Đến đã đủ lâu! Giờ cũng sẵn sàng để… ra đi! (… về với Chúa)

- Phổ biến thông tin đa chiều, và lên tiếng vì những bất công xã hội là việc làm cần thiết và đúng đắn. – Tự do thông tin là bước khởi đầu để có được dân chủ thực sự, giúp đưa đất nước đi lên và thoát khỏi khốn khó đói nghèo.

- Đừng lầm lẫn giữa : thứ tha những lỗi lầm đã qua, với việc nuôi dưỡng những sai phạm đang diễn ra để chúng cứ tiếp tục tồn tại và trầm trọng hơn nữa! – Đó là ác chứ không phải ái!

- Đừng để bị nhập nhằng giữa “Đất Nước, Tổ Quốc” với đảng cầm quyền! “Đất Nước, Tổ Quốc” là mãi mãi, còn đảng cầm quyền chỉ là nhất thời!

Theo dõi các links tin từ twitter, được cập nhật thường xuyên ở cột phải

Posted in khề khà | Tagged , | 1 Comment

VRNs. Công an tự cho mình quyền câu lưu và thu passport của công dân

Nguồn chuacuuthe

ĐĂNG NGÀY: 31.08.2014 , MỤC: - TIN NỔI BẬT, TIN VIỆT NAM

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Lã Việt Dũng : Đồng Tháp ký sự (1)

Nguồn chuacuutheĐĂNG NGÀY: 30.08.2014 , MỤC: - TIN NỔI BẬT, PHÓNG SỰ

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Phạm Quế Dương : Nhớ lại về mình

Nguồn danlambao

divang-danlambao.jpg
Phạm Quế Dương (Danlambao) – Sách “Đêm dày lấp lánh” vừa ấn hành ở Mỹ của Nguyễn Thanh Giang là một công trình đồ sộ. Sách viết về 60 nhân vật lịch sử đã có cống hiến lớn cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Trường Tộ, Phan Châu Trinh, Trần Độ, Trần Dần… đến Trần Huỳnh Duy Thức, Vi Đức Hồi, Phạm Thanh Nghiên, Điếu Cày, Đỗ thị Minh Hạnh… Không chỉ kể về khối lượng, với 548 trang in khổ A4, tương đương hơn một nghìn trang in khổ thông thường, sách là một biên niên sử mang hơi hướng sử thi vì được viết không chỉ bằng trí tuệ thật uyên thâm và uyên bác mà còn bằng một tấm lòng ưu ái rất đáng trân trọng.

Về mặt trí tuệ, nhiều bài trong “Đêm Dày Lấp Lánh” có giá trị như một bản tóm tắt luận án tiến sỹ với ngồn ngộn tư liệu và những phát hiện mới làm người đọc ngạc nhiên.

Nghiên cứu về Nguyễn Trãi, tác giả đã phát hiện và chứng minh được rằng chính Nguyễn Trãi đã đưa ra một định nghĩa về “dân tộc” sớm hơn, đầy đủ hơn Stalin. Cho đến năm 1913, người ta mới đọc được một định nghĩa được xem là có giá trị đầu tiên trong lịch sử nhân loại của Stalin về dân tộc. Song định nghĩa dân tộc của Stalin chỉ nêu lên bốn yếu tố: kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, tâm lý. Trước đó, Nguyễn Trãi còn nói đến yếu tố thứ năm: nhân dân.

Ông kết thúc bài viết bằng một nhận thức về tầm nhân loại của tư tưởng Nguyễn Trãi:

“Các học giả thường nói tới bốn thế hệ nhân quyền:
- thế hệ của những quyền tự do chính trị;
- thế hệ của những quyền lợi kinh tế xã hội;
- thế hệ của các quyền lợi cộng đồng;
- thế hệ của những quyền lợi nhân loại.

Từ “Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” đến “Việc nhân nghĩa cốt ở an dân”, từ “yêu nuôi muôn dân, để cho các nơi làng mạc không có tiếng oán giận than sầu” đến “Hòa bình là gốc của nhạc”, “Dập tắt chiến tranh cho muôn đời”, phải chăng tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã xuyên suốt bốn thế hệ nhân quyền”.

Các học giả Việt Nam từ xưa đến nay khi nghiên cứu về xã hội Truyện Kiều hoặc chỉ nhìn qua lăng kính định mệnh, hoặc lên án đồng tiền….Nguyễn Thanh Giang, dưới con mắt của nhà dân chủ, đã nhìn ra nguyên nhân tàn hại đời Kiều là do pháp luật không được thượng tôn. Ông dẫn ra đến hơn 30 câu Kiều có chữ “oan” và chữ “oán”.

Bài viết này không dám đảm đương nhiệm vụ giới thiệu cuốn “Đêm dày lấp lánh”. Việc này phải dành cho các học giả xứng tầm. Chỉ xin được “tát nước theo mưa” để tâm sự đôi điều.

Trước hết phải cảm ơn Nguyễn Thanh Giang đã vì quá thương yêu mà đưa tôi vào danh sách những danh nhân trong lịch sử đấu tranh vì tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. Phải chăng đây là một-cuốn-sách-bia.

Ngoại tám mươi, nhiều khi lẩn thẩn buồn nghĩ về cái tuổi già vô tích sự, đọc Nguyễn Thanh Giang tự nhiên thấy được an ủi rất nhiều. NTG không chỉ nhắc lại những ngày hào hùng đánh Pháp ở đồn Tu Vũ, đánh Tàu ở Biên giới phía Bắc mà còn dẫn ra những câu mình đã từng nói, từng viết mà không còn nhớ: “Góp ý với đại hôi IX đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài “Phải cải cách chính trị cùng với cải cách kinh tế” ông (tức là tôi) viết:

“…Tình hình đất nước ta ngày càng tụt hậu xa so với thế giới về kinh tế, ngay cả những nước gần cận trong khu vực. Nạn tham nhũng tràn lan không bài thuốc chũa trị, từ người lái xe ôm đến bà bán nước vùng quê đều rõ, sao những người lãnh đạo đảng CSVN không thấy mà lúc nào cũng chỉ muốn người ta tung hô Đảng sáng suốt, Đảng quang vinh, đời đời nhớ ơn Đảng… Muốn cứu vãn tình thế không thể chỉ đổi mới bằng cải cách kinh tế mà phải nhanh chóng triệt để cải cách, đổi mới chính trị. Phải nói thẳng là cải cách-đổi mới chính trị, không thể nói là cải cách-đổi mới hành chính, một kiểu nói lừa dối lương tâm… Người đứng đầu Đảng và Nhà nước (Chủ tịch nước hay Tổng thống) phải là một. Đảng cử ra ba bốn người rồi để dân trực tiếp bỏ phiếu. Không thể như hiện nay, Đảng cử ra Tổng Bí thư thì tự nhiên dân phải nhận là Vua của mình rồi. Sự thật đó là Vua của ĐCSVN chứ có phải của dân đâu… Phải thật sự bầu cử tự do. Người dân được tự do ứng cử, xoá bỏ việc mọi danh sách phải thông qua Mặt trận Tổ quốc. Đó là một việc làm lùa bịp, trấn áp trắng trợn người tài một cách bẩn thỉu, đáng khinh mà những người cầm đầu Mặt trận Tổ quốc đã có lúc tự nhận mình chỉ là “ cây cảnh”… Quân đội, công an là công cụ vũ trang của Nhà nước, không phải của riêng Đảng. Trả lại câu nói của Bác Hồ:” Quân đội ta trung với nước, hiếu với dân”. Tự sửa câu nói lịch sử của Bác Hồ là bất hiếu, bất trung … ĐCSVN phải xin lỗi vụ Nhân văn-Giai phẩm, vụ Xét lại, vụ Kim Ngọc, vụ án Trường Xuân. Các vụ này xử lý oan bao nhiêu hiền tài của đất nước…”.

Mấy bạn cựu chiến binh cổ lai hy đọc những đoạn ấy ngỏ lời khích lệ tôi: “Cách đây hơn chục năm mà đã dám viết được như thế thì NTG xếp ông vào hàng “Chiến sỹ dân chủ” không sai đâu”.

Thật ra, NTG không chỉ biểu dương mà đã từng thẳng thắn phê phán tôi. Thấy tôi bị bắt, bị đưa ra tòa xử tội và bị tống vào tù, như là vừa thương vừa giận NTG đã trách móc tôi ăn nói bỗ bã đốp chát quá với tổng bí thư Nông Đức Mạnh, chủ tịch nước Lê Đức Anh. Xin lỗi NTG, cho đến bây giờ tôi vẫn không ân hận, sám hối gì. Với cái tội đưa Trung Quốc vào khai thác bauxite ở Tây Nguyên, nói Nông Đếch Mạnh như tôi còn quá nhẹ. Bỏ vợ ốm chết để hú hý với người tình của con thì thật là Nông-Đức-nông-tài. Thời Mạnh làm Tổng bí thư đã dấy lên phong trào học tập đạo đức Hồ Chí Minh. Hẳn là ông ta thấm nhuần đạo đức Hồ Chí Minh sâu sắc lắm nên mới như thế.

Về ông Lê Đức Anh thì xin kể thêm câu cuyện sau:

Hồi làm Tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự tôi thường tiếp xúc trực tiếp để lấy tài liệu viết về các vị tướng như Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Trà… Thấy vậy, cậu Ngọc – thư ký riêng của Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh – bốn lần mời tôi đến gặp Đại tướng nhưng tôi đều tìm cớ đánh lảng. Lúc ấy Lê Đức Anh có tiếng xấu về vụ thảm sát tướng Nguyễn Bình và vụ Năm Châu Sáu Sứ, bây giờ lại lộ thêm vụ Thỏa ước Thành Đô 1990 thì tôi khẳng định rằng nặng lời như vậy vẫn còn quá nhẹ.

Sau khi Đại tướng Văn Tiến Dũng thôi chức Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng (1986), Tết tôi theo một số tướng lĩnh đến nhà riêng chúc Tết. Các tướng lĩnh chúc tết Đại tướng, nhưng tôi thì ngồi yên. Khi phu nhân Đại tướng bước vào tôi mới đứng dậy: “Cháu xin chúc Tết cô khỏe mạnh, bình an, mọi sự may mắn”. Phu nhân của Đại tướng là bà Tám Kỳ. Bà hỏi: “Anh là ai?”. “Cháu là Phạm Quế Dương là cháu của ông Sung” (Ông Sung là bác của bà Tám Kỳ). Bà cười rất vui: “Thế à”. Quay lại, tôi mới chúc tết Đại tướng Văn Tiến Dũng. Khi ra về, vài vị tướng hỏi tôi khi Đại tướng còn đương chức sao không đến thăm và chúc tết Đại tướng. Tôi trả lời:“Em không đến, vì sợ người ta cho là có ý đồ cậy cục”.

Không biết Nguyễn Thanh Giang lấy tài liệu từ đâu mà đã viết như sau:

“Bà Đỗ thị Cư – nguyên phó giám đốc Lâm trường Yên Bái, đảng uỷ viên đảng bộ Bộ Lâm nghiệp– đã viết về chồng mình- đại tá Phạm Quế Dương – như sau: “Gia đình tôi tự hào có người chồng chung thủy, người cha mẫu mực, người ông hiền hoà. Đối với họ tộc giữ được nếp gia phong, kính trên nhường dưới. Đối với bạn bè chân thành cởi mở. Đối với cấp dưới khoan dung độ lượng. Không ỷ quyền nạt nộ kẻ dưới. Biết thương yêu đồng đội lúc khó khăn. Không phân biệt kẻ sang người hèn. Đối với cấp trên, anh Dương có cá tính đặc biệt, không cơ hội, khom lưng, nịnh hót, cầu lợi cá nhân, chỉ phục tùng người thực sự có tài và rất tôn trọng người tài. Nếu như ai đó bất tài, thất đức thì dù ở cấp cao đến mấy cũng không thần phục được anh Dương. Chính vì thế mà anh luôn bị thiệt thòi và gặp rất nhiều gian truân trong suốt quá trình công tác của mình… Anh là người dám nói trước những điều nhiều người biết nhưng không dám nói, dám làm những việc nhiều người thấy cần phải làm nhưng không dám làm…”.

Rất cảm ơn Nguyễn Thanh Giang đã gợi lại cái quá khứ không đến nỗi đáng chê trách để tôi được an ủi phần nào trong những ngày cuối đời buồn tủi. Hy vọng rằng con cháu của 60 vị được tôn vinh trong cuốn “Đêm dày lấp lánh” cũng sẽ được tự hào về cha ông mình mà noi gương sáng dấn thân mạnh mẽ cho tiến trình dân chủ hóa nước nhà.

Hà Nội 30 tháng 8 năm 2014
Khu Tập thể 37 Lý Nam Đế – Hà Nội
ĐT: 04. 63700002.

1dlb.png
Phạm Quế Dương

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, sách, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , | Leave a comment

LS HÀ HUY SƠN : BÙI HẰNG THANH THẢN HÁT KHI BƯỚC VÀO VÀ BƯỚC RA

Post lại từ huynhngocchenh

Hà Huy Sơn /FB Hà Huy Sơn

10614332_719477688100469_4159802728977802029_n.jpg
Ảnh lấy từ FB Huỳnh Ngọc Chênh

Nhớ lại mấy điều đặc biệt ở phiên Tòa:

1. Nhân chứng 1 bên yêu cầu triệu tập 17 người: Tòa cho có mặt 03. Bên kia nhân chứng 32 người (trong đó 1/3 là công an huyện, xã).

2. HĐXX (03) và VKS (02) vẫn chưa chắc ăn bất ngờ cho thêm 01 LS là Chủ tịch Đoàn LS Đồng Tháp làm người bảo vệ cho 01 CA huyện là người bị anh Minh đánh đúng 1 cái vào tay (a Minh nói ko đánh ai) không có có 1 tý xây xước. Vị LS làm chức năng KSV buộc tội bị cáo chứ ko làm chức năng bảo vệ cho thân chủ (vì người CA huyện đó ko có gì cần pải bảo vệ).

3. Có 02 bản tường trình đánh máy của 02 nhân chứng là CA giống hệt nhau từng chữ, chấm, phẩy, chỉ khác ký tên.

4. Bên ngoài thì ở các ngã tư hoặc thảm cỏ vỉa hè tập chung nhưng nhóm khoảng 4-5 người cách nhau độ vài trăm mét. Khi có các LS đi qua thì họ cử 01 người giả đi tập thể dục ở đằng sau, bên cạnh để xem chúng tôi nói chuyện gì. Họ là phụ nữ khoảng trên 50 tuổi, đeo khẩu trang, đi bộ đội muc BH, chỗ tập trung nhóm của họ có nước đóng chai, giống nhau như là được phát để trực làm nhiệm vụ. Nếu nghe được gì họ sẽ đt báo cho lực lượng khác đại ý là chúng nó đang đi hướng về hướng nào, nó nói cái gì ấy, bọn này như là LS… Đặc trưng này lần đầu tôi gặp ở ngoài phiên tòa.

5. Bà Hằng khi bước vào phiên toà và khi ra khỏi phiên toà đều hát rất thanh thản. Trong phiên toà bà Hằng rất bình tĩnh và mạch lạc, sau khi bị tuyên án bà Hằng tươi cười và bình thản khi tay bị còng, bước ra xe tù, có người áp giải xung quanh.
* * *
Tôi xin chia sẻ bài bào chữa tại phiên tòa ngày 26/08/2014 tại Đồng Tháp để mong được trao đổi và học hỏi.

BÀI BÀO CHỮA
Cho bà Bùi Thị Minh Hằng và Nguyễn Thị Thúy Quỳnh
tại phiên tòa HSST ngày 26/08/2014 tại TAND tỉnh Đồng Tháp
Về “Tội gây rối trật tự công cộng” theo điểm c khoản 2 điều 245 – BLHS

Kính thưa HĐXX,

Tôi là Luật sư Hà Huy Sơn, Công ty Luật TNHH Hà Sơn – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội xin trình bày quan điểm bào chữa cho bà Bùi Thị Minh Hằng và bà Nguyễn Thị Thúy Quỳnh bị cáo buộc về “Tội gây rối trật tự công cộng” theo điểm c khoản 2 điều 245 – BLHS, như sau:
Điều 245. Tội gây rối trật tự công cộng

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;

I. Tóm tắt vụ án:

- Khoảng 08 giờ ngày 11/02/2014, xảy ra sự việc.
– 11 giờ 45 Công an xã Mỹ An Hưng B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang bà Hằng, bà Quỳnh và một số người khác.
– 19 giờ ngày 11/02/2014, CA huyện Lấp Vò ra QĐ 15/QĐ-TGN tạm giữ bà Hằng theo thủ tục hành chính 24 giờ (19 g 11/02/2014 – 19 g 12/02/2014); bà Quỳnh cũng vậy.
– Ngày 12/02/2014, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lấp Vò ra Lệnh số 26/LBKC-CQĐT bắt khẩn cấp đối với bà Hằng và bà Quỳnh cũng vậy.
– Ngày 21/02/2014, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lấp Vò ra QĐ 20 Lệnh tạm giam bà Hằng 02 tháng 21 ngày (21/02 – hết 12/05/2014) và bà Quỳnh cũng vậy.

II. Tố tụng hình sự:

1. Số lượng người dân theo:
– KLĐT là 700 người dân (trang 04),
– Cáo trạng là 500 người dân (trang 03),
– BL 724 ghi lời khai của Công an viên Lê Văn Huy Tin Anh cho rằng khoảng 600 người dân.
– BL 728 ghi lời khai của CA huyện Lấp Vò, Nguyễn Thành Lai: khoảng 600 người dân,…

Đây là một căn cứ không khách quan, nên không thể coi là chứng cứ theo như quy định của khoản 1 điều 64 “Chứng cứ” – BL TTHS.

2. Cáo trạng (trang 04) cho rằng bà Hằng, bà Quỳnh chửi người dân địa phương là “đồ ngu dân” là không đúng vì nếu có thì cụm từ này không ám chỉ người dân.

3. Lực lượng tuần tra giao thông đường bộ tuyến đường liên huyện thông thường không cần thiết phải mang theo đến 04 máy camera ghi hình, ghi âm nếu không có một mục đích được xắp đặt trước. Việc này cho thấy có dấu hiệu Công an huyện Lấp Vò có đã chuẩn bị trước để tìm kiếm chứng cứ nhằm ghép tội cho bà Hằng, bà Quỳnh, ông Minh và những người cùng đi.

4. Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 11: 45 ngày 11/02/2014 của Công an xã Mỹ An Hưng B đối với bà Hằng, bà Quỳnh và những người cùng đi được lập tại ấp An Quới là sai với quy định của khoản 1 điều 82 – BL TTHS:

“Điều 82. Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.”

5. Quyết định số 15/QĐ-TGN ngày 11/02/2014, tạm giữ người theo thủ tục hành chính đối với bà Hằng (bà Quỳnh cũng vậy) 24 giờ từ 19 giờ ngày 11/02/2014 đến 19 giờ ngày 12/02/2014 là sai với quy định tại khoản 1 điều 122 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012:

“Điều 122. Tạm giữ người theo thủ tục hành chính

1. Việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác.”
Vì sự việc xảy ra đến 12 giờ 30 ngày 11/02/2014 trở giao thông đã được giải tỏa.

6. Bà Hằng, bà Quỳnh vừa bị bắt theo trường hợp phạm tội quả tang (theo điều 82 – BL TTHS) lại vừa bị bắt theo Lệnh bắt khẩn cấp (theo điều 81-BL TTHS) là vô lý nó thể hiện quyết tâm bắt người bằng được của cơ quan công an Đồng Tháp.

III. Yếu tố cấu thành tội phạm:

1. Mặt khách quan của tội phạm:

Cáo trạng cho rằng ách tắc giao thông đến 12 giờ 30, khoảng 2 giờ 30 phút. Kết luận này chỉ dựa vào lời khai của những người làm chứng, nhưng những người làm chứng không có căn cứ nào để chứng minh là ắch tắc giao thông từ khoảng 10 giờ đến 12 giờ 30.

1.1. Cơ quan điều tra chỉ dựa vào các lời khai của những người làm chứng, nhưng những người làm chứng hôm đó không có máy ghi hình, kèm đồng hồ đo thời gian để chứng minh mà chỉ khai theo cảm tính. Người làm chứng không có bằng chứng khách quan nào để xác định giờ nào bắt đầu ắch tắc giao thông hoặc giờ nào thì giải tỏa.

Theo khoản 2 điều 67 “Lời khai của người làm chứng” – BL TTHS:

“Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.”

Do vậy, các lời khai đó không được coi là chứng cứ.

1.2. Lực lượng tuần tra hôm đó không lập biên bản về việc ắch tắc giao thông nên không có căn cứ xác định ắch tắc giao thông 2 giờ 30 phút.

2. Mặt chủ quan của tội phạm:

“Tội gây rối trật tự công cộng” theo điểm c khoản điều 245 – BLHS phải là lỗi cố ý.
2.1. Nếu xảy ra việc vi phạm giao thông: đi xe mô tô dàn hàng ba thì bà Hằng, bà Quỳnh cũng không phải là người có liên quan.

2.2. Cáo trạng cho rằng đã có khoảng 500 người dân kéo đến xem và người đi đường không đi được phải dừng phương tiện giao thông làm cho người tham gia giao thông trên đường không thể qua lại được trên huyện lộ DH67B thuộc huyện Lấp Vò. Hay nói cách khác đây là do hiếu kỳ của người dân địa phương chứ không phải lỗi của bà Hằng, bà Quỳnh.

Sáng ngày 11/02/2014, bà Hằng, bà Quỳnh và mọi người cùng đi đến Lấp Vò đã xuất phát từ Tp.HCM ngày 10/02.2014 để về thăm người quen ở Lấp Vò nên vô lý họ mới cố ý gây ra cản trở giao thông để để phá hỏng chuyến đi của mình.

2.3. Cáo trạng không chứng minh được hành vi của bà Hằng, bà Quỳnh: “có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;” theo quy định khoản 2 điều 63 “Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự” – BL TTHS

“Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:

2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;”

2.4 Nếu ngày 11/02/2014, có gây ra cản trở giao thông thì đối với bà Hằng, bà

Quỳnh không phải là lỗi cố ý nên về mặt chủ quan của tội phạm không cấu thành tội theo điều 245 – BLHS. Mặt khác lực lượng tuần tra có nhiệm vụ bảo đảm an toàn giao thông thuộc phạm vi địa bàn tuần tra, kiểm soát theo khoản 2 điều 4 Thông tư 65/2012/TT-BCA ngày 30/10/2012 của Bộ Công an, quy định:

“Điều 4. Nhiệm vụ

Cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ có các nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân và nhiệm vụ cụ thể sau đây:

2. Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông thuộc phạm vi địa bàn tuần tra, kiểm soát; phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.”

2.5. Nếu sáng ngày 11/02/2014, lực lượng tuần tra giao thông xác định được nhiệm vụ chính là bảo đảm an toàn giao thông trên huyện lộ DH67B, không xử phạt trường hợp đi xe mô tô dàn hàng 3 thì đã không xảy ra ách tắc giao thông.

IV. Kiến nghị:

Kính thưa HĐXX,

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và thẩm vấn tại phiên tòa hôm nay, mọi chứng cứ để cáo buộc bà Hằng, bà Quỳnh chỉ duy nhất dựa vào lời khai của các nhân chứng do Cơ quan điều tra xắp đặt. Lỗi gây ra ách tắc giao thong ngày 11/02/2014, nếu có không phải lỗi cố ý của bà Hằng, bà Quỳnh mà là lỗi của lực lượng Công an tuần tra giao thông.

Thế giới ngày nay là một thế giới phẳng, sự việc xảy ra ở nơi thì cả thế giới đều biết đến. Công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của Việt Nam chịu sự ảnh hưởng rất lớn sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Nếu phiên tòa hôm nay không khách quan, không có công lý sẽ không thuyết phục được người dân và làm mất đi đáng kể sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Vụ án này thu hút sự quan tâm rất lớn của dư luận trong nước và quốc tế.

Về nhân thân bà Hằng, bố đẻ là người có công với chế độ, bản án ngày hôm nay nếu là một án oan thì sẽ là một báo oán, vì vậy tôi mong HĐXX xem xét.

Về nhân thân bà Quỳnh, chưa có tiền án, tiền sự; gia đình có công với chế độ.
Với các luận cứ tôi đã trình bày ở trên:

1- Căn cứ khoản 1 điều 227 – BL TTHS tôi đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bà Bùi Thị Minh Hằng và bà Nguyễn Thị Thúy Quỳnh vì các bị cáo không có tội.

2- Đề nghị Tòa trả lại các đồ vật tạm giữ cho bà Bùi Thị Minh Hằng và bà Nguyễn Thị Thúy Quỳnh.

3- Đề nghị Tòa ra quyết định khởi tố vụ án “Cố ý gây thương tích và cướp giật tài sản” mà bị hại chính là bà Hằng, bà Quỳnh và những người cùng đi.

Tôi xin chân thành cám ơn các sự lắng nghe của các quý vị,

Tp. Cao Lãnh, ngày 26/08/2014
Người bào chữa
Luật sư Hà Huy Sơn
Theo FB Hà Huy Sơn

Posted in chính trị, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Trần Trung Đạo: TT Ngô Đình Diệm đã từng giúp gạo cho dân Tây Tạng tỵ nạn tại Ấn Đ ộ?

Nguồn facebook Trần Trung Đạo

August 28, 2014 at 10:09pm

(Đức Đạt Lai Lạt Ma, người thứ hai trong hình, 24 tuổi, đang trên đường vượt thoát từ Tây Tạng sang Ấn Độ, tháng Ba 1959)

Vài tháng trước trên internet xuất hiện bài viết “Câu chuyện thật cảm động của đức ĐẠT LẠI LẠT MA nói về ĐỆ NHẤT VNCH” với nội dung chính:

Ngày 20.09.2013 khi người Việt tại Đức được vinh dự đón Đức Dalai Lama tại chùa Viên Giác, Ngài đã kể lại 1 câu chuyện thật cảm động. Những thập niên 50, Mao Trạch Đông xua quân vào Tây Tạng giết sư, đốt chùa và gây ra hằng hà xa số tội ác với 1 dân tộc Tây Tạng hiền lành chịu đựng. Năm 1959 Đức Dalai Lama phải cùng dân tộc của Ngài từ bỏ quê hương lên đường tỵ nạn. TQ lúc bấy giờ như con hổ đói, họ dùng đủ mọi cách để truy lùng …Ngài. Khoảng thời gian đó trên thế giới ít người biết và để ý đến tình hình xảy ra ở Tây Tạng, và cũng chẳng ai biết gì về 1 thanh niên với nụ cười thật nhân hậu đang dìu dắt dân tộc mình lánh nạn trước mũi súng bạo tàn của Mao Trạch Đông. Ấn Độ luôn có đụng độ với TQ về vấn đề biên giới, vi vậy họ không muốn làm tình hình căng thẳng thêm, nên cũng chẳng tha thiết giúp đỡ đoàn người tỵ nạn đến từ Tây Tạng. Tin tức về tình hình bi đát từ Tây Tạng chẳng được loan truyền, lại bị TQ cô lập thông tin toàn diện, nên thế giới chẳng ai biết đến mà quan tâm. Đoàn người tỵ nạn vì vậy thiếu thốn cơ cực đủ điều, tình hình lúc bấy giờ thật nghiệt ngã.

May thay ở vùng Đông Nam Á có 1 vị Tổng Thống cũng nhân đạo không kém. Ông từng biết thế nào là tỵ nạn CS, vì chính ông cũng đã mở rộng vòng tay đón tiếp và giúp đỡ hằng triệu đồng bào của ông chạy nạn CS từ Bắc vào Nam… Đó là cố TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng. Một miếng khi đói bằng một gói khi no, Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệmđối với dân tộc của ông vào những ngày tháng khó khăn nhất”.

Vài hôm sau tôi nhận bài viết phản bác bài viết trên với cái tựa khá dài “ĐỨC DALAI LAMA, ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ MẶC CẢM TỘI LỖI CỦA NHÓM “HOÀI NGÔ”” của tác giả Nguyễn Kha. Tác giả dành khá nhiều công sức để tìm kiếm gần như tất cả các phương tiện truyền thông thông dụng, từ google cho đến các trang web Tây Tạng và nhất là nghe kỹ youtube thu lại buổi thuyết pháp của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở chùa Viên Giác.

Theo tác giả Nguyễn Kha, ngoài ba lần nhắc đến Việt Nam trong chiến tranh, trong toàn bộ buổi thuyết pháp “Đức Dalai Lama đã không còn đả động gì đến Việt Nam nữa. Nhất là Ngài HOÀN TOÀN KHÔNG NÓI MỘT TIẾNG “PRESIDENT DIEM” HAY MỘT TIẾNG “RICE DONATION” NÀO CẢ. Do đó, dĩ nhiên là không có câu chuyện hoang đường “Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệm” đã “âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng.” như “Chị Hoa Lan” đã gian trá phịa ra”.

Đến Viên Giác, Hannover, Đức

Một lần, bạn tôi, Luật sư Nguyễn Xuân Phước ở Dallas gọi để thảo luận về chuyện “TT Ngô Đình Diệm tặng gạo cho dân Tây Tạng” này. Tôi nói với anh, trên quan điểm chính trị và nhân đạo, tôi tin là có nhưng thú thật tôi không chứng minh được bằng tài liệu nào. Biết tôi sắp đi Đức, anh Phước dặn tôi để đích thân nhờ Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương trượng chùa Viên Giác, Hannover xác nhận dùm chuyện “hàng tấn gạo” này. Tôi hứa sẽ bạch với thầy.

Tôi đến Hannover chiều thứ Năm tuần trước. Lần đầu đến viếng chùa Viên Giác, nhưng về tình cảm, với tôi đây là chuyến trở về. Viên Giác Hannover không có bóng đa già và những mùa thu ngập lá như Viên Giác Hội An. Viên Giác Hannover không có thằng bé ngồi nhìn bóng trăng soi trên sân gạch mà nhớ đến mẹ mình trong những đêm rằm Vu Lan tháng Bảy như Viên Giác Hội An. Cây đa già đã chết, thằng bé đã đi xa nhưng ký ức của một phần đời cô đơn nhất vẫn còn nguyên vẹn trong tâm hồn nó.

Sau những chuyện riêng tư, thăm hỏi sức khỏe, tôi bạch với Hòa thượng Thích Như Điển trong thời gian Đức Đạt Lai Lạt Ma viếng thăm chùa Viên Giác hôm 20 tháng 9, 2013, khi ngài thuyết pháp, khi ngài trò chuyện, khi ngài nói trong chương trình, khi ngài thăm hỏi ngoài chương trình, có bao giờ Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc đến việc “TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng” không?

Hòa thượng Như Điển xác định “Không”.

Nhưng rồi hòa thượng nói tiếp, sau khi đọc bài viết chính hòa thượng cũng thắc mắc về chuyện “hàng tấn gạo” và bảo các đệ tử, trong đó có nhiều người tu học tại Ấn Độ truy cứu tài liệu để tìm xem nếu Việt Nam Cộng Hòa đã từng viện trợ gạo cho nhân dân Tây Tạng. Ngày 7 tháng 8 vừa qua, hòa thượng nhận được kết quả truy cứu.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã hai lần tặng gạo cho dân tỵ nạn Tây Tạng

Tài liệu xác nhận Việt Nam Cộng Hòa đã có cứu trợ gạo cho dân tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn, và không chỉ cứu trợ “hàng tấn gạo”, vài chục ngàn tấn mà đã gởi hai lần tổng cộng một ngàn năm trăm tấn gạo qua trung gian chính phủ Ấn. Hòa thượng chuyển cho tôi nguyên văn tài liệu và cả đường link dẫn đến tài liệu. Ngài cũng khuyến khích tôi dịch các đoạn liên hệ đến Việt Nam để phổ biến cho công chúng. “Sự thật cần phải làm sáng tỏ”, thầy dặn tôi như thế.

Tôi thật có duyên với câu chuyện “hàng tấn gạo” này vì người đón gia đình tôi ở phi trường và cả nhà ga Berlin lại là chị Hoa Lan. Chúng tôi không biết nhau trước. Chị ở Berlin nên Hòa thượng Phương Trượng chùa Viên Giác nhờ chị đón chúng tôi ở phi trường, đưa sang nhà ga đi Hannover và đón chúng tôi khi về lại Berlin. Khi chị đón tôi ở nhà ga Berlin, trên đường về khách sạn, tôi hỏi có phải chính chị đã nghe đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng “TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng” hay không? Chị Hoa Lan trả lời “Không”. Chị Hoa Lan cũng không biết ai đã dùng tên chị để đưa vào bài viết. Vì tôi đã được hòa thượng xác nhận bằng tài liệu chính thức của chính phủ Ấn nên việc chị Hoa Lan có nói hay không không còn là chuyện quan trọng.

Giá trị của tài liệu

Tài liệu do Hòa thượng Như Điển chuyển dày 116 trang do Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Sách và Quốc Hội Tây Tạng (Tibetan Parliamentary and Policy Research Centre) công bố năm 2006. Trung tâm đặt văn phòng tại H-10, 2nd Floor, Lajpat Nagar – III, New Delhi – 110024, INDIA. Đây là tổng kết các biên bản ghi lại các buổi phỏng vấn các lãnh đạo trong chính phủ Ấn Độ. Những người được phỏng vấn có Thủ tướng Shri Jawaharlal Nehru, Bộ Trưởng Ngoại Giao Shrimati Lakshmi Menon, Bộ trưởng Thương mại Shri D.P. Karmarkar, Thứ trưởng Ngoại Giao Shri A.K. Chanda, Bộ trưởng Thương Mại và Kỹ Nghệ Shri T.T. Krishnamachari và nhiều viên chức cao cấp khác có liên hệ đến tiến trình định cư người tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn từ năm 1952 đến năm 2005.

Phỏng vấn Thủ tướng Nehru

Ngày 19 tháng 12 năm 1960, người phỏng vấn tên Shri Harihar Patel hỏi Thủ Tướng Shri Jawaharlal Nehru: “Thủ tướng vui lòng cho biết tên các quốc gia, cơ quan cứu trợ tư có liên hệ đến công việc cứu giúp và định cư người tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn và số lượng cũng như tên các trại do các cơ quan đó điều hành tại Ấn, Sikkim và Bhutan?

Thủ tướng Shri Jawaharlal Nehru: “Các chính phủ Úc, Mỹ và Tân Tây Lan đã viện trợ 10 lakhs Rupees, 4,75,000 Rupees, 2,63,920 Rupees theo thứ tự để chính phủ Ấn chi dùng cho các chương trình tỵ nạn Tây Tạng. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tặng 1300 tấn gạo”.

Các cơ quan thiện nguyện tư cung cấp thức ăn, áo quần, thuốc men v.v. gồm có (1) Co-operative for American Relief Everywhere; (2) American Emergency Committee for Tibetan Refugees; (3) Catholic Relief Services in India; (4) National Christian Council of India; (5) World Veterans’ Federation; (6) Indian Red Cross Society; (7) Junior Chamber International; (8) The Buddhist Society of Thailand. Không có một trại tỵ nạn nào được đặt dưới sự điều hành bởi các cơ quan từ thiện ngoại quốc.”

Phỏng vấn Bộ Trưởng Ngoại Giao Shrimati Lakshmi Menon

Ngày 30 tháng Tư, 1962, người phỏng vấn tên Shri N. Sri Rama Reddy phỏng vấn Bộ Trưởng Ngoại Giao Ấn Shrimati Lakshmi Menon: “Thủ tưởng có vui lòng cho biết đúng hay không rằng Chính phủ Nam Việt Nam đã đề nghị tặng 200 tấn gạo để cứu giúp người tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn Độ”. Bộ trưởng Ngoại Giao Ấ Shrimati Lakshmi Menon đáp “Đúng vậy, thưa ông”.

Như vậy, việc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không chỉ một lần mà hai lần và cũng không chỉ vài ngàn mà hàng trăm ngàn tấn gạo là chuyện thật.

Người xác nhận nghĩa cử cao quý của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không phải là một viên chức cấp thấp chăm lo công việc cứu trợ hay một phóng viên báo chí góp nhặt tin tức đó đây mà chính từ lời phát ngôn trang trọng của cố Thủ Tướng Shri Jawaharlal Nehru, người có thẩm quyền cao nhất của chính phủ Ấn và cũng là nhà kiến trúc nên quốc gia dân chủ Ấn Độ hiện đại ngày nay.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tặng gạo cả hai lần đều qua trung gian của chính phủ Ấn và các trại tỵ nạn Tây Tạng ngày đó như Thủ Tướng Shri Jawaharlal Nehru xác nhận, đều đặt dưới quyền điều hành của các cơ quan xã hội Ấn nên đức Đạt Lai Lạt Ma có thể không biết.

Lý do không “hoang đường” mà rất đơn giản và dễ hiểu.

Về mặt nhân đạo, việc cố Tổng thống Ngô Đình Diệm tặng gạo cho nhân dân Tây Tạng phát xuất từ tình người. TT Ngô Đình Diệm đâu cần phải vượt qua hàng rào tôn giáo như người viết bài gán ghép cho cố tổng thống. TT Ngô Đình Diệm cũng không phải “âm thầm” giúp đở chỉ vì ngài là “Tổng Thống Công Giáo” mà lại giúp đở “những người Phật Giáo Tây Tạng”. Đạo Công Giáo chẳng những không cấm cản mà còn khuyến khích con cái Chúa giúp đở những người khó khăn, đói khát, chịu đựng không cùng tôn giáo. Hình ảnh Mẹ Teresa sẽ mãi mãi như ánh trăng thương yêu soi sáng sông Hằng Hindu Ấn Độ. Hàng triệu người Việt tỵ nạn Cộng Sản sau 1975 đã vượt qua được chặng đường đầu đầy khó khăn phần lớn cũng nhờ vào bàn tay cứu giúp của những người không cùng tôn giáo.

Về mặt chính trị, cố Tổng thống Ngô Đình Diệm chắc chắn biết rằng Việt Nam Cộng Hòa và Tây Tạng có nhiều điểm giống nhau về hoàn cảnh lịch sử và địa lý chính trị. Hai dân tộc từng chịu đựng dưới ách thống trị của phong kiến Trung Hoa, hai quốc gia nhỏ chịu số phận vùng trái độn sát biên giới Trung Cộng, hai cuộc di dân tìm tự do trong đói khát, chịu đựng, viện trợ gạo, do đó, là một cách để thế giới thấy rằng Việt Nam Cộng Hòa luôn đứng về phía những người cùng chiến tuyến tự do. Tổng thống Ngô Đình Diệm không làm việc đó trong “âm thầm” mà đã chính thức thông báo cho Thủ tướng Ấn Độ Shri Jawaharlal Nehru biết và được thủ tướng vui mừng đón nhận. Ngày nay rất nhiều quốc gia có cảm tình với Tây Tạng nhưng trong thời điểm 1960 chỉ vỏn vẹn bốn quốc gia, trong đó có Việt Nam Cộng Hòa đã đóng góp trực tiếp vào việc cứu trợ dân tỵ nạn Tây Tạng. Và trong số bốn quốc gia, Việt Nam Cộng Hòa có thể là nước nghèo nhất về của cải nhưng giàu hơn nhiều cường quốc về lòng nhân đạo.

Hai lý do đó chẳng “hoang đường” nhưng rất đơn giản và dễ hiểu mà vị lãnh đạo một quốc gia cùng số phận với Tây Tạng hẳn phải biết.

Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm có đức tính sống cao cả hơn và có một tâm hồn trong sáng hơn nhiều người đang “ca tụng” hay “vinh danh” ngài. Nếu biết kính trọng, hãy để ngài là cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, đừng cô lập ngài thành một vị “Tổng Thống Công Giáo”. Lịch sử để lại nhiều vết thương đau nhưng không có vết thương đau nào là của riêng Công Giáo hay Phật Giáo mà là vết thương đau của dân tộc.

Phản bác bài viết “Câu chuyện thật cảm động của đức ĐẠT LẠI LẠT MA nói về ĐỆ NHẤT VNCH”, tác giả của bài “ĐỨC DALAI LAMA, ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ MẶC CẢM TỘI LỖI CỦA NHÓM “HOÀI NGÔ” cũng chẳng xây dựng hay tích cực gì hơn. Thái độ hiềm khích, hằn học thể hiện ngay trong cách dùng từ, đặt tựa.

Không thể đánh giá một con người đã sống, một biến cố đã xảy ra hơn nửa thế kỷ bằng tiêu chuẩn ngày nay. Phương pháp đó thiếu đặc tính khách quan và lịch sử. Dân chủ là một tiến trình từ thấp đến cao, từ non trẻ đến trưởng thành chứ không phải là một sản phẩm được chế tạo theo một công thức, mẫu mực nhất định hay được nhập từ một quốc gia nào. Nền dân chủ Mỹ trả giá bằng sinh mạng của sáu trăm ngàn người lính hai miền trong năm năm nội chiến. Nền dân chủ Nam Hàn cũng phải chịu đựng ám sát, đảo chính, độc tài, tham nhũng trước khi trở thành một trong G20 của thế giới ngày nay.

Việt Nam Cộng Hòa, sau hiệp định Geneva, từ một thường dân cho đến nguyên thủ quốc gia đều bắt đầu hành trình dân chủ đầy gai góc bằng hai bàn tay trắng, vừa học vừa hành trong máu và nước mắt. Không ai muốn nhưng đã để lại những hố sâu, những vết nứt trên đường đi của các thế hệ hôm nay. Một người Việt Nam có trách nhiệm, nếu không giúp lấp lại những cách ngăn, không giúp xoa dịu nỗi đau, không giúp bắt một nhịp cầu cảm thông thì cũng không nên đào sâu thêm hố hận thù, chia rẽ trong lòng một dân tộc đang quá khao khát thương yêu và đoàn kết.

Trần Trung Đạo

(Trên xe lửa từ Berlin đi Prague, chiều 26-8-2014)

Tham khảo:

- Indian Parliament on the issue of Tibet RAJYA SABHA DEBATES 1952 -2005 (http://www.tpprc.org/publication/rajya_sabha_debates_on_tibet-2006.pdf)

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Bùi Tín : Tất cả chỉ là phương tiện

Nguồn VOA

27.08.2014

Dư luận trong ngoài nước đang xôn xao bàn tán về lá Thư ngỏ của 61 đảng viên CS, phần lớn là trí thức cấp cao từng đảm nhận những chức vụ quan trọng như giáo sư, viện sỹ, chuyên gia, cố vấn trong bộ máy đảng và nhà nước. Thật ra từ năm 2010, trước Đại hội đảng thứ XI, theo yêu cầu của Bộ Chính trị mời toàn đảng và toàn dân góp ý vào các văn kiện dự thảo, nhiều trí thức đã mạnh dạn và chân thành góp ý, nhưng lãnh đạo đã có thái độ cực kỳ ngạo mạn, gần như không hề tiếp nhận một ý kiến phản biện nào, dù cho đó là ý kiến sáng suốt, tỉnh táo, có cơ sở lý luận vững chắc, thực tiễn rõ ràng, lập luận chặt chẽ.

Đó là những ý kiến của Giáo sư Trần Phương và ông Vũ Khoan, từng là phó thủ tướng: của các Giáo sư Đào Xuân Sâm, Đào Công Tiến, Phan Văn Tiệm, Nguyễn Mại, Võ Đại Lược; của nguyên Đại sứ Nguyễn Trung; của các chuyên gia Vũ Quốc Tuấn, Trần Đình Thiên, Việt Phương, Lê Đăng Doanh; của các nữ chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nữ chuyên gia ngân hàng Dương Thu Hương; của cựu trưởng Ban Bảo vệ chính trị trung ương đảng Nguyễn Đình Hương.…. Đó là mới chỉ kể những người tiêu biểu nhất, trong đó không ít người tôi từng quen biết, từng trao đổi ý kiến từ khi còn ở trong nước.

Tôi rất hiểu tâm trạng của những trí thức có trình độ, có tâm huyết như thế, và tôi cũng hiểu sự chán nản, bực bội, có khi phẫn nộ của anh chị em khi thấy lãnh đạo vẫn cứ một mực ù lỳ, giáo điều, ôm chặt chủ nghĩa Mác-Lênin đã thất bại hiển nhiên, «kiên trì» chế độ độc quyền đảng trị mục nát, duy trì chế độ sở hữu toàn dân về ruộng đất kỳ quặc, thực hiện chính sách phi lý hèn với bọn bành trướng, ác với dân.

Ông Nguyễn Trung đã sốt ruột sau khi viết nhiều luận văn rất dài, viết cả vở kịch «Lũ» để cảnh báo về tình hình cực kỳ nghiêm trọng, nay lại cảnh báo khẩn cấp về «thảm họa Đen» đang gõ cửa nước ta (có thể đọc trên mạng Thời đại mới), nhưng vẫn chỉ là công cốc, thật đau lòng, khốn khổ về tinh thần cho người có tâm có tầm như thế.

Chẳng lẽ hàng ngũ trí thức VN đành chịu bó tay, theo lập luận rằng Bộ Chính trị kêu gọi góp ý, mỗi người đã chân thành tích cực góp ý, thế là hoàn thành nhiệm vụ, xong việc, còn lại là trách nhiệm của họ, của lãnh đạo? Nghĩ như thế có ổn không?

Tôi nghĩ có một hàng rào tâm lý ngăn cản đội ngũ trí thức nước ta dấn thân mạnh mẽ hơn nữa cho quê hương đất nước và nhân dân thân yêu của mình. Một hàng rào có hại, nguy hiểm. Đó là khái niệm phong kiến về lòng trung thành. Trung thành với đảng CS, với chế độ độc đảng, vì sau khi vào đảng, anh chị em thường nghĩ và gọi là «đảng ta», «chế độ ta», trung thành với lá cờ Tổ quốc, lá cờ đảng được coi là «những lá cờ của ta», ta từng mang xương máu ra để bảo vệ kia mà. Trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, với điều lệ đảng, với hiến pháp của đất nước, trung thành với đường lối, chính sách, luật pháp của đảng và nhà nước ta. Tất cả đều thiêng liêng, đặt trên bàn thờ để cúng bái, không ai được coi thường, xúc phạm. Đạo đức xã hội phong kiến kiểu Khổng giáo cho rằng không trung thành là xấu xa, đáng tủi hổ, là phản bội, là nhục nhã, phải bị lên án, bị trừng phạt. Người quân tử phải trung với nhà vua, làm điều phải, vâng lời cha mẹ, thầy giáo, không được làm trái.

Lúc này xã hội ta cần truyền đạt, cổ xúy một thái độ tiến bộ. Đó là coi đảng, nhà nước, học thuyết, đường lối, lý luận, điều lệ, hiến pháp… tất cả chỉ là công cụ, là phương tiện để con người, xã hội sử dụng trong sự nghiệp phát triển nhằm mưu cầu hạnh phúc chung. Tất cả những công cụ, phương tiện ấy đều không có gì là thiêng liêng, vĩnh cửu, đều có thể sửa chữa, thay đổi, thay thế tùy theo điều kiện cụ thể. Như cái cày cái bừa của nông dân, cái búa cái kìm của người thợ, cái kim của cô thợ may, cái bút của anh sinh viên. Không thể giữ thái độ cổ hủ, cố định, đình trệ, rất phản khoa học, trái tự nhiên.

Nếu có chăng điều thiêng liêng thì đó là yêu nước thật lòng, thương dân thật lòng, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải của quê hương, làm điều thiện tránh điều ác, tránh lòng tham, không đi ngược lại lương tâm, không làm trái điều mình tin là lẽ phải, phải có dũng khí, không làm theo điều gì sai lầm có hại cho nhân dân đất nước.

Chủ nghĩa Mác-Lênin áp dụng ở Liên Xô, Đông Âu đã thất bại hiển nhiên, bị gạt bỏ dứt khoát vậy còn tiếc rẻ làm gì? Chủ nghĩa xã hội thực tiễn đã phá sản triệt để trong hơn 10 nước; ở VN Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định đến cuối thế kỷ này cũng sẽ chưa thấy mặt mũi nó ra sao, vậy thì giữ nó làm gì? Chủ nghĩa cộng sản còn xa vời hơn, chưa thấy hình dáng nó ra sao, huống gì các ông CS hiện nay toàn là tư sản lớn nhỏ cả, vậy thì chủ nghĩa CS đã trở thành vô nghĩa, ôm nó mãi làm gì? Các ông Mác-Lênin chẳng có gì là thiêng liêng mà lại còn có hại, thì còn có lý gì để còn luyến tiếc, để ghi mãi trong cương lĩnh, điều lệ đảng?

Hơn 20 năm trước toàn thế giới có trên 100 đảng và nhóm CS, nay tuyệt đại đa số đã giải thể, đã chết, gần như tuyệt chủng, vậy giữ mãi cái danh hiệu CS cô độc, bị lịch sử thải loại không thương tiếc, cho vào bảo tàng rồi, không dám bỏ sang một bên để mang tên mới liệu có còn khôn ngoan?

Khi hàng vạn trí thức CS đã nhận rõ rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đem ra áp dụng đã tàn phá đất nước, chủ nghĩa xã hội thực tiễn đã là tai họa hiển nhiên cần dứt khoát từ bỏ nhưng lãnh đạo không chịu nghe theo lẽ phải, vậy thì các anh chị em đó còn có lý do gì để tiếp tục giữ niềm tin tuyệt đối trung thành với đảng? Như thế là đã tự mình mâu thuẫn với chính mình, phản bội lại trí tuệ và lương tâm của chính mình, không nhất quán với bản thân mình, vậy có còn là trí thức chân chính lương thiện hay không? Họ đã ngụy biện, lấy sự trung thành với đảng, với lãnh tụ, với học thuyết, với cương lĩnh để che dấu thái độ ươn hèn, thỏa hiệp với sai lầm và còn trên thực tế đồng lõa với tội ác.

Tôi còn nhớ trước Đại hội XI của đảng CS, Tiến sỹ Đỗ Xuân Thọ yêu cầu đảng từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin để trở về với dân tộc, nếu không ông sẽ công khai đốt thẻ đảng vì đảng không còn là đảng của ông và của nhân dân nữa. Ông đã làm đúng như thế, và ông cùng một số đảng viên CS phản tỉnh đã vĩnh biệt đảng CS đang nghĩ đến việc chung sức lập một tổ chức chính trị mới để phục vụ nhân dân, dân tộc, hợp với thời đại mới. Đây là một suy nghĩ đáng quý.

Tôi tha thiết mong mỏi những đảng viên lâu năm tôi từng quen biết, từng trân trọng, như Giáo sư Trần Phương, nhà chính trị-ngoại giao Vũ Khoan, Trung tướng Đặng Quốc Bảo, anh Vũ Quốc Tuấn, Luật sư Trần Quốc Thuận, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Cô Nguyễn Thanh Bình, con gái của tướng Vĩnh, nữ giáo sư Nguyễn Thị Ngọc Toản, vợ cố Trung tướng Cao Văn Khánh, Giáo sư Hoàng Tụy – xin tất cả các bạn quý mến khác nữa, hãy dấn bước thêm, theo hướng đoạn tuyệt với những gì các bạn đã cho là sai lầm, hư hỏng, nguy hiểm cho đất nước cho đồng bào, dứt tình triệt để với bọn bành trướng khi dã tâm của chúng đã mười phân rõ mười. Xin các bạn hãy nhất loạt từ bỏ những công cụ cực kỳ tệ hại kéo dài, đã gây biết bao thảm họa, để cùng nhau tạo nên công cụ mới, lý luận mới, đường lối đối nội đối ngoại mới, bạn bè mới, liên minh mới phục vụ cho phát triển và phồn vinh của Tổ quốc, cho đồng bào đang trông đợi ở chúng ta.

Rất mong tất cả các bạn có thái độ phản biện quyết liệt hơn nữa với những văn kiện dự thảo cho Đại hội đảng lần thứ XII sắp đến, không thể tiếp tục chấp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa CS mơ hồ ảo ảnh, nền chuyên chính độc đảng tệ hại…Chỉ cần có thái độ dứt bỏ những công cụ cũ kỹ, lạc hậu có hại ấy, và lựa chọn thay thế bằng những dụng cụ hiện đại, tiên tiến, có ích. Còn cách dứt bỏ thì tùy, như thẻ đảng viên có thể cất vào ngăn kéo, cho một mồi lửa, vứt vào thùng rác, đào sâu chôn chặt vào quá khứ hay lịch sự trao lại cho Ban Tổ chức của đảng, bắt tay từ biệt các đồng chí cũ, nhẹ nhàng đoạn tuyệt với danh nghĩa đảng viên, mang danh nghĩa mới là người công dân dân chủ.

Mong các bạn quý hãy bước thêm một bước tới trước, chung sức tạo nên một tổ chức mới, một công cụ mới, từ trí tuệ tinh thông, từ tâm huyết nồng nhiệt để xây dựng đất nước hưng thịnh, phồn vinh, thành quả phát triển được chia chung cho toàn xã hội.

Xin nhớ biết bao nhà lãnh đạo từng gắn bó với lý luận Mác-Lênin, với học thuyết cộng sản cuối cùng đã ngay thật thốt ra là đảng CS theo chuyên chính vô sản không thể đổi mới, không thể cải tạo, không thể hoàn lương, nó đã hư hỏng từ gốc đến ngọn. Nó còn ngày nào là gây hại, làm mất thời gian là của quý nhất của nhân dân, của dân tộc ngày ấy.

Vậy thì mọi đảng viên CS còn có lương tri, còn được lòng yêu nước thương dân mách bảo, hãy làm một cử chỉ nhân đạo, cho đảng CS một ân huệ là góp phần kết thúc sự tồn tại tệ hại của nó, tiễn đưa nó vào viện bảo tàng. Nó không còn có chút gì là thiêng liêng, cao quý, không mảy may có ích.

Rồi các bạn sẽ thấy, cuộc đời sẽ thanh thản, nhẹ nhàng, đáng sống hơn trước, cảm thấy gần với nhân dân, đồng bào, có ích cho cuộc đời này rất nhiều. Dù cho có bị chụp mũ, bị đánh hội đồng là «phản bội», «theo chân bọn phản động», «tay sai cho đế quốc» cũng không hề hấn gì khi lương tâm trong sáng, luôn thật lòng yêu nước thương dân.

Trên đây là những lời tâm huyết của một người do hoàn cảnh địa lý-chính trị-xã hội đã ở trong đảng CS hơn 42 năm (từ tháng 3/1946 đến tháng 9/1990), đã từ biệt đảng 25 năm nay, tuy được đảng CS đào tạo, sử dụng nhưng không thể không chia tay với một công cụ chính trị nguy hại cho dân cho nước, và từ đó cảm thấy có ích cho cuộc đời, thật sự cảm thấy hạnh phúc tự hào hơn bao giờ hết.

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Người Buôn Gió : Khoảnh khắc cuộc đời.

Nguồn nguoibuongio

Thứ Tư, ngày 27 tháng 8 năm 2014

- Anh không nghĩ đến mẹ anh và con anh sao.? Chúng nó chả tốt gì với anh đâu, việc gì anh phải giữ cho chúng nó.

Tên tù im lặng, dường như hắn ta đang nhớ về gia đình. Các ngón tay hắn đan vào nhau xiết chặt nổi gân trên bàn tay gầy mảnh. Cán bộ điều tra mái tóc hoa râm nhiều kinh nghiệm liếc ánh mắt sắc lạnh nhìn đối tượng. Ông nói chậm rãi.

- Khi chúng tôi khám nhà anh, con trai anh hỏi chúng tôi – các bác bắt bố cháu à, thế bao giờ bố cháu về? – Thằng bé xinh trai và nghịch nhỉ, nó còn lấy đũa chọc vào máy tính.

Người cán bộ điều tra thở dài nói tiếp khi đã ngừng lại vài giây quan sát đối tượng. Hai bàn tay của đối tượng đã đưa lên bịt hai hốc mắt ôm vòng lên trán.

- Cuộc đời còn nhiều gánh nợ lắm, nợ mẹ sinh ra, nợ trách nhiệm nuôi con mình lớn khôn , sao cho nó bằng đứa trẻ khác. Nghĩ kỹ đi, không thương mình thì cũng phải thương con mình.

Bờ vai của đối tượng rung rung. Đã 5 ngày thẩm vấn, đối tượng luôn ma mãnh trước mối câu hỏi đặt ra, thậm chí còn nở nụ cười khi phản bác được lập luận của cán bộ điều tra. Hắn tỉnh táo và phản xạ nhanh nhẹn trước những câu hỏi tưởng là đơn giản nhưng là một cái bẫy. Cảm giác của hắn khá tốt hơn người khác. Hồ sơ cho thấy hắn là kẻ từng phạm pháp nhiều, nên hắn có sức chịu đựng và khôn ngoan hơn đối tương khác là thường.

Mày nghĩ cứng lắm ư, ông thầm nghĩ rồi ngưng lại không nói gì, cứ để đối tượng trong trạng thái vậy, ông chỉ việc chờ đợi với cây bút trên tay. Thời gian với ông không gấp, công việc của ông không vội, nó cứ đều đặn như thế này. Có kẻ vào đây còn quát tháo , còn doạ chết…nhưng sau cùng những điểm yếu của chúng sẽ bị chọc thủng dần, đến khi chúng suy sụp nhìn ông bằng con mắt van lơn. Ông nhìn đồng hồ, còn tiếng nữa là hết giờ làm việc. Những kẻ bị bắt thường khủng hoảng tâm lý nhất từ ngày thứ ba trở đi. Sau đó nửa tháng chúng lại trở nên lì lợm. Rồi đến tháng thứ ba đổ ra chúng lại suy sụp. Rồi chúng lại trở nên bất cần…Tuỳ theo mỗi đứa có hoàn cảnh và tư duy thế nào. Người cán bộ điều tra kinh nghiệm là phải nắm bắt được những khoảnh khắc mà chúng suy sụp, biết khai thác đúng điểm yếu vào thời điểm nào mà đối tượng đang hoang mang.

Cùng với bờ vai rung rung, đối tượng nấc hai tiếng nhỏ, bàn tay hắn vẫn bịt chặt mắt của mình. Đầu hắn cúi xuống bàn thấp hơn như không gánh nổi suy nghĩ trong đầu mình. Ông rót nước và ân cần đặt bàn tay lên vai hắn thân thiện như một người cha, ngừoi anh.

- Uống nước đi.

Tên tù ngẩng đầu lên, hắn nhìn ông bằng khuôn mặt nhoe nhoét vì nước mắt.

- Nghĩ xong chưa.?

Ông hỏi giọng thân tình, ông ngồi xuống bàn đặt bút lên trang giấy và nhìn đối tượng chờ.

Tên tù lau nước mắt, hắn hỏi ông.

- Anh có thấy tôi khóc rồi chứ, khi anh nhắc đến con tôi.?

Ông sững sờ gật đầu, đó là câu mà ông không nghĩ hắn sẽ nói sau trạng thái như vậy.

- Anh bảo tôi nghĩ, anh biết tôi đã nghĩ xong cái gì không.?

Ông nhìn hắn, trong đôi mắt hắn không lộ vẻ ranh ma mà hắn nhìn ông như một người bạn chí cốt, sắp sửa nói câu tâm tình.

Hắn nói như giãi bày.

- Tôi thương con tôi lắm. Vì thế tôi chợt nhận ra trong một khoảnh khắc mà mình nhớ thương con nhất một điều. Đó là nếu mình thương con như vậy, thì những người bố khác cũng thương con họ như vậy.

Hắn ngừng lại, nhấp nước uống, nhìn thẳng vào mắt ông và nói tiếp.

- Vì vậy không nên đẩy những người bố khác phải chịu cảnh thương nhớ con như mình. Không nên đẩy họ phải chịu cái mình đang khổ tâm chịu. Việc hôm nay có mình tôi làm, nếu cần thì thực nghiệm điều tra. Câu trả lời cuối cùng của tôi là chỉ có mình tôi làm.

Cán bộ điều tra bỏ cái bút, khuôn mặt thoáng những nét mỉa mai.

- Được, khỏi cần thực nghiệm, tao biết không phải mày làm, nhưng thưc nghiệm mày làm được vì mày có nghề. Mày muốn tù thì được thôi. Cơ hội mà chúng tao giúp đỡ mày không nhận thì không có gì để nói.

Tên tù nói giọng nhẹ nhàng bình thản.

- Ông có muốn nghe tôi kể nốt mình nghĩ gì không.?

Nghĩ gì- cán bộ điều tra gằn giọng.

Tên tù nhìn ông như thương hại sự nóng giận mà ông không kiềm chế được. Ông lấy lại sự bình tĩnh và xuê xoa nói.

- Nghĩ gì cứ nói cho nhau biết đi.

Tên tù kể.

- Tôi đã từng đi tù, không phải một lần, mà mấy lần. Ông cũng biết đấy, chúng tôi ngày ấy đi tù lãng nhách lắm. Chỉ một câu nói, cái nhìn hoặc số tiền không lớn , chúng tôi sẵn sàng vác dao đến chém nhau. Rồi đi tù, lúc 3 năm, lúc 7 năm. Lũ chúng tôi đi tù như vậy triền miên. Chẳng người tử tế nào coi trọng chúng tôi ở những lần tù như thế. Hôm nay tôi ngồi đây với ông còn là may. Đáng ra tôi đang ngồi tù vì tội nào đó như chém, bắn người rồi. Trong cái thời gian tôi ở tù, nhìn thấy những bạn tù đi ra đi vào đến 3 lần. Chả ai goi đấy là anh hùng cả. Chúng tôi có đi tù ra tù vào cả đời như thế, cũng không ai nhớ đến. Thậm chí là hàng xóm của mình. Chỉ có các ông là nhớ những lần chúng tôi đi tù, vì công việc các ông cần nhớ để cộng lại tính mức án tù sau lớn hơn án tù trước. Tình tiết tái phạm phải không.?

Ông nhíu mày nhìn tên tù, có thể đây là một dạng của khủng hoảng suy sụp mà giờ ông mới gặp không. Ông gật đầu trước câu hắn hỏi.

Tên tù nhấp nước, xoa cái chén trong lòng hai bàn tay. Hắn nhìn xa qua cửa sổ, hắn nói như cho hắn nghe, như không có ông ở đấy. Như một thằng ngẩn ngơ đang làm thơ, y như vậy.

- Nếu lần này tôi bị tù, tôi biết chỉ từ 2 đến 5 năm. Mức án tuỳ thái độ ở toà. Nếu tôi nhận sai xin khoan hồng thì chỉ 2 năm. Nếu tôi cãi phản bác mạnh sẽ 5 năm. Nếu tôi cứ ngẩn ngơ không nhận sai, không phản bác tôi sẽ bị 3 năm. Hai hay năm năm không quan trọng với tôi, vì ông cũng biết tôi đã đi tù dài như thế, trong những nhà tù khắc nghiệt nhất đất nước này. Nhưng tôi sẽ không xin khoan hồng, nếu xin thì tôi đã làm việc ấy với ông ở đây, không ai thấy, không ai chứng kiến.

Người cán bộ điều tra nở nụ cười mỉa mai.

- Tưởng gì, chứ muốn đi tù thì dễ lắm, cứ thế này là sẽ được đi.

Tên tù cười lắc đầu nhìn ông vẻ bất mãn, ông dường như chả hiểu hắn muốn nói điều gì. Hắn thấy không cần phải vòng vo nữa, hắn nói dứt khoát.

- Nếu có một án tù vì tội danh này, tội lợi dụng tự do ngôn luận xâm hại lợi ích nhà nước mà ông đang hỏi đây. Đó là điều tôi muốn. Vì thế người ta sẽ nhớ đến tôi là một con người khác. Không phải là một thằng lưu manh, cờ bạc buôn lậu, trấn lột. Sẽ chẳng ai nghĩ đến những chuyện trước kia của tôi. Các ông đã giúp tôi xoá sạch trong đầu mọi người về những việc tôi làm hồi trẻ. Đất nước này không mãi như hôm nay, chẳng ai nắm tay đến sáng. Người ta sẽ nhớ đến tôi là người đã dám phản bác hành động sai trái của chế độ. Năm năm tù thì có gì mà đắt với cái việc xoá sạch quá khứ ấy. Chả phải nhiều thằng trong chúng tôi đã đi ra đi vào nhà tù 3 năm rồi 5 năm, rồi 10 năm. Có ai nhớ đến chúng đâu.

Tên tù ngừng nói, hắn đã nói xong. Cán bộ điều tra nhìn đồng hồ còn hơn nửa tiếng, ông xếp giấy tờ cho vào cặp , đứng dậy nói.

- Hôm nay đến đây tạm nghỉ. Anh nên nhớ cơ quan an ninh có hàng trăm nghìn biện pháp, chưa chắc chúng tôi đã đưa anh ra toà để anh làm anh hùng đâu.

Tên tù đứng dậy, hắn nói.

- Tôi chỉ là thằng lưu manh, bởi tính lưu manh toan tính, nên nếu bị thời điểm bị buộc làm anh hùng. Tôi sẽ diễn tốt khoảnh khắc ấy như một anh hùng. Một khoảnh khắc hiếm có mà chả thằng lưu manh nào có được trong đời. Để cho con tôi được tự hào.

……..

Trên đây là một câu chuyện không chắc là có thật. Nhân vật cũng không có tên tuổi hay dấu vết nào của sự thật. Sở dĩ nó được viết ra ngày hôm nay. Để minh hoạ cho phiên toà Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thuý Quỳnh mà toà án Đồng Tháp đã xử ngày 26 tháng 8 vừa qua. Là câu chuyện đi tìm một khoảnh khắc mong ước trong cuôc đời để gột rửa mình không hề dễ chút nào. Kể cả có toan tính như tên tù lưu manh kia. Bởi nó còn là sự lựa chọn của hồn thiêng sông núi, không phải kẻ nào toan tính mà có được.

Từ hai người nông dân hiền lành, vô danh như Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thuý Quỳnh, họ đã để lại tên mình trong tâm khảm của hàng triệu người dân Việt Nam về sự oan ức , bất công, sự dối trá của hệ thống pháp luật hiện nay, cũng như mưu toan thủ đoạn bất nhân của nhà cầm quyền.

Cái khoảnh khắc họ đứng nhận phán quyến của toà án, cũng là khoảnh khắc họ đã ghi tên mình vào lịch sử như những chứng nhân của sự bất công , tha hoá, phi đạo đức tràn lan trong chế độ.

Một người phụ nữ bình thường với tính cách dân dã, chợ búa như Bùi Thị Minh Hằng, học thức không cao, gần cả cuộc đời chỉ toan tính thiệt lợi trong kinh doanh bỗng nhiên đã tìm được khoảnh khắc để làm chói sáng cuộc đời mình. Để được những khoảnh khắc như thế, người ta phải vượt qua những toan tính tầm thường, phải có một nội tâm sâu sắc và niềm tin mãnh liệt. Để đi đến khoảnh khắc ấy là bao nhiêu thử thách , bao nhiêu cám dỗ, bao nhiêu lời đường mật đưa ra để ngăn cản.

Những con cá hồi làm cuộc hành trình hàng chục ngàn cây số, đối đầu với những sự chết chóc bởi những con cá to lớn hung ác. Để làm gì, để chúng đến một nơi chúng sẽ chết. Và cái khoảnh khắc được chuyển sang màu đỏ hồng phơi người chết trên mặt nước, đúng cái nơi mà chúng muốn, đúng cái thời điểm chúng muốn. Đó là khoảnh khắc vĩ đại nhất trong đời con cá hồi nào có được. Hàng triệu con khác đã chết trên đường đi. Chỉ những con cá hồi về được nơi chúng muốn chết là cái chết có ý nghĩa, vì nó sẽ sản sinh ra những sức sống mới cho thế hệ sau.

Nào, giờ thì ai nghĩ Bùi Hằng là chủ quán Bar, là kẻ vô học gào toáng trên đường. Cái giờ phút khuôn mặt gầy rộc nhưng đầy quả cảm, kiên nghị trước phiên toà của bạo quyền. Hình ảnh đấy đã xoá đi tất cả những gì mà người khó tính đôi khi nghĩ không tốt về chị.

Nếu không có khoảnh khắc bị đóng mình trên thánh giá.chịu chết. Chúa Jesu mãi mãi chỉ là một ngươi thợ mộc.

Nếu câu chuyện trên cùng là có thật. Tên tù trong câu chuyện hẳn sẽ nể phục cái khoảnh khắc người đàn bà này đã làm nên. Điều mà nhiều kẻ nam nhi như hắn đã không làm được hoặc không dám làm.

Posted in chính trị, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

(VNTB)-Người dân khát cải cách, còn lãnh đạo khát gì?

Nguồn ijavn

Đăng bởi Eric hwang vào Thứ Tư, ngày 27 tháng 8 năm 2014 | 27.8.14

VNTB: Tiến sĩ Lê Đăng Doanh là một lần nữa suy tư về bản thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trong những phát ngôn trên hệ thống truyền thông quốc tế, ông Doanh cũng là một trong những chuyên gia có vẻ dành nhiều tình cảm và hy vọng nhất cho điều mà ông hy vọng là Thủ tướng sẽ “cải cách thể chế”.

Chỉ có điều, thời gian thấm thoắt trôi. Sau 8 tháng đầu năm, bản thông điệp của thủ tướng đang sắp đi vào thời kỳ cuối của hầu hết nội dung chưa có gì được coi là “hành động”.

Hẳn là thế, bởi từ khái niệm “đổi mới thể chế” đến yêu cầu “xóa độc quyền”, từ tuyên ngôn chính trị chưa từng có “nắm chắc ngọn cờ dân chủ” đến một khái niệm cũng chưa có tiền lệ “nhà nước kiến tạo phát triển”, cho tới nay bản thông điệp trên đã không để lại ấn tượng nào khác ngoài con sóng đàm tiều ngày càng dâng cao của dư luận nhân dân lẫn cán bộ về những điều Thủ tướng chỉ nói mà không làm.

Nếu vào quý 2/2014, một số trí thức còn biện hộ rằng bất cứ một chủ trương nào cũng cần có “độ trễ”, rằng hãy thông cảm với Thủ tướng vì “một con én không làm nổi mùa xuân”, thì cho đến giờ vẫn trơ ra đó các tập đoàn kinh tế quốc doanh siêu độc quyền như EVN và Petrolimex, cùng giá xăng dầu lẫn điện lực luôn giống như những con ngáo ộp đe dọa túi tiền ngày càng ít ỏi của người dân.

Trong khi đó, vẫn chưa có nổi một định nghĩa ra hồn về “đổi mới thể chế” là gì. Còn cụm từ “nhà nước kiến tạo phát triển” – vay mượn từ một giáo sư người Mỹ vào cuối thế kỷ trước, cho tới nay đã mặc nhiên không thấy ai nhắc lại nữa.

Vậy thì làm sao để Thủ tướng “nắm chắc ngọn cờ dân chủ” mà quy tụ được các tầng lớn “nhân sĩ trí thức” cùng làm nên đại nghiệp lớn ở đất nước đã quá khổ đau này?

Tâm tư của tiến sĩ Lê Đăng Doanh có lẽ cũng chẳng khác đại đa số trí thức Việt Nam, đặc biệt giới trí thức có truyền thống “phản biện trung thành”. Chỉ có điều, sau quá nhiều hứa hẹn bất thành hành vi của Thủ tướng, không ít trí thức đã lao từ nỗi thất vọng này sang hy vọng khác, để cuối cùng rút ra một tư duy tình thế “mèo trắng hay mèo đen, miễn là bắt được chuột” khi ước vọng về một Gorbachev của Việt Nam.

===

Ông Lê Đăng Doanh: “Người dân đang khát khao cải cách”

0-64e0b.jpg
Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) Lê Đăng Doanh đặc biệt nhấn mạnh đến sự cần thiết phải vực dậy tinh thần kinh doanh, mà theo ông là đã và đang bị tổn thương nghiêm trọng.

Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) Lê Đăng Doanh đặc biệt nhấn mạnh đến sự cần thiết phải vực dậy tinh thần kinh doanh, mà theo ông là đã và đang bị tổn thương nghiêm trọng.

Nếu thực sự bắt tay vào cải cách một cách mạnh mẽ thì mức tăng GDP từ 6,5% – 7% vẫn có thể đạt được.

VnEconomy Nếu tận dụng được không gian và thời gian để cải cách thể chế, thì tăng trưởng GDP bình quân 5 năm 2016 – 2020 từ 6,5 – 7%/năm cũng vẫn có thể thành hiện thực, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh bình luận về chỉ tiêu vừa được đưa ra tại chỉ thị của Thủ tướng.

Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) Lê Đăng Doanh đặc biệt nhấn mạnh đến sự cần thiết phải vực dậy tinh thần kinh doanh, mà theo ông là đã và đang bị tổn thương nghiêm trọng.

“Dọn dẹp nhà cửa thì đừng mong nhảy cao”

Từ mục tiêu phát triển nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh của giai đoạn hiện tại, giữ ổn định kinh tế vĩ mô đã trở thành ưu tiên số 1 khi xây dựng kế hoạch 5 năm 2016- 2020, theo chỉ thị của Thủ tướng. Ông có bình luận gì?

Muốn đặt mục tiêu cho sát thì cần đánh giá đầy đủ cả tác động bên trong và bên ngoài tới nền kinh tế nước ta.

Với bên ngoài thì chúng ta phải nhìn nhận rất rõ ràng là ý đồ bá quyền, độc chiếm biển Đông của Trung Quốc là không thể phủ nhận được. Việt Nam cần điều chỉnh chính sách đối nội, đối ngoại để gìn giữ hòa bình, bảo vệ biển đảo, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Còn tình hình trong nước thì phải nói rõ ràng là kế hoạch 5 năm hiện tại đã để lại cho kế hoạch 5 năm sau quá nhiều món nợ bắt buộc phải giải quyết để nền kinh tế có thể tiếp tục phát triển bền vững.

Thứ nhất là toàn bộ nợ xấu chưa giải quyết được, trong khi hệ thống ngân hàng thương mại đang có quá nhiều vấn đề. Cần đề ra lộ trình giải quyết "cục máu đông" này, không thể để kéo dài mãi.

Thứ hai, tái cơ cấu đầu tư công cũng chỉ có những chuyển biến bước đầu rất khiêm tốn, chủ yếu là cắt giảm một số dự án quá vô lý và không bố trí được vốn . Trong khi nợ đọng xây dựng cơ bản vẫn hết sức mập mờ, thì mới đây báo chí đưa tin là UBND tỉnh Bắc Ninh nợ trùm xã hội đen Minh “sâm” 400 tỷ đồng. Nếu đó là thông tin chính xác thì nó nói lên rất nhiều vấn đề: nợ đọng xây dựng cơ bản trong cả nước là bao nhiêu, sẽ giải quyết thế nào, bao giờ?

Tại một số diễn đàn tôi đã từng phân tích, hệ thống phân bổ nguồn lực và lợi ích hiện tại làm cho chênh lệch giàu nghèo tăng lên, năng lực cạnh tranh giảm sút và động lực kinh doanh của doanh nhân bị hạn chế. Mặt khác cũng làm cho một thiểu số trở nên giàu có quá nhanh chóng trong khi họ không có đóng góp gì vào thu ngân sách và tiến bộ xã hội.

Thứ ba, cải cách doanh nghiệp nhà nước vẫn ì ạch, sức khỏe của cả cộng đồng doanh nghiệp rất yếu ớt. Mấy năm qua đã có khoảng 200 nghìn doanh nghiệp chết, còn lại hơn 400 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động thì chỉ có 120 doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp khoa học công nghệ – tức là có sản phẩm mới, có chứng chỉ, bằng phát minh sáng chế… Trong khi chúng ta sống trong thời đại chỉ có thể phát triển bằng khoa học công nghệ mà thôi.

Theo tôi, điều đáng lo ngại là môi trường kinh doanh đã xấu đi, nhất là sau vụ án Huyền Như và “bầu" Kiên. Không ít doanh nhân đã từ bỏ kinh doanh, bán doanh nghiệp, góp phần làm cho làn sóng mua bán doanh nghiệp tăng lên rất nhanh. Một số ông chủ doanh nghiệp lớn tâm tư với tôi là thay vì kinh doanh trong môi trường đầy rủi ro hiện nay thì thà đi chơi còn hơn.

Bởi vậy cho nên tốc độ tăng trưởng của 5 năm tới không thể đạt quá cao mà phải là tăng trưởng bền vững, kế hoạch 2016 – 2020 phải chủ yếu là kế hoạch tái cấu trúc kinh tế, cải cách thể chế, ổn định kinh tế vĩ mô, hội nhập quốc tế. Mà khi anh dọn dẹp nhà cửa thì đừng mong nhảy cao được, đừng mong chạy nhanh được, anh nên đặt mục tiêu vừa phải.

“Người dân đang khát khao cải cách”

Vậy mức nào được coi là vừa phải, thưa ông?

Có một vấn đề là với mức tăng dân số hàng năm hiện nay, nếu Việt Nam chỉ tăng trưởng 5%/năm thì chủ yếu chỉ vừa đủ để duy trì mức sống thôi, cải thiện đời sống sẽ rất hạn chế. Trong khi sức ép về tạo việc làm rất lớn. Bạn thấy đấy, chưa bao giờ trộm cắp, cướp bóc hoành hành như thế này, khi mà nhiều người rơi vào cảnh thất nghiệp.

Tuy nhiên, nếu thực sự mong muốn cải cách và bắt tay vào cải cách một cách mạnh mẽ thì mức tăng GDP từ 6,5 – 7% vẫn có thể đạt được, mặc dầu 1 – 2 năm đầu chỉ đạt khoảng 5,5 – 6% thôi.

Người dân hiện nay rất đang khát khao cải cách, họ mong thông điệp đầu năm của Thủ tướng về cải cách thể chế sẽ được thực hiện mạnh mẽ và có hiệu quả.

Vậy nên tôi vẫn muốn nhấn mạnh rằng kế hoạch 5 năm tới phải là kế hoạch đổi mới lần hai và cải cách mạnh mẽ những gì từ trước đến nay chưa cải cách được.

Đặc biệt là cải cách môi trường kinh doanh một cách căn bản, rõ ràng và có bước đi rất cụ thể, tạo ra sự tin cậy của cả nhân dân và nhà đầu tư.

Ông vừa nói đến thông điệp cải cách thể chế từ người đứng đầu Chính phủ. Cá nhân ông cũng đã từng được mời tham vấn nhiều cuộc về cải cách thể chế kinh tế từ Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Như vậy "chìa khóa" của tăng trưởng và phát triển ổn định chính là cải cách thể chế?

Trong bối cảnh hiện nay nếu không cải cách mạnh mẽ thì không chỉ doanh nghiệp mà người dân cũng khó chấp nhận. Kế hoạch 5 năm hiện tại cũng vẫn còn thời gian và không gian để cải cách, nếu muốn vẫn có thể hoàn toàn tận dụng được.

Bước sang kế hoạch 5 năm tới thì yêu cầu rất bức thiết là phải cải cách thể chế nhà nước đồng thời với thể chế kinh tế thị trường và thay đổi luật chơi. Tựu trung lại là tạo ra môi trường cho người nào giỏi thì an tâm làm ăn lâu dài.

Ba trọng tâm tái cơ cấu nền kinh tế cũng cần phải có mục tiêu và lộ trình rõ ràng, thì mới có thể vực dậy tinh thần kinh doanh đang bị tổn thương nghiêm trọng.

Theo Nguyên Thảo

Nguồn: VnEconomy

Posted in chính trị, dân chủ, kinh tế, xã hội | Tagged , , , , , , , , | Leave a comment

BBC. Luật sư Công Nhân ‘xé giấy phạt quản chế’

Nguồn BBC

Cập nhật: 13:02 GMT – thứ năm, 28 tháng 8, 2014

Bà Lê Thị Công Nhân bị kết án tù hồi năm 2007, với lệnh quản chế ba năm sau khi ra tù

“Thời hạn quản chế của tôi đã kết thúc từ hơn một năm nay, nhưng cuộc sống vẫn không hề thay đổi mà còn bị bóp nghẹt hơn,” bà Lê Thị Công Nhân nói với BBC Tiếng Việt.

Bà Công Nhân hồi 2007 bị kết án tù ba năm, kèm theo lệnh quản chế tại gia ba năm sau khi mãn hạn tù, với tội danh Tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Bà nói: “Họ [công an] thường xuyên canh gác bên ngoài nhà và bắt giữ tôi khi tôi ra đường, trừ khi đi chợ hay mua sắm đồ cá nhân ở quanh khu nhà.”

Theo luật định, người bị quản chế chỉ được phép đi lại trong phạm vi phường, xã nơi người đó cư trú.

Nếu muốn ra khỏi đơn vị hành chính này, người bị quản chế phải làm đơn xin phép và phải được sự đồng ý của chính quyền cấp quận, huyện phụ trách phường, xã đó.

Bà Lê Thị Công Nhân nói rằng bà “hoàn toàn không chấp nhận bản án tù”, gồm cả mức phạt chính là án tù, lẫn hình phạt quản chế mà giới chức đưa ra, cho nên bà không bao giờ “xin phép” khi đi lại trong thành phố Hà Nội, tức là “vượt gấp ba lần cấp quản lý hành chính như luật định, gồm cấp phường, quận rồi thành phố”.

‘Ba lần phạt tiền’

Việc đi lại không xin phép đó đã khiến bà “bị bắt giữ tổng cộng chín lần trong số cả trăm lần” ra khỏi nhà trong thời gian một năm đầu kể từ khi ra tù, bà cho biết, trong đó có ba lần bà bị trao “lệnh phạt” với tội danh “vi phạm lệnh quản chế”, bà Công Nhân cho biết.

Hai lệnh phạt, mỗi lệnh ghi mức 1,5 triệu đồng, đã bị bà xé ngay trước mặt người đưa biên bản, còn một tờ được bà đem về nhà giữ làm kỷ niệm, bà Công Nhân cho biết thêm.

Luật sư Lê Công Định

140411152929_le_cong_dinh_304x171_fblecongdinh_nocredit.jpg

Sáng nay, tôi đến Ủy ban nhân dân Phường nơi cư trú, cán bộ tư pháp lập hai biên bản, một về hành vi vi phạm lệnh quản chế của tôi và một về quyết định xử phạt của chính quyền.

Tôi ký tên cả hai biên bản và nêu rõ ý kiến rằng tôi chấp nhận nhưng không chấp hành. Vị cán bộ tư pháp thông báo vài ngày nữa sẽ đưa quyết định xử phạt cho tôi, nghe nói số tiền phạt là 3 triệu đồng. Khá cao nhưng không sao.

Quan điểm của tôi vẫn trước sau như một, đối với những quy định luật pháp bất công và bất hợp lý, tôi sẽ vi phạm cho đến khi chúng được nhà cầm quyền sửa đổi.

Trước đây, trong vụ án của mình tôi đã tuyên bố rõ rằng tôi vi phạm các Điều 79 và 88 của Bộ luật hình sự, bởi vì chúng bất công. Bây giờ, đối với quy định quản chế bất hợp lý này, tôi cũng sẽ tiếp tục vi phạm cho đến khi nhà cầm quyền phải loại bỏ nó.

Tôi chấp nhận bị phạt, nhưng sẽ không chấp hành quyết định xử phạt. Đây chính là hành động bất tuân dân sự mà tôi luôn cỗ vũ và áp dụng.

Nguồn: Trang Facebook của Luật sư Lê Công Định (ngày 26/08/2014)

https://www.facebook.com/LSLeCongDinh

“Khi tôi ra đường, công an chìm đi theo khá nhiều để theo dõi, đi rất gần sát. Nhưng không phải lúc nào tôi cũng bị bắt giữ.”

Theo bà Công Nhân, những lần bị bắt giữ thường là những lần bà có cuộc hẹn gặp nhân viên các tòa đại sứ hoặc hẹn gặp trả lời phỏng vấn với phóng viên nước ngoài.

Tuy nhiên, những lần bị phạt tiền dường như do quyết định ngẫu hứng của giới chức bởi theo bà, đó là những lúc “không có gì khác biệt so với những lần khác” bà bị bắt giữ, và không phải là ba lần liên tiếp.

Địa điểm bắt giữ cũng khác nhau, có lần là ngay khi bà chưa ra khỏi địa bàn phường, có lần là khi bà đã tới địa bàn quận khác.

Tuy nhiên, có một điểm chung là bà luôn được đưa vào trụ sở công an phường nơi xảy ra việc bắt giữ.

“Cách cư xử của lực lượng an ninh có thể nói như là ‘công an bố’ so với các công an phường. Khi họ cùng lúc đưa tôi vào công an phường, tôi thấy họ chỉ nói đúng một câu là “Chúng tôi bên an ninh,” hoặc “Chúng tôi bên Tổng cục 2”, sau đó việc trưng dụng phòng làm việc của công an sở tại được coi là mặc định."

"Họ không cần phải chứng minh hay xuất trình giấy tờ gì.”

Về ba lần bị áp lệnh phạt tiền, bà Công Nhân nói bà sau khi bị đưa vào trụ sở công an phường nơi diễn ra vụ bắt giữ, bà đến cuối ngày đều được đưa về công an phường nơi bà cư trú và “người đưa biên bản xử phạt cuối cùng lại là công an phường nhà tôi, là những người công an mà tôi đã rất quen mặt, sau khi lực lượng an ninh đã đi về”.

Quản chế vô thời hạn?

Một trong những gương mặt bất đồng chính kiến bị quản chế dài hạn là Hòa thượng Thích Quảng Độ

Ra tù vào ngày 6/3/2010, lệnh quản chế đối với bà Lê Thị Công Nhân chính thức kết thúc vào ngày 5/3/2013.

Tuy nhiên, bà nói: “Khoảng tháng Năm, tháng Sáu vừa rồi, ông tổ trưởng dân phố đưa tôi giấy mời ra phường nhận quyết định đã chấp hành xong án quản chế."

"Tôi nghĩ rằng nếu có một quyết định như vậy thì lẽ ra nó phải được trao cho tôi từ tháng 3/2013."

"Nếu họ trao hơn một năm sau như vậy thì họ phải ra quyết định gia hạn án quản chế, tuy nhiên, quyết định gia hạn đó phải đồng đẳng với bản án hình sự của tôi, tức là phải gia hạn bằng một bản án tương ứng.”

Về phần mình, bà nói bà “không đoái hoài tới việc ra phường nhận quyết định đó”, và trên thực tế thì kể cả sau khi nhận được thông báo trên, cuộc sống của bà vẫn bị theo dõi chặt chẽ.

“Kể cả khi không bị án tù, không bị án quản chế thì những người như tôi vẫn bị giam giữ ở nhà, biến nhà thành nhà tù, thậm chí có những người bị khóa cả cửa nhà lại, bị nhốt trong nhà.”

“Việc này theo tôi là sẽ còn diễn ra cho tới khi những người tranh đấu như chúng tôi chịu từ bỏ lý tưởng mình theo đuổi, hoặc cho tới khi chúng tôi tranh đấu đạt được mục tiêu.”

Gần đây nhất, bà cho biết việc bà cùng một số bạn bè dự định tới tham dự buổi kỷ niệm 100 ngày mất của thân mẫu bà Phạm Thanh Nghiên, một nhà hoạt động khác, cũng đã bị cản trở, với việc công an tới canh giữ không cho bà ra khỏi nhà.

“Tôi ở chung cư, trên tầng ba. Họ tới canh giữ ngay cửa nhà.”

“Hoặc mỗi khi có sự kiện gì có thể khiến cộng đồng quan tâm, như khi chúng tôi kêu gọi biểu tình ở Bộ Y tế về việc chống bệnh sởi chẳng hạn, công an mật vụ đều biết hết.”

“Họ lên tận chiếu nghỉ tầng ba chỗ nhà tôi, mang cả bàn ghế chè chén, ống thuốc lào lên, ngồi đó để gác cửa nhà tôi."

"Tôi không thể ra khỏi nhà mình chứ đừng nói tới việc xuống được tầng một của tòa nhà.”

Posted in chính trị, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

(VNTB)-Việt Nam có nguy cơ bị “hồi tố” vào CPC

Nguồn ijavn

Đăng bởi Eric hwang vào Thứ Sáu, ngày 29 tháng 8 năm 2014 | 29.8.14

Viết Lê Quân

(VNTB) – CPC (Country of Particular Concern), tức danh sách các “quốc gia cần quan tâm đặc biệt” do “thành tích” đàn áp tôn giáo một cách trầm trọng.
Tháng 11/2006, Chính phủ Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách CPC. Đó cũng là thời gian mà Nhà nước Việt Nam thể hiện một số nhân nhượng về nhân quyền và tôn giáo, cũng đồng thời với tương lai tham gia vào WTO mở ra trước mắt họ.

Nhưng sau chuyến làm việc 11 ngày ở Việt Nam vào cuối tháng 7, đầu tháng 8/2014, ông Heiner Bielefeldt, Báo Cáo Viên Đặc Biệt của Liên hiệp quốc về tự do tôn giáo, cơ hội bị “hồi tố” về CPC lại bất chợt hiện ra đối với Nhà nước Việt Nam.

14080100.jpg
Ông Bielefeldt gặp Hội đồng liên tôn tại DCCT Sài Gòn, ngày 25.07.2014. Ảnh: DCCT.

Kết quả sau 11 ngày tận mắt chứng kiến ngay cả bản thân cũng bị giám sát chặt chẽ bởi cơ quan an ninh Việt Nam đã khiến ông Heiner Bielefeldt phải tổ chức một cuộc họp báo, công bố về “những sai phạm nghiêm trọng” của nhà cầm quyền Việt Nam đối với điều được nhà nước này gọi là “tự do tôn giáo” khi ngăn chặn rất lộ liễu và thô bạo nhiều chứng nhân mà ông muốn gặp.

CPC là gì?

Theo Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế, chính phủ Hoa Kỳ phải đưa vào danh sách CPC các chính quyền nào nhúng tay vào hoặc dung túng cho các vi phạm tự do tôn giáo. Theo định nghĩa trong luật Hoa Kỳ, vi phạm tự do tôn giáo là các hành vi cấm đoán, hạn chế hay trừng phạt việc tụ tập ôn hoà để sinh hoạt tôn giáo, kể cả việc tuỳ tiện bắt “đăng ký” sinh hoạt tôn giáo; việc tự do phát biểu về tôn giáo của mình; quyền đổi tôn giáo hay tín ngưỡng; quyền dưỡng dục con theo niềm tin tôn giáo riêng. Hiện nay đang có dự thảo tu chính để cộng thêm hành động phá hay xúc phạm các nghĩa trang tôn giáo.
Theo định nghĩa của luật, vi phạm “đặc biệt trầm trọng” có nghĩa là “mang tính hệ thống, đang tiếp diễn, và nghiêm trọng” và bao gồm các hành động như bỏ tù, giam giữ dài hạn mà không quy tội, bắt đi mất tích, đánh đập, tra tấn, hãm hiếp, cưỡng bức tái định cư số đông, hoặc “khước từ trắng trợn quyền được sống, được tự do, hoặc được an toàn bản thân”.

image002.jpg
23 giờ đêm ngày 09/06/2014, đã có khoảng từ 300 đến 500 người bao gồm công an, chính quyền các cấp, dân phòng, kể cả cùng côn đồ được thuê mướn, đã kéo tới đập phá cổng trụ sở Giáo hội Mennonite tại đường D10, Mỹ Phước, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Ảnh: SBTN.

Các biện pháp chế tài

Theo luật Hoa Kỳ, quốc gia trong danh sách CPC phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt leo thang: phản đối; cảnh cáo; hoãn hay đình chỉ các trao đổi văn hoá hay khoa học; hoãn, đình chỉ hay huỷ bỏ các chuyến công du; chấm dứt, hạn chế hay đình chỉ các khoản viện trợ; yêu cầu các định chế tài chánh tư và quốc tế hạn chế tiền cho vay và không tài trợ; cấm bán hay chuyển vũ khí và kỹ thuật cho quốc gia đó; cấm các cơ quan chính quyền Hoa Kỳ không ký các hiệp ước xuất nhập cảng với quốc gia đó.
Đồng thời luật cũng trừng phạt các giới chức chính quyền chịu trách nhiệm về sự đàn áp tôn giáo bằng cách không cấp visa vào Hoa Kỳ cho đương sự và các người trong gia đình.

Nói cách khác, các biện pháp chế tài trong dự thảo Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam và Luật Chế Tài Vi Phạm Nhân Quyền Ở Việt Nam thực ra đều có sẵn, ở mức độ nhiều hay ít, trong Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế.

Việt Nam sẽ mất gì?

Theo bình luận của tờ Mạch Sống ở Mỹ, nếu bị chỉ định CPC, Việt Nam sẽ hoàn toàn mất triển vọng mua hoặc nhận vũ khí sát thương của Hoa Kỳ. Triển vọng tham gia Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương về mậu dịch cũng sẽ khép lại. Đó là chưa kể những khoản viện trợ đang nhận sẽ bị cắt giảm hay chấm dứt, và triển vọng vay vốn từ các định chế tài chánh quốc tế sẽ trở nên khó khăn.

Đó là lý do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tránh không đưa Việt Nam vào danh sách CPC, mặc dù Uỷ Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế do Quốc Hội thiết lập liên tục đề nghị CPC cho Việt Nam trong suốt 7 năm qua. Hành Pháp Hoa Kỳ không muốn làm “trật đường rầy” chính sách đối ngoại của họ không những đối với Việt Nam mà còn là đối với toàn vùng Châu Á – Thái Bình Dương.
Và đó cũng là lý do Bộ Ngoại Giao đã giảm nhẹ khi báo cáo vi phạm trong bản phúc trình gửi Quốc Hội hàng năm về tình trạng tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nếu báo cáo đúng mức thì Bộ Ngoại Giao khó tránh né việc chỉ định Việt Nam là CPC.

Oái oăm cho Bộ Ngoại Giao là vừa gửi bản phúc trình cho Quốc Hội được 3 hôm thì ông Heiner Bielefeldt, Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, họp báo ở Hà Nội trong ngày cuối của chuyến thị sát Việt Nam. Ông Bielefeldt đã vạch trần thực trạng khống chế tôn giáo và đàn áp những người hoạt động tôn giáo độc lập. Các hành động theo dõi, nghe lén, thu băng nhắm vào phái đoàn LHQ của Ông Bielefeldt, và sự cản chặn, sách nhiễu, hăm doạ nhắm vào các nhân chứng lại càng thể hiện rõ ràng hơn nữa bản chất của chế độ và thực trạng tôn giáo ở Việt Nam.

Không chỉ chính quyền Việt Nam lúng túng, mà cả Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng đang lúng túng vì không biết giải thích làm sao những khác biệt căn bản giữa bản phúc trình mà họ vừa nộp cho Quốc Hội và tuyên bố báo chí của người có thẩm quyền nhất của LHQ về tự do tôn giáo và tín ngưỡng. Không thể phủ nhận các khám phá của ông Bielefeldt, Bộ Ngoại Giao chỉ có một trong hai cách giải thích: Biết nhưng không báo cáo, hoặc không biết nên đã không báo cáo. Giải thích cách nào cũng không ổn với Quốc Hội.

Chỉ còn mỗi một cách để giúp Việt Nam tránh CPC và các hệ luỵ của nó là ép chính quyền Việt Nam phải thực sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo, và phải chứng tỏ điều này trước cuối năm nay.

Viết Lê Quân

Posted in chính trị, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment