiến nghị thu hẹp quyền hạn của chính mình là một hành vi đáng trân trọng. Đương nhiên, đánh giá này chỉ đúng dưới hai giả thiết:

(a) Nếu kiến nghị của Chính phủ là thật lòng, chứ không phải đóng kịch để lấy lòng dư luận;

(b) Nếu Chính phủ đã thể hiện nhất quán và quyết tâm bảo vệ kiến nghị ấy, chứ không phải "đánh trống bỏ dùi".

Ký ức thứ hai có được khi đọc bài "Dự thảo chưa vang vọng như lời hiệu triệu", đăng trên Tuổi trẻ Online ngày 23/10/2013. Theo đó, Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng đã góp ý một số điểm trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Dự thảo viết:

"Từ năm 1930, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ, hi sinh vì độc lập, tự do của dân tộc."

Và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã góp ý như sau:

"Thực tình mà nói vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin là cả một quá trình, chứ năm ấy tư tưởng cũng còn máy móc giáo điều, trí – phú – địa – hào đào tận gốc – trốc tận rễ hoặc theo tư tưởng quốc tế cộng sản… ta biết rồi."

"Thứ hai là theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì lúc ấy chưa hình thành, cũng là cả quá trình. Tới năm 1991, tại Đại hội lần thứ 7 tranh luận mãi, rằng tư tưởng đạo đức tác phong hay là chỉ có đạo đức tác phong hay chỉ tư tưởng, sau kết luận là tư tưởng Hồ Chí Minh, với một hệ thống quan điểm lý luận. Điều đó thì từ 1930 chưa thể có được."

Ý kiến trên hẳn đã khiến nhiều người bất ngờ và nể trọng, vì bản thân không phát hiện ra, rằng mệnh đề "Từ năm 1930, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, theo tư tưởng Hồ Chí Minh" là hoàn toàn sai về mặt lịch sử. Có lẽ một phần nhờ thế mà hai phạm trù "chủ nghĩa Mác – Lênin" và "tư tưởng Hồ Chí Minh" được xóa khỏi Lời nói đầu của Hiến pháp 2013, sau khi chúng đã tồn tại trong tất cả các phiên bản dự thảo trước đấy.

Đó rõ ràng là kết quả của quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Ngộ ra mà tiến bộ là điều đáng mừng. Có điều, nếu coi việc mình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là quang minh chính đại, đồng thời lại bôi nhọ, lên án những người khác là"thoái hóa", "biến chất" khi họ cũng "biến" cũng "hóa" như vậy, thì rõ ràng là không ổn.

6.2.

Đương nhiên, những người tham gia nhóm soạn thảo sửa đổi Hiến pháp có công đáng kể đối với những điều khoản được sửa đổi theo hướng tiến bộ. Nhưng cũng không thể phủ nhận trách nhiệm của họ đối với nhiều hạn chế trong Hiến pháp 2013. Có thể một số điểm sai trái là do "định hướng" của thế lực thực quyền gây ra. Nhưng đối với những lỗi thuộc về thuật ngữ, văn phạm và kỹ thuật lập hiến, như đã trình bày trong bài "Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?" và bài "Bắt mạch Hiến… nháp", thì nhóm soạn thảo sửa đổi Hiến pháp khó có thể chối bỏ trách nhiệm.

Thông thường, có lẽ chỉ những người có trình độ, kinh nghiệm và uy tín mới được tham gia viết và hiệu chỉnh Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Nhưng họ không được tự do thể hiện tài năng, mà chỉ được viết theo "định hướng". Nếu bao lần viết ra những điều tâm huyết đều bị "bề trên" bác bỏ, thì khó giữ nguyên niềm tin và hưng phấn, nên có thể chỉ còn cầm bút viết theo bản năng và chậc lưỡi chép ra những điều dễ được bên "đặt hàng" chấp nhận.

Ai rơi vào hoàn cảnh ấy cũng khó tránh khỏi ức chế. Thử tưởng tượng xem, giả sử bạn là nhà thơ, được ông bầu tuyển mộ để cùng mấy chục tài năng khác tham gia sáng tác một bản trường ca. Nhưng ông bầu lại chỉ định một số câu "lầm lời lạc điệu" và đòi hỏi chúng phải xuất hiện ở vị trí trang trọng trong bản trường ca. Liệu bạn và tập thể đồng tác giả có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hay không? Cố gắng đề nghị bỏ hay hiệu chỉnh mấy câu định sẵn, nhưng đều bị ông bầu bác bỏ. Đề xuất mấy đoạn tâm đắc để bù lại, thì lại bị tứ phía chữa lem nhem. Liệu bạn có còn đủ hứng thú để tham gia sáng tác hay không?

Sự thể ra sao không rõ, nên cũng chỉ xuất phát từ thiện ý muốn thông cảm mà cố phỏng đoán như vậy. Ít nhất, có một bằng chứng xuất hiện trên internet, có thể minh họa cho bình luận này. Đấy là bản Dự thảo Hiến pháp kèm theo Báo cáo của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 11/4/2013. Trong đó có một số điểm tương đối tiến bộ, được tiếp thu từ các ý kiến góp ý. Bên cạnh phương án giữ nguyên tên nước hiện nay, còn có thêm phương án lấy lại tên "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" (nhằm xóa tính từ "xã hội chủ nghĩa" ra khỏi tên nước). Trong hai phương án hiến định về các thành phần kinh tế,thì có một phương án bỏ nội dung "kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo"… Thế nhưng, bản Dự thảo ấy đã bị vất bỏ và không được công bố trên trang mạng Dự thảo Online. Thay vào đấy, một bản Dự thảo bảo thủ hơn hẳn (đề ngày 17/5/2013) đột ngột xuất hiện và được trình ra kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khoá XIII.

6.3.

Về lý mà nói, Quốc hội phải chịu mọi trách nhiệm về những hạn chế hay sai lầm trong Hiến pháp, vì "Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp" (Điều 83 Hiến pháp 1992). Nhóm soạn thảo sửa đổi Hiến pháp chỉ là bộ phận giúp việc, được chọn ra để giúp Quốc hội soạn thảo Hiến pháp. Dù thế lực thực quyền gồm những ai, thì Hiến pháp có hiệu lực (tức Hiến pháp 1992) cũng không cho cái tập thể ấy quyền lập hiến. Hơn nữa, khi tất cả 16 ủy viên Bộ Chính trị Khóa XI của ĐCSVN đều là đại biểu Quốc hội Khóa XIII, thì có lẽ tất cả thế lực thực quyền quyết định diện mạo Hiến pháp 2013 đều thuộc Quốc hội.

Trên thực tế, Quốc hội do ai lập ra và bằng cách nào, thành phần và thực quyền của nó ra sao, điều đó thì chúng ta đều biết. Nhưng khi bản thân Quốc hội luôn tự khẳng định, rằng "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN Việt Nam", kể cả trong Điều 69 của Hiến pháp vừa được Quốc hội thông qua, thì chẳng có lý do hợp lý nào cho phép Quốc hội đổ trách nhiệm về những hạn chế của Hiến pháp cho thế lực khác.

Dù chúng bắt nguồn từ đâu, bất kể từ thế lực thực quyền hay từ nhóm dự thảo sửa đổi Hiến pháp, thì Quốc hội cũng phải chịu trách nhiệm cuối cùng về những sai lầm và sai sót trong Hiến pháp, vì nếu Quốc hội không thông qua bản Dự thảo ở tầm ấy, thì nó cũng không trở thành Hiến pháp.

6.4.

Vừa rồi ta mới bàn về trách nhiệm của tập thể Quốc hội. Còn trách nhiệm cá nhân của từng đại biểu Quốc hội thì thế nào?

Khi thảo luận về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, từng đại biểu có quyền góp ý, nhưng với thời gian hạn chế, và không phải ý kiến góp ý nào cũng được chấp nhận. Do đó, khả năng chi phối của mỗi đại biểu đối với nội dung của bản Dự thảo là tương đối nhỏ.

Khi bỏ phiếu thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, giá trị biểu quyết của mỗi đại biểu chỉ chiếm tỷ trọng 1/498, nên khả chi phối của mỗi đại biểu đối với kết quả biểu quyết cũng tương đối nhỏ.

Nhưng có một thứ mà mọi đại biểu đều có thể chi phối 100% và cũng phải chịu trách nhiệm 100%, đó là lá phiếu biểu quyết của chính bản thân mình. Khi đã bấm nút "TÁN THÀNH", thì không thể nói là bản thân vô can với sai sót. Khi bấm nút "KHÔNG BIỂU QUYẾT" cho bản Dự thảo còn "có những vấn đề chưa ngã ngũ" và việc thảo luận được"khép lại… hơi nửa vời", thì không thể coi là mình đã làm hết trách nhiệm.

Dự thảo còn nhiều lỗi đáng kể, mà không nhận ra lỗi nào, thì trình độ quá kém. Khi trình độ quá kém thì có thể không tự nhận thức được là mình kém, nên trách nhiệm về hành động sai lầm của đại biểu kém cỏi thuộc về cái tổ chức đã tuyển chọn người ấy đưa vào Quốc hội, để tham gia làm Hiến pháp, làm luật và quyết định những vấn đề trọng đại của Quốc gia.

Nếu biết Dự thảo còn nhiều lỗivẫn bấm nút "TÁN THÀNH" thì nên đánh giá thế nào?

Khi cho rằng mình làm như vậy là do chịu sức ép của thế lực nào đó, thì nên thừa nhận mình thiếu bản lĩnh.

Khi cho rằng mình làm như vậy là do ý thức trách nhiệm đối với đảng hay tổ chức nào đó, thì nên thừa nhận mìnhthiếu trách nhiệm với Tổ quốc và Nhân dân.

Nhiều đại biểu Quốc hội thường lấy "kỷ luật đảng", "ý thức tổ chức""lợi ích chung" để lập luận cho lá phiếu "TÁN THÀNH". Nhưng, nếu chỉ bấm nút theo lệnh của "tổ chức", thì cũng vì "lợi ích chung", nên ở nhà, và "ủy nhiệm" cho Tổng Bí thư hay ai đó trong bộ sậu lãnh đạo "bấm nút thay". Như vậy, vừa tiết kiệm được tiền của Dân chi cho đại biểu đi lại họp hành một cách vô ích, vừa giúp lộ diện danh tính những vị phải thực sự chịu trách nhiệm về những quyết định quan trọng. Ấy là nhằm khắc phục tình trạng "ném đá dấu tay", quyết bừa rồi cuối cùng không có ai đứng ra chịu trách nhiệm.Nếu thực sự có tinh thần trách nhiệm với Dân, thì hãy thôi đóng kịch, rút khỏi cái sân khấu… tiêu tốn tiền của Dân để lừa Dân. Nói thẳng như vậy, để đừng viện dẫn những lý do cao sang, nhằm ngụy biện cho động cơ cá nhân.

6.5.

Một trong những yếu tố quyết định chất lượng lập hiến, lập pháp và hoạch định chính sách là trình độ của các đại biểu Quốc hội.

Hãy thử tưởng tượng, giả sử bản thân chưa hề học nghề Y và chưa hề đứng trước bàn mổ. Vậy mà ông giám đốc lại bảo quý vị là người tốt, được bệnh viện tín nhiệm, giao cho nhiệm vụ cầm dao mổ não ai đó. Hẳn quý vị toát mồ hôi, lắp bắp không nói nên lời. Nhưng ông ấy động viên, cứ mạnh dạn mà làm đi, lúng túng chỗ nào thì sẽ chỉ bảo chỗ ấy… Liệu quý vị có yên tâm cầm dao mổ hay không?

Hoàn cảnh tương tự, giả sử quý vị chưa hề có kiến thức về ngành Luật và chưa hề đọc kỹ để hiểu rõ một luật nào cả. Vậy mà "bề trên" lại bảo quý vị là đồng chí tốt, được "tổ chức" tín nhiệm, cơ cấu vào Quốc hội để tham gia làm Hiến pháp, làm luật và quyết định bao vấn đề trọng đại của đất nước, ảnh hưởng đến cuộc sống của hơn 90 triệu người dân. Thế thì quý vị có nhận lời hay không? Lẽ ra nên băn khoăn và từ chối, thì quý vị lại phấn khởi nhận lời và "xắn tay lao ngay vào việc".

Chỉ riêng buổi chiều ngày 11/11/2011, tại Kỳ họp thứ 2, các vị đại biểu Quốc hội khóa XIII đã biểu quyết thông qua 4 luật:Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13, Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13, Luật Tố cáo số 03/2011/QH13Luật Đo lường số 04/2011/QH13.

Vào cái buổi chiều dơ tay bấm nút biểu quyết ấy, 333 trong số 500 đại biểu (chiếm 66,6%) mới tham gia Quốc hội lần đầu, nghĩa là chưa bao giờ tham gia thông qua luật. Tất nhiên, chưa biết thì vẫn có thể học. Nhưng trong vòng chưa đầy 6 tháng kể từ ngày bầu cử (22/5/2011) và chưa đầy 4 tháng kể từ ngày đầu tiên tham gia họp Quốc hội (21/7/2011), họ đã kịp học bù bao nhiêu kiến thức về Luật? Thời gian bổ túc thì quá ngắn, vào lúc 439 đại biểu (chiếm 87,8%) đã vượt ngưỡng tuổi 40, nghĩa là đã ở độ tuổi học thì chậm, mà học trước lại quên sau. Và lại diễn ra trong hoàn cảnh họ đều đãquá bận rộn với bao trọng trách, liệu có còn thời gian để tĩnh tâm mà học hành một cách nghiêm túc và hiệu quả hay không?

Những nghề khác phải học nghề trước khi hành nghề. Hơn nữa, dù đã trải qua 5 năm Đại học Y một cách chính quy, cũng chưa được phép lập tức cầm dao để mổ não bệnh nhân. Dù đã kết thúc 4 năm Đại học Luật một cách nghiêm túc, cũng chưa được phép leo ngay lên ghế thẩm phán để xử tội giết người. Và dù năm hay mười năm nữa trôi qua, thì cũng không nhiều người trong số đã tốt nghiệp đại học có thể đạt được cương vị cầm dao mổ hay làm thẩm phán.

Ấy vậy mà "nghề nghị sĩ" lại cho phép hành nghề trước khi học nghề: Tham gia lập hiến và lập pháp trước khi học kiến thức "A-Bờ-Cờ" về Luật. Chưa đủ khả năng hiểu rõ và áp dụng đúng Hiến pháp và luật, mà đã được tham gia làm Hiến pháp và làm luật, thì có phải là ngược đời hay không?

Cho đến lúc kết thúc 5 năm nhiệm kỳ Quốc hội, dù cố gắng tranh thủ học thêm, thì chút kiến thức kiểu "chuyên tu", "tại chức", "từ xa", vào tuổi "xế chiều" của những người đang bận bịu với quá nhiều trọng trách, khó mà đọ được với tầm"lõm bõm" của thanh niên trẻ trung sau 4 năm đại học chính quy. Thế nhưng, trong vòng 5 năm "vừa học vừa làm", những nghị sĩ ấy lại có bề dầy thành tích, là đã tham gia ban hành rất nhiều luật, thậm chí ban hành cả Hiến pháp. Có thể tự hào về thành tích làm liều ấy hay không?

6.6.

Không phải ta muốn đòi hỏi các đại biểu Quốc hội phải có bằng cấp. Cùng với các loại chức vụ, bằng cấp đã trở thành hàng hóa giữa thời "xã hội chủ nghĩa định hướng thị trường". Dù bằng cấp "xịn" cũng chưa đủ, mà có thể cũng chẳng cần, thậm chí có thể là vô ích. Tại Quốc hội Khóa XIII, 263 đại biểu có trình độ đại học (chiếm 52,6%) và 228 đại biểu có trình độ trên đại học (chiếm 45,6%). Tức là 98,2% tổng số đại biểu Quốc hội Khóa XIII có bằng cấp đại học trở lên, và có lẽ nhiều bằng cấp trong số đó là "xịn". Tỷ lệ này không phải là cao, mà là quá cao. Nhưng chất lượng làm việc của Quốc hội thì lại quá thấp.

Dư luận xôn xao về một số thông tin trong bài "Đề nghị hình sự hóa mua dâm đồng tính" của Thái Sơn đăng trên Thanh niên Online ngày 16/3/2014. Chẳng hạn:

"Đặc biệt, đại diện Bộ Công an nhận xét để đáp ứng toàn diện, đầy đủ hơn yêu cầu trong tình hình hiện nay,Bộ luật Hình sự sửa đổi sắp tới cần nghiên cứu hình sự hóa nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội đang xảy ra trong thời gian qua như: tổ chức lập hội trái phép, kêu gọi xóa bỏ hoặc thay đổi Hiến pháp…"

Để có thể đem Hiến pháp 1992 ra sửa đổi, thì chắc chắn phải có nhiều người đề nghị hay "kêu gọi… thay đổi Hiến pháp". Để được chấp nhận, thì chắc chắn đề nghị ấy phải được nhiều người trong Trung ương và Bộ Chính trị của ĐCSVN chia sẻ. May cho họ, nếu Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi từ trước đó, đúng như ý muốn của "đại diện Bộ Công an", thì những người đề nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 đã phạm tội hình sự và bị nhốt hết vào tù mất rồi.

"Kêu gọi… thay đổi Hiến pháp" chỉ là thực thi "quyền tự do ngôn luận" (Điều 25 Hiến pháp 2013) và "quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước" (Điều 28 Hiến pháp 2013). Vậy thì tại sao "đại diện Bộ Công an" lại coi việc thực thi hai quyền hiến định ấy là "hành vi nguy hiểm cho xã hội""cần… hình sự hóa"?

Chắc hẳn vị "đại diện Bộ Công an" phải có bằng cấp cao về Luật, thì mới được Bộ Công an cử làm "đại diện" tại "hội nghị tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự diễn ra với sự tham dự của Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc". Hơn nữa, thiên hạ còn xì xào, rằng vị "đại diện Bộ Công an" ấy không phải hạ sĩ quan, mà là cấp tướng, không phải là cử nhân hay thạc sĩ, mà là Giáo sư Tiến sĩ. Nghĩa là bằng cấp thì rất cao, nhưng trí tuệ lại rất thấp. Trong những trường hợp như vậy thìbằng cấp quả là vô ích.

6.7.

Vấn đề cốt lõi không phải là bằng cấp, mà là kiến thứchiểu biết, không thể chỉ chung chung, mà phải cụ thể. Nếu cần thông qua một luật nào đó, thì tấm bằng cử nhân, hay thạc sĩ, hay tiến sĩ về Luật cũng vẫn chưa đủ, mà người tham gia biểu quyết phải đầu tư đủ thời gian để hiểu rõ nội dung và hệ quả của dự luật ấy. Nếu không hiểu rõ mà vẫn tham gia biểu quyết thì vô trách nhiệm. Nếu tổ chức lấy phiếu biểu quyết của những người không hiểu rõ vấn đề thì cũng vô trách nhiệm nốt.

Trước khi thi đấu thể thao phải trải qua kiểm tra doping. Vậy thì, trước khi thông qua Hiến pháp hay một luật nào đó, tại sao không tiến hành kiểm tra trắc nghiệm, và chỉ cho những đại biểu Quốc hội nào có đủ hiểu biết tối thiểu về nội dung văn bản ấy được tham gia biểu quyết?

6.8.

Có lẽ chưa quốc hội nào trên thế giới áp dụng sáng kiến kiểm tra trắc nghiệm như trên. Ở những quốc gia đa đảng, các dự luật được chuyên gia của các đảng liên minh và đảng đối lập tranh luận, mổ xẻ và hoàn chỉnh, trước khi đưa ra Quốc hội để biểu quyết. Khi đó, lá phiếu của phần lớn đại biểu phụ thuộc vào quan điểm của đảng mình, và kết quả biểu quyết chỉ phản ánh tương quan lực lượng giữa các đảng tham gia Quốc hội.

Còn trong chế độ độc đảng toàn trị, thì văn bản luật chỉ thể hiện ý muốn của thế lực cầm quyền. Dù mang ra Quốc hội thảo luận và biểu quyết, nhưng các đại biểu Quốc hội đều do một tổ chức duy nhất chọn ra, nên họ cũng chỉ đại diện cho tổ chức ấy mà thôi. Vì vậy, Hiến pháp và luật giống như những thứ được sinh ra, không phải từ hôn nhân cận huyết, mà là từ hôn nhân đồng huyết. Thế thì làm sao có thể đảm bảo được rằng những đứa con được sinh ra sẽ không bệnh hoạn?

6.9.

Nếu không có kỹ năng mổ mà vẫn liều lĩnh cầm dao mổ, thì sau khi hại mấy mạng người cũng bị bệnh viện nhận ra chân tướng mà sa thải.

Nếu không hiểu biết về pháp luật mà vẫn leo lên ghế chánh án, rồi xử tử oan mấy mạng người, thì dư luận cũng chẳng để yên, và dù đã cống nạp rất nhiều thì cũng vẫn bị "thuyên chuyển công tác".

Song nếu thiếu hiểu biết cần thiết vẫn tham gia ban hành Hiến pháp sai và luật sai, có thể làm hại hàng vạn, thậm chí hàng triệu người, thì lại được bình yên tại vị, tiếp tục phạm thêm sai lầm cho đến hết nhiệm kỳ. Tại sao có thểbất công như vậy?

Sai lầm nghị trường không chỉ dừng lại ở lĩnh vực lập hiến và lập pháp, mà xâm nhập bao quyết định về chính sách, ảnh hưởng đến cuộc sống và tính mạng của muôn dân. Không có hiểu biết về vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, mà vẫn thản nhiên bấm nút "tán thành". Bây giờ, sai lầm đã không thể chối cãi, đã chịu thừa nhận là sẽ lỗ nặng đến năm 2020, mà Quốc hội vẫn lặng thinh, như thể vô can. Không có hiểu biết về điện hạt nhân, mà vẫn "tán thành" xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận. Tại sao có thể hành động vô trách nhiệm, bất chấp hậu quả như vậy?

Với những người tham gia Quốc hội vì lợi ích bản thân thì chẳng nói làm gì. Còn những người vẫn nặng lòng với Dân, với Nước, thì nên tự trả lời câu hỏi: Khi không có đủ trình độ để tham gia lập hiến, lập pháp và quyết định những vẫn đề trọng đại của Quốc gia, hay không có đủ bản lĩnh để phản đối cái sai và bảo vệ cái đúng, thì có nên vào Quốc hội để rồi tòng phạm với những quyết định hại Dân, hại Nước hay không?

7. Tâm tư đọng lại

7.1.

Dù hài lòng hay thất vọng với kết quả của đợt thảo luận sửa đổi Hiến pháp, thì đó cũng là cơ hội để nhiều người bày tỏ chính kiến. Dù có chấp nhận quan điểm của phía bên kia hay không, thì đó cũng là dịp để hiểu thêm lập trường của nhau. Dân chúng có điều kiện hiểu hơn tâm và tầm của thế lực cầm quyền và của các đại biểu Quốc hội. Giới cầm quyền cũng hiểu hơn bức xúc, nguyện vọng và năng lực của Nhân dân. Đấy có lẽ thành quả đáng kể nhất của đợt thảo luận sửa đổi Hiến pháp 1992.

7.2.

Bản thân tôi không tán thành một số nội dung mấu chốt của Hiến pháp 2013, nhưng chưa bao giờ nuôi ảo tưởng rằng thế lực đương quyền có thể chấp nhận sửa đổi chúng ngay trong đợt này.

Nếu thông qua ngay một bản Dự thảo Hiến pháp được sửa đổi nửa vời, có thể chứa một số điều khoản tiến bộ, nhưng vẫn bảo lưu những điểm mấu chốt sai trái, thì có thể trước mắt Dân ta sẽ dễ thở hơn một chút, nhưng lại bị cùm lâu hơn.

Ngược lại, nếu ráng chịu Hiến pháp 1992 thêm một thời gian nữa, đến khi thế lực cầm quyền dễ chấp nhận thay đổi hơn,rồi sửa đổi Hiến pháp một cách cơ bản, xóa những quy định lệch lạc, thì trước mắt Dân ta tiếp tục phải chịu ngột ngạt, nhưng có thể sẽ thoát cùm sớm hơn.

Đối với giới cầm quyền, nếu bằng mọi cách thông qua một bản Hiến pháp được sửa đổi theo hướng bảo thủ, thì sẽ tự phủ định trình độ nhận thức và khả năng thích nghi của chính mình, và sẽ càng khoét sâu hơn nỗi thất vọng trong lòng Dân.

Vì vậy, một trong những mục đích của tôi khi viết mấy bài liên quan đến Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là xới lên, để giới cầm quyền thấy rõ hơn nhiều vấn đề khúc mắc, và nhận ra rất khó dung hòa, mà quyết định tạm gác lại việc sửa đổi Hiến pháp. Như vậy sẽ tốt hơn cho cả hai bên, cả bên Dân lẫn bên cầm quyền.

Ngày 11/4/2013 Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình Ủy ban thường vụ Quốc hội một bản Dự thảo, trong đó tên gọi "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" được đề xuất làm phương án hai, bên cạnh phương án một là giữ nguyên tên nước hiện nay. Điều đó được một số người coi là biểu hiện tiến bộ, làm gia tăng tâm lý chấp nhận Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Trong hoàn cảnh ấy, tôi đã vội viết bài "Quốc hiệu nào hội tụ lòng Dân?", một phần để chỉ ra rằng những thay đổi nửa vời như vậy vẫn chưa đủ.

Với hy vọng mong manh, tôi dự định kết thúc loạt bài can ngăn việc thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp bằng hai bài"Hiến pháp của ai, do ai, vì ai?""Để Hiến pháp thực sự là Hiến pháp". Nhưng cuối cùng thì dừng lại, sau khi công bố bài "Đảng và Nhân dân – Vị thế bị tráo", vì thấy rõ rằng hoàn toàn không có hy vọng lay chuyển được quyết tâm thông qua Hiến pháp của thế lực cầm quyền. Và cũng đành gác lại việc nêu ra nhiều lỗi đã phát hiện từ lâu trong các bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, trong đó có lỗi vi hiến được trình bày ở phần 4.4 của bài viết này. Họ đã không thành tâm tiếp thu, thì việc gì mình phải tốn công góp ý?

Không phải vì thế mà tôi thấy thất vọng, hay thấy uổng công. Bởi mục tiêu chính của tôi khi viết những bài về đề tài xã hội đơn thuần là góp phần nâng cao dân trí, trong đó có cả quan trí. Khi dân trí thấp, thì quan trí cũng thấp và chính quyền nào cũng dễ trở nên tha hóa.

7.3.

Hy vọng bốn bài viết về Hiến pháp 2013 sẽ giúp nhiều bạn đọc hiểu rõ hơn thực trạng của Hiến pháp, đồng thời hiểu thêm về tâm và tầm của những người liên quan.

Hy vọng thế lực cầm quyền ngày càng nhận rõ, rằng nhiều thứ họ vẫn nghĩ và tin là đúng, thì hóa ra sai. Hiểu được mình đang sai, có thể họ vẫn cứ làm, nhưng có lẽ thái độ mềm mỏng hơn và hậu quả nhẹ hơn đôi chút, so với làm sai mà tưởng là đúng. Không phải cứ chức cao thì tầm nhìn bao quát, cái gì cũng tường tận. Đừng ỷ vào quyền lực mà áp đặt, can thiệp sâu vào những nội dung chuyên môn ngoài tầm am hiểu của bản thân. Các chuyên gia có thể chỉ là người giúp việc, chỉ là cấp dưới, nhưng trong lĩnh vực chuyên môn thì họ là bậc thầy. Hãy để họ tự làm và tự chịu trách nhiệm. Và đừng quá coi thường hiểu biết của người dân. Dù im lặng, nhưng Dân không vô tri vô giác, không dễ bị lừa.

Hy vọng những người đã tham gia soạn thảo Hiến pháp, và còn soạn thảo nhiều luật nữa, sẽ bình tâm suy ngẫm, để trả lời các câu hỏi: Hiểu biết của mình đã đủ rộng, kiến thức của mình đã đủ sâu, để xứng đáng với vai trò tham gia viết Hiến pháp và luật hay chưa? Năng lực và bản lĩnh của mình có đủ đáp ứng được đòi hỏi của trọng trách ấy hay không? Và mình đã làm hết trách nhiệm hay chưa?

Mong sao, rồi đây đại biểu Quốc hội sẽ cố gắng học hỏi để hiểu rõ những điều được đem ra biểu quyết, và thận trọng hơn, nghiêm túc hơn, có trách nhiệm công dân hơn khi bấm nút.

Ước rằng, sẽ có những đại biểu Quốc hội tự trọng, trung thực và nặng lòng với Dân, với Nước, đến mức kiên quyếtkhông tham gia biểu quyết một vấn đề nào đó, nếu bản thân không đủ hiểu biết để tự mình đánh giá và đưa ra kết luận.

7.4.

Với tư cách công dân, tư cách cử tri, chúng ta không nên phủ nhận trách nhiệm của bản thân đối với việc Quốc hội thông qua Hiến pháp 2013.

Vì sao ư? Có thể tìm được gợi ý trong bài "Làm sao mà đem kỷ luật Quốc hội được" của Nguyên Hà đăng trên VnEconomy, thuật lại ý kiến của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tại phiên thảo luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào chiều 21/2/2014, khi bàn về trách nhiệm của Quốc hội đối với các quyết định sai lầm:

"Quốc hội không có người đứng đầu, vấn đề đưa ra xin ý kiến cứ trên 250 đại biểu đồng ý thì là được quyết định. ‘Ai kỷ luật Quốc hội, không có, nhưng cái ông tham mưu, ông trình, ông thẩm tra nếu sai là bị xem xét’."

Lạ thay, "Quốc hội không có người đứng đầu", tức là không bị ai điều khiển, vậy thì các đại biểu hay bị "ma xui quỷ khiến" hay sao, mà lại đồng loạt biểu quyết tán thành cả những thứ đáng phải hổ thẹn?

Một Quốc hội thanh thản phủi trách nhiệm như vậy có xứng đáng với nhiệm vụ và quyền hạn được hiến định tại Điều 70 Hiến pháp 2013, là "Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật", "Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước", và bầu các vị trí đứng đầu bộ máy Nhà nước, hay không? Nhân dân ta có cần một Quốc hội như thế hay không?

Chẳng nhẽ các đại biểu Quốc hội chỉ bấm nút cho oai, chứ chẳng cần phải chịu trách nhiệm nào cả? Vậy thì ai phải chịu trách nhiệm về các quyết định sai lầm của Quốc hội? Hãy nghe tiếp cách lý giải của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng:

"Ông cũng đề nghị cần làm rõ vấn đề trách nhiệm, vì trên diễn đàn cũng có đại biểu nói là Quốc hội không thể vô can. Nhưng, ‘nhân dân bầu lên Quốc hội để thay mặt nhân dân, làm sao mà đem kỷ luật Quốc hội được, không có đâu’, Chủ tịch quả quyết."

Có nghĩa là: "Nhân dân bầu lên Quốc hội" ("bầu lên" chứ không phải "bầu ra" như ta thường nói đâu), và Quốc hội chỉ"thay mặt Nhân dân", nên nói cho cùng thì trách nhiệm về mọi quyết định sai lầm của Quốc hội phải thuộc về Nhân dân.

Với việc thẳng thắn phủ định mệnh đề "Quốc hội không thể vô can", Chủ tịch Quốc hội đã giúp cho cử tri cả nước hiểu ra cái sự thật giản đơn là: Quốc hội thay mặt Nhân dân ra quyết định về những vấn đề trọng đại, nhưng sự "giúp đỡ" chỉ dừng lại tại đó. Đừng ảo tưởng rằng Quốc hội sẽ đứng ra chịu trách nhiệm về các quyết định ấy thay cho… Nhân dân. "Không có đâu."

Có lẽ lo rằng còn nhiều người chậm hiểu, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng lại nhấn mạnh tại Hội nghị đại biểu chuyên trách về Luật Đầu tư công sửa đổi vào sáng ngày 11/4/2014, rằng

"Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai."

Khẳng định này cũng khó nghe như mệnh đề: "Kẻ giết người cũng là dân, dân giết dân thì dân chịu, chứ xử tù ai." Nhưng đừng chỉ chú tâm phủ định cái chân lý mà một chính trị gia 68 tuổi đúc kết qua bốn nhiệm kỳ tham gia Quốc hội, từ Khóa X (khi còn là Bộ trưởng Bộ tài chính) đến Khóa XIII (khi đã là Chủ tịch Quốc hội). Nên coi đó là "thuốc đắng dã tật", là thông điệp sâu lắng, nhắn nhủ cử tri cả nước hãy bình tâm suy nghĩ về trách nhiệm của chính mình.

Có thật là chúng ta không hề có trách nhiệm đối với các quyết định sai lầm của Quốc hội hay không? Cứ mỗi kỳ bầu cử Quốc hội, ta lại đứng trước danh sách ứng cử viên hoàn toàn xa lạ. Ngoài mấy dòng lý lịch trích ngang vô hồn thì ta không hề biết gì về họ. Chức vụ và thâm niên chẳng đảm bảo được gì giữa thời tham nhũng ngập tràn bộ máy cầm quyền, càng to thì càng dễ tham nhũng. Bằng cấp chẳng đảm bảo được gì giữa thời "học giả bằng thật", và có nhiều thứ "càng học càng sai", càng khó chữa. Ta chưa hề tiếp xúc với các ứng cử viên, chưa hề nghe họ trình bày hay hứa hẹn, dù trực tiếp hay gián tiếp qua tivi. Vậy mà ta vẫn chậc lưỡi bầu bừa cho mấy cái tên xa lạ, xa lạ đến mức mấy ngày sau đã không nhớ nổi mình từng bầu cho ai.

Nghìn cái chậc lưỡi chưa đủ gợn sóng lăn tăn. Nhưng khi 60 triệu cử tri cả nước cùng chậc lưỡi thì cộng hưởng thành năng lượng khủng khiếp, có thể gây siêu sóng thần nhấn chìm cả Dân tộc. Những lá phiếu vô trách nhiệm của chúng ta đã góp phần đưa bao vị không đủ tâm và tầm vào Quốc hội, để họ tham gia hợp pháp hóa những chủ trương, đường lối, chính sách sai trái và những quyết định tệ hại, gây ảnh hưởng nặng nề cho cuộc sống muôn dân, mà thủ phạm chẳng hề thấy vấn vương trách nhiệm. Vậy thì tại sao ta lại không tự trách ta?

Bản thân ta thường chậc lưỡi bầu cho những ứng cử viên mà mình không hề hay biết, thì sao ta có thể thản nhiên phê phán các đại biểu Quốc hội, khi họ chậc lưỡi bỏ phiếu tán thành những điều mà họ không hề hiểu biết?

Thay vì trốn tránh và dồn hết trách nhiệm lên đầu những vị mang danh "đại biểu", ta hãy tự kiểm điểm một cách nghiêm túc và trả lời câu hỏi: Có nên tiếp tục vô trách nhiệm với bản thân và đồng bào, mà nhắm mắt bầu ra Quốc hội như vậy, rồi phó mặc số phận của mình cho họ, hay không?

Rút kinh nghiệm, từ nay cá nhân tôi sẽ quán triệt nguyên tắc "Không biết không bầu!" Phải tự chịu trách nhiệm về lá phiếu của bản thân, không thể dựa dẫm ỷ lại vào chất lượng đề cử hay sơ tuyển của bất cứ tổ chức nào. Thậm chí, nếu danh sách những người ứng cử tại đơn vị bầu cử của mình chỉ bao gồm những vị mà bản thân không hay biết, hoặc biết láng máng nhưng chẳng đủ để yên tâm tin tưởng, thì sẽ dứt khoát chẳng bầu cho ai cả. Thà chấp nhận để lá phiếu của mình không được tính, còn hơn bầu bừa để rồi tòng phạm hại Nước, hại Dân và hại cả bản thân.

Đấy có lẽ là bài học bổ ích và thiết thực nhất có thể rút ra qua đợt sửa đổi Hiến pháp 1992 và từ thông điệp bộc trực của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

* * * * * * * * * *

Phụ lục I: Kết quả biểu quyết thông qua 4 luật trong hai ngày 25 – 26/11/2013

Biểu quyết Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
Điểu 9 440 88,35% 439 88,15% 0 0,00% 1 0,20%
Điều 74 437 87,75% 430 86,35% 4 0,80% 3 0,60%
Điều 75 436 87,55% 413 82,93% 18 3,61% 5 1,00%
Toàn bộ 436 87,55% 434 87,15% 0 0,00% 2 0,40%

Bảng 6:Kết quả biểu quyết thông qua Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật – Ngày 25/11/2013

Biểu quyết Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
Điểu 10 430 86,35% 409 82,13% 17 3,41% 4 0,80%
Điều 18 422 84,74% 405 81,33% 9 1,81% 8 1,61%
Điều 20 428 85,94% 422 84,74% 2 0,40% 4 0,80%
Toàn bộ 430 86,35% 419 84,14% 8 1,61% 3 0,60%

Bảng 7:Kết quả biểu quyết thông qua Luật tiếp công dân – Ngày 25/11/2013

Biểu quyết Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
Điểu 1 443 88,96% 440 88,35% 2 0,40% 1 0,20%
Điều 8 440 88,35% 432 86,75% 5 1,00% 3 0,60%
Toàn bộ 443 88,96% 440 88,35% 0 0,00% 3 0,60%

Bảng 8:Kết quả biểu quyết thông qua Luật đấu thầu (sửa đổi) – Ngày 26/11/2013

Biểu quyết Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
Điểu 1 437 87,75% 431 86,55% 3 0,60% 3 0,60%
Điều 5 438 87,95% 437 87,75% 1 0,20% 0 0,00%
Điều 7 437 87,75% 435 87,35% 0 0,00% 2 0,40%
Toàn bộ 436 87,55% 432 86,75% 2 0,40% 2 0,40%

Bảng 9:Kết quả biểu quyết Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi) – Ngày 26/11/2013

Phụ lục II

Theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ những"người ứng cử được quá nửa số phiếu hợp lệ" mới có thể được coi "là người trúng cử" (Điều 70).

"Nếu số người trúng cử chưa đủ số đại biểu được bầu do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định cho đơn vị bầu cử thì… phải… đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc bầu cử thêm ở đơn vị bầu cử đó. Trong trường hợp bầu cử thêm thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là hai mươi ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên" (Điều 71 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội).

"Nếu số cử tri đi bỏ phiếu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách cử tri thì… đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đó. Trong trường hợp bầu cử lại, ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất làmười lăm ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên" (Điều 72 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội).

Ngày 16/9/2014

Bản gốc được lưu trữ tại trang

(với định dạng HTMPDF)

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Đặng Kiên Trung : Viết tiếp “Tự sự của một cựu chiến binh trước hiện tình đất n ước!!”

Nguồn viet-studies

Tôi đọc bàiLời bộc bạch của một đảng viên trên một trang mạng, dù không ghi tên nhưng chắc chắn đây là người thật, với những lời bộc bạch cháy lòng rất thật. Bài viết có đoạn gây tôi chú ý:

“… Hồi tháng 4 năm ngoái, tôi được đọc một bản nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Dư luận Xã hội, đây là tài liệu chính thức nghiên cứu theo yêu cầu của Bộ Chính trị . Qua đó nói rõ rằng đảng viên bây giờ đều chán nãn và bi quan, không còn tin vào đường lối chủ nghĩa cộng sản và học thuyết Mác – Lênin nữa, đảng viên chỉ hy vọng vào sự đổi mới của Đảng. Nhưng bây giờ Đảng đã không còn đổi mới nữa, đang đi vào ngõ cụt….

“….

Tôi nghĩ hưu đã lâu, gần gũi tiếp xúc nhiều lớp người; nhất là các đồng chí cũ và một số đảng viên trẻ, hiểu rõ tâm tư, tình cảm của họ. Đoạn viết trong bài nói trên phãn ánh đúng tình hình chính trị – tư tưởng của Đảng hiện nay.

Lớp đảng viên nhiều tuổi như tôi ngày xưa ai cũng vậy, theo Đảng vì yêu nước, căm thù quân xâm lược, hy sinh chiến đấu vì độc lập, tự do Tổ quốc, nào có phải theo Đảng vì chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, vì có biết chủ nghĩa ấy là gì?! Dần dần Đảng tuyên truyền, giáo dục “giác ngộ lý tưởng cộng sản”, tin rằng sau khi hoàn thành “cách mạng dân tộc dân chủ” tiến lên xây dựng “chủ nghĩa xã hội” và “chủ nghĩa cộng sản”, xã hội “không còn người bóc lột người”, mọi người “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, tiến tới “thế giới đại đồng”…

Sống trong đêm dài nô lệ thực dân phong kiến, Đảng “vẽ” bức tranh “lý tưởng cộng sản” như vậy có ai không mong muốn và tin đến mê muội…! Nhưng, qua biến thiên lịch sử, những gì Đảng nói và làm trên đất nước nầy làm cho người ta thất vọng! Đến nay, sau gần 40 năm “non sông thu về một mối”, với đường lối đối nội, đối ngoại tiếp tục sai lầm của Đảng, đưa đất nước chìm sâu trong khủng hoảng kinh tế, chính trị, lòng người bất an, xã hội rối loạn… Ngoài nước, uy tín quốc tế của đất nước giảm sút, Đảng tự đưa cổ vào thòng lọng Trung Quốc … Thật sự ngày nay ai cũng thấy “chủ nghĩa xã hội” – “lý tưởng cộng sản” chỉ là giấc mơ hão huyền, không còn ai tin; kể cả Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng phải thừa nhận “Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”!

Những đảng viên già như tôi ngày xưa giống cô gái trinh bạch chọn nhằm tấm chồng, nhưng “ván đã đóng thuyền”, Đảng đã không còn là Đảng nữa, mà muốn bỏ Đảng đâu phải dể, nhưng không phải không bỏ được! Ở đây tôi chưa nói về chuyện nầy.

Là người gắn bó trọn đời với Đảng, sau năm 1975 tôi chứng kiến và còn là người trực tiếp góp phần thực hiện chánh sách thất nhân tâm của Đảng. Điều làm cho tôi day dứt nhắc mãi vẫn chưa nguôi. Đó là khi “đất nước trọn niềm vui” thì hàng chục vạn sĩ quan, viên chức cao cấp Việt Nam Cộng hòa bị Đảng lừa gạt tập trung “học tập cải tạo”, sự thật là cầm tù, đày ải họ với thời gian quá dài để “triệt tiêu mầm móng chống đối”, ẩn chứa đằng sau đó là dã tâm trả thù vì họ “chống lại nhân dân”, trong khi Đảng không ngớt hô hào “hòa giải, hòa hợp dân tộc” trong suốt cuộc chiến, đến tận ngày xe tăng hút đổ cổng Dinh Độc lập!

Tiếp theo đó, là những “chiến dịch” X1, X2 “cải tạo” tư sản, đổi tiền, đưa dân vùng kinh tế mới… làm tan nhà nát cửa hàng triệu gia đình, gieo đau thương oán hận ngút trời trong lòng người, xô đẩy hàng triệu người bỏ nước vượt biển tìm con đường sống, không biết có bao nhiêu người ngậm oán hờn vùi xác dưới lòng biển…!! Ngày nay, hàng triệu người Việt định cư nước ngoài – nạn nhân chánh sách tàn bạo của Đảng năm xưa, dù có cuộc sống tốt, nhưng làm sao bà con xóa nhòa được ký ức đau thương đó! Đảng kêu gọi bà con “quên đi quá khứ”, “xóa bỏ hận thù”, “hòa giải cùng đồng bào trong nước”… Nhưng, Đảng đã làm gì? Tôi chưa nghe thấy Đảng làm gì thể hiện sự chân thành sám hối những lỗi lầm năm xưa với đồng bào ruột thịt của mình, vẫn giử thái độ “kiêu ngạo cộng sản” cố hữu, nên con đường hòa giải dân tộc còn xa vời! Nhiều lúc suy nghĩ tôi hối tiếc vì ngày xưa mình a tòng với Đảng làm điều ác, tôi cuối đầu xin lỗi những nạn nhân của Đảng, vì đã góp phần gây ra khổ đau cho họ!

Đó là những gì diển ra ở miền Nam sau năm 1975, còn hằn trong ký ức những người đã trưởng thành hồi ấy, dù đang sống trong hay ngoài nước, như một cơn ác mộng! Còn ở “miền Bắc xã hội chủ nghĩa”, ngay từ những năm đầu giành chánh quyền tháng Tám năm 1945, Đảng đã “phóng tay phát động quần chúng” – cụm từ ngày xưa Đảng thường dùng – đấu tranh giai cấp với khẩu hiệu “Trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rể”; rồi đến “cải cách ruộng đất” đẫm máu và nước mắt năm 1953 – 1957; vụ án Nhân văn – Giai phẫm năm 1955 – 1958; chống chủ nghĩa “xét lại hiện đại” năm 1967 – 1973; “cải tạo” tư sản sau năm 1954 v.v… Những sai lầm của Đảng gây ra ở miền Bắc, đẩy hàng triệu người dân rời bỏ quê cha đất tổ di cư vào Nam năm 1954 ngay sau ngày hòa bình lập lại!

Tôi muốn nhắc chuỗi sự kiện đau buồn ngày xưa của đất nước do Đảng gây ra, cùng những sai lầm của Đảng ngày nay trong chánh sách cầm quyền, để các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước đương quyền và các vị “thái thượng hoàng” đầy uy quyền đừng bao giờ quên, nếu trong lòng các vị còn có chút tấm lòng thương nước, yêu dân hãy từ bỏ “ý thức hệ cộng sản”, thoát khỏi thành trì giáo điều, bảo thủ, kiên quyết , dũng cảm “Thay đổi” như Miến Điện đang làm hợp lòng dân, hợp xu thế thời đại, để chuộc lỗi lầm ngày xưa, khắc phục những yếu kém ngày nay của Đảng đưa đất nước vượt qua khó khăn thách thức tiến lên. Nếu các vị không thay đổi, vẫn tiếp tục đưa đất nước dấn sâu con đường hầm không lối thoát, các vị làm cho Đảng cộng sản Việt Nam tội chồng lên tội, lịch sử đất nước sẽ lên án, con cháu đời đời nguyền rũa!!

Tôi nghĩ, đến lúc các bậc đảng viên lão thành, các nhân sĩ – trí thức, cựu chiến binh…trọn lòng vì dân vì nước, trong bài viết trước tôi cho là nhóm người“tinh hoa đất nước” ngày nay, cần tiếp tục có tiếng nói mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa, bằng những hình thức đấu tranh ôn hòa cần thiết, tạo ra áp lực mới, buộc ban lãnh đạo Đảng, Nhà nước phải lắng nghe, chấp nhận sự thay đổi dứt khoát từ nay đến Đại hội 12 bằng những bước đi, hành động cụ thể: Trước mắt chấm dứt trấn áp và trả tự do tất cả những người bất đồng chính kiến đấu tranh vì tự do, dân chủ, quyền con người đang bị giam giữ; ban hành “sách trắng” tuyên bố công khai mọi sai lầm trong đường lối, chánh sách cầm quyền của Đảng ngày xưa và ngày nay, thành tâm sám hối xin lỗi đồng bào, đồng chí – những nạn nhân của Đảng; thực hiện thể chế dân chủ đa nguyên chính trị trong sinh hoạt đảng và ngoài xã hội; cải cách thể chế kinh tế thị trường tự do theo mô hình các nước công nghiệp tiên tiến; thực hiện sở hữu tư nhân ruộng đất; dành ngân sách quốc gia thích đáng đầu tư chăm lo đào tạo nhân tài, chăm lo cuộc sống người nghèo, vùng sâu, vùng xa, sớm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và sự bất bình đẳng trong xã hội… Về đối ngoại, Đảng phải điều chỉnh tức thì đối sách với Trung Quốc, giử vững tinh thần độc lập dân tộc, tự chủ, chấm dứt các mối quan hệ lệ thuộc, ràng buộc và tìm bạn bè liên kết, liên minh tạo thế và lực mới bảo vệ đất nước trước hiểm họa bành trướng, xăm lược của Trung Quốc. Trong cuộc đấu tranh nầy tôi xin đồng hành cùng quí vị đi đến đích cuối cùng.

Tôi xúc động khi nghe ông đảng viên già Nguyễn Trung, nguyên Trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, trong bài viết: Chúng ta lựa chọn gì cho tổ quốc?”, ông tha thiết khẩn cầu: “Tôi muốn quỳ xuống nói với từng người Việt Nam, hoặc muốn đứng thẳng quát to vào mặt từng người: Bỏ lỡ cơ hội này sẽ đời đời mang tội với Tổ quốc!” ./-

Đ.K.T

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 17-9-14

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Human Right Watch : Công bất an: Những vụ tử vong khi bị tạm giam, giữ!

Post lại từ boxitvn

18/09/2014

Tóm tắt

Ra khỏi đồn công an mà vẫn còn sống? Đúng là chuyện thần kỳ!

— Một người dùng Facebook không rõ tên, tháng Chín năm 2012

Bình thường như chết ở công an phường!

— Một người dùng Facebook không rõ tên, tháng Chín năm 2012

Một ngày tháng Hai năm 2011, ông Trịnh Xuân Tùng, 53 tuổi, lên ngồi sau một chiếc xe ôm tới Bến xe Giáp Bát đông đúc của Thành phố Hà Nội. Khi đến nơi, vẫn còn ngồi trên xe, ông cởi mũ bảo hiểm để gọi điện thoại. Một viên công an, Trung tá Nguyễn Văn Ninh, ngay lập tức đòi phạt người lái xe ôm vì chở khách không đội mũ bảo hiểm.

Người lái xe phản đối, rằng anh không thể kiểm soát được hết mọi việc làm của khách đi xe. Sau đó xảy ra va chạm, khi ông Trịnh Xuân Tùng cố giải thoát người lái xe ôm đang bị công an túm cổ áo, ông bị viên trung tá và vài người khác đấm, đá, và đập bằng dùi cui. Sau đó họ còng tay ông, đưa về đồn công an, còng tay ông vào một chiếc ghế dù ông kêu rằng đang bị đau dữ dội. Khi người nhà ông Tùng nghe tin, họ đến đồn công an và xin được đưa ông đi bệnh viện. Nhưng họ bị từ chối đến ba lần. Công an cũng không cho phép con gái ông Tùng cho cha ăn. Ngược lại, họ còn ra lệnh cho người nhà lau chùi chỗ ông nôn ra. Phải mất mấy tiếng đồng hồ sau khi ông Tùng bị chấn thương, công an mới cho người nhà đưa ông đi bệnh viện, ở đó ông bị chẩn đoán gẫy đốt sống cổ. Khoảng một tuần sau, ông Tùng tử vong.

***

Đây không phải là một trường hợp cá biệt về nạn bạo hành của công an. Dù trong quá khứ, những trao đổi công khai về tình trạng bạo hành của công an ở Việt Nam bị hạn chế tối đa, bởi cơ chế một đảng cầm quyền và báo chí do nhà nước kiểm soát, nhưng vấn nạn này giờ đây bắt đầu được thảo luận khá rộng rãi ở những không gian riêng tư. Hơn nữa, những nhân tố can đảm trong ngành báo chí, giới blogger và các nạn nhân ngày càng gia tăng sức ép để đưa vấn đề này ra công luận.

Phúc trình này tập trung vào những vụ được coi là bị bạo hành trong khi bị công an tạm giam, tạm giữ ở Việt Nam từ tháng Tám năm 2010 đến tháng Bảy năm 2014, trong đó có tính cả quãng thời gian từ khi bị bắt, thẩm vấn tại trụ sở công an và tạm giam trước khi xét xử. Phúc trình này không đề cập đến nạn lạm dụng tại các trại thi hành án sau xét xử, vì đó là một vấn nạn khác, có các nguyên nhân riêng và cần đến những giải pháp riêng.

Mặc dù Tổ chức Theo dõi Nhân quyền có tiến hành nghiên cứu ở Việt Nam để xây dựng bản phúc trình này, chúng tôi không phỏng vấn các nạn nhân và nhân chứng trong nước, vì việc đó có thể dẫn đến hậu quả gần như chắc chắn rằng những người trả lời phỏng vấn sẽ bị trả đũa. Thay vào đó, phúc trình này dựa trên kết quả tìm hiểu các vụ việc bạo hành của công an được đăng tải trên các tờ báo tiếng Việt, tất cả đều thuộc sở hữu nhà nước, cũng như các tin bài từ các blogger độc lập, các nhà báo tự do và các hãng thông tấn nước ngoài. Nhiều tin, bài trong phúc trình chưa từng được xuất bản bằng tiếng Anh và, theo sự hiểu biết của chúng tôi, đây là bản phân tích đầu tiên về các đặc điểm chung của tình trạng bạo hành của công an ở quy mô toàn quốc, dựa trên các vụ việc thực tế. Chúng tôi tìm được các tin, bài về tình trạng công an bạo hành xảy ra tại hơn 44 trong số 58 tỉnh thành của Việt Nam, bao gồm cả năm thành phố lớn nhất (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh).

Dù chỉ nêu một phần trong tổng số các vụ việc để minh họa, phúc trình nhấn mạnh các vụ làm chết người trong khi tạm giam, giữ, các vụ tử vong với nguyên nhân được cho là tự tử, chết không rõ nguyên nhân trong khi tạm giam (trong đó có những nam thanh niên đang độ 20, 30 tuổi trước đó vẫn khỏe mạnh rồi bị cho là chết vì bệnh tật), tra tấn và đánh đập – kể cả đánh đập trẻ vị thành niên, và một trường hợp là người mắc bệnh tâm thần.

Trong số các nạn nhân, có những người bị nghi là đã phạm các tội nghiêm trọng, ví dụ như giết người, nhưng đa số trường hợp là những người liên can đến những tội ít nghiêm trọng, những vụ bất hòa trong gia đình hay lỗi giao thông. Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân dẫn đến cái chết có vẻ như xuất phát từ nỗ lực ép nạn nhân thú tội, nhưng một số trường hợp dường như bạo lực đã được sử dụng để trừng phạt, trả đũa đối tượng đang bị tạm giam, tạm giữ.

Trong đa số các vụ việc, những công an liên can tới bạo hành không bị kỷ luật, hay chỉ phải nhận hình thức xử lý rất nhẹ so với mức độ nghiêm trọng của hậu quả tội ác họ gây ra. Có người thậm chí sau đó còn được thăng chức.

Chỉ có một số ít các vụ tử vong nêu trong phúc trình này được báo chí đưa tin khá đầy đủ, thường là trong trường hợp gia đình nạn nhân tích cực đi tìm kiếm công lý và tiếp xúc với báo chí. Đa số các vụ tử vong khác chỉ được đưa tin vắn tắt trên báo chí địa phương. Với tình trạng hạn chế tự do báo chí kéo dài nhiều năm ở Việt Nam, hẳn con số thực tế về các vụ bạo hành còn lớn hơn trong phúc trình này rất nhiều.

Những vụ tử vong trong khi bị tạm giam, giữ

Với một số vụ, chính quyền thừa nhận tình trạng người dân chết khi đang bị tạm giam, giữ, trong những hoàn cảnh dường như không cần hoặc chỉ cần sử dụng vũ lực ở mức tối thiểu.Ví dụ như, vào tháng Tám năm 2012, sau khi bắt giữ ông Nguyễn Mậu Thuận chưa đến ba tiếng đồng hồ vì một xích mích nhỏ với hàng xóm, công an đánh ông đến chết, dù ông không hề có hung khí. Kết quả giám nghiệm tử thi cho thấy ông bị gẫy ba xương sườn và có nhiều vết bầm tím. Tháng Ba năm 2011, Trần Văn Dữ cũng tử vong trong một tình huống tương tự. Tháng Tám năm 2011, Trần Gòn bị công an đánh đến chết vì bị nghi đã ăn trộm; và Lê Phúc Hùng chết trong tháng Tám năm 2010 sau khi bị bắt cũng về hành vi tương tự như trường hợp nói trên.

Có một số vụ, công an phủ nhận rằng chưa từng bắt giữ những người sau đó đã chết trong thời gian bị tạm giam, tạm giữ, hay cung cấp thông tin khó tin nổi về nguyên nhân gây ra cái chết trong khi tạm giam, giữ đối với hàng chục vụ được cho là tự tử bằng cách treo cổ hay điện giật. Đơn cử trường hợp Nguyễn Công Nhựt, tử vong ngày 25 tháng Tư năm 2011, bốn ngày sau khi bị công an bắt để điều tra về một vụ trộm tại nơi anh làm việc. Điều khó hiểu ở đây là công an tuyên bố rằng anh đã treo cổ tự tử, nhưng đồng thời phủ nhận sau cái chết của anh Nhựt rằng họ chưa từng bắt giữ hay tạm giam anh. Theo tuyên bố của công an, anh Nhựt “tự nguyện” ở lại đồn công an để giúp khám phá một vụ án liên quan đến các tài sản bị mất ở công ty anh đang làm việc. Công an cũng công bố bản sao một lá thư được cho là thư tuyệt mệnh của Nguyễn Công Nhựt, trong đó anh nói với vợ rằng mình không hề ăn cắp tài sản của công ty và khen ngợi công an là “những điều tra viên tuyệt vời nhất”. Số lượng các vụ được cho là tự tử trong khi bị công an giam, giữ phổ biến tới mức một số nhà hoạt động về quyền lợi đất đai đã làm sẵn chúc thư, khẳng định rằng mình hoàn toàn khỏe mạnh về tinh thần và thể xác và không hề có ý định tự tử trong trường hợp bị công an bắt.

Trong nhiều trường hợp, công an chỉ đưa ra lời giải thích qua loa và thiếu thuyết phục về nguyên nhân cái chết trong khi tạm giam, giữ, ngay cả với những trường hợp họ cảm thấy cần phải thông báo cho công luận. Đáng ngạc nhiên là có khá nhiều vụ trong đó nạn nhân tử vong, nhiều người trước đó hoàn toàn khỏe mạnh, đang trong độ tuổi 20 đến 30, vì lý do được cho là bệnh lý, trong đó có chứng phù phổi, vốn không phải là nguyên nhân thường gây ra cái chết của thanh niên.

Tra tấn trong khi tạm giam, giữ

Những vụ bị công an dùng nhục hình không dẫn đến chết người ở Việt Nam dễ theo dõi hơn so với những trường hợp tử vong, vì nạn nhân còn sống để kể lại câu chuyện của mình. Tương tự những vụ tử vong trong khi bị công an tạm giam, giữ, các trường hợp bị công an bạo hành nhưng không gây chết người cũng được đưa tin tại khắp các địa phương trên cả nước, cho thấy đây là vấn nạn lan tràn trên diện rộng.

Các trường hợp bị tra tấn trong khi tạm giam, giữ có một số đặc điểm chung. Nhiều nạn nhân cho biết họ bị đánh đập để buộc nhận tội, nhiều khi đối với những tội họ tuyên bố rằng họ không phạm. Những người khác kể rằng họ bị đánh vì đã chỉ trích hay cố tranh luận phải trái với công an. Nhiều người có vi phạm các lỗi hành chính nhẹ, như lỗi giao thông, hay bị coi là có tham gia các hoạt động vi phạm hình sự nhẹ hoặc có xích mích trong gia đình. Công an thường sử dụng vũ lực trong các vụ đột kích sới chọi gà hay ổ cờ bạc nhỏ.

Đơn cử một vụ vào tháng Mười một năm 2012, Nguyễn Hữu Tiến bị còng tay và áp giải về đồn công an ở thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, sau khi cãi nhau với vợ. Ở đồn công an, ông bị đập dùi cui vào đùi, bị đánh vào bụng và ngực. Cuối cùng, công an có lời xin lỗi và bồi thường viện phí cho Nguyễn Hữu Tiến. Trong một vụ việc khác xảy ra vào tháng Tám năm 2012, công an bắt giữ và đánh tàn nhẫn bằng dùi cui điện bảy nam thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 17 đến 21 ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh vì họ bị cho là đã khởi xướng một vụ ẩu đả trong một trận bóng đá.

Căn nguyên của nạn công an bạo hành

Có nhiều yếu tố dẫn đến tình trạng công an bạo hành. Trước tiên, với tư cách một bộ phận của phong trào cách mạng cộng sản, lực lượng công an luôn xác định mình là một công cụ chính trị để bảo vệ quyền lực cộng sản chống lại các thế lực thù địch trong và ngoài nước hơn là một tổ chức nghề nghiệp. Di sản của khuynh hướng chính trị nói trên còn tồn tại đến hôm nay, được thể hiện cụ thể qua cách thức tuyển dụng nhân sự của Bộ Công an (BCA), với quy định yêu cầu tất cả những người muốn được nhận vào phải là Đảng viên hay Đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản, và luôn đề cao chủ nghĩa Mác – Lê Nin cùng Tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đào tạo. Ưu tiên đề cao thành phần và lòng trung thành chính trị trong quá trình tuyển dụng và đào tạo nhân sự nói trên của BCA đã phá hủy các tiềm năng chuyên nghiệp hóa lực lượng này một cách đích thực.

Vấn nạn lạm quyền của công an cũng khởi phát từ việc không quan tâm thích đáng đến lực lượng Công an Xã, thực ra là lực lượng quan trọng nhất, trực tiếp có mặt ở địa bàn tại nhiều địa phương trên cả nước. Lực lượng này tiếp xúc hàng ngày với dân chúng, đa số sống ở các vùng nông thôn, nhưng cho tới nay vẫn là một đơn vị bán chuyên trách, bị coi là đội ngũ hạng hai trong BCA. Những người thuộc Công an Xã thường có mức lương và phúc lợi thấp hơn công an ở cấp huyện, tỉnh hay trung ương, và thường không được tính vào hệ thống cấp bậc hàm chuyên nghiệp của BCA, khiến cơ hội thăng tiến nghề nghiệp và động cơ phấn đấu trong công việc bị hạn chế. Họ cũng không được đào tạo đầy đủ về luật pháp và nghiệp vụ cơ bản. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các vụ bạo hành được ghi nhận trong phúc trình này là do Công an Xã gây ra.

Yếu tố thứ ba gây ra tình trạng bạo hành của công an là vẫn chưa có được một nền văn hóa pháp lý đủ mạnh ở Việt Nam. Dù bộ luật tố tụng hình sự quy định rằng không ai có thể bị coi là có tội trước khi bị tòa kết án, nguyên tắc “suy đoán vô tội” không tồn tại thực sự trong môi trường văn hóa chung của ngành công an nhà nước. Trong một số vụ việc chúng tôi nghiên cứu, công an bắt người chỉ dựa trên nghi vấn mơ hồ mà không có bằng chứng bổ trợ, rồi đánh đập đối tượng để buộc thú tội; phớt lờ thủ tục cơ bản nhằm bảo đảm cho người dân không bị ngược đãi hay bắt giữ tùy tiện; hay nhiều khi bắt giữ và còng tay người bị tình nghi mà không có lệnh bắt. Có trường hợp công an thẩm vấn trẻ vị thành niên hay người mắc bệnh tâm thần mà không có sự có mặt của người giám hộ hợp pháp. Nhưng có lẽ điều nhức nhối nhất là luật sư bào chữa hay người trợ giúp pháp lý hầu như không đóng vai trò gì trong quá trình điều tra tội phạm, trong khi nghi can bị tạm giữ và lấy lời khai. Trong quá trình nghiên cứu để thực hiện bản phúc trình này, chúng tôi thấy chỉ có một vài vụ đếm được trên đầu ngón tay là có luật sư hay người đại diện pháp lý có phần nào vai trò đại diện cho người đang bị tạm giam, giữ. Điều này bộc lộ vấn đề lớn hơn trong hệ thống tố tụng hình sự ở Việt Nam: theo một bài đăng trên trang web của Bộ Tư pháp, tỷ lệ bị can có sử dụng luật sư bào chữa chỉ khoảng 21 phần trăm trên tổng số các vụ án hình sự.

Bốn là, nhìn chung có tình trạng miễn trừ trách nhiệm đối với những người vi phạm trong các vụ công an bạo hành, những công an gây các lỗi nghiêm trọng, thậm chí chết người, hiếm khi phải đối mặt với hậu quả tương xứng (trong phúc trình này, chúng tôi có bao gồm một số vụ mà công an bị buộc phải chịu trách nhiệm cho hành vi của họ, chứng tỏ rằng hệ thống có thể hoạt động hiệu quả nếu đủ ý chí chính trị). Trong hầu hết các vụ được chính thức xác nhận là có bạo hành, công an chỉ phải nhận hình thức kỷ luật nội bộ nhẹ, như khiển trách hay cảnh cáo. Hiếm khi công an gây ra các vụ nói trên bị hạ bậc, thuyên chuyển hay buộc ra khỏi ngành; bị truy tố và kết án lại càng hiếm hơn nữa. Ngay cả khi bị truy tố và kết án, công an dường như chỉ phải nhận mức án nhẹ hay án treo. Qua tất cả các vụ chúng tôi nghiên cứu, thì hình thức xử phạt nặng nhất là mức án tám năm tù dành cho công an vì đã đánh chết đối tượng trong khi tạm giữ. Trong tổng số các vụ hiếm hoi đó, đa số công an bị quy trách nhiệm về cái chết của đối tượng trong khi tạm giam, giữ chỉ phải nhận từ hai đến bốn năm tù.

Việt Nam cũng thiếu một hệ thống giám sát, kiểm tra chéo trong bộ máy hành chính và chính trị khả dĩ hạn chế sự lạm quyền của công an. Hầu hết các tổ chức độc lập với đảng và nhà nước đều bị cấm ở Việt Nam. Các tổ chức được gọi là “tổ chức quần chúng” hoạt động dưới cái bóng của Mặt trận Tổ quốc do đảng kiểm soát – ví dụ như Hội Liên hiệp Phụ nữ hay Tổng Liên đoàn Lao động – không có chút quyền lực chính thức nào để giám sát ngành công an. Việt Nam thiếu một cơ quan độc lập để tiếp nhận khiếu tố về công an và điều tra các khiếu tố liên quan tới công an bạo hành, đồng thời luật pháp cũng không yêu cầu phải điều tra độc lập và công bố kết quả công khai về tất cả các trường hợp tử vong trong khi tạm giam, giữ. Và cũng không có một cơ quan độc lập có chức năng xem xét lại các vụ được coi là tự tử trong khi bị công an tạm giam, giữ.

Cuối cùng, báo chí trung ương và địa phương chưa bao quát đủ được về vấn nạn công an bạo hành. Tốc độ phát triển nhanh của mạng Internet đã phần nào giúp nới lỏng sự kiểm soát gắt gao của đảng về thông tin. Nhưng tất cả mọi cơ quan truyền thông chính thức vẫn còn nằm trong bàn tay của nhà nước hay đảng, và sự thiếu vắng báo chí độc lập đã hạn chế nặng nề thể loại phóng sự điều tra. Báo chí vẫn thường xuyên đưa tin về các vụ công an bạo hành, nhưng chưa đầy đủ, thiếu chiều sâu và không có sự tiếp nối để tìm hiểu về trách nhiệm trong vụ việc ở cấp cao hơn. Các nhà báo hiếm khi được sự trợ giúp đầy đủ của ban biên tập hay các chỗ dựa chính trị để phản bác lại phiên bản về sự việc do bên công an đưa ra, hay chỉ ra những mâu thuẫn hiển nhiên trong lập luận của BCA. Báo chí thường xuyên phải nhận chỉ thị không được theo đuổi các sự việc động chạm tới lợi ích của những người có thế lực.

Việt Nam đàn áp một cách có hệ thống các blogger có nỗ lực trở thành nhà báo độc lập hay bình luận viên phê phán chính quyền. Tháng Tư năm 2014, công an giải tán một cuộc họp mặt nhân quyền tại một quán cà phê ở Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa) để trao đổi về vấn đề những người dân thường bị chết dưới tay công an và phân phát bản sao của Công ước Chống tra tấn của LHQ. Một số người dự định tham gia cuộc thảo luận, trong đó có người nhà của nạn nhân đã bị công an bạo hành, bị câu lưu một thời gian ngắn và bị hành hung.

Kết quả nghiên cứu do Tổ chức Theo dõi Nhân quyền thực hiện và trình bày trong phúc trình này khẳng định rằng tình trạng công an bạo hành ở Việt Nam đang diễn ra với tốc độ đáng báo động. Việc thừa nhận quy mô và mức độ nghiêm trọng của nạn công an bạo hành sẽ là bước đầu tiên hướng tới giải pháp cho vấn nạn này. Giải pháp đó sẽ phải bao gồm các bước như cải tổ lực lượng công an, giáo dục công chúng về cơ chế bảo vệ pháp lý, và buộc những kẻ vi phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Những khuyến nghị chính

Đối với Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam:

· Thể hiện một cách rõ ràng, không úp mở thông điệp rằng việc sử dụng các hình thức tra tấn, đánh đập hay ngược đãi khác trong quá trình tạm giam, tạm giữ là không thể chấp nhận được và sẽ bị nghiêm trị, qua các thông cáo chính thức, tài liệu nội bộ và các biện pháp cụ thể của các quan chức cao cấp nhà nước và các lãnh đạo cao nhất trong ngành công an.

· Đảm bảo rằng công an liên can tới tra tấn và các hành vi ngược đãi khác, bất kể ở cấp bậc nào, đều bị kỷ luật hoặc truy tố thích đáng.

· Xây dựng một hệ thống giám sát công an từng bị khiếu tố về bạo hành hay có hành vi sai trái, nhằm nhận dạng những công an đã lạm dụng quyền lực được giao. Hệ thống giám sát này phải được vận dụng để đảm bảo rằng những công an có vấn đề sẽ bị điều tra và xử lý thích đáng, được cung cấp những chương trình tập huấn cần thiết, và nếu phạm tội hình sự, phải bị khai trừ khỏi lực lượng công an và truy tố.

· Thành lập một cơ quan độc lập đảm nhiệm các khiếu tố về ngành công an, có chức năng tiếp nhận các khiếu tố của dân chúng và giám sát bộ phận “thanh tra nội bộ ngành” hay “trách nhiệm nghề nghiệp” của ngành công an. Cơ quan này phải có quyền chế tài để truy tố hay đưa ra biện pháp kỷ luật, nếu xét thấy bộ phận thanh tra hoặc trách nhiệm nghề nghiệp giải quyết chưa thỏa đáng trong các trường hợp có khiếu tố mang tính khả tín cao.

· Thành lập các bộ phận thanh tra nội bộ hay giám sát trách nhiệm nghề nghiệp ở tất cả các tỉnh, thành và huyện, thị để điều tra một cách nhanh chóng và vô tư tất cả các vụ việc có khiếu tố về ngược đãi trong khi tạm giam, giữ gây chết người hoặc bị thương.

· Yêu cầu công an ghi hình tất cả các cuộc lấy lời khai để ngăn ngừa tra tấn và ngược đãi. Không cho phép sử dụng các lời nhận tội trong khi tạm giam làm bằng chứng tại tòa, trừ khi được ghi hình đầy đủ.

· Cho phép các tổ chức dân sự xã hội độc lập được giám sát độc lập các cơ sở tạm giam, tạm giữ, bao gồm các phòng tạm giam tại đồn công an và các trại tạm giam. Cho phép người đang bị tạm giam, tạm giữ được gặp riêng đại diện của các tổ chức độc lập đang tiến hành việc giám sát trên.

· Khuyến khích và bảo vệ các nhà báo và người cung cấp tin cho báo chí đã phát hiện, công bố các vụ công an bạo hành. Bảo đảm tự do Internet để các nhà báo và blogger có thể đóng vai trò cần thiết làm người phát hiện và báo cáo về các vụ việc được cho là có sự lạm quyền của công an.

· Thúc đẩy Quốc hội phê chuẩn Công ước của Liên hiệp Quốc về Chống Tra tấn và Các Hình thức Trừng phạt hoặc Đối xử Tàn ác, Vô nhân đạo hay Hạ nhục càng sớm càng tốt.

Phương pháp nghiên cứu

Các vụ công an bạo hành được đưa vào phúc trình này diễn ra từ tháng Tám năm 2010 đến tháng Bảy năm 2014. Thông tin được thu thập và đối chiếu với các hãng thông tấn quốc tế, các trang mạng xã hội, các blog độc lập ở trong và ngoài nước Việt Nam, và các tờ báo tiếng Việt do nhà nước quản lý, xuất bản ở địa phương và toàn quốc. Trong điều kiện cho phép, dữ liệu báo chí đều được kiểm chứng với các nguồn khác để đảm bảo tính chính xác. Trong trường hợp có nhiều nguồn thông tin mô tả cùng một sự việc theo nhiều cách khác nhau, chúng tôi ghi nhận các sự khác biệt đó.[1]

Các blog độc lập ở Việt Nam ngày càng trở thành các nguồn thông tin có giá trị hơn, dù một số blog đáng tin hơn số khác, và tất cả đều cần kiểm chứng độc lập. Một số blog có các bài đưa tin với chất lượng hạng nhất, nhưng vì công an liên tục sách nhiễu các tác giả và thường xuyên đóng cửa các blog này, các bài điểm tin và bình luận độc đáo của họ chỉ tồn tại tùy từng lúc.[2]

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền không tổ chức thực hiện phỏng vấn trực tiếp các nạn nhân ở Việt Nam, vì sợ việc đó sẽ dẫn tới hậu quả là các cá nhân và tổ chức tiếp xúc với chúng tôi sẽ bị trả đũa. Báo chí Việt Nam thường gọi những người phê phán chính quyền có tiếp xúc với các tổ chức quốc tế là “hợp tác với các thế lực thù địch” và cáo buộc họ với các tội danh như “chống chính quyền nhân dân.” Ngay cả các trao đổi bằng email với các blogger và người nhà nạn nhân cũng phải hạn chế vì e ngại chính quyền sẽ theo dõi các trao đổi này.

Ngày mồng 6 tháng Năm năm 2014, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền có gửi một văn thư tới nhiều cơ quan chính quyền để xin thông tin về một số vụ việc cụ thể và về hệ thống xử lý các hành vi được cho là bạo hành của công an. Dù đã nhiều lần yêu cầu phúc đáp, đến thời điểm viết phúc trình này chúng tôi vẫn không nhận được một phản hồi nào.

I. Ngành Công an Việt Nam

Bộ Công an (BCA) là cơ quan chủ quản ngành. Các nhánh tổ chức của Bộ này vươn tới mọi cấp trong xã hội Việt Nam.

Lần ngược lại nguồn gốc của BCA, khởi thủy là các nhóm nhỏ dân quân vũ trang được lãnh tụ Đảng Cộng sản, Hồ Chí Minh, thành lập trong những ngày hỗn loạn của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Năm 1946, Sắc lệnh số 23 được ban hành, tập hợp các nhóm này thành một lực lượng hợp nhất với mục đích duy trì trật tự, chống ngoại địch và trấn áp các phe nhóm tranh giành quyền lực quốc nội. Theo Sắc lệnh số 23, trách nhiệm của công an bao gồm thu thập thông tin về an ninh quốc gia cả trong và ngoài, đề xuất và thực thi các biện pháp ngăn chặn các hành động xâm phạm trật tự và an ninh quốc nội, và tiến hành điều tra các hành vi đó.[3]

Tháng Hai năm 1953, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 141 nâng cấp, lúc đó là Nha Công an thành Thứ bộ, rồi đến tháng Sáu năm đó chính thức trở thành Bộ Công an. Nhiệm vụ của Bộ này bao gồm đấu tranh chống kẻ địch, gián điệp và “phản động” trong và ngoài nước, “bài trừ lưu manh, trộm cướp,” duy trì trật tự, và quản lý trại giam.[4]

Tháng Bảy năm 1956, Cục Cảnh sát Nhân dân được thành lập theo Nghị định 982, và nhập vào BCA.[5] Theo Nghị định 982, và Pháp lệnh 34 năm 1962 sau này, nhiệm vụ của Cảnh sát Nhân dân là đấu tranh trấn áp “bọn phản cách mạng,” “lưu manh, côn đồ, trộm cắp, buôn lậu,” “bài trừ những tệ nạn xã hội” và nhiều công việc khác nhằm duy trì trật tự công cộng, kiểm soát và quản lý các mặt đời sống thường ngày của người dân, trong đó có hộ khẩu, đi lại, ngành in ấn, thậm chí cả ngành sản xuất, sửa chữa mua bán máy và phụ tùng vô tuyến điện, v.v…[6]

Tháng Ba năm 1959, lực lượng Công an Nhân dân Vũ trang, thành lập theo Nghị định 100, được bổ sung vào BCA. Năm 1975, Quốc hội hợp nhất Bộ Công an và Bộ Nội vụ thành một cơ quan là Bộ Nội vụ.[7]Năm 1998, lại có quyết định ngược lại, khi Bộ Nội vụ đổi lại tên thành Bộ Công an (BCA)–cái tên được giữ nguyên cho đến nay.[8]

BCA được coi là một tổ chức trọng yếu của đảng cộng sản, một vị thế vẫn được duy trì cho đến hôm nay. Theo Luật Công an, BCA hoạt động “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam.”[9] Để bảo đảm sự gắn bó keo sơn với đảng, luật quy định rằng mọi thành viên của BCA, xuống tới cấp xã, phải là đảng viên ĐCS, hay tổ chức thanh niên của đảng này là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.[10] Trong lễ kỷ niệm thành lập lực lượng công an vào tháng Tám năm 2013, Bộ trưởng Trần Đại Quang nhấn mạnh mối liên kết truyền thống giữa đảng và công an. Ông phát biểu: “[công an] chỉ biết còn Đảng là còn mình”.[11]

Được sự trợ giúp với một mạng lưới chằng chịt các cộng tác viên có trả tiền và không được trả tiền, BCA vẫn luôn duy trì một hệ thống theo dõi sát sao đối với dân chúng.[12] Dù hệ thống này có phần nào được nới lỏng hơn kể từ khi những cải cách của thời Đổi mới bắt đầu được áp dụng trong những năm giữa thập niên 1980, BCA vẫn kiểm soát nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội và chính trị của người dân.[13]Nhiệm vụ chính trị của BCA vẫn còn đặc biệt quan trọng. Trong một bài phát biểu vào tháng Mười hai năm 2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu dương lực lượng công an vì đã “đấu tranh làm thất bại các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.”[14]

Được tăng cường liên tục và nhanh chóng trong suốt 20 năm qua, BCA đã trở thành một trong hai bộ có ảnh hưởng lớn nhất ở Việt Nam (cùng với Bộ Quốc phòng). Trong số 16 thành viên của Bộ Chính trị đầy quyền lực, có tới ba thành viên xuất thân từ Bộ Công an: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (nguyên Thứ trưởng Bộ Công an); đương kim Bộ trưởng Bộ Công an, Tướng Trần Đại Quang; và nguyên Bộ trưởng Bộ Công an, Tướng Lê Hồng Anh.[15]

Không chỉ mạnh về con số đại diện trong tầng lớp lãnh đạo cao nhất của đảng, quyền lực của BCA còn được gia tăng với một thực tế là bộ này có vô số cơ sở và định chế trực thuộc. Trong đó có thể kể đến các công ty kinh doanh, nhà khách, khu tập thể, bệnh viện, hàng loạt tờ báo và tạp chí, một nhà xuất bản lớn, một Trung tâm Phát thanh, Truyền hình và Điện ảnh, mới thành lập một kênh truyền hình riêng. BCA quản lý hệ thống trại giam, và điều hành một mạng lưới đào tạo phức tạp gồm các trung tâm huấn luyện, một số trường cao đẳng và đại học.

Để tô điểm hình ảnh của mình, BCA duy trì một bảo tàng công an ở Hà Nội, một viện nghiên cứu lịch sử ngành công an và một số đoàn văn nghệ và đội thể thao chuyên nghiệp.

Cơ cấu Lực lượng Công an

BCA gồm hai lực lượng chủ chốt: An ninh Nhân dân, chịu trách nhiệm về an ninh quốc gia, và Cảnh sát Nhân dân, chuyên trách trật tự và an toàn xã hội.[16]

Chuyên trách về tội phạm chính trị, lực lượng An ninh Nhân dân có mục đích ngăn ngừa và làm thất bại các âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, thu thập thông tin tình báo và bảo đảm an ninh trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng và thông tin. Lực lượng này cũng quản lý lĩnh vực xuất nhập cảnh và người nước ngoài ở Việt Nam.

Lực lượng Cảnh sát Nhân dân giải quyết các công việc giống với ngành cảnh sát nói chung hơn: điều tra tội phạm, quản lý khu dân cư, điều hành giao thông, đăng ký nhân khẩu, chứng minh thư và quy định vềbảo vệ môi trường.[17]

BCA được tổ chức theo chiều dọc, ở cấp quốc gia, cấp tỉnh, huyện và cấp xã.[18] Theo chiều ngang, BCA được chia thành tám tổng cục: an ninh nước ngoài; an ninh nội địa; xây dựng lực lượng; hậu cần và kỹ thuật; tình báo; hình sự; giao thông, phòng cháy chữa cháy và đăng ký nhân khẩu; và trại giam và hỗ trợ tư pháp.[19] Các tổng cục này chỉ huy các đơn vị tương ứng ở cấp tỉnh, thành và tương tự như vậy, cấp tỉnh lại chỉ huy cấp huyện.[20]

Ở cấp xã, là đơn vị hành chính nhỏ nhất của Việt Nam, chịu trách nhiệm ổn định trật tự là lực lượng Công an xã, có mặt ở khắp mọi nơi, gồm một trưởng công an xã, một hoặc hai phó công an xã và các công an viên dưới quyền.[21] Con số chính xác về nhân sự công an từng xã tùy thuộc vào số lượng các thôn xóm trong xã đó.[22] Mỗi thôn, xóm có từ một đến hai công an phụ trách, tùy theo số dân nhiều hay ít.

Công an cấp xã chịu sự điều hành trực tiếp của Đảng ủy xã và công an huyện.[23] Dù là một bộ phận chủ chốt của BCA, công an xã vẫn chỉ được coi là lực lượng bán chuyên trách.[24] Có nghĩa là lực lượng này gồm những người được tuyển dụng từ địa phương, không qua đào tạo chính quy và không được đưa vào hệ thống cấp bậc chính thức của BCA. Một người chỉ cần khỏe mạnh và đủ điều kiện về chính trị là có thể được tuyển vào làm công an xã dù trình độ văn hóa chỉ ở cấp trung học.[25]Ở các xã vùng sâu vùng xa, yêu cầu về trình độ văn hóa tối thiểu là tiểu học, ngay cả đối với vị trí trưởng và phó công an xã.[26]

Trên lý thuyết, sau khi gia nhập lực lượng công an ở cấp xã, công an viên mới sẽ được dự các khóa đào tạo tổ chức một hoặc hai lần mỗi năm, mỗi khóa kéo dài từ 10 ngày đến 3 tuần. Trong thời gian đó, công an xã sẽ được tiếp thu các bài giảng về chính trị rất nặng, các kiến thức pháp luật cơ bản và kỹ năng nghiệp vụ. Trên thực tế, phần nào vì kinh phí hạn chế, các khóa này dường như chủ yếu được dành cho cấp trưởng hoặc phó công an xã.[27] Các khóa tập huấn cho công an viên cấp xã đương nhiệm được tổ chức thưa hơn và có thể chỉ diễn ra trong vài ngày.[28] Theo báo Pháp luật Việt Nam, tính đến tháng Mười năm 2012, có tới hơn 20,000 công an xã chưa từng dự một lớp đào tạo nào.[29]

II. Các khuyến nghị

Đối với Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Quy trách nhiệm

· Thể hiện một cách rõ ràng, không úp mở thông điệp rằng việc sử dụng các hình thức tra tấn, đánh đập hay ngược đãi khác trong quá trình tạm giam, tạm giữ là không thể chấp nhận được và sẽ bị nghiêm trị, qua các thông cáo chính thức, tài liệu nội bộ và các biện pháp cụ thể của các quan chức cao cấp nhà nước và các lãnh đạo cao nhất trong ngành công an.

· Đảm bảo rằng những công an liên can tới tra tấn và các hành vi ngược đãi khác, bất kể ở cấp bậc nào, đều bị kỷ luật hoặc truy tố thích đáng. Các sỹ quan cấp trên tham gia, hoặc bao che hay không có hành động xử lý các hành vi tra tấn hay ngược đãi của cấp dưới sẽ bị kỷ luật hoặc truy tố. Bất kỳ một công an nào bị phát hiện có tham gia tra tấn hay các hành vi ngược đãi khác sẽ bị khai trừ khỏi ngành và cấm không được làm việc trong ngành công an hay lĩnh vực thực thi pháp luật trong tương lai.

· Nếu đã xác định được rằng nội dung khiếu tố về một công an là có cơ sở, cần đảm bảo rằng người đó phải bị xử lý thích đáng, có thể truy tố hình sự. Nếu chưa đến mức khởi tố hình sự thì phải chịu kỷ luật nội bộ thích đáng, bao gồm các hình thức buộc ra khỏi ngành, nghỉ việc tạm thời, hay hạ cấp bậc. Nếu không truy cứu hình sự hay kỷ luật nội bộ, ngành công an cần giải thích công khai lý do không xử lý.

· Công bố nguyên tắc trong bất cứ hoàn cảnh nào, công an không được tìm cách cản trở hay đe dọa người tố cáo, với chế tài hình sự hoặc kỷ luật ngành đối với những người vi phạm.

· Chỉ đạo ngành công an chấm dứt việc cho những người bị câu lưu viết cái gọi là “bản cam kết tự nguyện ở lại trụ sở công an.” Nếu người dân tình nguyện giúp công an điều tra, không nên buộc họ ở lại đồn công an qua đêm để làm việc này. Những nhân chứng cần được bảo vệ cần được đưa vào các chương trình bảo vệ nhân chứng, không phải ở trụ sở công an.

· Chỉ đạo ngành công an loại bỏ thủ tục gọi là “biên bản không bị công an đánh,” đôi khi được đưa ra để yêu cầu người bị câu lưu ký trước khi được thả.

· Xây dựng một hệ thống giám sát công an từng bị khiếu tố về bạo hành hay có hành vi sai trái, nhằm nhận dạng những công an đã lạm dụng quyền lực được giao. Hệ thống giám sát này phải được vận dụng để đảm bảo rằng những công an có vấn đề sẽ bị điều tra và xử lý thích đáng, được cung cấp những chương trình tập huấn cần thiết, và nếu phạm tội hình sự, phải bị khai trừ khỏi lực lượng công an và truy tố.

· Rà soát lại hồ sơ nhân sự của công an hiện đang làm việc trong ngành để đảm bảo rằng những người từng liên can đến bắt giữ trái pháp luật, tra tấn hay các hành vi lạm quyền khác phải bị điều tra, và nếu thấy nội dung khiếu tố có bằng chứng, phải bị kỷ luật, buộc ra khỏi ngành hay truy tố hình sự.

· Đệ trình lên Quốc hội một bản báo cáo thường niên công khai, với số liệu về các vụ thanh tra, điều tra đối với công an, các cáo buộc, tình trạng của các vụ việc đó, cũng như số liệu các khiếu nại tố cáo của người dân đối với công an về các trường hợp được cho là công an bạo hành.

Cải cách Tổ chức

· Thành lập một ủy ban độc lập về khiếu tố đối với ngành công an để tiếp nhận khiếu tố của người dân và giám sát bộ phận “thanh tra nội bộ” hay “trách nhiệm nghề nghiệp” của lực lượng công an. Ủy ban này cần:

o Phải có quyền chế tài để truy tố hay đưa ra biện pháp kỷ luật, nếu xét thấy bộ phận thanh tra hoặc trách nhiệm nghề nghiệp giải quyết chưa thỏa đáng trong các trường hợp có khiếu tố mang tính khả tín cao.

o Thường xuyên công bố các báo cáo công khai về tình trạng tiếp nhận và giải quyết các khiếu tố, điều tra và hình thức xử lý.

o Xây dựng một thang chuẩn về mức độ vi phạm và hình thức xử lý, ví dụ như một quy định hay bảng xếp loại mức kỷ luật tương ứng với từng cấp độ vi phạm, để không còn tình trạng áp dụng mức kỷ luật khá tùy tiện.

o Cung cấp cho những người khiếu nại, tố cáo các hướng dẫn rõ ràng và biểu mẫu đơn giản, với một số điện thoại liên lạc để có thể kiểm tra tình trạng điều tra về khiếu tố của mình.

o Thiết lập và công bố một đường dây nóng trên điện thoại và Internet sẵn sàng 24/24 để các nạn nhân bị công an bạo hành thông báo các vi phạm (như đã thực hiện đối với các vi phạm của cảnh sát giao thông).

o Thành lập một cơ quan giải quyết các yêu cầu về y tế và tâm lý dành cho các nạn nhân bị công an bạo hành.

o Thành lập một cơ quan giải quyết việc đền bù thích đáng cho các nạn nhân.

· Thành lập bộ phận thanh tra nội bộ hay trách nhiệm nghề nghiệp ở các cấp tỉnh, thành và huyện để điều tra một cách nhanh chóng và vô tư về tất cả các vụ có khiếu nại, tố cáo bị ngược đãi trong khi giam, giữ dẫn đến chết người hoặc bị thương.

· Đưa lực lượng công an xã vào biên chế Bộ Công an một cách chính thức và đồng bộ để được giám sát và đào tạo đầy đủ với các chương trình tập huấn cần thiết.

· Cung cấp các chương trình huấn luyện pháp lý kỹ lưỡng và chuyên nghiệp cho tất cả mọi công an, kể cả công an cấp phường xã, là những người hàng ngày tiếp xúc với người dân.

Cải tổ Chính sách và Pháp luật

· Thúc đẩy Quốc hội phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về Chống Tra tấn và Các Hình thức Trừng phạt và Đối xử Tàn ác, Vô nhân đạo hay Hạ nhục càng sớm càng tốt.

· Sửa đổi luật và các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ đối với ngành công an về sử dụng vũ lực trong bắt giữ để phù hợp với tiêu chuẩn luật pháp quốc tế, trong đó có Quy ước Đạo đức của Liên Hiệp Quốc đối với Sỹ quan Thực thi Pháp luật, và Các nguyên tắc Cơ bản của Liên Hiệp Quốc về Sử dụng Vũ lực, Vũ khí trong ngành Thực thi Pháp luật. Cụ thể là, yêu cầu công an, trong chừng mực có thể, sử dụng các biện pháp phi bạo lực trước khi phải dùng đến vũ lực, sử dụng vũ lực chỉ với mức độ tương ứng với độ nghiêm trọng của hành vi tấn công, và dùng vũ lực có thể gây chết người chỉ trong trường hợp bắt buộc để bảo vệ tính mạng.

· Yêu cầu công an phải thông báo với người bị bắt giữ về quyền được hỗ trợ pháp lý ngay khi bắt giữ.

· Yêu cầu công an ghi hình tất cả các cuộc lấy lời khai để ngăn ngừa tra tấn và ngược đãi. Không cho phép sử dụng các lời nhận tội trong khi tạm giam, giữ, làm bằng chứng tại tòa, trừ khi được ghi hình đầy đủ.

· Xác định rõ ràng các kỹ thuật lấy lời khai được phép áp dụng trong quy định và các tài liệu hướng dẫn của ngành công an.

· Cho phép các tổ chức dân sự xã hội độc lập được giám sát độc lập các cơ sở tạm giam, tạm giữ, bao gồm các phòng tạm giam tại đồn công an và trại tạm giam. Cho phép người đang bị tạm giam, tạm giữđược gặp riêng đại diện của các tổ chức độc lập đang tiến hành việc giám sát trên.

· Cải thiện cơ sở và điều kiện tại các trại tạm giam. Đảm bảo dịch vụ cấp cứu y tế tại tất cả các cơ sở tạm giam, tạm giữ luôn sẵn sàng mọi lúc và chăm sóc y tế định kỳ cho tất cả những người bị tạm giam, tạm giữ.

· Cung cấp các chương trình huấn luyện kỹ lưỡng và chuyên nghiệp cho tất cả công an về pháp luật, kỹ thuật lấy lời khai và thủ tục để công an không chỉ dựa vào lời nhận tội để phá án, nhất là lời thú tội do bịép cung, bạo hành. Bảo đảm rằng mọi chương trình huấn luyện cho ngành công an có bao gồm các nội dung về nhân quyền, về tính phi pháp của hành vi tra tấn, hành hung, bắt giữ trái phép và ép nhận tội.

· Phát động một phong trào giáo dục quần chúng về các quyền pháp lý của công dân, trong đó bao gồm:

o Quyền không bị công an bạo hành về thể xác hay bắt giữ trái phép.

o Quyền được bồi thường trong trường hợp bị những người đại diện cho chính quyền ngược đãi, lạm dụng.

o Quyền được hỗ trợ pháp lý.

o Quyền được gia đình thăm nuôi.

· Khuyến khích và bảo vệ các nhà báo và người cung cấp thông tin cho báo chí đã phát hiện, công bố các vụ công an bạo hành.

· Bảo đảm tự do Internet để các nhà báo và blogger có thể đóng vai trò cần thiết làm người phát hiện và thông báo về các vụ việc được cho là có sự lạm quyền của công an.

Đối với Quốc hội Việt Nam

· Phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về Chống Tra tấn và Các Hình thức Trừng phạt và Đối xử Tàn ác, Vô nhân đạo hay Hạ nhục và thể hiện các điều khoản bảo đảm của Công ước này trong luật quốc nội.

· Thành lập một cơ quan giám sát trực thuộc Quốc hội để theo dõi các cơ sở giam giữ, bao gồm các nhà tù, trại giam, nơi tạm giam, tạm giữ trong đồn công an.

· Sửa đổi Bộ Luật Tố tụng Hình sự hoặc ban hành luật mới quy định quyền được giữ im lặng khi bị công an bắt.

· Sửa đổi điều 56 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự để loại bỏ yêu cầu luật sư phải có giấy chứng nhận người bào chữa mới được tiếp xúc với người bị bắt giữ và tham gia bào chữa cho thân chủ của mình.

· Sửa đổi Bộ Luật Tố tụng Hình sự để tạo điều kiện cho luật sư hoặc người trợ giúp pháp lý có mặt ngay sau khi bắt giữ hay tạm giam, giữ, sao cho:

o Luật sư hay người trợ giúp pháp lý chỉ cần xuất trình căn cước và một bản sao công chứng giấy phép hành nghề luật là có thể gặp thân chủ của mình.

o Luật sư hay người trợ giúp pháp lý được phép gặp riêng thân chủ mỗi khi cần thiết, không hạn chế thời gian.

o Luật sư hay người trợ giúp pháp lý được có mặt trong các buổi công an lấy lời khai của người bị tạm giam, tạm giữ.

o Bất kỳ người nào vi phạm các điều khoản trên sẽ bị xử lý theo pháp luật về hành vi cản trở công lý.

· Thông qua các quy định pháp lý cần thiết để thực thi các nội dung được khuyến nghị trong bản phúc trình này.

· Thành lập một ủy ban đặc biệt để giám sát và công bố báo cáo thường niên về những vụ vi phạm của công an.

Đối với Chính phủ các nước và các Tổ chức Quốc tế đang tài trợ cho Việt Nam Cải cách Luật pháp hoặc Quan tâm đến Nhân quyền ở Việt Nam, trong đó có Hoa Kỳ, Australia, Liên Minh Châu Âu, Nhật Bản, Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á

· Bày tỏ sự quan ngại sâu sắc với các quan chức Việt Nam về nạn bạo hành của công an, nhấn mạnh rằng việc đó vừa vi phạm luật pháp Việt Nam vừa vi phạm công pháp quốc tế, và những người vi phạm cần bị trừng phạt và nạn nhân cần được bồi thường hợp lý.

· Đề cập với chính quyền Việt Nam về nạn bạo hành và các vi phạm của công an trong các chương trình cải cách pháp luật và tập huấn cho ngành công an.

· Thúc đẩy chính quyền Việt Nam quy định một tội danh cụ thể dành cho hành vi bạo hành của công an.

· Thúc đẩy chính quyền Việt Nam thiết lập các cơ chế quy trách nhiệm một cách có hiệu quả như các nội dung khuyến nghị nêu trên.

III. Phụ lục

Những vụ tử vong trong khi bị công an tạm giam, giữ

(Xem báo cáo chi tiết về các vụ việc này trong phúc trình, bản tiếng Anh)

Những vụ tử vong được thừa nhận có nguyên nhân từ việc công an sử dụng bạo lực

· Vụ giết Nguyễn Hữu Thâu: 4/7/2014

· Vụ giết Huỳnh Nghĩa: 14/2/2014

· Vụ giết Tu Ngọc Thạch: 31/12/2013

· Vụ giết Y Két Bdap: 27/11/2013

· Vụ giết Nguyễn Văn Ái: 18/1//2013

· Vụ giết Bùi Văn Lợi: 10/12/2012

· Vụ giết Nguyễn Tuấn Thanh: 17/11/2012

· Vụ giết Nguyễn Mậu Thuận: 30/8//2012

· Vụ giết Nguyễn Mạnh Sơn: 22/6/2012

· Vụ giết Ngô Thanh Kiều: 13/5/2012

· Vụ giết Trần Gòn: 8/8/2011

· Vụ giết Trần Văn Dữ: 30/3/2011

· Vụ giết Trịnh Xuân Tùng: 8/3/2011

· Vụ giết Lê Phúc Hùng: 1/8/2010

Những vụ tử vong không rõ nguyên nhân trong khi bị tạm giam, giữ

· Cái chết của Nguyễn Văn Đức: 29/5/2013

· Cái chết của Nguyễn Quốc Tuấn: 28/1/2013

· Cái chết của Bùi Hữu Vũ: ngày 11/4/2012

· Cái chết của Hoàng Đăng Lộc: 26/8/2011

Những vụ tử vong được cho là tự tử trong khi bị tạm giam, giữ

· Vụ Đỗ Văn Bình, bị cho là tự tử: 14/4/2014

· Vụ Hoàng Văn Ngài, bị cho là tự tử: 17/3/2013

· Vụ Trần Văn Tân, bị cho là tự tử: 3/1/2013

· Vụ Lê Quang Trọng, bị cho là tự tử: 19/3/2012

· Vụ Lê Văn Trận, bị cho là tự tử: 11/8/2011

· Vụ Nguyễn Công Nhựt, bị cho là tự tử: 25/8/2011

Những vụ tử vong vì nguyên nhân bị cho là do đau ốm trong khi tạm giam, giữ

· Cái chết của Cao Văn Tuyên: 5/7/2013

· Cái chết của Nguyễn Văn Vân: 12/6/2012

· Cái chết của Đặng Văn Trí: 15/11/2011

· Cái chết của Huỳnh Thanh Thắng: 7/10/2011

Những vụ bị thương do công an bạo hành trong khi bị tạm giam, giữ

(Xem báo cáo chi tiết về các vụ việc này trong phúc trình, bản tiếng Anh)

· Vụ sáu người bị đánh: 7 – 12/2013

· Vụ Lê Hoài Nhân bị đánh: 3/6/2013

· Vụ Huỳnh Sử Nguyên bị đánh: 10/5/2013

· Vụ Văn Đức Ngạn bị đánh: 2/4/ 2013

· Vụ Hoàng Cử bị đánh: 20/2/2013

· Vụ Nguyễn Hữu Tiến bị đánh: 23/11/2012

· Vụ bảy người bị đánh: 26/8/ 2012

· Vụ Trần Định Hòa bị đánh: 25/7/2012

· Vụ Nguyễn Trường Vũ và Trương Chí Bình bị đánh: 26/6/2011

· Vụ Phạm Quang Sơn bị đánh: 28/12/2010

· Vụ Nguyễn Văn Khanh bị đánh: 17/10/2010

· Các vụ đánh đập trẻ vị thành niên

Lời cảm ơn

Phúc trình này là kết quả nghiên cứu và soạn thảo của nhân viên Ban Á châu, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền. Phúc trình được sự biên tập của Brad Adams, Giám đốc Ban Á châu; Dinah Pokempner, Cố vấn Pháp lý Chung; Joseph Saunders, Phó Giám đốc Chương trình; và Danielle Hass, Biên tập viên cao cấp của phòng chương trình. Phúc trình cũng nhận được ý kiến đóng góp của Sophie Richardson, Giám đốc phòng Trung Quốc; Phil Robertson, Phó Giám đốc ban Á châu; John Sifton, Giám đốc Vận động; và Bede Sheppard, Phó Giám đốc ban về Quyền Trẻ em.

Quá trình xuất bản có sự tham gia trợ giúp của Storm Tiv và Julia Bleckner, điều phối viên ban Á châu; Grace Choi, giám đốc xuất bản; Kathy Mills, chuyên viên phòng xuất bản; và Fitzroy Hepkins, quản lý sản xuất.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Phạm Chí Dũng : TPP – cơ hội cạn dần cho Việt Nam?

Nguồn BBC

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng

Gửi cho BBC từ Sài Gòn

Cập nhật: 07:27 GMT – thứ tư, 17 tháng 9, 2014

TPP cũng được ông John McCain nhắc đến khi đến Hà Nội vào tháng Tám

Dù “đã rút ngắn khoảng cách”, nhưng như tựa đề một cuốn tiểu thuyết ra đời ở Việt Nam sau năm 1975, chuyến viễn du đến TPP của Hà Nội vẫn còn “những khoảng cách còn lại”, sau cuộc đàm phán kéo dài suốt mười ngày đầu tháng 9/2014 tại thủ phủ “ngàn năm văn hiến”.

“Những khoảng cách còn lại”

“Những khoảng cách còn lại” vẫn luôn là cụm từ mang nghĩa bóng bẩy được một số tờ báo nhà nước ru mị người dân và cũng tự an ủi mình suốt từ quý 3 năm 2013 – khi Tổng thống Barack Obama hứa hẹn “sẽ cố gắng kết thúc sớm nhất” – cho đến nay, liên quan đến giấc mơ có một chỗ đứng trong bàn tiệc TPP để có thể tưởng tượng “tăng GDP Việt Nam đến 30%”.

Song điều oái oăm là thời và thế của ngay cả bản thân tổng thống Mỹ dường như đã thuộc về dĩ vãng. Trong khi đang phải cố gắng vật lộn với cơn suy giảm tỷ lệ ủng hộ rơi xuống ngưỡng tâm lý 50%, Tổng thống Barack Obama còn không thể tự quyết định về quy chế “fast track" (quyền đàm phán nhanh) cho TPP. Thứ quyền mặc định này hiện thời đang nằm trong tay Hạ nghị viện Hoa Kỳ, khiến cho ưu thế dẫn điểm của người đứng đầu hành pháp trước Quốc hội Hoa Kỳ đang trở nên mờ nhạt nhất kể từ thời điểm nhậm chức lần thứ nhất của ông vào đầu năm 2008.

Giờ đây, nhiều người đã hiểu ra một sự khác biệt đủ rộng giữa Quốc hội và Bộ ngoại giao Mỹ. Dù các chuyến ngoại giao con thoi của Ngoại trưởng John Kerry vào cuối năm 2013 và nữ thứ trưởng bộ này là Wendy Sherman đến Hà Nội vào tháng 3/2014 mang dụng ý muốn thúc đẩy nhanh tiến trình đàm phán TPP – nhân quyền, nhưng cú dẫn điểm gần nhất lại thuộc về một cựu chiến binh Việt Nam: ngài thượng nghị sĩ John McCain.

Chuyến công du Hà Nội đột ngột của McCain vào tháng 8/2014 đã như một hàm ý hiển hiện nhất về quyền lực nằm trong tay ai: không hẳn Chính phủ, mà chính Quốc hội Hoa Kỳ mới là nhân tố biểu quyết có tính quyết định để Nhà nước Việt Nam có được mua vũ khí sát thương và tham dự vào buổi tiệc đứng TPP hay không.

Chưa “đặc xá” nếu không “đặc cách”

Giới lãnh đạo Việt Nam đã nhiều lần vận động Mỹ nhanh chóng kết thúc đàm phán TPP

Hẳn khía cạnh nhân quyền – như một “nhắn nhủ” của John McCain với “tứ trụ” Việt Nam – đã trở thành nguyên cớ chính, góp một phần không nhỏ vào kết quả đàm phán mịt mùng về TPP vừa qua tại Hà Nội. Đơn giản là trong khi Trưởng đàm phán của Hoa Kỳ về TPP, bà Barbara Weisel, loan báo “có tiến bộ sau vòng đàm phán mới đây”, giới quan sát vẫn thừa sức nhận ra nhân quyền còn là một rào cản lớn đối với ngưỡng cửa TPP của Việt Nam.

Cũng đơn giản là trái ngược với tin đồn và niềm hy vọng của không ít người trong giới hoạt động dân chủ ở Việt Nam, dịp Quốc khánh 2/9 vừa qua và cho đến cả hiện thời vẫn chưa nhận ra bóng dáng một tù nhân chính trị nào được Nhà nước “đặc xá” khỏi bốn bức tường kín mít trại giam.

Cho dù tiếng nói của các cơ quan hành chính Việt Nam và Hoa Kỳ có vẻ khá đồng thanh về “những tiến bộ đáng kể” trong các nội dung quan trọng như doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, đầu tư, quy tắc xuất xứ, minh bạch hóa và chống tham nhũng sau đàm phán TPP, nhưng nếu không có thêm các tiểu mục về tự do lập hội, công đoàn độc lập và trả tự do vô điều kiện cho các tù nhân chính trị thì TPP vẫn thuần túy là một bông hồng đầy gai sắc dành cho giới bảo thủ Hà Nội.

“TPP tới nay vẫn chưa hoàn tất các cuộc đàm phán và có nhiều điều kiện Việt Nam chưa đạt được. Đấy là lý do chính vì sao đợt 2/9 này chưa có tù nhân lương tâm nào quan trọng được nhắc đến là thả và cũng không có một công bố gì” – ông Đoàn Viết Hoạt, người được vinh danh Giải thưởng Nhân quyền Robert F. Kennedy 1995, lý giải ngắn gọn về câu chuyện lê thê trên.

Nhân quyền vẫn là một yêu cầu chủ chốt của Mỹ đối với Việt Nam trong đàm phán TPP

Nhận định của người từng bị Hà Nội tuyên án tù 20 năm vì các hoạt động cổ súy dân chủ đang tỏ ra có cơ sở và còn phần nào chắc chắn. Ít nhất đã có một tù nhân lương tâm nổi bật là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải được xác định nằm trong diện đặc xá 2/9 vừa qua. Hiện tượng ông Hải được gọi điện thoại về nhà trong 5 phút, với khá nhiều thông tin “đặc biệt nhạy cảm” mà không bị cán bộ quản giáo cắt cúp lần nào, cũng cho thấy triển vọng ông ra tù trước thời gian thụ án đến hàng chục năm không còn là điều mộng tưởng.

Danh sách những tù nhân chính trị nổi bật có thể được “đặc xá” là khoảng 20 người, được phía Mỹ chuyển cho Hà Nội với yêu cầu “trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện”.

Tuy thế, mọi chuyện ở Việt Nam không biết đâu mà lường, nhất là trong chính trị và nền “ngoại giao con tin”. Hà Nội trước nay lại quá thường bị chỉ trích về việc dùng tù nhân lương tâm để mặc cả, đổi chác quyền lợi trong các cuộc thương lượng gia nhập sân chơi quốc tế.

Nếu đàm phán TPP tại Hà Nội vào đầu tháng 9/2014 “thành công tốt đẹp” theo cách Nhà nước Việt Nam được Hoa Kỳ và các nước chủ chốt trong TPP xét “đặc cách” gia nhập hiệp định này, dù còn lâu Việt Nam mới thỏa mãn được những điều kiện quan yếu về “quy chế kinh tế thị trường”, chuyển đổi nguồn nguyên liệu nhập khẩu hay sở hữu trí tuệ…, hẳn nhiên người đời đã chứng kiến một loạt tù nhân lương tâm được trả tự do mà không cần “nhân dịp” Quốc khánh 2/9 nữa.

Nhưng rõ ràng đến giờ này, kết quả TPP cho Việt Nam vẫn tiếp tục mờ mịt như 19 vòng đàm phán trước. Lý do muôn thuở vẫn là những bất đồng giữa hai “đại gia” là Mỹ và Nhật. Nhưng điều ẩn giấu bên trong lại luôn là việc các "đại gia" này chưa nhận ra một tấm lòng “thành tâm” đáng kể nào từ phía Hà Nội, cho dù những chuyến ngoại giao và vận động con thoi đã diễn ra và cũng có thể đã tồn tại một thỏa thuận Việt – Mỹ lặng lẽ.

Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vẫn chưa được thả ra sớm như mong đợi

Tình thế trên đang dẫn đến triển vọng u tối nhất là không có gì bảo đảm rằng Hà Nội sẽ thả người, cho dù thời gian và cơ hội để lọt vào TPP chỉ còn rất ít trong quý cuối năm 2014.

Chút cơ hội cuối cùng

Tất nhiên, vào thời gian cuối năm 2014 vẫn còn một vòng đàm phán TPP nữa – cơ hội cuối cùng của Nhà nước Việt Nam. Trong thời gian từ đây đến đó, có thể diễn ra một số đàm phán riêng lẻ của các quan chức Hoa Kỳ với giới chức Hà Nội, và do đó vẫn còn cơ may cho những chính khách nào muốn thể hiện tình cảm “hồi tâm”.

Trong bối cảnh đầy thách đố ấy, sự kiện mang tính an ủi đột biến cho giới bảo thủ Hà Nội là ngày 11/9/2014, Tòa Thánh Vatican ra thông cáo cho biết họ mong muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, trong khuôn khổ những nỗ lực tăng cường quan hệ với châu Á.

Sự kiện trên được xem là liên quan mật thiết đến chủ đề nhân quyền, trong đó có quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Cần nhắc lại, Hà Nội đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Toà thánh vào năm 1975. Kể từ năm 2007, hai bên đã “nỗ lực làm việc để tiến tới một mối quan hệ nồng ấm hơn”.

Mọi chuyện đều có vẻ khá logic với nhau, và dường như giữa Vatican và Nhà nước Việt Nam đã có một thỏa thuận thầm kín trước công bố “tái lập bang giao” mới đây. Cách đây hai tháng, tờ Vatican Insider đã có bài viết trích dẫn phát biểu của Tổng giám mục Sài Gòn Bùi Văn Đọc tại Roma cho biết cơ cấu của một đại học Công giáo có thể sẵn sàng trong vòng một năm tới.

Cũng cần nhắc lại, mối quan hệ “nồng ấm hơn” giữa Nhà nước Việt Nam và Tòa thánh được khởi động vào đầu tháng Giêng năm 2013 với chuyến "hành hương" của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Vatican. Người đứng đầu đảng Cộng sản Việt Nam đã được Đức Giáo hoàng Benedict XVI tiếp đón bằng nghi thức dành cho nguyên thủ quốc gia.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã bỏ lỡ thời cơ gia nhập TPP?

Thế nhưng Chính phủ Việt Nam lại thường xuyên bị các quốc gia phương Tây chỉ trích là vi phạm tự do tôn giáo. Năm 2012, Việt Nam đã mang 14 người, đa phần theo Công giáo và Tin Lành, ra xử tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.

Ngay cả sau chuyến công du Vatican của ông Nguyễn Phú Trọng, ở Nghệ An vẫn nổ ra vụ giáo xứ Mỹ Yên 2013 mà bị xem là xâm hại tự do tôn giáo ghê gớm.

Giờ đây, tin tức về một đại học do một tôn giáo như Công giáo tại Việt Nam được phép thành lập khiến cho nhiều người tỏ ra hy vọng như một phép thử quan trọng về sự cởi mở hơn của Hà Nội đối với tự do tôn giáo. Thế nhưng như một quy luật, ở Việt Nam không có gì được coi là nhanh gọn, trừ tham nhũng và những gì thuộc về lợi ích.

Mọi việc vẫn còn phải chờ ở phía trước, và thời gian sẽ trả lời.

Chỉ có điều, thời gian đã quá gấp gáp. Nếu đến tháng 11 năm nay mà giới bảo thủ Hà Nội không kiến tạo được một chút phảng phất trên gương mặt nhân quyền và do đó không thể “hoàn tất TPP” như mong ước của Tổng thống Mỹ, Quốc hội Hoa Kỳ sẽ bắt đầu cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, tiến tới chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2016. Khi đó, đương nhiên sẽ chẳng còn mấy khuôn mặt nghị sĩ lưu tâm đến việc “đặc cách” cho Việt Nam vào TPP hay được mua vũ khí sát thương.

Chỉ còn hơn một năm rưỡi trước Đại hội Đảng 12, Bộ chính trị Việt Nam đang “tiến nhanh, tiến mạnh” và có thể cả “tiến vững chắc” đến quyết định bỏ lỡ một ít cơ hội cuối cùng để nhận được cứu cánh kinh tế.

Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một nhà báo tự do tại thành phố Hồ Chí Minh.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , | Leave a comment

Tuấn Khanh : Người Việt cần có một Aziz Nesin

Nguồn nhacsituankhanh

IMG_1084.JPG

Hầu như người Việt nào trên 35 tuổi, chắc cũng đều đã đọc qua hoặc ít nhất là đã nghe nói về Aziz Nesin (1915-1995), nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ. Lối viết văn của ông luôn trào phúng và mỉa mai về các vấn đề hiện thực xã hội – bề ngoài thì ngu ngơ nhưng lại đau thấu tận xương. Cũng chính vì vậy mà nhà văn gốc người Crimea-Tatar này từng vào tù ra khám nhiều lần theo lệnh của MAH (Cơ quan an ninh quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ) vì các vấn đề về quan điểm chính trị và có hành vi bị coi là tuyên truyền chống Nhà nước.

Tôi vẫn còn nhớ một truyện ngắn hết sức hóm hỉnh của ông, có tựa đề là Cái kính. Câu chuyện nhỏ đó nói về một người đàn ông vô danh sống trong xã hội đang bị lũng đoạn bởi có quá nhiều kẻ tuyên ngôn nhưng không biết mình đang nói gì, hoặc nói như một thói quen mị dân. Ông bị nhồi nhét vào đầu rằng ông đã có vấn đề về cái nhìn, bắt buộc phải mang kính để nhìn theo “định hướng”. Cuộc đời ông bị lừa mị hết sự kiện này đến sự kiện khác. Cuối cùng một ngày nọ, vô tình bị vỡ kính, ông khám phá rằng mình có thể tự do nhìn thấy được mọi thứ – tự mình chứ không cần ai “định hướng” cả.

Câu chuyện được viết hơn nửa thế kỷ về trước, nhưng không cũ kỹ trong hành trang của con người thời hiện đại. Dĩ nhiên, với Việt Nam, thỉnh thoảng ta cũng vẫn bắt gặp lại những bài học như vậy.

Mới đây, trong câu chuyện thông báo về tỉ lệ thất nghiệp của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, đã gây không ít bàn tán trong dân chúng. Tỉ lệ thất nghiệp quý II/2014 của Việt Nam được xác định là 1,84% mở ra nhiều ý kiến tranh biện: Liệu con số đó đã phản ánh đúng một hiện trạng Việt Nam hay không? Bản thân việc công bố một con số đơn thuần dựa theo lý thuyết điều tra, mà không có phần mở rộng, dẫn giải đúng đằng sau con số đó, liệu có là một thái độ đúng của trí thức thật lòng với đất nước, dân tộc?

Cách tính về thất nghiệp có rất nhiều lý thuyết khác nhau. Lý thuyết kinh tế Marxist có cách tính khác, các học thuyết kinh tế tư bản cũng khác, thậm chí cứ vài năm, người ta lại tìm thấy một lý thuyết mới tái định nghĩa. Nhưng bằng cách nào đi nữa, ngôn ngữ và tư duy hiện đại chỉ có một mục đích là làm rõ hơn, chính xác hơn những gì đang diễn ra, chứ không phải là việc đưa ra một con số, bất chấp phía sau nó là những vùng mịt mờ về cuộc sống thật, chưa có lời giải.

Đừng bao giờ quên rằng từ khi lịch sử văn minh loài người con người phát minh ra khoa học thống kê, thì cũng là lúc họ xác định bản chất của kết quả thống kê luôn có sự biểu đạt nguỵ biện. Chính Joseph Stalin (1879-1953), một trong những ông tổ của chủ nghĩa Cộng sản cũng đã nói rằng “Cái chết của một cá nhân được coi là bi kịch, nhưng của một triệu người thì chỉ là con số thống kê mà thôi (A single death is a tragedy; a million deaths is a statistic). Thậm chí, câu nói của nhà chính trị Benjamin Disraeli (1804-1881), Đảng bảo thủ Anh còn quyết liệt hơn “Có 3 loại nói dối: đó là nói dối, nói dối một cách khốn nạn và con số thống kê” (There are three types of lies — lies, damn lies, and statistics).

Mọi con số thống kê về thất nghiệp ở các quốc gia đang phát triển đều hết sức phức tạp, cần được diễn giải bằng hiện thực mang tính nhân văn với mọi khía cạnh nhiễu nhương đang có. Nó không thể đơn giản tính toán như ở một quốc gia phát triển đương thời. Thất nghiệp do không được thuê mướn (unemployment) và tự mình tổ chức công việc (self-employment) cũng như đóng thuế cá nhân (income tax) ở Mỹ, Đức, Pháp… Chắc chắn không thể giống như ở Việt Nam, Campuchia hay Ấn Độ. Những con số lạnh lùng không thể nói hết được hoàn cảnh của đám đông hay của một quốc gia nếu không có thêm phần thuyết minh trung thực.

Theo lời của bà Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội Việt Nam thì người Việt vốn dễ xoay sở mưu sinh, bao gồm ngành nghề nào cũng vậy, khó khăn thì ra bán trà đá hay chạy xe ôm, nên không thể thất nghiệp. Phiến diện, thì điều đó không sai. Cố gắng mưu sinh là bản lĩnh của người Việt Nam từ bao đời nay. Nhưng chúng ta cũng cần một cái nhìn thật sự Việt Nam cho người Việt Nam. Vì nếu tỉ lệ thất nghiệp chỉ là đơn thuần các con số, có lẽ người Việt từ thời thực dân Pháp là ít thất nghiệp nhất vì ai cũng có thể chọn lao động trong đồn điền cao su, đi lính cho Tây, làm ruộng tự cung tự cấp… không ai phải thất nghiệp cả.

Nếu cách tính tỉ lệ thất nghiệp chỉ là một con số tầm thường nhằm gây lạc quan, thì tiểu thuyết Ngựa người Người ngựa của Nguyễn Công Hoan cũng đã không còn tính tố cáo hiện thực xã hội, mà trở thành một tác phẩm tào lao, vì từ người phu kéo xe kiệt sức với đôi mắt mờ đục như trái nhãn đến cô gái điếm mệt mỏi nửa đêm – không có ai là thất nghiệp cả.

Điểm lại những công việc làm lây lất kiếm sống “bán trà đá hay chạy xe ôm” được Viện Khoa học Lao động và Xã hội nói đến, nó không là chuyện self-employment bình thường. Không có ai “thất nghiệp” vì bởi họ không có một hy vọng nào từ các hệ thống trợ cấp xã hội nhiêu khê, chứ không phải vì một nền kinh tế quốc gia sung túc và quá nhiều cơ hội. Và bản thân việc self-employment “bán trà đá hay chạy xe ôm” cũng luôn mơ hồ trong sự tồn tại hợp pháp của xã hội Việt Nam.

Những thứ được bà Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội Việt Nam tạm liệt kê, trong đó có 50% là hành rong. Nhưng 50% ấy đã bị khép trong luật, nghị định cấm bán hàng rong. 50% con số thống kê “không thất nghiệp” ấy đã không được công nhận và bị truy quét khắp các thành phố. Chărng hạn, chúng ta có câu chuyện một người bán hành rong bị Đội Trật tự phường 25, quận Bình Thạnh đánh đến bất tỉnh, vất bỏ bên vệ đường, tay vẫn bị còng như tội phạm vào cuối năm ngoái (2013). Hình ảnh đó cũng nên là một ví dụ về bất cập của việc xác định thế nào là “không thất nghiệp”.

Những thứ chúng ta đang thấy, những thứ chúng ta đang nghe, đôi khi cũng cần được tự mình nhìn thấy và viết lại, nói lại và khẳng định lại bằng hiện thực lịch sử. Có lẽ không gì hơn lúc này là ngồi xuống, giở sách, đọc lại truyện ngắn Cái kính của Aziz Nesin. Ông đã đúc kết trong một ít con chữ nhưng tràn đầy gợi mở.

Trong bối cảnh mà mọi thứ của xã hội đang ngày càng căng thẳng, Việt Nam thật sự thiếu một Aziz Nesin để ghi lại từng chuyện với sự trào phúng và giúp tạo ra tiếng cười – bất luận tiếng cười kiểu gì – cho dù ẩn trong đó là sự tức giận hay buồn phiền buông bỏ.

—————————————————–
Phụ lục: Về trường hợp anh thanh niên bán hành rong Trịnh Xuân Tình bị sai nha Trật tự đô thị phường 25, quận Bình Thạnh hàng hung.
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131208/dan-mang-phan-no-vu-trat-tu-do-thi-bi-to-danh-nguoi-ban-hang-rong-ngat-xiu.aspx

[cateogy chính trị, xã hội, nhân quyền, kinh tế]

Posted in Uncategorized | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

“Chúng tôi muốn biết tội ác của cải cách ruộng đất”

Nguồn RFA

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-09-15
Tweet

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

09152014-diemblog-kh.mp3

Bà con dân oan Dương Nội biểu tình trước Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Hà Nội sáng 11/9/2014icon-zoom.png Photo courtesy of xuandienhannom.blogspot.com

Không hẹn mà gặp, giữa mùa Trung Thu, tác phẩm Đèn Cù của nhà văn Trần Đĩnh xuất hiện và gây xôn xao dư luận. Xin lấy ý của nhà báo Đoan Trang đặt cho phần đầu mục điểm blog kỳ này

Trung thu đốt Đèn Cù

Một trong những người đầu tiên điểm cuốn sách, nhà báo Ngô Nhân Dụng viết rằng hình ảnh của chiếc đèn cù chính là hình ảnh xã hội chính trị Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua với bao nhiêu voi, người, ngựa,… bằng giấy chạy tít mù, chạy vòng quanh.

Với vị trí hiếm có của một người cầm bút đứng rất gần các nhân vật cộng sản Việt Nam hơn 50 mươi năm qua, nhà văn Trần Đĩnh đã mang ra ánh sáng những chân dung đời thực những người cộng sản Việt Nam, cũng như những toan tính chính trị và quyền lực đằng sau những cuộc cách mạng và kháng chiến.

Đi theo những dòng hồi ức của Trần Đĩnh, Dương Hoài Linh viết bàiĐèn Cù và Hồng Kong. Tác giả kết nối những bi thương trong lịch sử Việt Nam mà Trần Đĩnh đang kể với hàng triệu người Việt Nam với những đe dọa từ Bắc Kinh cho nền dân chủ mà người dân ở Hồng Kông, nơi cũng có Tết Trung thu và đèn cù, đang phải đối diện.

Trong bài viết đó tác giả nói về một sự giải thiêng cần thiết cho Việt Nam:

Tôi không hiểu tại sao họ lại dạy cho con người lấy chuyện điêu toa, dối trá, vu khống trắng trợn người khác làm lẽ sống như thế ?
– Blogger Ngô Minh

Đèn Cù đã đáp ứng những thông tin về một sự giải thiêng. Khi trước đó vẫn còn những đoàn người rồng rắn vào viếng lăng cụ Hồ,viếng mộ cụ Giáp. Đèn Cù đã đưa ra những chi tiết xác thực, có sức thuyết phục hơn về những gì trước đây chỉ là các giai thoại truyền miệng trong dân. Đèn Cù cũng cung cấp cho lớp hậu sinh sau này một cái nhìn trực diện vào "thần tượng" sau khi bóc đi lớp hào quang giả tạo, đưa họ trở về đúng với cái bản chất vốn có của nó.

Còn cây bút Phan Tấn Hải viết trên blog của mình:

Trần Đĩnh đã cầm bút lên để viết như một chứng nhân của cách mạng, viết như một nạn nhân của vụ án xét lại, viết như một nhà văn trôi nổi với lịch sử dân tộc, và trong tận cùng là viết như một người con rất mực yêu thương đất mẹ.

Trong sự trôi nổi đó với lịch sử dân tộc, có độc giả nhận thấy rằng những câu chuyện mà Trần Đĩnh kể lại làm cho lịch sử Việt Nam được công bằng hơn, và người đọc cũng hiểu được nguyên nhân của những hành động phi nhân tính diễn ra trong cuộc đấu tranh giai cấp của những người cộng sản. Độc giả Trần Giao Thủy nói:

Tất cả những chuyện nho nhỏ như vậy mình đọc thì mình sẽ thấy suốt trong quyển sách của Trần Đĩnh, những oral histories (câu chuyện) phần nào làm cho lịch sử cận đại Việt Nam được công bằng hơn một chút.

Ông Hồ ông ấy nhắc nhà to là nước, nhà nhỏ là gia đình riêng, đó là cái cách người cộng sản họ dùng chủ nghĩa dân tộc như thế. Vì có sự tuyên truyền như vậy của những người cộng sản nên mới có chuyện ông Châu Văn Viên, bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất ở Nghệ Tĩnh đấu tố mẹ mình.”

Suy nghĩ của ông Trần Giao Thủy cũng là ý nghĩ của blogger Ngô Minh:

Tôi không hiểu tại sao họ lại dạy cho con người lấy chuyện điêu toa, dối trá, vu khống trắng trợn người khác làm lẽ sống như thế ?

Và cuộc cải cách ruộng đất, mà người cộng sản hay mô tả là long trời lỡ đất chính là quan tâm của rất nhiều người khi đọc Trần Đĩnh. Trớ trêu thay, ngay sau khi quyển sách ra đời, nhà nước Việt Nam tổ chức cuộc triển lãm Cải cách ruộng đất tại Hà Nội.

Cải cách ruộng đất

tuoitre.vn-400.jpg
Công chúng đến xem triển lãm về Cải cách ruộng đất tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Hà Nội.

Triển lãm cải cách ruộng đất ở Hà Nội như một liều xúc tác làm bùng lên những bài viết trên blog trong không gian Việt ngữ toàn thế giới. Blogger Hiệu Minh viếtVài câu chuyện về cải cách ruộng đất:

Nhưng né tránh, câu chuyện sẽ còn âm ỷ khôn nguôi, dù thế giới đã sang thế kỷ 21. Lãnh đạo quốc gia có tầm, có tâm, nên bạch hóa sai lầm quá khứ, lấy đó làm bài học cho hiện tại và hướng tới tương lai. Đó là một trong những chìa khóa cho phát triển đất nước.

Cùng mảnh ruộng, người biết làm ăn, tính toán thì có của ăn của để. Nhưng người không biết phải chịu đói khát, đành đi làm thuê. Nhưng sau cách mạng, người giỏi hơn thành địa chủ, người kém hơn lên làm chủ, và kết quả thế nào, chẳng cần bàn cãi.

Hàng triệu người bỏ tổ quốc ra đi. Nhiều người thành đạt nơi xứ người nhưng không thể đóng góp cho quê hương vì nhiều lẽ mà trong đó dư chấn của Cải cách ruộng đất mà họ cho là một trong những điều mất mát lớn.

Đã đến lúc đất nước phải thay đổi, lãnh đạo phải thay đổi và mỗi chúng ta phải thay đổi. Sự mù quáng về ý thức hệ sẽ đưa đến một cuộc cải cách khác, máu đổ và thiệt hại mang tầm quốc gia, đau đớn kéo dài hàng thế kỷ.

Việc người ta đến, để xem, để tham quan, tham dự không chỉ là việc xem nó ra sao, mà điều cơ bản là để xem thái độ nhìn nhận với những tội ác đã gây ra như thế nào.
– Blogger Nguyễn Hữu Vinh

Và trong phần cuối bài viết Hiệu Minh nhìn cuộc triễn lãm này như là một dấu hiệu rằng xã hội đã cởi mở và có được quyền nói về những chuyện trong quá khứ.

Nhưng có những blogger khác không chia sẻ sự lạc quan của Hiệu Minh.

Mai Tú Ân viết bài "Một nửa sự thật không phải là sự thật":

Với những gì ta thấy trong cái gọi là triển lãm ảnh Cuộc cải cách ruộng đất, thì đó chỉ là phần nổi nhỏ bé của tảng băng khổng lồ của tội ác, của đại thất nhân tâm… mà với những gì hé mở trong thế giấu diếm thì ta có thể gọi đây chưa phải là sự thật đúng nghĩa, thậm chí đây chỉ là phần bao biện, che giấu và giả dối…

Tác giả Mê Linh viết:

Nghe nói có triển lãm về cải cách ruộng đất, mình hăm hở đi xem, hí hửng tưởng đảng CS đã dám nhận trước nhân dân tội ác diệt chủng và cướp bóc của mình. Không ngờ lại một trò dối trá trắng trợn khi họ chỉ trưng lên những “bằng chứng” giả từ thời đó để một lần nữa kết tội những nạn nhân của họ, lấp liếm đi tội ác của mình, tiếp tục kể công với dân, và lừa mị thế hệ tương lai.

Blogger Nguyễn Hữu Vinh đã thực hiện một phóng sự về buổi triển lãm, anh viết:

Có thể nói, những hiện vật trưng bày trong cái gọi là Triển lãm này là một mô hình đấu tố mới, nhằm lấp liếm, bào chữa cho những tội ác đối với ngay cả những đồng bào của mình, đối với những người có đầu óc và tri thức làm giàu cho quê hương đất nước. Bỗng dưng một ngày đẹp trời họ được hưởng nhờ thành quả Mác – Lenin xếp họ vào "giai cấp bóc lột". Và họ bị cướp đoạt, bị tra tấn, bị bắn, bị giết và "CCRĐ hoàn thành thắng lợi".

Việc người ta đến, để xem, để tham quan, tham dự không chỉ là việc xem nó ra sao, mà điều cơ bản là để xem thái độ nhìn nhận với những tội ác đã gây ra như thế nào.

Một điều mà Nguyễn Hữu Vinh cảm thấy khó hiểu là ngay chính những nạn nhân trong sự kiện cải cách ruộng đất thảm khốc ấy vẫn cho rằng họ chịu ơn những người gây ra thảm cảnh. Nguyễn Hữu Vinh kết luận rằng đảng cộng sản đã hoàn tất một công việc ngoạn mục.

Họ vẫn luôn coi "bác Hồ" và đảng vô tội. Đó mới là thành công, mới là ngoạn mục.

Trang blog Dân làm báo không nói về một Cuộc đấu tố mới như Nguyễn Hữu Vinh, nhưng lại so sánh với cuộc diệt chủng mà Đức quốc xã thực hiện trong thế chiến thứ hai:

Thế giới ngày hôm nay chắc chắn sẽ ngạc nhiên đến sửng sốt, khinh bỉ và phẫn nộ nếu một người Đức nào đó tổ chức một cuộc triển lãm về “những thành tựu của Hitler và Đức Quốc Xã trong việc ‘cải cách’ 6 triệu người dân Do Thái trong lò hơi ngạt”.

Một blogger khác lại có một cái nhìn khá thú vị về cuộc triễn lãm này.

JV Loveart viết:

Cuộc triển lãm "Thành Tựu Cải Cách Ruộng Đất" mang rất nhiều ý nghĩa vô cùng to lớn và sâu sắc nhé cô bác :
– Là một lời tự bào chữa vô cùng hài hước.
– Là mộtlần tự đấu tố rất vụng về.
– Là một sự ủng hộ đối với phong trào Chúng Tôi Muốn Biết của Mạng Lưới Bloggers Việt Nam .
– Là một màn quảng cáo ấn tượng cho sách truyện Đèn Cù .

Chúng tôi muốn biết

Trở lại với tác phẩm Đèn Cù, nhà báo Đoan Trang viết:

worldpress-400.jpg
Một số bạn trẻ với dòng chữ ‘Tôi muốn biết’ được post lên mạng xã hội hôm 02/9/2014.

Cho đến giờ, với tư cách một độc giả, tôi vẫn thành thật mong có người sẽ phân tích, bình luận một cách chuyên nghiệp, không cảm tính, không định kiến về những cuốn sách thuộc dòng “giải độc, giải thiêng”, có đề tài lịch sử hoặc liên quan đến lịch sử, ở Việt Nam. Với tư cách cá nhân, tôi muốn được biết sự thật, chứ không phải là giai thoại, vì các giai thoại về lãnh tụ, lãnhđạo… người dân Việt Nam chúng ta phải nghe nhiều quá rồi.

Đòi hỏi của nhà báo Đoan Trang trong tư cách một công dân cũng chính là đòi hỏi của một nhóm công dân trẻ cách đây vài tuần đã dấy lên phong trào Chúng tôi muốn biết. Một trong những người chủ trương phong trào này là chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hay blogger Mẹ Nấm nói rằng:

Chiến dịch Chúng tôi muốn biết có một mục tiêu cụ thể là muốn nhà nước công bố những mảng tối thông tin. Và quan trọng hơn là nó sẽ thúc đẩy người dân bước ra khỏi bóng đen sợ hãi của chính mình để đòi cái quyền được biết. Thông điệp chúng tôi muốn biết nó rất là ngắn nhưng nó đòi hỏi người tham gia phải hiểu cái gì mình muốn. Vìđược biết còn là trách nhiệm nữa, khi biết thì mình sẽ có những hành động đúng đắn hơn.

Trong thời điểm hiện tại với sự xuất hiện quyển Đèn cù của nhà văn Trần Đĩnh và cuộc triễn lãm Cải cách ruộng đất, cho thấy rằng ở cái thời đại này người ta không thể giấu những sai lầm trong quá khứ nữa. Mà cải cách ruộng đất không chỉ là sai lầm mà còn là tội ác có thể xếp ngang với tội ác diệt chủng.

Có thể là một sự trùng hợp, nhưng từ phong trào chúng tôi muốn biết đến các sự việc đang diễn ra thì cho thấy rằng khi mình đòi cái quyền được biết của mình, thì bằng cách nào đó sẽ có những sự thật được phơi bày.

Khi chúng tôi kết thúc bài điểm blog này, thì tin từ các blogger cho biết những nông dân bị mất đất ở Dương nội kéo về Hà nội để xem cuộc triễn lãm Cải cách ruộng đất, thì nhà chức trách bảo rằng triễn lãm phải đóng cửa để bảo trì.

Posted in chính trị, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

VRNs. Nhà Văn Nguyễn Xuân Nghĩa kể chuyện nhà tù

Nguồn chuacuutheĐĂNG NGÀY: 15.09.2014 , MỤC: - TIN NỔI BẬT, PHÓNG SỰ

Posted in Uncategorized | Leave a comment