Đến đã đủ lâu! Giờ cũng sẵn sàng để… ra đi! (… về với Chúa)

- Phổ biến thông tin đa chiều, và lên tiếng vì những bất công xã hội là việc làm cần thiết và đúng đắn. – Tự do thông tin là bước khởi đầu để có được dân chủ thực sự, giúp đưa đất nước đi lên và thoát khỏi khốn khó đói nghèo.

- Đừng lầm lẫn giữa : thứ tha những lỗi lầm đã qua, với việc nuôi dưỡng những sai phạm đang diễn ra để chúng cứ tiếp tục tồn tại và trầm trọng hơn nữa! – Đó là ác chứ không phải ái!

- Đừng để bị nhập nhằng giữa “Đất Nước, Tổ Quốc” với đảng cầm quyền! “Đất Nước, Tổ Quốc” là mãi mãi, còn đảng cầm quyền chỉ là nhất thời!

Theo dõi các links tin từ twitter, được cập nhật thường xuyên ở cột phải

Posted in khề khà | Tagged , | 1 Comment

Trường Sơn : Nối lại ODA cho Việt Nam – Tại sao là Nhật?

Nguồn ijavn

(VNTB) Chỉ khoảng một tháng sau quyết định tạm ngừng viện trợ không hoàn lại ODA cho các dự án quá nhiều tai tiếng ở Việt Nam, Tokyo lại tiếp tục chương trình này.

Một động thái “lạ” từ phía nhà cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam.

Trong khi đó, vụ việc hối lộ tại Công ty tư vấn giao thông Nhật Bản (JTC) vẫn chưa có hồi kết. Những quan chức Việt Nam bị nghi nhận hối lộ vẫn chưa được điều tra tới nơi tới chốn.

“Bò sữa”

Đã từ quá lâu, ODA là một loại sân chơi bòn rút dành riêng cho giới quan chức tại một số cấp chính quyền trung ương và địa phương phụ trách lĩnh vực này. PMU18 là một minh họa điển hình, khi vào năm 2006 vụ việc gây chấn động này đã trở nên một hình ảnh tương phản kỳ quặc giữa người dân thế giới chắt chiu đóng thuế và một kẻ như Bùi Tiến Dũng đục khoét tiền viện trợ để tắm bia và mua dâm; giữa sự phát giác chỉ đến từ báo chí và dư luận quốc tế và thói quen im lặng trong suốt một thời gian dài của các cơ quan hữu trách Việt Nam.

Cho đến khi nổ ra vụ án PCI – Đại lộ Đông Tây ở TP.HCM năm 2008, dư luận thế giới mới hiểu rõ chân tướng thực của những kẻ như Huỳnh Ngọc Sĩ và tật đục khoét ký sinh đã trở nên trắng trợn hơn bao giờ hết. Một lần nữa, người dân đóng thuế ở các nước phát triển lại có đầy đủ lý do để quan ngại sâu sắc về môi trường vừa thiếu minh bạch vừa tràn lan tham nhũng trong nhiều lĩnh vực ở Việt Nam, mà ODA chắc chắn là một hiện hình trong số đó.

Nhưng từ năm 2006 đến nay, những kỳ quặc tiếp theo cũng lại đã xảy ra, hầu như công khai, vì từ sau vụ PMU18, đã chẳng có bất kỳ trường hợp sâu mọt nào trong lĩnh vực nhận viện trợ ODA được chính quyền Việt Nam chủ động công bố. Những phát hiện từ cơ quan chức năng về hành vi vi phạm ODA, dù chỉ rất ít về số lượng, nhưng cũng không vì thế mà được công khai khi luôn tồn tại vô số rào cản vô hình ở phía trước.

Chỉ đến đầu tháng 6/2012, sự việc Đại sứ quán Đan Mạch phải đi đến quyết định dừng 3 dự án viện trợ ODA cho Việt Nam, cùng lúc website của cơ quan này đã đăng tải toàn bộ kết quả kiểm toán tài chính các dự án, mới trở thành tiền lệ đầu tiên về phản ứng quyết liệt không tránh khỏi của khối quốc gia phát triển đối với một đất nước đã có quá nhiều tiền lệ về nạn tham nhũng, trong đó ODA luôn là một lĩnh vực được ví như “bò sữa”.

Ăn cắp vặt

Với nghi án nhận hối lộ từ JTC của Nhật Bản, một lần nữa, lời hứa “sẽ kiên quyết chống tham nhũng” của một số quan chức quản lý nào đó của Việt Nam lại có nguy cơ bị biến thành một thứ bong bóng ứ đầy bụng song lại quá dễ để xì hơi.

Tật xấu của người Việt – một trạng thái nhận thức và lối hành xử ti tiện trong nạn ăn cắp vặt, khiến cho chính chúng ta, những người dân Việt, đã thường phải thốt lên lời ta thán về thể diện quốc gia đã rước vào thân nỗi nhục quốc thể.

Vẫn còn đến 30 tỷ USD viện trợ ODA được các nhà tài trợ nước ngoài cam kết giải ngân. Vẫn còn nhiều công trình giao thông sử dụng đậm vốn ODA và nhiều dự án được xem là quốc kế dân sinh, xóa đói giảm nghèo ở nhiều địa phương khác…

Nhưng nhìn vào một thời gian đắm chìm quá lâu của công tác quản lý vốn ODA ở Việt Nam kể từ sau vụ PMU18, liệu các nhà tài trợ có nhất thiết phải đổ tiền vào một môi trường vẫn thiếu minh bạch về tài chính cùng nạn tham nhũng chỉ có tiến mà không chịu lùi?

Câu trả lời gần như là không còn cần thiết nữa, lồng trong cận cảnh gánh nợ ODA sẽ tiếp tục chồng chất lên đầu người dân nghèo Việt như một cái giá quá đắt phải trả thay cho giới ăn cắp vặt.

Tại sao là Nhật?

Việc Nhật Bản vẫn tiếp tục cung cấp nguồn tài chính ODA trong bối cảnh nạn tham nhũng ODA đang tràn ngập ở Việt Nam cho thấy lợi ích kinh tế của nước tài trợ là không phải nhỏ. Khác hẳn với trường hợp một số quốc gia như Đan Mạch và Thụy Điển đã cắt giảm khá nhiều viện trợ ODA đối với Việt Nam, nước Nhật dường như phụ thuộc nhiều hơn vào nghị trình đàm phán TPP và chủ ý chính trị của người Mỹ.

Có lẽ đó cũng là nguồn cơn sâu xa và phần nào bí ẩn khi tại cuộc xem xét báo cáo đầu ra của Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) về nhân quyền đối với Việt Nam vào tháng 6/2014, có đến 100% thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc tán thành với báo cáo “đã thực hiện hơn 80% khuyến nghị” của phái đoàn Việt Nam.

Trong trường hợp này, kinh tế khá thường song hành với chính trị.

Trường Sơn

Posted in chính trị, kinh tế, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Trường Sơn : Thoát Trung – “Môi răng” cùng xúc phạm tôn giáo?

Nguồn ijavn

Posted on July 22, 2014 by IJAVN in Đối diện

Ngày 18 tháng 3 năm 2014, người H’Mông biểu tình đòi trả tự do cho ông Thào Quán Mua, bị xét xử theo điều 258. Ảnh: SBTN.

(VNTB) - Chính thể Trung Quốc vẫn ngày càng trượt sâu xuống hố mộ phần do họ tự đào. Tiếp theo hành động của quan chức Hán đòi lột khăn che mạng của phụ nữ Tân Cương ngay trong nhà của sắc tộc thiểu số này, hành động của Bắc Kinh cấm người Duy Ngô Nhĩ nhịn ăn trong tháng chay Ramadan là một xúc phạm lớn thứ hai đối với đạo Hồi.

Tất cả những vụ việc gây xáo động về nhân phẩm ấy lại xảy ra ngay vào lúc Trung Quốc mở cuộc tấn công giàn khoan vào khu vực Biển Đông của Việt Nam. Hẳn nhiên, nếu với khu tự trị Tân Cương mà Bắc Kinh còn đối xử thô bạo như vậy, chuyện Tập Cận Bình không thèm tiếp lãnh đạo cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam để “thương lượng về cuộc xung đột giàn khoan HD 981” cũng là điều hết sức dễ hiểu.

“Chính quyền trên nòng súng”

Hầu như không rút ra bài học đáng giá nào từ sau các vụ bạo động liên tục từ hàng chục năm qua tại vùng tự trị Tân Cương, chính quyền Bắc Kinh chỉ luôn tìm cách đàn áp và đàn áp. “Chính quyền trên nòng súng” – như một “trước tác bất hủ” của Mao Trạch Đông, đã lưu truyền lại cho các đời chính khách kế thừa cho đến tận ngày nay.

Người Ngô Duy Nhĩ ở Tân cương bị nhà cầm quyền Trung quốc đàn áp.

Người Ngô Duy Nhĩ ở Tân cương bị nhà cầm quyền Trung quốc đàn áp.

Một trong những phương châm đàn áp thô thiển nhất và cũng thô bạo nhất là nhắm vào các tập tục tôn giáo và dân tộc. Những gì khiến chính quyền ngứa mắt và cảm thấy bị đụng chạm quyền lực đều cần phải dẹp bỏ. Cảm xúc tôn giáo luôn phải xếp sau “hiến pháp và pháp luật”.

Tất nhiên hành động lộ khăn che mặt và cấm nhịn ăn đã vấp phải sự phản ứng ghê gớm từ phía cộng đồng Hồi giáo. Chỉ trong một thời gian ngắn vừa qua, làn sóng khủng bố của các lực lượng Hồi giáo đã nổi lên ở Tân Cương và cả Tây Tạng, gây ra cái chết của hàng chục cảnh sát Trung Quốc. Khác hẳn với vài chục năm trước, bầu không khí Tân Cương và Tây Tạng giờ đây đã không còn bình yên mà luôn tiềm ẩn tia kích nổ.

Tình hình trên cũng khiến dư luận nhớ lại một vụ việc cách đây không lâu, chính quyền địa phương tại bốn tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Bắc Cạn đã phá bỏ nhà tang của người H’Mông, với lý do đơn giản là sắc dân thiểu số này đã thay đổi tục lệ chôn cất mà không xin phép chính quyền.

Trước đây, người H’Mông treo xác chết trong nhà rồi bày tiệc ra ăn uống với người chết trong 7 ngày, sau đó mới đem xác đi chôn không có hòm ván. Nhưng khi họ xây nhà tang chung, đưa quan tài vào để sạch sẽ và vệ sinh hơn, chính quyền địa phương lại đem quân đến phá nhà tang của họ, đánh đập, bắt bỏ tù họ và bắt họ trở lại phong tục cũ.

“Thoát Trung” hành vi

Đó là một nghịch lý không thể tưởng tượng nổi. Trong khi luôn bị Trung Quốc áp chế về nhiều mặt và còn đối mặt với nguy cơ bị Bắc thuộc thêm một lần nữa, giới chức lãnh đạo Hà Nội vẫn trung trinh với phương châm và phương pháp luận trấn áp tôn giáo và “đạo lạ” ở đất nước mình. Lối nhận thức cực kỳ ấu trĩ của “một bộ phận không nhỏ” quan chức tuyên giáo, dân vận và công an tại một số địa phương vùng sâu, vùng xa, cùng hành động ấu trĩ không kém của họ, đang khiến dấy lên làn sóng phản ứng ngày càng quyết liệt của giới tín đồ các tôn giáo. Đáng chú ý, làn sóng đó đã không còn đơn lẻ của từng bộ phận tôn giáo, mà hòa quyện với nhau giữa các tôn giáo, trở thành mối kết tập “liên tôn” mà nhà nước Việt Nam rất thường e sợ.

Nhưng về phần giới học giả được xem là “cách mạng” nhất ở Việt Nam, lối hành xử hoang dã giữa “hai đảng anh em” đối với tín đồ tôn giáo vẫn chưa trở thành một khía cạnh thực tiễn được mổ xẻ. Lẽ đương nhiên, không thể “thoát Trung” một cách thực tế nếu quanh đi quẩn lại vẫn chỉ là những triết thuyết mù mờ cùng vài khẩu hiệu trừu tượng.

“Thoát Trung” chỉ có thể mang tính thuyết phục đối với dân chúng nếu chủ thuyết này tiến vào những điều chỉnh cụ thể cho hành vi cầm quyền.

Hành động cần phải làm ngay là hãy làm cho giới chính khách điều hành Việt Nam ngộ ra rằng họ sẽ phải trả một cái giá đắt đến thế nào, nếu vẫn tiếp diễn hành vi xúc phạm các tôn giáo như cách thức mà “Bạn vàng” thường ngu ngốc.

Trường Sơn

Posted in chính trị, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

RFA. Ls Lưu Tường Quang : Hiệp Định Genève 1954: bài học gì cho Bộ Chính Trị ĐCSVN n gày nay?

Nguồn RFA

Ls Lưu Tường Quang, Australia 2014-07-21

Hiệp định Genève 1954 là hiệp định đình chiến được kí kết tại thành phố Genève, Thụy Sỹ để khôi phục hòa bình ở Đông Dương. Hiệp định Genève 1954 là hiệp định đình chiến được kí kết tại thành phố Genève, Thụy Sỹ để khôi phục hòa bình ở Đông Dương.Files photos

Bài viết đánh dấu 60 năm Hiệp Định Genève được soạn thảo với một hi vọng nho nhỏ là chúng ta có thể học được kinh nghiệm của quá khứ đau buồn mà đất nước Việt Nam thân yêu đã phải trải qua. Hiệp Định nầy và hậu quả của nó đã được trình bày từ nhiều quan điểm khác nhau, kể cả tài liệu khá đầy đủ của Bộ Quốc Phòng Mỹ, The Pentagon Papers (1971).

Từ năm 2004, một số tài liệu do Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh phổ biến giúp chúng ta hiểu thêm về quan điểm và mục tiêu chiến lược của hai cường quốc cộng sản Liên Xô và Trung Quốc, đặc biệt là Trung Quốc, trong vấn đề Việt Nam (Đông Dương) và thân phận của Việt Minh / Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) trong quan hệ với hai đồng minh bảo trợ.

Tài liệu Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh xác nhận điều mà chúng ta đã suy diễn là VNDCCH – cũng như Quốc Gia Việt Nam / Việt Nam Cộng Hòa (QGVN/VNCH) – đã bị chi phối quá nhiều bởi chính trị đại cường và do đó đã không theo đuổi được chính sách độc lập.

Bài viết nầy phần lớn nhìn vào sách lược của Bắc Kinh tại Hội Nghị Genève trong nỗ lực củng cố và mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc như là một đại cường đang bước chân vào diễn đàn quốc tế. Có thể nói, đây là sách lược mà Bắc Kinh theo đuổi liên tục trong 60 năm qua, kể cả trong vấn đề tranh chấp Biển Đông với Việt Nam hiện nay.

Bối Cảnh

Hiệp Định Genève 1954 giữ vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam thời hậu bán thế kỷ thứ 20 khi mà cuộc chiến tranh lạnh đang ở mức độ cao. Nhưng lý do dẫn đến sự chia cắt đất nước Việt Nam vào ngày 21 tháng 7 năm 1954 bắt nguồn từ những biến cố lịch sử trong và sau Thế Chiến Thứ Hai, đặc biệt là tại Hội Nghị Potsdam.

Sau khi đã đánh bại Đức Quốc Xã và trước khi Nhựt Bản đầu hàng, lãnh đạo đồng minh gồm Hoa Kỳ, Anh Quốc và Liên Xô đã họp Hội Nghị tại Potsdam từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945 để qui định việc phân chia quyền lực và vùng ảnh hưởng trong thời hậu chiến.

Việt Nam không phải là một vấn đề lớn trong chương trình nghị sự. Phe đồng minh quyết định trao quyền giải giới quân đội Nhựt Bản từ vĩ tuyến thứ 16 trở ra Bắc cho Trung Hoa Dân Quốc (quân đội Tưởng Giới Thạch) và từ vĩ tuyến thứ 16 (từ phía nam Đà Nẳng) trở vào Nam cho Anh Quốc. Cũng tại Hội Nghị nầy, phe đồng minh đã chấp nhận lời yêu cầu của đại diện nước Pháp vừa được giải phóng, để Pháp có thể tiếp thu trở lại thuộc địa Đông Dương. Đây là một quyết định tai hại cho Việt Nam và đi ngược lại trào lưu dân tộc tự quyết trong vùng Đông Nam Á. Tướng Charles de Gaulle, được coi là anh hùng tranh đấu cho nền tự do của nước Pháp, nhưng trong vấn đề Đông Dương, Tướng de Gaulle là một tên thực dân không hơn không kém.

Mặc dầu một hiệp ước sơ bộ được ký kết ngày 06.03.1946 với chính quyền Hồ Chí Minh, cuộc chiến Việt-Pháp đã không thể tránh được và trở nên khốc liệt hơn kể từ cuối năm 1949, sau khi Mao Trạch Đông chiếm Bắc Kinh và thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Quốc). Khối cộng sản (Liên Xô và Đông Âu) – và đặc biệt là Trung Quốc đã trở thành hậu phương lớn tiếp viện ồ ạt chiến cụ, và gởi cố vấn tham chiến tại Việt Nam.

Năm 1952, Đại tướng Dwight D. Eisenhower đắc cử tổng thống Mỹ và vào giữa năm 1953, Washington ủng hộ Kế hoạch Navarre của Pháp nhằm thực hiện chiến lược mới và xúc tiến việc thành lập quân đội QGVN. Trong kế hoạch mới nầy, Điện Biên Phủ, một tỉnh lẻ tại vùng biên giới Lào-Việt được chiếm lại và tạo dựng thành một căn cứ quân sự với một lực lượng quân đội Liên Hiệp Pháp khoảng 10 ngàn người.

Cũng vào giữa năm1953, chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) tạm thời được ngưng bắn (armistice) chính thức vào ngày 27 tháng 7. Phương thức ngưng bắn nầy được coi là có thể áp dụng tại Đông Dương.

Có lẽ vì thế mà vào ngày 25.01.1954, tại Berlin, Hội Nghị Ngoại trưởng Tứ Cường (Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô) bày tỏ ý định triệu tập một hội nghị về Triều Tiên và Đông Dương tại Genève vào ngày 26 tháng 4 cùng năm. Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô gởi mật điện yêu cầu Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc thông báo và khuyến khích VNDCCH tham dự [1]. Cũng theo mật điện nầy, Liên Xô tin rằng QGVN, Lào và Cao Miên sẽ đồng ý tham dự. Mật điện nầy không nói lý do tại sao Liên Xô tin như vậy, nhưng một chi tiết ít khi được nhắc đến là Quốc Trưởng Bảo Đại đã cử cựu Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm tham dự Hội Nghị Berlin với tư cách quan sát viên [2].

Đại biểu các nước đến dự hội nghị Genève (Thụy Sỹ) bàn về khôi phục hòa bình tại Triều Tiên và Đông Dương, tháng 4/1954.
Đại biểu các nước đến dự hội nghị Genève (Thụy Sỹ) bàn về khôi phục hòa bình tại Triều Tiên và Đông Dương, tháng 4/1954.

Theo một chiến lược cố hữu ‘vừa đánh vừa đàm’ mà Chu Ân Lai đề cập trong Bản Nhận Định và Đề Nghị trình Ủy Ban Trung Ương trước khi Hội Nghị Genève bắt đầu, và để tạo thế mạnh chính trị trước hoặc trong khi Hội Nghị Genève được triệu tập, Việt Minh tập trung một lực lượng hùng hậu nhằm bao vây Điện Biên Phủ. Vào tháng 3 năm 1954, tương quan quân số đôi bên là 50 ngàn chống 10 ngàn, tức là Tướng Võ Nguyên Giáp, dưới sự cố vấn của Đại Tướng Trung Cộng Trần Canh [3], có ưu thế gấp 5 lần nhiều hơn.

Ngày 07.05.1954, Điện Biên Phủ thất thủ và tạo một ảnh hưởng chính trị lớn tại Paris vượt xa giá trị quân sự của tỉnh lẻ nầy. Bộ đội Việt Minh thiệt hại khoảng 8 000 nhân mạng so với khoảng 1 500 của quân đội Liên Hiệp Pháp. Bảo Đại nói rằng sự thất thủ của Điện Biên Phủ chẳng phải là một tai họa chiến lược gì [4].

Nhưng mục tiêu của Việt Minh không phải, hoặc không chỉ là quân sự – mà là ảnh hưởng chính trị tại các thủ đô phương Tây. Mười bốn năm sau, Hà Nội đã mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 tại VNCH và đã thất bại nặng nề về mặt quân sự, nhưng lại chiến thắng về mặt chính trị tại Washington, dẫn đến Hòa Đàm Paris sau đó.

Một ngày sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, Hội Nghị Genève được khai mạc để thảo luận vấn đề Đông Dương (Hội Nghị đã bắt đầu từ 29 tháng 4, để thảo luận vấn đề Triều Tiên)

Sự Kiện:

Hội Nghị Genève về Đông Dương được triệu tập ngày 08.05.1954 và kết thúc vào quá nửa đêm ngày 20.07.1954 tức là ngày 21.07.1954.

Đồng Chủ tịch Hội Nghị là Anh Quốc và Liên Xô và thành phần tham dự gồm:

Anh Quốc / United Kingdom:

Anthony Eden, Bộ trưởng Ngoại Giao

Hoa Kỳ / United States:

General Walter Bedell Smith, Thứ trưởng Ngoại Giao

U. Alexis Johnson

Trung Quốc / People’s Republic of China

Chu Ân Lai / Chou En-lai, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao

Chang Wen-t’ien

Li K’e-nung

Việt Minh

Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Ngoại Giao

Ai Lao / Laos

Phoui Sananikone, Bộ trưởng Ngoại Giao

Liên Xô / USSR

Vyacheslav Molotov, Bô trưởng Ngoại Giao

Pháp / France

Georges Bidault, Bộ trưởng Ngoại Giao (đến ngày 17.06.1954)

Jean Chauvel

Pierre Mendès-France, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao (từ ngày 17.06.1954)

Việt Nam

Giáo sư Nguyễn Quốc Định, Bộ trưởng Ngoại Giao (trong chính phủ Bửu Lộc) Nguyễn Đắc Khê, Bộ trưởng (trong chính phủ Bửu Lộc)

Bác sĩ Trần Văn Đỗ, Bộ trưởng Ngoại Giao (trong chính phủ Ngô Đình Diệm)

Cao Miên / Cambodia

Tep Phan, Bộ trưởng Ngoại Giao

Sam Sary

Vĩ tuyến 17 – Cầu Hiền Lương – Sông Bến Hải (Giới tuyến tạm thời chia cắt 2 miền Nam – Bắc (1954-1974)
Vĩ tuyến 17 – Cầu Hiền Lương – Sông Bến Hải (Giới tuyến tạm thời chia cắt 2 miền Nam – Bắc (1954-1974)

Trong thành phần nầy, Việt Nam là nước duy nhất có hai phái đoàn đại diện cho hai chính phủ thù địch là QGVN và VNDCCH. Pathet Lào và cộng sản Khmer, mặc dầu được phe cộng sản (Liên Xô, Trung Quốc và Việt Minh) ủng hộ, nhưng vẫn không được mời tham dự Hội Nghị. Thế nhưng, không phải vì thế mà họ bị bỏ quên, vì Molotov, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng lúc nào cũng nêu vai trò của phe cộng sản tại Ai Lao và Cao Miên với đòi hỏi là Hội Nghị phải giải quyết chung vấn đề cho cả 3 nước Đông Dương. Hai phái đoàn Ai Lao và Cao Miên lập luận rằng vấn đề Ai Lao và Cao Miên khác với vấn đề Việt Nam, nên cần có giải pháp riêng. Tuy lập trường nầy được phe phương Tây ủng hộ, sau cùng quan điểm của phe cộng sản được chấp nhận.

Việt Nam có 3 trưởng phái đoàn liên tiếp, vì các thay đổi chính phủ tại Sài Gòn. Giáo sư Nguyễn Quốc Định là Bộ trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Bửu Lộc (11.01 – 16.06.1954) và Ông Nguyễn Đắc Khê cũng là Bộ trưởng (phụ trách vấn đề dân chủ hoá) trong chính phủ Bửu Lộc. Còn Bác sĩ Trần Văn Đỗ là Bộ trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Ngô Đình Diệm đầu tiên và thứ nhì (16.06.1954 – 23.10.1955). Sau cuộc trưng cầu dân ý tháng 10 năm 1955, Ông Ngô Đình Diệm trở thành Tổng thống VNCH [5].

Trong thời gian Hội Nghị, Pháp cũng có thay đổi chính phủ: Chính phủ của Thủ tướng Joseph Laniel mà Bộ trưởng Ngoại Giao là Ông Georges Bidault bị phe nhóm trung tả của Ông Pierre Mendès-France đánh bại tại Quốc Hội. Ngày 17.06.1954, Ông Mendès-France trở thành Thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao và thay thế Ông Bidault tại Hội Nghị Genève. Đây là biến chuyển chính trị vô cùng tai hại cho QGVN, như chúng ta sẽ phân tích ở phần sau của bài nầy.

Hội nghị Genève thảo luận hai vấn đề chính là Triều Tiên và Đông Dương, nhưng đã dành phần lớn thì giờ cho Đông Dương hơn, vì Triều Tiên đã được ngưng bắn trong khi chiến cuộc vẫn tiếp diễn tại Việt Nam trong suốt thời gian Hội Nghị. Bài nầy chỉ chú trọng vào vấn đề Việt Nam tại Genève mà thôi. Ngoài diễn đàn chính tại Genève, đại diện quân sự đôi bên còn nhóm họp tại Trung Giã (Tỉnh Phúc Yên), từ ngày 4 đến 27 tháng 7 để bàn thảo về những vấn đề kỹ thuật như việc hạn chế hoạt động quân sự, rút quân, tập kết, trao đổi tù binh vv…

Riêng về Việt Nam, Hội Nghị kết thúc với một Hiệp Định (Accords sur la cessation des hostilités en Indochine, Accords de Genève 1954 (20 juillet 1954) và Một Lời Tuyên Bố Sau Cùng (The Final Declaration of The Geneva Conference: On Restoring Peace in Indochina, July 21, 1954). Hiệp Định gồm 47 điều với hai bản văn chính thức bằng tiếng Pháp và tiếng Việt được ký bởi Thiếu tướng Henri Delteil, đại diện Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương và Ông Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Quốc Phòng của VNDCCH.

Một vấn đề còn tranh cãi

Sáu mươi năm đã trôi qua, nhưng vấn đề tồn đọng và còn được tranh cãi là hiệu lực và tính cách ràng buộc của Lời Tuyên Bố Sau Cùng. Văn kiện nầy chỉ được vị đồng Chủ tịch Anthony Eden đọc lên trước khi Hội Nghị bế mạc [6] và không ai ký tên vào bản văn cả.

Hoa Kỳ không phải là thành viên kết ước, nhưng tuyên bố tôn trọng Hiệp Định. QGVN từ chối ký tên và Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ phát biểu rõ rệt là Việt Nam chống đối hoàn toàn giải pháp chia cắt đất nước. Vì vậy, mặc dầu Lời Tuyên Bố của Trưởng Phái Đoàn Trần Văn Đỗ không được chính thức ghi vào văn bản, nhưng không ai có thể coi là QGVN /VNCH chấp nhận kết quả của Hội Nghị Genève, kể cả Lời Tuyên Bố Sau Cùng. Tại Thủ đô Sài Gòn, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên tiếng chống đối mạnh mẽ việc đặt nửa phần đất nước dưới chế độ cộng sản và cờ rủ được treo khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam từ phía nam Sông Bến Hải, như là ngày tang cho tổ quốc.

Trong cốt lõi, Lời Tuyên Bố Sau Cùng gồm hai điểm quan trọng. Thứ nhất là vĩ tuyến 17 là ‘ranh giới quân sự tạm thời’ chớ không phải là ‘một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ’(đoạn 6). Và thứ hai là tổng tuyển cử dự trù được tổ chức 2 năm sau, tức là vào tháng 7 năm 1956, để thống nhất Việt Nam (đoạn 7).

Hội Nghị Genève 1954
Hội Nghị Genève 1954

Lời Tuyên Bố Sau Cùng là một văn kiện chính trị, bày tỏ ý muốn của phe cộng sản (Liên Xô, Trung Quốc và VNDCCH) và được Anh và Pháp đồng ý, nhưng ước muốn tự nó không thể có hiệu lực cưỡng hành như một hiệp ước. Phe cộng sản và một số tác giả phương Tây bằng vào các lời cam kết tôn trọng Hiệp Định Genève mà kết luận rằng Lời Tuyên Bố Sau Cùng là một phần của Hiệp Định và có tính cách ràng buộc. VNCH, thể chế chính trị kế thừa QGVN, không đồng ý với quan điểm nầy.

Trên nguyên tắc, Tổng thống Ngô Đình Diệm không chống đối một cuộc tổng tuyển cử tự do và được Liên Hiệp Quốc giám sát. Không ai – kể cả những chính phủ và các tác giả ủng hộ phe cộng sản – có thể lập luận rằng bầu cử tự do có thể được tổ chức tại Bắc Việt trong năm 1956. Đấy là một chế độ độc tài toàn trị, do guồng máy công an kiểm soát chặt chẽ từng nhà bằng phương thức hộ khẩu, mô phỏng theo chế độ Mao Trạch Đông. Trái lại, Nam Việt Nam là một chế độ tự do, tuy chưa hoàn hảo.

Người ta có khuynh hướng so sánh chế độ tự do tại VNCH với chế độ dân chủ Tây Âu và Bắc Mỹ, trong khi vì hoàn cảnh lịch sử, VNCH đáng lẽ phải được so sánh với các nước vừa được độc lập sau Thế Chiến Thứ Hai như Indonesia và Philippines – là những quốc gia non trẻ tập tễnh trên con đường dân chủ đầy chông gai. Điều trớ trêu là Ông Hồ Chí Minh không bị chỉ trích vì chế độ độc tài toàn trị ở Miền Bắc, mà Ông Ngô Đình Diệm lại bị đả kích vì chế độ tự do tại Miền Nam ‘thiếu dân chủ’. Điển hình cho khuynh hướng nầy là tác giả Joseph Buttinger, thoạt đầu là một người bạn nhưng sau đó trở thành một người chỉ trích dữ dội Ông Ngô Đình Diệm [7].

Người ta cũng thường trích dẫn nhận xét của Tổng thống Dwight D. Eisenhower, theo đó Ông Hồ Chí Minh có thể thắng trong một cuộc bầu cử tự do. Ngoài lý do nhận xét nầy thường được trích dẫn bên ngoài văn mạch (out of context) khi Tổng thống Mỹ so sánh Ông Hồ Chí Minh với Cựu Hoàng Bảo Đại, nhận xét nầy còn phải được hiểu, trong bối cảnh thực tế của năm 1956 khi Miền Bắc đông dân hơn Miền Nam. Bởi vậy, cho dầu 100% dân chúng Miền Nam ủng hộ Ông Ngô Đình Diệm – một scenario không thể xảy ra bắt cứ tại đâu bên ngoài khối cộng sản – Ông Hồ Chí Minh vẫn có thể đạt được đa số [8].

Còn việc giám sát của Liên Hiệp Quốc thì sao? Lập trường xuyên suốt của QGVN / VNCH là Liên Hiệp Quốc phải có vai trò chính trong việc giám sát cuộc đình chiến cũng như trong vấn đề tổ chức bầu cử tự do. Tại sao phe cộng sản tại Hội Nghị Genève cũng như sau Hội Nghị luôn luôn từ chối sự giám sát của Liên Hiệp Quốc trong vấn đề chấm dứt chiến tranh và vãn hồi hòa bình tại Viêt Nam?

Trước kia, chúng ta có thể suy đoán, nhưng ngày nay chúng ta có thể tìm được lý do trong số 80 công điện và phúc trình mật và tối mật mà Chu Ân Lai gởi về Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và được Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh phổ biến hạn chế hồi năm 2004. Bằng chứng cũng có thể tìm thấy trong các nhật ký của Molotov trong số 8 văn kiện mật mà Moscow đã phổ biến.

Phe cộng sản – cá biệt là Bắc Kinh – rất e ngại vấn đề Việt Nam được quốc tế hóa mà Bắc Kinh coi là con đường dẫn đến sự tham dự của Hoa Kỳ [9]. Liên Xô còn có thêm một lý do khác để chống đối sự tham dự của Liên Hiệp Quốc. Trong vấn đề Triều Tiên, Moscow đã không sử dụng quyền phủ quyết khi Hội Đồng Bảo An quyết nghị can thiệp, dẫn đến sự tham chiến quốc tế do Mỹ lãnh đạo trong cuộc chiến Triều Tiên (1950 – 1953). Trong vấn đề giám sát của Liên Hiệp Quốc, Ông Hồ Chí Minh (mà các văn kiện mật và tối mật của Bắc Kinh và Moscow thường gọi với bí danh là “Comrade Ding / Đồng chí Ding”) tuân theo đường lối của hai đàn anh cộng sản.

Ngày nay, trong bối cảnh khác và tác nhân tranh chấp khác – tức là giữa Trung Quốc và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hoặc với Philippines, Bắc Kinh cũng chống đối việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, dầu là dưới hình thức trước Tòa Án Quốc Tế hay dưới hình thức thương thuyết đa phương, mà mục đích là để ngăn ngừa sự tham dự của Mỹ.

Một lập luận khác cũng thường được nêu lên là vì Pháp chấp nhận thi hành Hiệp Định Genève kể cả Lời Tuyên Bố Sau Cùng, nên QGVN / VNCH cũng bị ràng buộc và phải thi hành. Cơ sở của lập luận nầy là (a) QGVN chưa hoàn toàn độc lập trong Liên Hiệp Pháp, và (b) Pháp hành xử thẩm quyền ngoại giao thay cho QGVN tại Hội Nghị Genève.

Luận điệu nầy không đúng. Việt Nam là một quốc gia độc lập và thống nhất Nam Bắc Trung theo Bản Tuyên Bố Chung Việt-Pháp tại Vịnh Hạ Long ngày 05.06.1948 và được chính thức xác nhận bởi Tổng Thống Pháp Vincent Auriol ngày 08.06.1949. Trên cơ sở hai văn bản nầy, thì QGVN quả thật chưa hoàn toàn độc lập về phương diện tài chánh và ngoại giao. Thế nhưng, giới hạn cuối cùng nầy đã được tháo gỡ bởi Hiệp Ước Việt-Pháp mà Thủ tướng Bửu Lộc và Thủ tướng Joseph Laniel đã ký ngày 04.06.1954.

Tại Hội Nghị Genève, Việt Nam là một quốc gia hoàn toàn độc lập và được ít nhất là 35 quốc gia khác trên thế giới công nhận từ năm 1949 đến năm 1955 so với 26 quốc gia có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc trong cùng khoảng thời gian ấy [10].

Quan điểm của Sài Gòn là VNCH không bị ràng buộc bởi Lời Tuyên Bố Sau Cùng là có cơ sở.

Phân Tích: chính trị đại cường

‘Chính trị đại cường’ hay chính trị nước lớn là một nhóm chữ đơn giản nhưng không thể hiện được sự phức tạp trong quan hệ Anh-Pháp-Mỹ từ phía ‘đồng minh’ phương Tây. Từ phía cộng sản, quan hệ giữa Bắc Kinh và Moscow chưa có gì gây cấn và được coi là rất đầm ấm, vào thời điểm 1954 vì Trung Quốc, chỉ sau 5 năm thành lập, còn phải học hỏi nhiều từ Liên Xô về mặt ngoại giao trên diễn đàn quốc tế. Nhưng không phải vì sự khác biệt trong nội bộ cường quốc phương Tây và trong nội bộ cường quốc cộng sản mà hai phía đối nghịch Việt Nam không phải đối diện với nhiều khó khăn tại Hội Nghị. Đáng ngạc nhiên là những khó khăn nầy lại giống nhau, tức là những khó khăn với chính ‘đồng minh’của mình. Dị biệt giữa Washington, London và Paris sâu đậm và phức tạp hơn, nên QGVN đã không thể vượt qua những trở lực tại Hội Nghị và sau cùng đã phải chịu thất bại nặng nề hơn là VNDCCH [11].

Khởi thủy, lập trường của hai phe đối nghịch Việt Nam đều chống đối giải pháp chia cắt đất nước. Thế nhưng trong khi QGVN nhất quán duy trì lập trường bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, thì VNDCCH đã không cưỡng lại được sức ép của Trung Quốc và Liên Xô nên phải chấp nhận giải pháp chia đôi.

Chia đôi Việt Nam là giải pháp mà Moscow và Bắc Kinh chủ trương rất sớm từ đầu tháng 3 năm 1954. Lần đầu tiên bước vào sân khấu chính trị thế giới nên Bắc Kinh đã chuẩn bị rất kỹ. Chính Thủ tướng Chu Ân Lai đã soạn thảo chính sách chỉ đạo mà Ban Bí Thư Ủy Ban Trung Ương đã cứu xét và chấp thuận ngày 02.03.1954 [12].

Theo tài liệu quan trọng nầy, Trung Quốc đánh giá cao thành công của Liên Xô trong việc vận động triệu tập Hội Nghị Genève và coi việc tham dự của Trung Quốc là một bước tiến lớn, mặc dầu các cường quốc ‘phản động’ không tin là Hội Nghị có thể đạt kết quả gì. Bởi vậy, chính sách của Trung Quốc là phải tham dự̣ để cải thiện thể đứng ngoại giao và phá vỡ âm mưu gây chiến của ‘đế quốc Mỹ’. Trung Quốc phải nỗ lực đạt kết quả, dầu là kết quả giới hạn hoặc tạm thời, để mở đường cho việc giải quyết tranh chấp bởi các đại cường. Trung Quốc đã tự coi mình là một đại cường. Đối với Đông Dương, Trung Quốc phải cố gắng để hội nghị không thất bại, và tham dự để, nếu cần, tạo ra tình trạng vừa đánh vừa đàm (“negotiating while fighting”) nhằm gây khó khăn cho Pháp và tạo mâu thuẩn giữa Pháp và Mỹ. Một cách cụ thể, chính sách đã nói rõ là ‘ngưng bắn tại chỗ’ không tốt bằng chia đôi Nam/Bắc có thể là tại vĩ tuyến thứ 16. Chu Ân Lai còn nói thêm là Trung Quốc phải chuẩn bị thảo luận các giải pháp hợp tác kinh tế thương mại để bẻ gẫy phong tỏa của Mỹ – và bên lề hội nghị, cải thiện bang giao song phương với Anh, Pháp và Canada. Trong bản văn nầy, Chu Ân Lai đã nhận xét chính xác là các cường quốc phương Tây chia rẽ và có nhiều khó khăn chính trị nội bộ.

Sự phối hợp giữa phe cộng sản chặt chẽ hơn là phe phương Tây. Ngày 22.04.1954, tại Moscow, Chu Ân Lai thảo luận với Đệ Nhất Bí Thư Nikita Khrushchev và Thủ tướng George M. Malenkov và Liên Xô đồng ý với chính sách của Chu Ân Lai. Khrushchev nói chính sách nầy phải được bảo mật. Khrushchev cho biết là đã tiếp Đồng chí Ding (bí danh của Hồ Chí Minh) và cho biết yêu cầu của Hồ Chí Minh có thể được thỏa mãn (satisfied), nhưng không nói rõ hoặc mật điện không ghi rõ là yêu cầu gì. Mật điện nói thêm là Hồ Chí Minh ghé lại Bắc Kinh để gặp Mao Trạch Đông trên đường về [13].

Một phiên họp quan trọng khác được tổ chức tại Liễu Châu / Liuzhou, Trung Quốc, ngày 04.07.1954 giữa Chu Ân Lai và các phụ tá với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, nhưng nội dung không được tiết lộ trong mật điện [14].

Bề ngoài, Chu Ân Lai có vẻ quan tâm đến uy tín của VNDCCH. Ngoài các phiên họp đặc biệt với Hồ Chí Minh, Chu Ân Lai không bỏ lỡ cơ hội than phiền với các trưởng phái đoàn phương Tây về việc mà ông gọi là “bất bình đẳng” (inequality) trong việc phương Tây phân biệt đối xử giữa QGVN và VNDCCH.

Trong cuộc thảo luận với Ngoại trưởng Anthony Eden ngày 14.05.1954, Chu Ân Lai than phiền là Pháp đã không thèm trả lời đề nghị chính trị của Phạm Văn Đồng, vì Pháp chỉ coi QGVN là đại diện cho toàn thể Việt Nam. Theo lời Chu Ân Lai, người đòi hỏi quá nhiều không phải là Hồ Chí Minh mà là Bảo Đại, vì Bảo Đại không những coi mình là lãnh tụ duy nhất của Việt Nam mà còn đòi hỏi Liên Hiệp Quốc bảo đảm Bảo Đại là lãnh tụ duy nhất sau cuộc tổng tuyển cử – một đề nghị mà Moscow và Bắc Kinh đều không chấp nhận. Tất nhiên, Chu Ân Lai cũng không quên đòi hỏi cho chính mình là Trung Quốc xứng đáng được có qui chế của một đại cường [15]. Cũng theo Chu Ân Lai, Ngoại trưởng Georges Bidault chẳng những không công nhận Việt Minh mà còn coi họ là một ‘lực lượng phản loạn’ [16].

Thật vậy, nếu chúng ta có thể chia Hội Nghị Genève làm hai giai đoạn trước và sau ngày 17.06.1954, thì vị thế của phái đoàn QGVN trên chân hẳn phái đoàn VNDCCH trong giai đoạn đầu.

Mặc dầu có sự nghi kỵ và khác biệt quan điểm giữa Anh-Pháp-Mỹ, Mỹ và đặc biệt là Pháp ủng hộ QGVN mạnh mẽ. Lập trường sơ khởi của Thủ tướng Joseph Laniel và Ngoại trưởng Georges Bidault không khác gì lập trường của QGVN. Thủ tướng Laniel đã đặt 5 điều kiện ngưng bắn là quân cộng sản phải rút khỏi Miên và Lào, thiết lập một vùng phi quân sự tại Đồng bằng Sông Hồng, di chuyển quân cộng sản tại Việt Nam vào vùng chờ đợi định trước, quân Việt Minh phải rút khỏi Nam Việt và bảo đảm ngăn cấm mọi tăng viện từ bên ngoài [17].

Thế đứng của QGVN sụp đổ cùng với sự sụp đổ của chính phủ Laniel. Ngày 17.06.1954, tân Thủ tướng thiên tả Pierre Mendès-France tuyên bố trước Quốc Hội Pháp rằng điều đình ôn hòa có thể̉ thực hiện được và ngưng bắn có thể đạt được. Tân Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Pháp tự đặt cho mình một thời hạn phải đem lại kết quả là ngày 20.07.1954. Bảo Đại coi đây là lời tuyên bố “lạ lùng” [18], nhưng quan trọng hơn là phái đoàn QGVN tại Genève bị cô lập hoàn toàn kể từ thời điểm nầy.

Vài ngày sau, Chu Ân Lai và Mendès-France gặp nhau lần đầu tiên tại Đại Sứ quán Pháp ở Bern, Thụy Sĩ. Theo phúc trình của Chu Ân Lai ngày 23.06.1954, Mendès- France đã nói rằng nhìn chung, mục tiêu của Trung Quốc và Pháp không có nhiều dị biệt về nguyên tắc. Mendès-France đồng ý với Chu Ân Lai về giải pháp 2 bước: đình chiến về quân sự và tiếp theo sau là giải pháp chính trị. Mendès-France cũng đồng ý với Chu Ân Lai là Pháp sẽ không để Mỹ lập căn cứ quân sự trong vùng [19].

Sự rạn nứt giữa Pháp và Mỹ được xác nhận. Trung Quốc rất lo ngại trước nguồn tin Mỹ thảo luận thành lập tổ chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO mà Chu Ân Lai coi như là một đe dọa cho chính Trung Quốc. Trong cuộc thảo luận nầy, Chu Ân Lai cũng cho biết là Trung Quốc thúc giục VNDCCH tiếp xúc với phái đoàn Pháp và phái đoàn QGVN và yêu cầu Pháp cũng có đề nghị ngược lại với Bảo Đại.

Chu Ân Lai tiếp tục lo ngại về khả năng Mỹ thiết lập căn cứ quân sự tại Đông Nam Á và nêu vấn đề nầy với Anthony Eden và Mendès-France. Eden giải thích rằng SEATO, nếu được thành lập, chỉ là một liên minh phòng thủ (defensive) trong khi đó Mendès-France nhắc lại quan điểm của Pháp là không có kế hoạch thiết lập căn cứ Mỹ trong vùng [20].

Thời hạn 20.07.1954 gần kề nên Mendès-France nỗ lực thu hẹp dị biệt lập trường giữa hai bên. Các đại cường đã đồng ý là thành viên Uỷ Hội Kiểm Soát Đình Chiến bao gồm các nước Ấn Độ, Canada và Ba Lan. Vấn đề còn lại là Việt Nam sẽ bị chia cắt tại đâu và tổng tuyển cử được ấn định lúc nào? Không khác chi các chuyến ‘đi đêm’ giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ trong thời gian Hòa Đàm Paris vào đầu thập niên 1970, Pháp, Anh, Liên Xô và Trung Quốc cùng đi đêm với nhau mà phái đoàn QGVN không biết và có lẽ phái đoàn VNDCCH cũng không biết rõ [21]. Phái đoàn QGVN chỉ nhận được tin tức đã chậm mà còn không đầy đủ, do phái đoàn Mỹ chuyển lại. Tuy vậy, Trưởng phái đoàn Trần Văn Đỗ cũng gặp được Chu Ân Lai, do sự giới thiệu của phái đoàn Pháp. Một ngày trước khi Hội Nghị kết thúc, Bác sĩ Trần Văn Đỗ lên tiếng cực lực bác bỏ phát biểu của Liên Xô và của Pháp khi cả hai cường quốc nầy đề cập đến sự chia đôi lãnh thổ Việt Nam [22].

Trong khi đó, trái với lập trường nguyên thủy, VNDCCH chấp nhận giải pháp chia đôi. Họ đã từng đề nghị một nơi nào đó giữa vĩ tuyến 13 và 14, nhưng trước sức ép của Liên Xô và Trung Quốc, họ hi vọng đó là vĩ tuyến thứ 16, trong khi Pháp hãy còn đòi hỏi vĩ tuyến thứ 18. Mendès-France nói rằng Pháp không thể chấp nhận vĩ tuyến 16 vì Pháp không thể để cố đô Huế lọt vào tay cộng sản. Tài liệu Liên Xô cũng cho thấy Moscow chấp nhận vĩ tuyến16 rất sớm, từ đầu tháng 3 năm 1954. Thế nhưng Molotov vẫn bênh vực đề nghị vĩ tuyến 13/14 của VNDCCH như là một chiến thuật thương thuyết để sau nầy có cơ hội trao đổi “nhượng bộ”. Cũng theo chiến thuật thương thuyết nầy, Moscow đã ủng hộ thời hạn tổ chức tổng tuyển cử mà VNDCCH muốn đạt được là trong vòng 6 tháng sau khi ngưng chiến. Do sức ép của Liên Xô và Trung Quốc – đặc biệt là Trung Quốc vì Bắc Kinh không muốn Hội Nghị thất bại và Bắc Kinh đang lo Mỹ can thiệp – VNDCCH phải từ bỏ vĩ tuyến 13/14 và phải chấp nhận tổng tuyển cử vào tháng 7 năm 1956 [23].

Trong phiên họp ngày 20.07.1954 giữa Chu Ân Lai, Mendès-France và Eden, Mendès-France đề nghị giải pháp dung hòa là vĩ tuyến 17. Phạm Văn Đồng không trả lời [24].

Số phận Việt Nam đã an bài.

Tạm Kết

Chúng ta không thể thay đổi lịch sử, nhưng diễn tiến lịch sử tại Hội Nghị Genève 1954 có thể cho ta bài học gi?

Trái với luận điệu tuyên truyền “môi hở răng lạnh” mà cả Bắc Kinh và Hà Nội đều đã sử dụng, Trung Quốc giúp đỡ phe cộng sản tại Việt Nam trước và sau năm 1954 là vì quyền lợi của Trung Quốc. Trung Quốc coi Hội Nghị Genève là bàn đạp để Trung Quốc xác định vai trò đại cường trên diễn đàn quốc tế. Trung Quốc không muốn Hội Nghị thất bại, vì e ngại sự thất bại ấy có thể dẫn đến sự can thiệp quân sự của Mỹ mà Trung Quốc coi là mối đe dọa cho chính Trung Quốc. Đây là một tầm nhìn chiến lược mà Bắc Kinh không thay đổi trong 60 năm qua. Trong chiến lược nầy, quyền lợi của Việt Nam là thứ yếu. Nhân cuộc chiến biên giới Việt-Trung 1979, Hà Nội lần đầu tiên và chỉ một lần thôi, dám lên tiếng cáo buộc Trung Quốc đã phản bội VNDCCH tại Hội Nghị Genève [25].

Trên 60 năm qua, Việt Nam Thống Nhất hoặc Việt Nam chia đôi đều đã là nạn nhân của ván bài chính trị đại cường. Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sẽ tiếp tục vướng mắc trong chính trị nước lớn, nếu Hà Nội tiếp tục gắn bó trong mối quan hệ đặc biệt và bất bình đẳng với Bắc Kinh như được diễn đạt dưới chiêu bài 16 chữ vàng và 4 tốt. Trong thế giới đa cực ngày nay, quyền lợi lâu dài của tổ quốc Việt Nam là bang giao độc lập và bình đẳng với tất cả các cường quốc.

Ls Lưu Tường Quang, AO

Sydney, ngày 23.03.2014

Posted in chính trị, xã hội | Tagged , , , , , , , , , | Leave a comment

Nguyễn Trung : Hiểm họa đen? (Bài 2, viết gửi Đại hội XII sắp tới của ĐCSVN 1)

Post lại từ boxitvn

22/07/2014

Ngay từ khi ra đời BVN đã chủ trương không phản biện, kiến nghị, đối thoại trực tiếp với Đảng Cộng sản Việt Nam mà chỉ làm việc ấy với những người cầm quyền đất nước do Đảng cử ra, bởi một đảng và một nhà nước là hai thực thể khác biệt, nếu đánh đồng với nhau sẽ vô tình thừa nhận những hiện tượng vi phạm Hiến pháp pháp luật rất nguy hiểm, chẳng hạn có thể bị coi như chính mình chấp nhận việc đảng lấn sân nhà nước là điều đương nhiên, và khi đảng làm những việc đưa đến tai họa tày trời cho dân như việc ông đảng trưởng Nguyễn Văn Linh đem theo một nhóm đảng viên quyền lực và cố vấn đến Hội nghị Thành Đô ký kết với kẻ đồng cấp Trung Hoa những điều khoản nhân nhượng làm cho Việt Nam mất hẳn tư thế, trở thành một chư hầu lệ thuộc, hay ông đảng trưởng Nông Đức Mạnh cũng sang Tàu ký kết với kẻ đồng cấp những hiệp định khai thác bauxite ở Tây Nguyên gây nên hậu quả tồi tệ khôn lường…, dân vẫn không thể vin vào đâu để kiện những ông này ra Tòa án tối cao yêu cầu bỏ tù họ được.

Tuy vậy, cũng không thể không thừa nhận một sự thực là Đảng Cộng sản Việt Nam đã cướp được chính quyền từ năm 1945 thông qua một khẩu hiệu rất hấp dẫn: Đảng là người lãnh đạo dân tộc giành lại độc lập toàn vẹn cho đất nước và tự do hạnh phúc cho nhân dân. Khẩu hiệu cao đẹp gắn Đảng và dân tộc lại làm một đã lôi cuốn rất nhiều thế hệ yêu nước đi theo Đảng trong suốt nhiều thập kỷ không tiếc máu xương mình, mặc dầu trên thực tế mục tiêu “tự do hạnh phúc cho nhân dân” chưa bao giờ đạt được và mục tiêu “độc lập toàn vẹn cho đất nước” thì trong hiện tại lại đang bị de dọa trắng tay bởi một thế lực hung hiểm vốn là đồng minh “môi hở răng lạnh” của Đảng kể từ khi Đảng ra đời. Tính ảo tưởng của khẩu hiệu cao đẹp mà Đảng đề ra từ năm 1945 ngày càng bị phơi trần chứng tỏ sự nhân danh dân tộc của Đảng ngay từ buổi đầu đã là một thứ lý luận khiên cưỡng.

Học giả Nguyễn Trung trong bài viết kiến nghị với Đảng dưới đây tuy không đi vào vấn đề có tính chất lý thuyết phổ quát như chúng tôi nêu ở trên, nhưng từ góc độ khảo sát lịch sử trong vòng 40 năm, đã cấp cho ta nhiều kiến giải sắc bén cho phép nhìn nhận Đảng từ sau khi trở thành một đảng cai trị (theo ông Trung là từ sau 1975) đã tự mình đánh mất hết cả tư cách chính nghĩa lẫn thực lực trong việc đồng hành với dân tộc ở thời điểm đất nước đang trên bờ vực thẳm như hiện nay, mà cũng là do kết quả 40 năm cai trị của Đảng.

“Cần nhìn nhận 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên [từ 1975 đến nay] là một giai đoạn phát triển thất bại, vì các lẽ:

1. Ngoài 10 năm đầu mất cho 2 cuộc chiến tranh tiếp theo, thành tựu giành được trong 28 năm đổi mới tuy là rất lớn so với điểm xuất phát, nhưng về cơ bản là thất bại nếu so với công sức đã bỏ ra và cơ hội đất nước có được. Mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 không thể hoàn thành vì cơ cấu kinh tế hiện còn rất lạc hậu, kết cấu hạ tầng vật chất & kỹ thuật thấp kém, hiện đang khủng hoảng cơ cấu sâu sắc, chưa có lối thoát ra khỏi cái bẫy là nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, chất lượng nguồn nhân lực đạt được nhìn chung còn thấp, khoảng cách tụt hậu so với nhiều nước chung quanh ngày càng rộng.

2. Sau 3 thập kỷ xây dựng đất nước, lúc đầu là xây dựng chủ nghĩa xã hội, do có nhiều sai lầm không khắc phục được nên từ khi tiến hành đổi mới phải điều chỉnh lại thành xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những thành tựu kinh tế – xã hội đạt được có nhiều măt hạn chế như đã nói trong điểm 1 bên trên. Riêng về mặt thể chế chính trị, nước ta hiện nay rất lạc hậu so với đòi hỏi phát triển của đất nước, so với xu thế phát triển của thế giới, so với một số quốc gia có mức thu nhập tính theo đầu người tương tự như nước ta. Tuy có cái tên gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa hay là định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ chính trị một đảng của đất nước hiện nay về bản chất có quá nhiều tàn dư của chế độ phong kiến cũ. Quá trình tha hóa đã nhanh chóng làm cho tính đảng trị của chế độ ngày càng nổi bật, trên thực tế ngày nay đã trở thành chế độ toàn trị.

3. Đất nước đã độc lập thống nhất 4 thập kỷ. Thay vào chỗ phải có một nhà nước pháp quyền dân chủ để thực thi quyền lực của nhân dân, đất nước có một chế độ chính trị toàn trị. Tính đảng trị của chế độ này tạo ra cho truyền thống phong kiến cũ cha truyền con nối cái phương thức mới “làm vua tập thể” (Nguyễn Văn An) để duy trì chế độ đảng mặc nhiên và mãi mãi cầm quyền cai trị đất nước. Trên thực tế đã hình thành sự phân chia: ĐCSVN trở thành kẻ cai trị, nhân dân trở thành người bị cai trị. Nhân dân bị phân chia thành các giai cấp để đối xử. Trong nhiều hình thái tư tưởng của xã hội và trong thiết kế các chủ trương chính sách vẫn tồn tại sự phân biệt giữa “ta” và “ngụy”, giữa “yêu nước đồng nghĩa với yêu chủ nghĩa xã hội” và “không yêu chủ nghĩa xã hội là không yêu nước, là chống chế độ”; ai dám mở miệng nói trong lòng kháng chiến có cuộc nội chiến, sẽ lập tức bị quy kết là phản động… Nhiều quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân tuy đã được ghi trong hiến pháp nhưng chỉ là hình thức. Tuy chế độ toàn trị của ĐCSVN mang trong nó nhiều tàn dư của chế độ phong kiến cũ, song cái nền tảng tinh thần của “làm vua tập thể” hôm nay được tạo dựng ra không phải từ một trật tự của thượng tầng kiến trúc phong kiến vương đế, mà hình thành từ một thứ văn hóa ra đời trong quá trình chia chác quyền lực giữa các nhóm lợi ích đủ các thành phần phức tạp trong xã hội. Các “nhóm” này sống và tự ngụy trang bằng nhiều thứ “giả, diễn, hão”, luôn luôn tìm kiếm đồng minh trong mọi rác rưởi của xã hội[6]. Hệ thống chính trị của đất nước được tổ chức theo cái phương thức “đảng cử dân bầu” là tiêu biểu tổng hợp nhất cho những “giá trị” “giả, diễn, hão” này. Thực tế này lý giải: Bên cạnh những thành tựu đạt được phải trả giá đắt, mỗi bước phát triển của đất nước luôn gắn theo một nấc thang xuống cấp mới về đạo đức, chính trị và tư tưởng. Dẫn đến nghịch lý càng phát triển càng yếu, càng ngày sinh nhiều yếu kém mới, mâu thuẫn mới”.

“Có thể thấy ngay, một hệ thống quyền lực cồng kềnh và chồng chéo, có hệ điều hành đảng quyết định tất cả nhưng không chịu trách nhiệm ràng buộc, với chất lượng con người hoạt động trong hệ thống được nhào nặn từ chính hệ thống này, hiển nhiên không thể vận hành có hiệu quả toàn bộ sự vận động của một quốc gia. Về nhiều mặt, đây là một hệ thống quyền lực kìm kẹp quốc gia, vô hiệu hóa không ít hay không thực thi được bao nhiêu các chính sách cũng như luật pháp do chính hệ thống này ban hành. Mọi chiến lược hay quy hoạch quốc gia đã vạch ra được đều trở nên không khả thi hoặc chỉ được thực hiện manh mún phần nào trong một hệ thống quyền lực chồng chéo, vận hành theo nhiệm kỳ và xé lẻ như vậy; quan liêu, lãng phí, tham nhũng và tội ác ngày càng trầm trọng là tất yếu. Chính hệ thống quyền lực này bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ của nhân dân, hủy hoại nghị lực sáng tạo của đất nước. Thực tế này đẻ ra đòi hỏi phải tăng cường trấn áp để bảo toàn chế độ, hệ quả là ngày càng mất lòng dân, trực tiếp cản trở sự phát triển của đất nước. Với một hệ thống quyền lực như vậy không thể tạo ra và cũng không thể quản lý nổi một nước Việt Nam công nghiệp hóa.

Tình hình kinh tế đất nước bế tắc như hiện nay, đất nước hầu như bị động và chưa chuẩn bị được bao nhiêu trong việc đối phó với âm mưu bành trướng bá quyền của Trung Quốc, cũng như nhiều yếu kém khác nữa của sự nghiệp phát triển đất nước trong đối nội và đối ngoại còn cho thấy: Trong tình hình mới, hệ thống quyền lực này ngày càng bất cập và không có khả năng dẫn dắt đất nước trong thế giới hiện tại.Ngoài ra không thể không đặt câu hỏi sự lũng đoạn của quyền lực mềm Trung Quốc đã tác động tới mức nào vào hệ thống quyền lực nước ta hiện nay”.

“Bốn mươi năm độc lập thống nhất đầu tiên của đất nước cũng là 40 năm đảng và nhà nước Việt Nam vấp phải nhiều sai lầm đối ngoại trầm trọng nhất. Do nhìn nhận sai về thế giới, nên sau khi vừa mới ra khỏi chiến tranh đất nước lại bị kéo ngay vào 2 cuộc chiến tranh mới trong 10 năm liền (1979 – 1989). Hội nghị Thành Đô là sai lầm chiến lược tiếp theo, để lại hệ lụy lâu dài và khôn lường cho đất nước. Điều trớ trêu là ĐCSVN chủ trương đường lối đối ngoại hòa hiếu, không đi với bất kỳ nước nào chống lại nước thứ ba. Song đường lối đối ngoại bắt đầu từ hội nghị Thành Đô lại cột chặt nước ta vào một bên Trung Quốc, có nghĩa là làm như thế khách quan tạo ra những mâu thuẫn nhất định giữa nước ta và các nước thứ ba. Nguy hiểm hơn thế, đường lối đối ngoại này đã đưa con đường phát triển của đất nước đi vào quỹ đạo của Trung Quốc, tạo ra sự lệ thuộc trầm trọng và tình trạng bị Trung Quốc uy hiếp cho đến hôm nay ĐCSVN vẫn không thể tìm ra đối sách khắc phục; độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng. Đường lối đối ngoại Thành Đô cùng với đường lối đối nội giữ đảng và giữ chế độ bằng mọi giá trên thực tế đã biến nước ta thành một nước chư hầu kiểu mới của Trung Quốc, giữa lúc nước ta đã hội nhập toàn diện vào thế giới toàn cầu hóa, có tất cả các quốc gia quan trọng là đối tác chiến lược hay đối tác toàn diện. Đường lối đối ngoại này khiến cho nước ta bị cô lập, vì nó chỉ cột chặt nước ta vào Trung Quốc và đẩy nước ta vào thế phải leo dây với các đối tác khác, nước ta vừa không có sự liên minh thật sự với bất kỳ đối tác quan trọng nào cần thiết cho an ninh của nước ta, vừa tự mình không tranh thủ được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của cả thế giới cho bảo vệ chủ quyền quốc gia và những lợi ích chính đáng của nước ta.

Trung Quốc là đối tác và đối tượng số một tự nhiên và mãi mãi đối với nước ta, nhưng trong 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên của đất nước ĐCSVN đã thất bại hoàn toàn trong việc xây dựng nên một quốc sách có thể bảo vệ được độc lập chủ quyền quốc gia, đồng thời giữ được hòa bình và thực hiện được hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc. Nguyên nhân chủ yếu là: ĐCSVN đặt lợi ích quốc gia dưới lợi ích của đảng và của chế độ, trí tuệ thấp kém, sự lầm lẫn nghiêm trọng của ý thức hệ, sự khiếp nhược trước Trung Quốc, bị quyền lực mềm Trung Quốc lũng đoạn nghiêm trọng”.

Bản kết toán 40 năm đất nước độc lập thống nhất cho phép đánh giá:

1. Đất nước trong 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên dưới chế độ toàn trị của ĐCSVN đã tạo ra được một nền kinh tế chủ yếu là bán những thứ tự có nhiều hơn lànhững thứ tự làm ra, nợ nần nhiều ai trả (?), với một chế độ chính trị không có khả năng đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp phát triển.

2. Để giữ đại cục quan hệ với Trung Quốc, đảng đã phải chấp nhận nhiều thỏa hiệp hay hy sinh lợi ích quốc gia (không loại trừ có thể có những vụ việc sự tha hóa của cá nhân đã bán rẻ lợi ích quốc gia); đất nước lâm vào tình trạng lệ thuộc và bị chèn ép nhiều mặt đến mức gần như trở thành một chư hầu kiểu mới của Trung Quốc.

3. Giữ đảng và chế độ như hiện nay, không thể giữ nước. Tình hình đã đến mức sự tồn tại và hành động của đảng và của chế độ như trong hiện tại đã và đang cản trở trực tiếp sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Sự lũng đoạn và uy hiếp của Trung Quốc rất nguy hiểm nhưng không nguy hiểm bằng”.

“Tư duy ý thức hệ của đảng là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, lại trong hệ thống chính trị một đảng, nên ngay từ ngày đầu tiên của đất nước độc lập thống nhất, với tính cách là người chiến thắng, ĐCSVN đã trở thành người cai trị đất nước. Chính thực tế này giải thích tại sao quyền làm chủ của nhân dân đối với đất nước độc lập thống nhất không được trao lại cho nhân dân ngay sau khi chiến tranh kết thúc – nhân danh đảng phải đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng, để đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Về phương diện này, lịch sử phát triển của Việt Nam đã bị chặn đứng ngay từ đấy – nghĩa là cách đây 40 năm, và bị bẻ ngoặt sang một hướng duy tâm, duy ý chí, với kết quả đạt được như hôm nay.

Theo quy luật tha hóa của quyền lực, hệ thống chính trị quốc gia được xây dựng lên dưới sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng ngày nay đã thật sự trở thành chế độ toàn trị, đang tích tụ ngày một nhiều mâu thuẫn đối kháng với các quyền tự do dân chủ của nhân dân và đi ngược lại lợi ích quốc gia. Đất nước bị chính hệ thống chính trị của mình kìm hãm trước tiên, mọi bước phát triển đạt được đều phải trả giá đắt, hiện đang lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện rất sâu sắc.

Ngày nay, tình hình tha hóa của đảng đến mức ý thức hệ thật ra cũng chỉ còn lại là cái bình phong hay là công cụ, để che đậy hay để thực hiện yêu cầu bảo vệ quyền lực của đảng, thực sự nó không còn đọng lại chút nào là lý tưởng cách mạng.

Tổng hợp lại có thể nói: Tư duy ý thức hệ của ĐCSVN không phải là tụt hậu hay lạc hậu so với thời đại của thế giới hiện tại, nó lạc lõng theo một lối riêng không tưởng và không đi cùng với xu thế phát triển của thế giới hiện tại. Sự tha hóa của quyền lực trong hệ thống chính trị một đảng càng khiến cho sự lạc lõng này không thể cứu vãn được, đảng ngày càng suy yếu vì những thất bại của chính mình. Để tồn tại, đảng bắt buộc phải mắc thêm nhiều sai lầm mới, buộc phải thêm độc tài và toàn trị hơn nữa”.

“Giả thiết Trung Quốc áp đặt lên nước ta kịch bản Z, nhân dân ta có sự lựa chọn nào hơn là trong tình huống “bị lôi ra làm thịt” như thế, thì phải tìm cách tự giải phóng đất nước thoát khỏi kiếp chư hầu, đồng thời giành lại cho chính mình quyền làm chủ đất nước đã bị trì hoãn 4 thập kỷ nay? Tôi có lòng tin vững chắc trong tình huống xảy ra kịch bản Z, nhân dân ta sẽ buộc phải lựa chọn như vậy và nhất định sẽ thắng cả gói: Nước giữ được độc lập, dân giành lại được quyền làm chủ đất nước đã bị trì hoãn 4 thập kỷ”.

“Đồng thời tôi cho rằng: Một khi phải đương đầu với một kịch bản Z như thế, trong sự lựa chọn nói trên của nhân dân có lẽ sẽ không thể có một chỗ đứng nào cho ĐCSVN như đảng đang là, vì lòng tin của nhân dân vào đảng như đang là không còn nữa. ĐCSVN như đang là cũng không thể lựa chọn như nhân dân lựa chọn, càng không thể có phẩm chất và năng lực lãnh đạo nhân dân thực hiện sự lựa chọn ấy, bởi vì phẩm chất và năng lực của ĐCSVN như đang là không còn đáp ứng được nhiệm vụ quyết liệt này nữa. Trong tình hình như vậy, ĐCSVN như đang là sẽ không còn đứng và sẽ không thể đứng được trong hàng ngũ cứu nước của dân tộc”.

“Hiểm họa đen đang đến, ở chỗ cho đến hôm nay đảng như đang là và đội ngũ lãnh đạo vẫn không dám nhìn lại 40 năm đầy sai lầm của mình, vẫn còn lo mất quyền lực hơn lo mất nước, vẫn còn cố tìm cách trì hoãn hay thỏa hiệp vì khiếp nhược, trong khi đó thời gian không chờ đợi và phía Trung Quốc đã sẵn sàng mọi kịch bản khác. Những vấn đề lịch sử để lại rất lớn và phức tạp, song chí ít ĐCSVN nhất thiết phải đứng trên quan điểm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc đánh giá lại toàn bộ chặng đường 40 năm đất nước độc lập thống nhất đầu tiên để có ý chí thay đổi đảng một cách triệt để.

Hiểm họa đen thực sự đang tiến đến, bởi lẽ cái giàn khoan HD 981 chưa đủ lớn, chưa đủ nặng để đặt ra cho Hội nghị Trung ương 9 sự lựa chọn sẽ phải được bàn đến tại đại hội XII sắp tới: Cứu nước? hay cứu chế độ và cứu đảng như đang là? Cho đến giờ phút này đối với cả nước đảng như đang là vẫn tiếp tục vừa lừa mỵ dân, vừa đàn áp lẽ phải, trấn an dân, kêu gọi kiên định chung chung.., trong khi đó đội ngũ lãnh đạo vẫn trống đánh xuôi kèn thổi ngược.

Hiểm họa đen cũng có thể xuất hiện dưới dạng thường trực không mời mà đến, vì bất kể một yếu kém nào của chế độ đương quyền trong một bối cảnh nào đó, với sự lũng đoạn của quyền lực mềm – ví dụ như dưới dạng kịch bản tạo ra phản ứng bầy đàn cướp phá khoảng 800 xí nghiệp có FDI ngày 13 và 14-05-2014 ở quy mô không kiểm soát được… Những chuyện phản ứng bầy đàn như thế có thể xảy ra bất kỳ lúc nào trong thị trường kinh tế, trong thị trường tài chính tiền tệ, trong tình hình khiếu kiện đất đai của nông dân, trong trấn áp biểu tình, trấn áp chính trị, trong một thiên tai… Bởi vì lúc này đất nước có không ít những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội… rất nhạy cảm, mà nguyên nhân gốc thường là những sai trái và yếu kém chế độ và của người trong hệ thống chính trị. Bưng bít thông tin, không công khai minh bạch, các hoạt động lừa bịp của dư luận viên, các biện pháp trấn áp trên báo chí và bằng quyền lực… nhân danh giữ ổn định, vân vân.., tất cả những thứ này chỉ là đổ dầu vào lửa, đồng thời tạo đất thánh cho hoạt động của quyền lực mềm Trung Quốc. Chỉ có một con đường: Phải dựa hẳn vào dân, vào dân tộc, dấy lên sức mạnh từ dân để giải quyết tất cả, bắt đầu từ phát triển xã hội dân sự để nuôi dưỡng tinh thần dân tộc và phát huy dân chủ – vì sự nghiệp cứu nước và chấn hưng đất nước.

Hiểm họa đen thực sự không thể tránh nổi, nếu chế độ toàn trị hiện nay theo quy luật mâu thuẫn giữa cai trị và bị cai trị đến một lúc nào đó sẽ tức nước vỡ bờ và ắt phải sụp đổ, đất nước rơi vào tự hủy diệt của hỗn loạn nồi da xáo thịt.

Hiểm họa đen luôn tiềm tàng và không thể đảo ngược được, chừng nào đảng như đang là trốn tránh nhiệm vụ tạo ra cho đất nước cái dĩ bất biến nói trên không thể trì hoãn được nữa”.

Ở phần cuối bài viết, tác giả đề xuất con đường cứu nguy duy nhất cho Đảng là từ bỏ tư cách mà mình đang có để trở thành một đảng trao cho dân quyền làm chủ thật sự cũng như đáp ứng mục tiêu dân chủ của toàn xã hội: “nhất quyết cắt cái thòng lọng ý thức hệ và sự nô lệ của quyền lực cũng như sự cám dỗ của mọi lợi ích tội lỗi khác, trả lại quyền làm chủ đất nước cho nhân dân để tạo ra cái dĩ bất biến ứng vạn biến. Dân tộc sẽ thắng, đất sẽ nước thắng, các nước trong khu vực cùng thắng – cũng có nghĩa là luật pháp quốc tế sẽ thắng; thậm chí nếu có ý chí quyết liệt thì có thể bằng cái dĩ bất biến phải có này thắng được bành trướng bá quyền Trung Quốc trong đấu tranh hòa bình, nhờ đó tránh được chiến tranh… Nhưng lựa chọn bài toán [như đã nói thì] chế độ toàn trị cùng với mọi quyền lực và đặc quyền của nó [Đảng] sẽ không còn, ĐCSVN cũng có thể không còn như đảng đang là nữa mà phải trở thành thành một đảng khác, hoặc là không còn nữa”.

Quan trọng hơn, tác giả còn đưa ra một hệ luận được viết bằng chữ in nghiêng, theo chúng tôi có lẽ đây là điều ông tâm đắc nhất: từ chỗ xóa bỏ độc tài toàn trị của đảng cai trị, nội lực dân tộc sẽ được phục hồi nhanh chóng, và khi đã xây dựng được nội lực thì việc liên minh liên kết với các lực lượng hùng hậu trên thế giới tự khắc sẽ thành hiện thực; quan điểm “đứng một mình không liên minh với bất kỳ nước nào để chống lại nước khác” mà Đảng hiện khăng khăng chủ trì, trong khi “nước khác” đang lợi dụng sự cô độc tự nguyện ấy để cắn nuốt từng phần biển đảo và lãnh thổ, đưa mình vào chỗ chết, chắc chắn bị nhân dân xóa bỏ: “Trước sau, Việt Nam phải sớm tự thay đổi chế độ chính trị hiện nay của nước mình để có mọi điều kiện xây dựng được cho mình các mối quan hệ liên minh vững chắc dưới các hình thức và trong mọi lĩnh vực (kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hóa…), ở mọi tầng nấc quốc tế và khu vực, để thay đổi triệt để nền kinh tế của nước ta, và để gắn kết được sự phát triển của nước ta với lợi ích phát triển chung của cộng đồng các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam nhất thiết phải làm như thế để tạo ra một liên kết bền vững với cả thế giới mà an ninh và sự nghiệp phát triển của nước ta đòi hỏi. Điều này trước hết có nghĩa Việt Nam phải trở thành một nước có những phẩm chất mới để có thể tạo ra cho mình một liên kết như thế với nhân loại. Dù để chậm mất 40 năm rồi, nhưng bây giờ vẫn là lúc dân tộc Việt Nam ta phải đề ra cho mình lẽ sống này!” Ở đây, chúng tôi xin được bổ sung thêm một ý: nói đến liên minh với các cường quốc thế giới lâu nay đang bày tỏ thái độ ủng hộ chúng ta là một trong những chiến lược nền tảng và vô cùng khẩn thiết, thì không những bản thân chúng ta cần nâng cao toàn diện nội lực như tác giả nói rất trúng, mà còn rất cần người cầm chịch đất nước sáng suốt lựa chọn thời cơ để có những quyết định thần tốc. Giữa một tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng khó lường như đang chứng kiến, nếu cứ giữ thái độ lặng thinh bất động, hoặc chờn vờn, “đánh võ mồm” vài tiếng mà không có một hành động nào cụ thể, tưởng rằng thế là “ngư ông đắc lợi”, thì những đối tác đầy triển vọng xa hay gần xung quanh ta, dẫu có nhiệt tình với ta đến đâu cũng đến lúc không nhẫn nại được nữa. Lúc ấy biết đâu sự thể lại xoay chiều, thuận lợi trở nên bất trắc, ván cờ chắc thắng mười mươi vẫn có thể lâm vào thế thua, huống chi một nước nhỏ và yếu như Việt Nam. Vì thế nếu nói như ông Nguyễn Trung, phải chờ đợi đến Đại hội Đảng lần thứ XII, Đảng họp Ban chấp hành Trung ương để cùng nhau ngồi lại, tự kiểm điểm sâu sắc, nhận ra “ngõ cụt” của mình, rồi hoặc là thay đổi triệt để trong bản chất, biến thành một đảng kiểu khác, hoặc trao quyền lại cho nhân dân, tìm người lãnh đạo mới, sau đó mới xây dựng nên khối đoàn kết vững mạnh trên cơ sở một thể chế hoàn toàn mới, và đi tìm những đối tác chiến lược đủ sức đối trọng với kẻ thù truyền kiếp, thì e có muộn quá chăng? “Thời cơ, thời cơ, không nên lầm lỡ!” (Nguyễn Trãi).

Xin trân trọng gửi đến bạn đọc toàn văn bài viết rất dài nhưng đầy tâm huyết của học giả Nguyễn Trung.

Bauxite Việt Nam

Nguyễn Trung:

Bài 1: Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy

Trước thềm đại hội toàn quốc X của Đảng Cộng Sản Việt Nam (04-2006), tôi viết loạt bài “Thời cơ vàng – hiểm họa đen”. Nội dung đặt vấn đề thể chế chính trị hiện hành không kham nổi đòi hỏi phát triển của đất nước, Đảng cần phải ra sức khắc phục lỗi hệ thống, thực hiện tự do – dân chủ để nắm lấy cơ hội vàng đang đến, đưa đất nước vào một thời kỳ phát triển mới. Loạt bài viết này cảnh báo: Đảng phải vượt lên cái bóng của mình, nếu cứ chịu sự nô dịch của tư duy, không chịu hướng về phía mặt trời mà đi, hiểm họa đen sẽ đến.

Đã 8 năm đã trôi qua. Đất nước bên trong đang khủng hoảng sâu sắc chưa tìm được lối ra, bên ngoài đang bị chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc uy hiếp toàn diện. Trong bài “Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy” (bài 1), tôi cho rằng: quan điểm kiên định giữ đại cục quan hệ Việt – Trung để bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng, không đặt vấn đề cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu và là sự nghiệp của toàn dân đã tạo ra cho đất nước tình hình nguy hiểm như hôm nay.

Hiện tình mọi mặt của đất nước khiến tôi phải đặt câu hỏi: Hiểm họa đen đang đến?

Thế giới đã sang trang, con đường phát triển của Việt Nam đã sang trang từ lâu. Ngoài sự kiên định nói trênra, Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn gì trước mọi thách thức đang đặt ra cho đất nước hôm nay? Nói nghiêm khắc: Đến hôm nay mới bàn câu chuyện này là quá muộn. Song dù muộn thế nào chăng nữa cũng phải bàn đến.

Bài 2 xin xới xáo lên một số vấn đề, mong mỏi toàn đảng cùng suy nghĩ.

I. Thế giới đã sang trang

I.1. Cục diện thế giới đa cực

Sự vận động của thế giới không thể dùng cái kéo, rồi cắt nó ra từng khúc, để nói từ đây đến đây là thời kỳ này, từ đây đến kia là thời kỳ kia, mà thường là một thời kỳ sau bao giờ cũng manh nha từ thời kỳ trước, thậm chí từ nhiều thời kỳ trước, có nhiều mối liên hệ cả về hai chiều quá khứ và tương lai. Nhưng dù thế nào đi nữa, trong sự vận động liên tục như thế của thế giới, vẫn xuất hiện những hiện tượng hay những sự kiện nổi bật cho phép phân định sự vận động này thành từng thời kỳ.

Nhìn lại, bước vào thế kỷ 21, bàn cờ thế giới xảy ra hàng loạt sự kiện quan trọng:

(1) Chính quyền Obama (tính từ nhiệm kỳ I, tháng 01 – 2009) chủ trương rút khỏi Iraq và Afghanistan;

(2) Trung Quốc thời Hồ Cẩm Đào (2002) kết thúc giai đoạn “giấu mình chờ thời” (do Đặng Tiểu Bình đề xướng 1990) để chuyển sang “trỗi dậy hòa bình”. Thời Tập Cận Bình (11-2012) hiện nay đang dấn lên cho “giấc mộng Trung Hoa”, bắt đầu từ những bước đi mới trên Biển Đông;

(3) Tháng 3-2014 Nga sáp nhập Crimea, ngang nhiên sửa lại bản đồ quốc gia ở thế kỷ 21 này. Sau đó Putin ký với Tập Cận Bình hợp tác Thượng Hải (05-2014), với những hợp đồng kinh tế (và quân sự) 300 – 400tỷ USD. Đế chế Nga đã thức dậy và xuất hiện trở lại chính trường quốc tế. Tác động đầu tiên là vấn đề Ukraina đang nóng lên từng ngày với nhiều hệ lụy khó lường (lúc này cả thế giới bàng hoàng về vụ máy bay MH 17 của hãng hàng không Malaysia bị bắn rơi trên vùng trời miền Đông Ukraina khiến 298 người thiệt mạng).

Có thể xem 3 sự kiện trên đây đánh dấu thời kỳ hậu chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới đã chuyển hẳn sang cục diện quốc tế đa cực. Đấy là xem xét trên phương diện địa chính trị toàn cầu.

- Thời kỳ chiến tranh lạnh: 1945 – 1990, nghĩa là từ sau Chiến tranh thế giới II đến khi các nước Liên Xô Đông Âu cũ sụp đổ (kéo dài 45 năm).

- Thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, Mỹ nổi lên ví trí số 1 thế giới với ảnh hưởng chưa từng có. Thời kỳ này kết thúc khi Mỹ chấm dứt chiến tranh Iraq (2003-2010) – (kéo dài khoảng 2 thập kỷ).

- Chỉ trong vòng vài năm sau thế giới chuyển hẳn sang cục diện quốc tế đa cực rất phức tạp hiện nay[2].

- Toàn bộ tình hình nói trên cho thấy sự vận động của thế giới ngày càng phức tạp và tình hình diễn tiến nhanh hơn khả năng nhận thức cũng như khả năng ứng xử của các quốc gia.

Xem xét trên phương diện địa kinh tế toàn cầu, cũng có thể nói cuộc khoảng kinh tế lớn của Mỹ bắt đầu từ năm 2008, kéo theo hay làm trầm trọng thêm các cuộc khủng hoảng kinh tế ở hầu hết các nước phát triển.

Về nhiều mặt, nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới là Trung Quốc đang tích tụ nhiều vấn đề nghiêm trọng mang tính khủng hoảng.

Toàn bộ tình hình trên đặt ra hầu như cho mọi quốc gia – đặc biệt là các nền kinh tế lớn – phải tiến hành những thay đổi lớn nhằm cơ cấu lại nền kinh tế của mình cho phù hợp với sự phát triển hiện tại.

Theo quy luật, một cơ cấu kinh tế đã định hình thường chỉ tồn tại được trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định, bây giờ đã đến lúc phải thay đổi nó. Song cuộc khủng hoảng cơ cấu kinh tế thế giới hiện nay còn có thêm một nguyên nhân mới nữa, đó là nền kinh tế Trung Quốc lớn thứ hai thế giới phát triển rất nóng và tự nó cũng tác động lớn đến cơ cấu của các nền kinh tế khác, làm mất đi nhiều sản phẩm truyền thống của những nước này, cơ cấu lao động của những nước này cũng phải sắp xếp lại… Một quá trình cạnh tranh và phụ thuộc lẫn nhau mới rất phức tạp xuất hiện. Thế giới đang chứng kiến một tình hình: Trung Quốc trên nhiều phương diện kinh tế, chính trị và quân sự đang trở thành vấn đề của cả thế giới; nhưng đồng thời sự phát triển của các nền kinh tế lớn trên thế giới hiện nay không thể thiếu thị trường Trung Quốc, và ngược lại cũng vậy.

Có thể nói, với sự xuất hiện của cục diện quốc tế đa cực như thế, sự vận động của thế giới hiện nay đã bước sang một trang mới, với những đặc điểm nổi bật như sau:

- Bên cạnh sự hợp tác chiến lược trong nội bộ từng nhóm, tính độc lập với nhau giữa các cực lớn như Mỹ, Tây Âu, Nhật, Nga, Trung Quốc tăng lên rõ rệt hơn trước. Lý do chủ yếu là trong bối cảnh quốc tế ngày nay mỗi cực ngày càng nhiều vấn đề riêng và đòi hỏi riêng (ví dụ: mối quan hệ Tây Âu – Nga, mối quan hệ Tây Âu – Trung Quốc trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư…). Hơn nữa đang xuất hiện ngày càng nhiều vấn đề quốc tế và khu vực vượt quá khả năng giữ vai trò quyết định đơn phương của Mỹ, đòi hỏi phải bàn bạc để chia sẻ trách nhiệm. Ngoài ra, trước sự uy hiếp mới từ phía Trung Quốc, các nước như Úc, Ấn Độ, Nhật… cũng phải thay đổi nhiều vấn đề cơ bản; trong đó nổi bật là Nhật (07-2014) đã quyết định điều chỉnh lại một cách căn bản quan điểm phòng vệ của mình kể từ sau chiến tranh thế giới II, hình thành liên minh quân sự Nhật – Úc; Ấn Độ bước sang một thời kỳ hợp tác mới với Mỹ; mối quan hệ mới đầy các “affairs” Nga – Trung đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp mới, vân vân…

- Những thách thức truyền thống và phi truyền thống trên thế giới không hề giảm đi, thậm chí có những vấn đề nóng hơn trước – ví dụ vấn đề nạn khủng bố, vấn đề vũ khí A của một số nước (Bắc Triều Tiên, Iran…), nguy cơ bí mật công nghệ hạt nhân rơi vào tay khủng bố, những vấn đề xung đột sắc tộc và xung đột tôn giáo (đặc biệt là trong thế giới đạo Hồi), tình hình Iraq rất nhạy cảm hiện nay với nguy cơ thành lập nhà nước thánh chiến IS có thể vượt ra ngoài khu vực, vấn đề Afghanistan gần như còn nguyên vẹn, vấn đề Trung Đông lại đang nóng lên… Đặc điểm chung của tình hình này là nó làm cho các nước hữu quan phải phân tán khả năng ứng phó, hoặc thậm chí có những vấn đề có thể vượt ra ngoài khả năng ứng phó… Vì thế Mỹ và phương Tây phải rất thận trọng (ví dụ: chính quyền Obama hiện nay kiên trì việc không đưa quân đội trực tiếp tham gia vào giải quyết những biến động mới ở Iraq và vấn đề nhà nước thánh chiến Hồi giáo IS…).

- Quan hệ Nga – NATO ngày càng nóng lên trước thực tế nhiều nước trong Liên Xô cũ đã ly khai quan hệ với Nga để gia nhập EU, kéo theo việc gia nhập NATO. Thực tế này làm xuất hiện nguy cơ hình thành vòng vây NATO chung quanh Nga, khiến cho quan hệ Nga – NATO căng thẳng. Bây giờ lại nổ ra vấn đề Ukraina.

- Điểm nổi bật của cục diện quốc tế đa cực hiện nay là quan hệ và mâu thuẫn Mỹ – Trung Quốc sẽ là yếu tố chi phối toàn thế giới trong thế kỷ 21, trận địa chính của mối quan hệ song phương này là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương; trong đó không may Việt Nam là một trong các điểm nhạy cảm của các mối quan hệ hay giành giật nhau giữa hai người khổng lồ này. Tình hình càng trở nên phức tạp hơn ở chỗ Châu Á – Thái Bình Dương đồng thời cũng là khu vực kinh tế năng động nhất của thế giới trong thế kỷ này, nơi tranh hùng sôi nổi nhất của các nền kinh tế lớn trên thế giới. Tại đối thoại Mỹ – Trung lần thứ 6 (Bắc Kinh 09 và 10-07-2014) phía Mỹ thẳng thắn yêu cầu Trung Quốc không được phá vỡ nguyên trạng trên Biển Đông, phải tuân thủ luật pháp quốc tế, giải quyết hòa bình các tranh chấp, cần sớm cùng các nước ASEAN hoàn thành COC; Mỹ nói rõ không đứng về bên nào, đồng thời nhấn mạnh để quan hệ Mỹ – Trung đổ vỡ sẽ là thảm họa cho thế giới. Cũng thời gian này Thượng Viện Mỹ thông qua nghị quyết về Biển Đông cùng một nội dung tương tự.

I.2. Về siêu cường Trung Quốc đang lên

Khoảng năm 2035 trở đi, nhiều khả năng Trung Quốc có thể sẽ là nền kinh tế lớn nhất thế giới – nghĩa là GDP vượt Mỹ tính theo sức mua PPP (cứ tạm tin vào các số liệu thống kê như vậy). Có thể nói đây là sự phát triển mang lại cho thế giới nhiều tai họa hơn là thuận lợi. Đơn giản vì quốc gia này không có ý niệm phát triển gắn với trách nhiệm đối với thế giới. Nó vẫn đang ở trong quá trình vơ vét tài nguyên thế giới, đồng thời bằng mọi thủ đoạn và phương tiện đang tận dụng khai thác quy mô thị trường của nền kinh tế thế giới toàn cầu hóa cho sự phát triển nóng của chính nó. Chắc chắn trong một thời gian dài nữa nó sẽ tiếp tục cách đối xử Thế giới chẳng là gì, Trung Quốc mới quan trọng, mục tiêu biện minh cho biện pháp [3]. Tất cả nhằm vào cái đích trở thành siêu cường Trung Hoa.

Hiện nay (2013), GDP p.c của Trung Quốc là 6000 USD. Nguy cơ quốc gia này rơi vào cái bẫy nước đang phát triển có thu nhập trung bình rất lớn, bởi vì kinh tế Trung Quốc tăng trưởng và phát triển chủ yếu vẫn dựa vào bóc lột lao động và khai thác quy mô thị trường, chứ không dựa vào nâng cao công nghệ và thể chế. Trong khi đó đất nước có quá nhiều vấn đề nan giải và bất công. Hiện nay toàn quốc có khoảng 1/3 dân cư tại nhiều vùng nông thôn và hẻo lánh có thu nhập chỉ vài trăm USD tính theo đầu người. Vùng dân cư có thu nhập tính theo đầu người cao nhất gấp khoảng 100 lần vùng dân cư có thu nhập thấp nhất. Vấn đề ô nhiễm môi trường gần như không có lời giải. Trung Quốc có rất nhiều vấn đề nội trị nóng bỏng như Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông, sự phát triển khác biệt giữa các vùng… Song Trung Quốc là một thế giới cho chính nó, nên Trung Quốc không thể sụp đổ được. Bởi vì khả năng của nó hy sinh cục bộ để giữ toàn cục rất lớn, bằng bất cứ giá nào – ví dụ Trung Quốc đã từng hy sinh hàng thập kỷ sự phát triển của miền Tây để tạo ra sự phát triển năng động miền duyên hải…

Cả thế giới kinh ngạc trước tình hình chỉ trong vòng một nửa thế kỷ Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 sau Mỹ, một cường quốc quân sự có quân đội đông nhất thế giới, chi phí quốc phòng chỉ xếp sau Mỹ. Sức mạnh kinh tế và quân sự Trung Quốc đang tạo ra áp lực lớn tại chỗ cho các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á, uy hiếp trực tiếp tất cả các nước láng giềng. Trung Quốc là đối tác thương mại và thị trường đầu tư quan trọng đối với tất cả các nền kinh tế lớn của thế giới, với dự trữ ngoại tệ trên 4000 tỷ USD đang là chủ nợ số một của thế giới. Tuy nhiên, đấy là sự phát triển đang gây ra nhiều vấn đề lo ngại cho cả thế giới, trước hết bởi lẽ các thể chế quốc tế và khu vực hiện có một mặt không theo kịp tình hình có sự tham gia ngày càng lớn của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới, mặt khác nhiều thực tiễn hoạt động kinh tế của Trung Quốc đang vô hiệu hóa những thể chế này (các vấn nạn mới nhất là vấn đề ăn cắp bản quyền và những vi phạm bảo hộ sở hữu trí tuệ, nạn hacker, rửa tiền, tham nhũng…).

Các chuyên gia tính toán, giả thử muốn nâng GDP p.c. của Trung Quốc hiện nay lên gấp đôi, Trung Quốc cần một khối lượng nguyên liệu, năng lượng gấp 4 – 5 lần mức đang sử dụng hiện nay, lấy ở đâu ra? Quy mô thị trường cũng phải tăng lên tương ứng. Phát triển như vậy mà lại không gắn với trách nhiệm, sẽ tác động lên nền kinh tế thế giới như thế nào? Các chuyên gia đánh giá quy mô và phương thức Trung Quốc hiện nay thu hút tài nguyên của thế giới đã vượt xa chủ nghĩa thực dân mới trong thế kỷ 20, sản phẩm Trung Quốc hiện nay đã lũng đoạn đáng kể thị trường nhiều nước… Vậy sắp tới sẽ là gì?

Bành trướng bá quyền là lẽ sống, là phương thức sống, là triết lý xây dựng nên và nuôi dưỡng sự tồn tại của đế chế Trung Hoa từ ngàn xưa. Ngày nay đế chế này đang phục sinh dưới cái nhãn chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Nghĩa là bành trướng bá quyền còn là vấn đề bản chất sinh tồn và văn hóa, chứ không phải chỉ đơn thuần là vấn đề chủ trương chính sách, hay là vấn đề đạo đức chính trị của lãnh đạo Trung Quốc đương thời. Nó còn là sản phẩm của văn hóa và truyền thống Trung Quốc từ ngàn xưa để cố kết nên, và hôm nay đang duy trì, và phát triển tiếp cái Đại Trung Hoa trong thế giới đương đại. Bởi lẽ nếu không có tăng trưởng nóng như vậy, không giữ được toàn Trung Quốc cho khát vọng siêu cường, Trung Quốc sẽ sụp đổ, thậm chí có thể sẽ tan rã thành nhiều mảng. Từ khi nước CHNDTH ra đời đến nay, có một thực tế qua mọi thời kỳ là một khi nội trị càng nhiều vấn đề nóng bỏng, lãnh đạo Trung Quốc càng phải ra sức hướng sự bùng nổ của các mâu thuẫn bên trong ấy ra bên ngoài. Chính thực tế này giải thích tại sao hôm nay “cả nước Trung Quốc đang được chính quyền dạy nhầm là người Trung Quốc đã phát hiện ra Nam Hải (Biển Đông) và các đảo ở đây” (Bill Hayton, Prospect Magazine 10-7-14) để xúc tiến bá chiếm Biển Đông.

Mới lên cầm quyền được 2 năm, chủ trương “trỗi dậy hòa bình” thời Hồ Cẩm Đào đã được Tập Cận Bình đẩy lên thành khát vọng “giấc mộng Trung Hoa”, dùng mọi ảnh hưởng củng cố “con đường tơ lụa truyền thống” trên bộ (từ Trung Quốc qua Trung Á, châu Phi, sang châu Âu, đến tận Địa Trung Hải…), đồng thời đẩy mạnh hình thành “con đường tơ lụa thứ hai trên biển” nối eo Malacca với Biển Đông, đi ra Thái Bình Dương, rồi vòng sang Ấn Độ Dương…, trước mắt tập trung thực hiện cái “đường lưỡi bò 9 vạch” (hiện nay trở thành 10 vạch) và tìm cách chi phối tuyến giao thương hàng hải huyết mạch số 1 của thế giới, nâng kim ngạch buôn bán với các nước ASEAN hiện nay khoảng 500 tỷ USD sẽ lên 1000 tỷ USD vào năm 2020, tăng FDI…

Từ 3 năm nay, khai thác những vấn đề phức tạp mới trong cục diện quốc tế đa cực, đặc biệt là tình hình Mỹ và quan hệ Nga – Mỹ, lãnh đạo Trung Quốc chủ trương mở ra thời kỳ mới trong chiến lược bá chiếm Biển Đông. Tập Cận Bình tuyên bố Trung Quốc có lợi ích cốt lõi ở Biển Đông, chủ quyền của Trung Quốc là vấn đề không thể nhân nhượng… Đây còn là cách Trung Quốc trả đũa chiến lược trục xoay Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ.

Trong tình hình Mỹ cam kết bảo vệ chủ quyền của Nhật bao gồm cả khu vực đảo Điếu Ngư trên cơ sở hiệp ước liên minh phòng thủ Mỹ – Nhật, đồng thời Mỹ cam kết mạnh mẽ bảo vệ Philippines (tuyên bố của Obama 29-04-2014 và việc hai nước ký hiệp ước liên minh quốc phòng mới cho 10 năm tới), có thể phán đoán Trung Quốc lúc này tuy gây ồn ào, nhưng thật ra không dám trực tiếp đụng độ với Nhật và Philippines, vì so sánh lực lượng tại hai nơi này đều nghiêng hẳn về phía Mỹ.

Trong khi đó sự kiện giàn khoan HD 981 và những hệ lụy đang diễn ra cho thấy Trung Quốc lúc này tập trung áp lực bành trướng vào vùng biển của Việt Nam.

Các diễn tiến tiếp theo như việc Trung Quốc tiếp tục đặt thêm các giàn khoan ở vùng vịnh Bắc Bộ (giáp ranh đường phân định và thuộc vùng đang còn tranh chấp giữa ta và Trung Quốc), xúc tiến hình thành chiến tuyến các căn cứ quân sự nổi trên biển chạy dài từ Du Lâm (Hải Nam), Tam Sa (thuộc Hoàng Sa chiếm của Việt Nam) đến Gạc Ma, Chữ Thập (2 đảo này chiếm của Việt Nam năm 1988) hướng về Scarborough (Philippines), báo chí Trung Quốc đã nói đến khả năng lập vùng nhận dạng phòng không (AIDZ) trên Biển Đông… cho thấy Trung Quốc đang tìm cách khẳng định “đường lưỡi bò” bằng thực lực (bao gồm cả vũ lực), bất chấp sự lên án quyết liệt của toàn thế giới.

Các bước đi mới nói trên của Trung Quốc đối với Việt Nam, bắt đầu từ sự kiện giàn khoan HD 981, cho thấy hiện nay vùng biển của Việt Nam đã trở thành đối tượng bành trướng trực tiếp của Trung Quốc, khâu Trung Quốc có khả năng nhiều nhất để giành thắng lợi trên Biển Đông.

Nếu đặt tình hình thực tế nói trên trong bối cảnh Trung Quốc luôn bố trí sẵn sàng lực lượng quân sự trên toàn biên giới phía Bắc Việt Nam, có ảnh hưởng sâu sắc với tất cả các nước láng giềng trên sườn phía Tây của Việt Nam, trên biển Đông là cái đường 9 vạch đang được Trung Quốc tìm mọi cách khẳng định, từ căn cứ hải quân Du Lâm (Hải Nam) đến đặc khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh) chỉ cách nhau khoảng 350km hiện đang có hàng nghìn công nhân Trung Quốc làm việc.., có thể hình dung một bản đồ tổng hợp quân sự – chính trị, trong đó Việt Nam đang bị uy hiếp và bao vây như thế nào. Nếu nhìn sâu thêm vào sự lệ thuộc về kinh tế của Việt Nam, vào tình hình lũng đoạn của quyền lực mềm Trung Quốc vào nội tình Việt Nam, có thể nhận định: Về tổng thể Việt Nam đang bị Trung Quốc uy hiếp toàn diện và ở mức độ chưa từng có kể từ sau ngày 30-04-1975.

Phải nói khi xẩy ra cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc 17-02-1979 tình hình Việt Nam bị uy hiếp hồi đó không nguy hiểm bằng hôm nay. Cái “4 không được”[4] Trung Quốc gửi gắm vào dịp chuyến đi Hà Nội 15-06-2014 của Dương Khiết Trì, càng làm rõ Trung Quốc không có sự khoan nhượng nào.

Như đã trình bày trong bài “Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy”, Trung Quốc đã sẵn sàng trong tay các kịch bản từ A – Z để đối xử với Việt Nam theo lợi ích của Trung Quốc đòi hỏi. Hiện nay Trung Quốc đang theo đuổi kịch bản A, vì nó rẻ nhất, “êm ả” nhất đối với dư luận thế giới, đạt nhiều hiệu quả nhất. Bởi lẽ kịch bản này khai thác được tối đa sự khiếp nhược của Việt Nam, Trung Quốc có thể lấn chiếm tiếp mà không cần phải dùng đến những biện pháp quân sự ồn ào. Kịch bản Z là kịch bản cuối cùng, tổng hợp tất cả các biện pháp kinh tế, chính trị và chiến tranh.

Việc Trung Quốc cử Dương Khiết Trì đi Hà Nội có thể cho thấy kịch bản A được tiếp tục; với lý do nếu làm quá tay, sự phản ứng của nhân dân Việt Nam sẽ có thể dẫn đến tình huống Hà Nội không kiểm soát được tình hình, buộc Trung Quốc phải chuyển sang kịch bản ồn ào hơn mà Trung Quốc lúc này chưa muốn. Trong giới chuyên gia quân sự quốc tế, có ý kiến: Nếu lúc này Trung Quốc tiến hành chiến tranh dưới các hình thái như bất ngờ đánh chiếm biển đảo như đã làm trong các năm 1974, 1988, hoặc chiến tranh trên bộ như quy mô 17-02-1979, Trung Quốc có thể thắng; song điều bất lợi khiến Trung Quốc còn đang cân nhắc là: bước đi này có thể sẽ đẩy nhiều nước Đông Nam Á ngả hẳn theo Mỹ và tạo thành một vòng vây chống Trung Quốc…

Nghĩa là nhìn về bất kể phương diện nào, trong cục diện quốc tế hiện nay chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam đã thực sự bước hẳn sang một giai đoạn có những đối kháng mới, vì đây là khâu yếu nhất cần đột phá cho giai đoạn mới của chiến lược bá chiếm Biển Đông. Nghĩa là Trung Quốc thấy đã đến lúc vứt cái lá nho “4 tốt và 16 chữ” đã hết thời.

Thế còn Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ)?

Cuốn sách Lược tân lịch sử Trung Quốc (xuất bản 1954) đưa lại lời phát biểu của Mao Trạch Đông nói sau khi thành lập nước CHNDTH: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe Đế Quốc Tây Phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Thế Chiến I, như Ngoại Mông, Triều Tiên, “An Nam”, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc”[5]. Quan điểm này của Mao, cùng với toàn bộ những sự việc tranh chấp lãnh thổ do Trung Quốc gây ra với tất cả các nước láng giềng (trong đó có Việt Nam) trong suốt chiều dài lịch sử nước CHNDTH cho đến hôm nay nói lên rất rõ ý thức hệ mà ĐCSTQ tôn thờ: chủ nghĩa bành trướng Đại Hán.

Đại hội 18 của ĐCSTQ (11-2012) đã đưa vào nghị quyết: Nước giàu quân mạnh, quyết đánh thắng các cuộc chiến tranh cục bộ. Gắn nội dung này với những phát biểu của Tập Cận Bình về giấc mộng Trung Hoa, về lợi ích cốt lõi của Trung Quốc trên Biển Đông…, quan sát những hành động Trung Quốc đang tiến hành, chỉ có thể kết luận ĐCSTQ hôm nay bộc lộ nguyên hình là tổ chức quyền lực của đế chế Trung Hoa phục sinh, đang khai phá con đường cho quốc gia này trở thành siêu cường số một.

Đến đây có thể kết luận: Cục diện quốc tế đã sang một trang mới, trong đó tranh chấp quan hệ Mỹ – Trung trở thành yếu tố chính chi phối cục diện quốc tế đa cực trong thế kỷ 21. Trung Quốc bước vào một thời kỳ mới trên con đường khẳng định vai trò siêu cường. Trước mắt là tận dụng tình hình thế giới hiện nay đang có nhiều vấn đề mới ở khắp mọi nơi, Trung Quốc quyết định đi vào một thời kỳ mới của chiến lược bá chiếm Biển Đông.

Do bản chất bành trướng, nên quá trình đi lên siêu cường của Trung Quốc không gắn với trách nhiệm đối với thế giới. Thực tế này khiến cho Trung Quốc trở thành vấn đề của cả thế giới, không thể trở thành vai trò lãnh đạo thế giới như Mỹ và phương Tây hiện đang tiếp tục nắm giữ.

II. Con đường phát triển của Việt Nam đã sang trang từ lâu

II. 1. “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!”

Ngày 30-04-1975 đất nước thống nhất, Việt Nam hoàn toàn độc lập, kết thúc thời kỳ chiến tranh, đi vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước. Lịch sử Việt Nam bắt đầu sang trang mới từ đây: Dân tộc Việt Nam làm chủ quốc gia độc lập thống nhất của mình. Khẩu hiệu làm nên Cách Mạng Tháng Tám “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!” trở thành hiện thực với ngày 30-04-1975.

Lẽ ra…

Nhiệm vụ đầu tiên và mãi mãi của quốc gia độc lập là phải thiết lập và phát huy quyền làm chủ đất nước của toàn dân tộc, vì điều này đơn giản như lẽ sống: Đất nước này từ nay là của toàn thể dân tộc Việt Nam ta, trường tồn với dân tộc ta. Tổ quốc mang trong tim mỗi người Việt Nam chúng ta có ý nghĩa thiêng liêng là vì lẽ như vậy.

Bao nhiêu hy sinh xương máu, bao nhiêu đau thương mất mát, bao nhiêu điều đau lòng tay trái chém tay phải, bao nhiêu lầm lỗi và oán thù, bao nhiêu sai lầm phải trả giá đau đớn, và còn biết bao nhiêu đau khổ khác nữa không thể nói lên thành lời cả dân tộc này đã phải chịu đựng trong suốt 3 thập kỷ chiến tranh… Máu nào của người dân ta đã ngã xuống cũng đều là máu của dân tộc ta, tất cả chỉ càng làm cho mỗi người Việt Nam chúng ta thấm thía sâu sắc hơn cái giá phải trả cho đất nước độc lập thống nhất, càng thôi thúc mỗi người Việt Nam chúng ta từ nay phải hiểu các bài học của quá khứ để gìn giữ đất nước trong hiện tại và tương lai, giác ngộ mỗi chúng ta ý thức phải vươn lên sống xứng đáng với tính cách là người chủ của đất nước.

Hàng triệu sinh mạng bị cướp đi, hàng triệu tấn bom đạn tàn phá đất nước và biết bao nhiêu đau khổ khác nhân dân ta phải trải qua suốt 3 thập kỷ chiến tranh ấy để có đất nước độc lập thống nhất không cho phép bất kỳ ai, dù với lý do gì, tiếp tục hành hạ đất nước trong hiện tại, cướp đi sức sống của đất nước vì hạnh phúc của hòa hợp dân tộc và vì tương lai của một đất nước độc lập, tự do.

Một giọt máu phải nhỏ xuống đất này, một giọt nước mắt mất đi, từng giọt mồ hôi phải nuốt vào trong, tất cả phải dồn nén, phải hun đúc ý chí của từng người dân Việt chúng ta thành một tinh thần dân tộc thống nhất, để sớm lấy lại cho đất nước những gì chiến tranh đã cướp đi, cùng nhau vực dậy đất nước. Hiện tại và tương lai của đất nước đòi hỏi mỗi người dân của đất nước ghi xương khắc cốt những bài học của quá khứ, bởi vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trên con đường dân tộc và dân chủ vô vàn gian truân. Hơn nữa, nước ta trước đây, bây giờ và mãi mãi phải là láng giềng của một Trung Quốc tham lam, lại luôn luôn nằm ở vị trí đầu sóng ngọn gió của khu vực, nếu chúng ta không thấy những yếu kém của nước ta và không hiểu cái thế giới chúng ta đang sống để quyết tìm ra con đường đi lên, nước ta làm sao tránh được số phận con mồi trong tranh giành quyết liệt tiếp theo giữa các cường quốc?… …

Những điều lẽ ra phải làm như vậy ngay sau ngày 30-04-1975 đã không xảy ra.

Sau 30-04-1975 ĐCSVN đã chọn con đường thừa thắng xông lên, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội theo con đường của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Hệ quả: kinh tế đất nước vốn kiệt quệ sau chiến tranh đi ngay vào sụp đổ cho đến khi phải tiến hành đổi mới. Đồng thời đất nước bị đẩy tiếp vào 2 cuộc chiến tranh lớn kéo dài 10 năm (1979 – 1989).

Nguyên nhân chủ yếu là ý thức hệ của đảng một mặt đã lựa chọn cho đất nước con đường phát triển sai lầm vì duy ý chí, và mặt khác đã nhìn nhận sai bàn cờ thế giới lúc ấy, nên đẩy đất nước vào tình thế nguy hiểm.

Cần nhìn nhận 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên là một giai đoạn phát triển thất bại, vì các lẽ:

1. Ngoài 10 năm đầu mất cho 2 cuộc chiến tranh tiếp theo, thành tựu giành được trong 28 năm đổi mới tuy là rất lớn so với điểm xuất phát, nhưng về cơ bản là thất bại nếu so với công sức đã bỏ ra và cơ hội đất nước có được. Mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 không thể hoàn thành vì cơ cấu kinh tế hiện còn rất lạc hậu, kết cấu hạ tầng vật chất & kỹ thuật thấp kém, hiện đang khủng hoảng cơ cấu sâu sắc, chưa có lối thoát ra khỏi cái bẫy là nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, chất lượng nguồn nhân lực đạt được nhìn chung còn thấp, khoảng cách tụt hậu so với nhiều nước chung quanh ngày càng rộng.

2. Sau 3 thập kỷ xây dựng đất nước, lúc đầu là xây dựng chủ nghĩa xã hội, do có nhiều sai lầm không khắc phục được nên từ khi tiến hành đổi mới phải điều chỉnh lại thành xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những thành tựu kinh tế – xã hội đạt được có nhiều măt hạn chế như đã nói trong điểm 1 bên trên. Riêng về mặt thể chế chính trị, nước ta hiện nay rất lạc hậu so với đòi hỏi phát triển của đất nước, so với xu thế phát triển của thế giới, so với một số quốc gia có mức thu nhập tính theo đầu người tương tự như nước ta. Tuy có cái tên gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa hay là định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ chính trị một đảng của đất nước hiện nay về bản chất có quá nhiều tàn dư của chế độ phong kiến cũ. Quá trình tha hóa đã nhanh chóng làm cho tính đảng trị của chế độ ngày càng nổi bật, trên thực tế ngày nay đã trở thành chế độ toàn trị.

3. Đất nước đã độc lập thống nhất 4 thập kỷ. Thay vào chỗ phải có một nhà nước pháp quyền dân chủ để thực thi quyền lực của nhân dân, đất nước có một chế độ chính trị toàn trị. Tính đảng trị của chế độ này tạo ra cho truyền thống phong kiến cũ cha truyền con nối cái phương thức mới “làm vua tập thể” (Nguyễn Văn An) để duy trì chế độ đảng mặc nhiên và mãi mãi cầm quyền cai trị đất nước. Trên thực tế đã hình thành sự phân chia: ĐCSVN trở thành kẻ cai trị, nhân dân trở thành người bị cai trị. Nhân dân bị phân chia thành các giai cấp để đối xử. Trong nhiều hình thái tư tưởng của xã hội và trong thiết kế các chủ trương chính sách vẫn tồn tại sự phân biệt giữa “ta” và “ngụy”, giữa “yêu nước đồng nghĩa với yêu chủ nghĩa xã hội” và “không yêu chủ nghĩa xã hội là không yêu nước, là chống chế độ”; ai dám mở miệng nóitrong lòng kháng chiến có cuộc nội chiến, sẽ lập tức bị quy kết là phản động… Nhiều quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân tuy đã được ghi trong hiến pháp nhưng chỉ là hình thức. Tuy chế độ toàn trị của ĐCSVN mang trong nó nhiều tàn dư của chế độ phong kiến cũ, song cái nền tảng tinh thần của “làm vua tập thể” hôm nay được tạo dựng ra không phải từ một trật tự của thượng tầng kiến trúc phong kiến vương đế, mà hình thành từ một thứ văn hóa ra đời trong quá trình chia chác quyền lực giữa các nhóm lợi ích đủ các thành phần phức tạp trong xã hội. Các “nhóm” này sống và tự ngụy trang bằng nhiều thứ “giả, diễn, hão”, luôn luôn tìm kiếm đồng minh trong mọi rác rưởi của xã hội[6]. Hệ thống chính trị của đất nước được tổ chức theo cái phương thức “đảng cử dân bầu” là tiêu biểu tổng hợp nhất cho những “giá trị” “giả, diễn, hão” này. Thực tế này lý giải: Bên cạnh những thành tựu đạt được phải trả giá đắt, mỗi bước phát triển của đất nước luôn gắn theo một nấc thang xuống cấp mới về đạo đức, chính trị và tư tưởng. Dẫn đến nghịch lý càng phát triển càng yếu, càng ngày sinh nhiều yếu kém mới, mâu thuẫn mới.

Xin lưu ý, chủ nghĩa Mác – Lênin ĐCSVN hiện đang kiên định bám giữ, có quá nhiều sai trái thoát ly hẳn cái gốc thực của lý luận Mác. Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã chứng minh đó là chủ nghĩa Mác – Lênin đã được Stalin-hóa, trước khi vào đến Việt Nam nó được tác chế thêm một lần Mao-hóa nữa. Một thứ chủ nghĩa như vậy trên thực tế là phản khoa học – được chứng minh qua những thất bại của tất cả các ĐCS cầm quyền trên thế giới, chỉ còn lại là một công cụ giáo điều. Ý thức hệ này chỉ thuận tiện cho việc đàn áp chính trị – tư trưởng và làm tha hóa chính bản thân ĐCSVN. Là một công cụ chính trị như thế, ý thức hệ này một mặt khiến đảng đặt quyền lực của mình là tối thượng, mặt khác đã lấy đi của đảng mọi khả năng nhận thức khách quan sự vật. Có thể nói chính bản thân ĐCSVN đã tự nô dịch mình bằng ý thức hệ như vậy, và qua đó đang nô dịch cả đất nước.

Hệ quả là đất nước đã độc lập thống nhất bốn thập kỷ, song khẩu hiệu làm nên Cách Mạng Tháng Tám “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!” với nghĩa nhân dân là người chủ của đất nước đến hôm nay vẫn chưa trở thành hiện thực, kẻ chiến thắng trở thành người cai trị chính nhân dân nước mình.

II. 2. Con đường phát triển của Việt Nam bị chặn đứng

Có thể nói một cách rốt ráo: Đất nước có độc lập thống nhất bốn thập kỷ, nhưng đến hôm nay nhân dân vẫn chưa được giải phóng! Đây là nguyên nhân gốc gây nên mọi yếu kém của đất nước hôm nay, độc lập chủ quyền của quốc gia thiếu sức mạnh lẽ ra phải có trước những thách thức mới.

Thập kỷ đầu tiên sau 30-04-1975 bị mất hoàn toàn cho 2 cuộc chiến tranh và sự đổ vỡ kinh tế. Công cuộc kiến thiết lại đất nước thực ra chỉ bắt đầu từ khi tiến hành đổi mới 1986, đến nay là 29 năm. Bản “kết toán” 40 năm độc lập thống nhất của quốc gia hôm nay có thể phác thảo như sau:

1. Đất nước hình thành một nền kinh tế phát triển theo chiều rộng, đã tận dụng tới mức tối đa có thể huy động được những yếu tố ban đầu như lao động rẻ, tài nguyên, đất đai và môi trường. Cơ cấu hiện có của nền kinh tế nhìn chung còn lạc hậu, hàm lượng chế biến trong sản phẩm rất thấp, tính lệ thuộc của một nền kinh tế gia công rất cao (thực chất là chỉ bán lao động rẻ và môi trường, không tự hình thành được những sản phẩm hay ngành kinh tế của chính quốc gia mình), kết cấu hạ tầng thấp kém, năng suất lao động vào lọai thấp nhất trong khu vực, khả năng cạnh tranh đang suy giảm nhanh vì đã khai thác cạn kiệt những yếu tố ban đầu, các hệ quả trong quá trình phát triển của một nền kinh tế lạc hậu ngày càng gia tăng (như thất nghiệp, nghèo đói, chênh lệch giàu nghèo và bất công xã hội, ô nhiễm môi trường…). Về nhiều mặt sự phát triển kinh tế có phần mang tính thị trường hoang dã, đồng thời đậm nét chủ nghĩa tư bản thân hữu. Nền kinh đòi hỏi bắt buộc phải tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới.

2. Thể chế chính trị và hệ thống nhà nước được thiết kế theo quan điểm đảng đứng trên Hiến pháp, nắm quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối. Trong thực tế đó là một hệ thống đảng trị, có trong tay hệ thống nhà nước làm công cụ thực hiện quyền lực của hệ thống đảng. Hệ thống quyền lực kép này (đảng + chính quyền) còn có hệ thống mặt trận (MTTQVN) là công cụ phụ trợ. Thiết kế như vậy, ngân sách quốc gia (thuế của dân) phải gánh 3 hệ thống quyền lực: (a) hệ thống đảng, có mọi quyền lực nhưng không phải chịu trách nhiệm ràng buộc nào trước đất nước; (b) hệ thống chính quyền, thực thi quyền lực của hệ thống đảng và trên thực tế hầu như chỉ chịu trách nhiệm trước hệ thống đảng, (c) hệ thống mặt trận với tính chất là công cụ thâu tóm mọi hoạt động trong xã hội vào guồng máy của hệ thống chính trị. Toàn bộ cỗ máy quyền lực này được vận hành dưới sự chi phối của (1) tập đoàn kinh tế nhà nước, (2) nền kinh tế GDP tỉnh, và (3) tư tưởng tư duy nhiệm kỳ. Có thể thấy ngay, một hệ thống quyền lực cồng kềnh và chồng chéo, có hệ điều hành đảng quyết định tất cả nhưng không chịu trách nhiệm ràng buộc, với chất lượng con người hoạt động trong hệ thống được nhào nặn từ chính hệ thống này, hiển nhiên không thể vận hành có hiệu quả toàn bộ sự vận động của một quốc gia. Về nhiều mặt, đây là một hệ thống quyền lực kìm kẹp quốc gia, vô hiệu hóa không ít hay không thực thi được bao nhiêu các chính sách cũng như luật pháp do chính hệ thống này ban hành. Mọi chiến lược hay quy hoạch quốc gia đã vạch ra được đều trở nên không khả thi hoặc chỉ được thực hiện manh mún phần nào trong một hệ thống quyền lực chồng chéo, vận hành theo nhiệm kỳ và xé lẻ như vậy; quan liêu, lãng phí, tham nhũng và tội ác ngày càng trầm trọng là tất yếu. Chính hệ thống quyền lực này bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ của nhân dân, hủy hoại nghị lực sáng tạo của đất nước. Thực tế này đẻ ra đòi hỏi phải tăng cường trấn áp để bảo toàn chế độ, hệ quả là ngày càng mất lòng dân, trực tiếp cản trở sự phát triển của đất nước. Với một hệ thống quyền lực như vậy không thể tạo ra và cũng không thể quản lý nổi một nước Việt Nam công nghiệp hóa.

Tình hình kinh tế đất nước bế tắc như hiện nay, đất nước hầu như bị động và chưa chuẩn bị được bao nhiêu trong việc đối phó với âm mưu bành trước bá quyền của Trung Quốc, cũng như nhiều yếu kém khác nữa của sự nghiệp phát triển đất nước trong đối nội và đối ngoại còn cho thấy: Trong tình hình mới, hệ thống quyền lực này ngày càng bất cập và không có khả năng dẫn dắt đất nước trong thế giới hiện tại. Ngoài ra không thể không đặt câu hỏi sự lũng đoạn của quyền lực mềm Trung Quốc đã tác động tới mức nào vào hệ thống quyền lực nước ta hiện nay.

3. Những sai lầm và yếu kém của hệ thống quyền lực trong hai thập kỷ gần đây ngày càng trầm trọng, gây ra áp lực ngày càng lớn trong đời sống của nhân dân. Chính sách thông tin bưng bít và định hướng để giữ chế độ và giữ đảng trong quá trình ngày càng tha hóa đang một mặt làm trầm trọng thêm tình trạng ngu dân, mặt khác vấp phải sự bác bỏ (bộc lộ ra hay không bộc lộ ra) của nhân dân ngày càng quyết liệt. Trong đời sống xã hội, sự lên ngôi của giả dối và của những hiện tượng phi đạo đức của quyền lực đang gây ra cuộc khủng hoảng trầm trọng đời sống tinh thần và văn hóa của đất nước. Trong đời sống đất nước xuất hiện những nghịch lý trầm trọng: Giữa lúc cần phát huy cao nhất tinh thần đoàn kết hòa hợp hòa giải dân tộc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, nhưng lòng dân ly tán và dân tộc bị chia rẽ; giữa lúc cần phát huy những giá trị tinh thần, đạo đức, văn hóa, xã hội cho sự nghiệp chấn hưng đất nước lại xảy ra hiện tượng đời sống tinh thần của nhân dân sa sút nhất, sự băng hoại các giá trị đạo đức xã hội ngày càng trầm trọng; chưa bao giờ các hiện tượng phản văn hóa, hủ tục, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút và tội phạm hình sự tràn lan như hiện nay. Tinh thần dân tộc bị tổn thương, nguyên khí quốc gia bị đánh cắp. Và như đã phân tích trong phần II. 1. “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!”, đất nước đã độc lập 40 năm mà vẫn chưa phải là của nhân dân và do nhân dân làm chủ. Nguyên nhân gốc của toàn bộ tình trạng này xuất phát từ sự tha hóa của hệ thống quyền lực.

4. Bốn mươi năm độc lập thống nhất đầu tiên của đất nước cũng là 40 năm đảng và nhà nước Việt Nam vấp phải nhiều sai lầm đối ngoại trầm trọng nhất. Do nhìn nhận sai về thế giới, nên sau khi vừa mới ra khỏi chiến tranh đất nước lại bị kéo ngay vào 2 cuộc chiến tranh mới trong 10 năm liền (1979 – 1989). Hội nghị Thành Đô là sai lầm chiến lược tiếp theo, để lại hệ lụy lâu dài và khôn lường cho đất nước. Điều trớ trêu là ĐCSVN chủ trương đường lối đối ngoại hòa hiếu, không đi với bất kỳ nước nào chống lại nước thứ ba. Song đường lối đối ngoại bắt đầu từ hội nghị Thành Đô lại cột chặt nước ta vào một bên Trung Quốc, có nghĩa là làm như thế khách quan tạo ra những mâu thuẫn nhất định giữa nước ta và các nước thứ ba. Nguy hiểm hơn thế, đường lối đối ngoại này đã đưa con đường phát triển của đất nước đi vào quỹ đạo của Trung Quốc, tạo ra sự lệ thuộc trầm trọng và tình trạng bị Trung Quốc uy hiếp cho đến hôm nay ĐCSVN vẫn không thể tìm ra đối sách khắc phục; độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng. Đường lối đối ngoại Thành Đô cùng với đường lối đối nội giữ đảng và giữ chế độ bằng mọi giá trên thực tế đã biến nước ta thành một nước chư hầu kiểu mới của Trung Quốc, giữa lúc nước ta đã hội nhập toàn diện vào thế giới toàn cầu hóa, có tất cả các quốc gia quan trọng là đối tác chiến lược hay đối tác toàn diện. Đường lối đối ngoại này khiến cho nước ta bị cô lập, vì nó chỉ cột chặt nước ta vào Trung Quốc và đẩy nước ta vào thế phải leo dây với các đối tác khác, nước ta vừa không có sự liên minh thật sự với bất kỳ đối tác quan trọng nào cần thiết cho an ninh của nước ta, vừa tự mình không tranh thủ được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của cả thế giới cho bảo vệ chủ quyền quốc gia và những lợi ích chính đáng của nước ta.

Trung Quốc là đối tác và đối tượng số một tự nhiên và mãi mãi đối với nước ta, nhưng trong 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên của đất nước ĐCSVN đã thất bại hoàn toàn trong việc xây dựng nên một quốc sách có thể bảo vệ được độc lập chủ quyền quốc gia, đồng thời giữ được hòa bình và thực hiện được hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc. Nguyên nhân chủ yếu là: ĐCSVN đặt lợi ích quốc gia dưới lợi ích của đảng và của chế độ, trí tuệ thấp kém, sự lầm lẫn nghiêm trọng của ý thức hệ, sự khiếp nhược trước Trung Quốc, bị quyền lực mềm Trung Quốc lũng đoạn nghiêm trọng.

Bản kết toán 40 năm đất nước độc lập thống nhất cho phép đánh giá:

1. Đất nước trong 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên dưới chế độ toàn trị của ĐCSVN đã tạo ra được một nền kinh tế chủ yếu là bán những thứ tự có nhiều hơn là những thứ tự làm ra, nợ nần nhiều ai trả (?), với một chế độ chính trị không có khả năng đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp phát triển.

2. Để giữ đại cục quan hệ với Trung Quốc, đảng đã phải chấp nhận nhiều thỏa hiệp hay hy sinh lợi ích quốc gia (không loại trừ có thể có những vụ việc sự tha hóa của cá nhân đã bán rẻ lợi ích quốc gia); đất nước lâm vào tình trạng lệ thuộc và bị chèn ép nhiều mặt đến mức gần như trở thành một chư hầu kiểu mới của Trung Quốc.

3. Giữ đảng và chế độ như hiện nay, không thể giữ nước. Tình hình đã đến mức sự tồn tại và hành động của đảng và của chế độ như trong hiện tại đã và đang cản trở trực tiếp sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Sự lũng đoạn và uy hiếp của Trung Quốc rất nguy hiểm nhưng không nguy hiểm bằng.

Đại hội XII sắp đến của ĐCSVN nhất thiết cần thẳng thắn mổ xẻ toàn bộ tình hình đất nước nói trên và rút ra những kết luận dứt khoát.

III. Hiểm họa đen?

III. 1. Lạc lõng

Phần I cho thấy thế giới đã sang trang tiếp, sang trang tiếp, và lại vừa mới sang trang tiếp một trang mới nữa. Càng ngày càng rõ trong thời đại chúng ta đang sống không có chỗ cho những suy nghĩ hão huyền về chủ nghĩa xã hội hoặc xu thế tất yếu nào về điều này trong bất kỳ mối quan hệ quốc tế nào. Hiện nay giành giật của quan hệ Mỹ – Trung đang chi phối sâu sắc bàn cờ thế giới. Một thời kỳ mới của các mối quan hệ quyết liệt tập hợp lực lượng và đối đầu nhau trong trật tự quốc tế đa cực bắt đầu, đặt ra rất nhiều vấn đề nan giải cho nhiều quốc gia liên quan – nhất là cho nước Việt Nam ta.

Phần II cho thấy lịch sử Việt Nam đã sang trang cách đây 40 năm. ĐCSVN đã áp đặt cho đất nước một con đường phát triển theo ý thức hệ của mình, hoàn toàn trái với đòi hỏi hỏi tất yếu của một nước được tự nhiên đặt sẵn vào vị trí địa kinh tế và địa chính trị trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay. Con đường phát triển đã lựa chọn ấy, một mặt là duy ý chí với quy luật phát triển tự nhiên của một quốc gia như nước ta – một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua liên tiếp những cuộc chiến tranh lớn thảm khốc, mặt khác là không nhận thức được cái trật tự quốc tế hiện hành đã ấn định cho nước ta một vị thế địa kinh tế và địa chính trị nhất định, buộc nước ta phải chấp nhận và phải tìm ra cách xử lý thỏa đáng sao cho có lợi nhất cho mình.

Nói hình ảnh, ĐCSVN đã chọn cho đất nước độc lập thống nhất con đường phát triển đảng muốn và xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa như ở trên cung trăng – với hàm nghĩa đảng chọn một mô hình xây dựng đất nước không theo quy luật của phát triển, lại một mình chọn một sân chơi khác kiểu trong thế giới, không nhận thức đúng được các mối quan hệ qua lại giữa nước ta và toàn bộ thế giới bên ngoài, càng không hiểu rõ sự chi phối có ý nghĩa quyết định về nhiều mặt của những mối quan hệ qua lại này đối với nước ta.

Có thể kết luận: ĐCSVN vừa không hiểu đất nước sau khi ra khỏi chiến tranh, vừa không nhận thức đúng được cái thế giới nước ta đang sống.

Tư duy ý thức hệ của đảng là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, lại trong hệ thống chính trị một đảng, nên ngay từ ngày đầu tiên của đất nước độc lập thống nhất, với tính cách là người chiến thắng, ĐCSVN đã trở thành người cai trị đất nước. Chính thực tế này giải thích tại sao quyền làm chủ của nhân dân đối với đất nước độc lập thống nhất không được trao lại cho nhân dân ngay sau khi chiến tranh kết thúc – nhân danh đảng phải đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng, để đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Về phương diện này, lịch sử phát triển của Việt Nam đã bị chặn đứng ngay từ đấy – nghĩa là cách đây 40 năm, và bị bẻ ngoặt sang một hướng duy tâm, duy ý chí, với kết quả đạt được như hôm nay.

Theo quy luật tha hóa của quyền lực, hệ thống chính trị quốc gia được xây dựng lên dưới sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng ngày nay đã thật sự trở thành chế độ toàn trị, đang tích tụ ngày một nhiều mâu thuẫn đối kháng với các quyền tự do dân chủ của nhân dân và đi ngược lại lợi ích quốc gia. Đất nước bị chính hệ thống chính trị của mình kìm hãm trước tiên, mọi bước phát triển đạt được đều phải trả giá đắt, hiện đang lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện rất sâu sắc.

Ngày nay, tình hình tha hóa của đảng đến mức ý thức hệ thật ra cũng chỉ còn lại là cái bình phong hay là công cụ, để che đậy hay để thực hiện yêu cầu bảo vệ quyền lực của đảng, thực sự nó không còn đọng lại chút nào là lý tưởng cách mạng.

Tổng hợp lại có thể nói: Tư duy ý thức hệ của ĐCSVN không phải là tụt hậu hay lạc hậu so với thời đại của thế giới hiện tại, nó lạc lõng theo một lối riêng không tưởng và không đi cùng với xu thế phát triển của thế giới hiện tại. Sự tha hóa của quyền lực trong hệ thống chính trị một đảng càng khiến cho sự lạc lõng này không thể cứu vãn được, đảng ngày càng suy yếu vì những thất bại của chính mình. Để tồn tại, đảng bắt buộc phải mắc thêm nhiều sai lầm mới, buộc phải thêm độc tài và toàn trị hơn nữa.

Tình hình nêu trên có thể rọi thêm ánh sáng vào những quyết định của đảng khi lựa chọn giải pháp Thành Đô và các giải pháp thỏa hiệp khác với Trung Quốc cho đến nay. Ảo tưởng rằng Trung Quốc cùng chung ý thức hệ đã làm cho cái giá phải trả cho những thất bại phạm phải càng đắt hơn.

Đành rằng giác ngộ là một quá trình, song độc quyền chân lý của chế độ toàn trị đã không dung nạp quá trình này cho đến hôm nay.

Cũng như ở hầu hết mọi nước Liên Xô Đông Âu cũ và một số nước xã hội chủ nghĩa khác, ở nước ta tiếng nói phê phán tư duy ý thức hệ cộng sản và đường lối sai lầm của tư duy này đã được trí tuệ của đất nước cất lên rất sớm ngay sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc. Chí ít vụ Nhân văn giai phẩm có thể coi như là tiếng nói tập thể đầu tiên nêu lên mối nguy của ý thức hệ làm mất dân chủ và nhân văn trong sự nghiệp phát triển đất nước. Ai cũng biết vụ Nhân văn giai phẩm đã bị trấn áp quyết liệt. Khoảng dăm bẩy năm nay hầu như các nạn nhân vụ này đã được phục hồi danh dự cá nhân, nhưng chế độ chưa bao giờ có một lời xin lỗi hay nhận sai lầm. Nhìn chung chế độ này không biết xin lỗi các sai lầm đã xảy ra (trong cải cách ruộng đất, trong cải tạo tư sản, trong cải tạo tù chính trị…).

Đặc biệt là sau khi kháng chiến chống Mỹ kết thúc, tiếng nói phê phán những sai lầm tư duy ý thức hệ và đường lối của nó ngày càng nhiều, được nói lên từ những nhân vật tiêu biểu như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trần Độ, Trần Xuân Bách, vân vân… Sự tiếp thu của chế độ là quy kết những tư duy như thế là phản động, là chống chế độ, và thậm chí là phản quốc, phải đàn áp. Phan Đình Diệu không bị đàn áp nhưng bị bỏ ngoài tai, còn nhiều người khác bị bỏ ngoài tai…Sự việc mà tôi biết rõ nhất là bức thư gửi Bộ Chính trị ngày 09-08-1995 của đương kim Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc ấy đặt vấn đề: (1) phải nhận thức lại thế giới, (2) trên cơ sở đó xem lại đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước, (3) giai đoạn phát triển mới của đất nước nhất thiết phải có nhà nước pháp quyền dân chủ. (4) nhất thiết phải thay đổi tổ chức và xây dựng đảng. Bức thư này mới chỉ đặt vấn đề, chưa nói được gì nhiều, nhưng không có cái tai nào nghe, và người viết thư được hưởng quả đắng, ba người khác bị bắt giam chỉ vì đã đọc bản photo copy…

Sự việc nghiêm trọng mới đây nhất của tình trạng độc quyền chân lý và bóp nghẹt tự do dân chủ là mọi ý kiến đúng đắn góp vào xây dựng / sửa đổi hiến pháp năm 2013 đã bị loại bỏ rất thô bạo, để thông qua rất hình thức (đúng ra phải nói là lừa dối) một hiến pháp sửa đổi về cơ bản giữ nguyên như cũ, cướp đi của đất nước cơ hội hòa bình cải cách thể chế độc đảng toàn trị hiện nay sang chế độ pháp quyền dân chủ. Việc sửa đổi hiến pháp như đã làm cuối cùng biến thành bước đi quan trọng để tiếp tục bảo vệ quyền lực của ĐCSVN bằng mọi giá, không đếm xỉa đến những đòi hỏi sống còn của đất nước.

Cho đến hôm nay, độc quyền chân lý vẫn đang quyết liệt tiếp tục đàn áp mọi tư duy “trái chiều”, nhân danh chống diễn biến hòa bình, bảo vệ chế độ, bảo vệ tổ quốc…

Đến đây có thể nói, hiểm họa đen hôm nay thực ra đã manh nha ngay sau ngày đất nước độc lập thống nhất đầu tiên từ tư duy ý thức hệ và từ quá trình tha hóa của quyền lực đảng.

Có thể rút ra kết luận: Tư duy ý thức hệ của đảng và sự tha hóa của quyền lực đến hôm nay đã biến chất trầm trọng ĐCSVN vốn là một đảng yêu nước, ra đời trước hết với lý tưởng giải phóng đất nước. ĐCSVN hôm nay tha hóa thành vấn đề nghiêm trọng của đất nước.

Trừ một thiểu số thoái hóa, phần lớn đảng viên, nhất là đảng viên các thế hệ kháng chiến, là những người yêu nước. Tất cả những đảng viên yêu nước – như tôi đã viết trong bài 1[7] – có món nợ lương tâm và có trách nhiệm chính trị phải trang trải với đất nước: Cất lên tiếng nói tại đại hội XII đòi vứt bỏ tư duy ý thức hệ, đòi phải thay đổi đảng để thay đổi chế độ, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước theo tinh thần bức thư ngày 09-08-1995 của đảng viên Võ Văn Kiệt.

Với tính cách nắm quyền toàn diện và tuyệt đối, ĐCSVN hôm nay có trách nhiệm ràng buộc toàn diện và tuyệt đối trước đất nước thực hiện nhiệm vụ hòa bình cải cách chế đố toàn trị hiện nay chuyển sang chế độ pháp quyền dân chủ, và qua đó thay đổi chính bản thân mình trở thành một đảng khác đi với dân tộc, phấn đấu trở thành đảng của dân tộc, vì sự nghiệp cứu nước và chấn hưng đất nước. Đây phải là vấn đề nghị sự số 1 của đại hội XII. ĐCSVN hôm nay thực ra có mọi điều kiện cần và đủ để thực hiện thành công những nhiệm vụ trong vấn đề nghị sự số 1 này, đảng chỉ còn thiếu ý chí đoạn tuyệt với sự tha hóa của chính mình.

Hơn bao giờ hết, đại hội XII cần bắt đầu từ thẳng thắn nhìn lại toàn bộ tình hình của đất nước và của đảng trong 40 năm đất nước độc lập thống nhất đầu tiên, từ đó đảng tự giải phóng chính mình khỏi kiếp nô lệ của ý thức hệ và của quyền lực, chỉ để giữ lại cho mình lòng yêu nước, cùng với cả nước khai phá con đường dân tộc dân chủ cứu nước và đưa đất nước đi lên.

Mong rằng ĐCSVN hôm nay đừng mảy may ngó nghiêng hay lấn cấn gì với ĐCS Trung Quốc, để dứt khoát đoạn tuyệt với cái gọi là tư duy ý thức hệ anh em trên mọi phương diện. Đơn giản vì ĐCSTQ hôm nay chỉ giữ lại cho nó cái tên khai sinh như đang có, còn bản thân nó hôm nay là bộ máy quyền lực siêu lợi hại của siêu cường Trung Quốc đang lên trên con đường bành trướng bá quyền. Quan hệ ngoại giao là chuyện khác.

Đồng thời phải nói sòng phẳng: ĐCSVN hôm nay cũng chỉ còn lại mỗi cái tên. Bản chất đảng hiện nay, những việc đảng đang làm, hiện thực đất nước của nền kinh tế thị trường còn nhiều mặt hoang dã và đậm nét chủ nghĩa tư bản thân hữu, tất cả những điều này nói lên ĐCSVN hôm nay chẳng còn dính dáng gì đến chủ nghĩa Mác – Lênin hay tư tưởng Hồ Chí Minh. ĐCSVN hôm nay chỉ còn lại là đảng của quyền lực độc quyền nắm quyền cai trị đất nước. Việc thay đổi đảng trở thành đảng của dân tộc đã trở thành đòi hỏi sống còn đối với chính bản thân ĐCSVN, nhằm chặn đứng con đường đảng trở thành lực lượng đối kháng quốc gia và lợi ích dân tộc, tránh cho đất nước thảm họa tự hủy diệt.

III. 2. Đối mặt với hiểm họa đen

Những khó khăn và thách thức đất nước hiện tại đang phải đối mặt trên mọi phương diện đối nội và đối ngoại không thể nói là nhỏ hoặc dễ giải quyết. Song hiểm họa đen về nhiều mặt có thể không đến từ những khó khăn và thách thức này, mà trước hết có thể lại đến từ những câu hỏi:

- Nhân dân này, dân tộc này lựa chọn gì trước những vấn đề đang đặt ra cho đất nước hôm nay?

- ĐCSVN với tính cách là lực lượng chính trị lớn nhất đang nắm quyền cai trị đất nước (không còn là lực lượng lãnh đạo nữa) lựa chọn gì? Lựa chọn đất nước hay chính bản thân mình?

- Nói như thế chẳng lẽ hiểm họa đen chủ yếu đến từ phía ta, nghĩa là từ phía nhân dân này? Từ đảng này?

- Đúng vậy với nghĩa: Nếu ta nhận biết được hiểm họa đen, thì có thể vô hiệu hóa nó, hoặc làm thất bại nó; đối phương dù có ác hiểm đến thế nào chăng nữa cũng không phải là bất khả kháng. Nhưng nếu ta mù quáng chẳng nhìn thấy gì, hoặc nếu ta cường điệu nó hay đánh giá thấp nó thì đúng là hiểm họa đen.

Đơn giản vì nếu ai hiểu Trung Quốc, chắc chắn đều thấy không thể quỳ xuống xin Trung Quốc rủ lòng thương lựa chọn kịch bản nhẹ tay đối với nước ta.

Trong phát triển kinh tế cũng thế, chẳng có gì cho không cả!

Vậy phải tập trung vào việc ta chống hiểm họa đen như thế nào?

Để làm rõ vấn đề, xin bàn luận thêm về Trung Quốc.

Như đã nói trong phần I. 2. Bàn về siêu cường Trung Quốc, hiện nay Trung Quốc đã sẵn sàng trong tay các kịch bản từ A – Z trong đối xử với Việt Nam. Hiện nay họ đang thực hiện kịch bản A. Khi cần thiết họ có mọi điều kiện cần và đủ để chuyển sang kịch bản khác họ muốn. Kịch bản Z là tồi tệ nhất, tổng hợp mọi phương tiện từ những thủ đoạn bẩn thỉu đến chiến tranh. Thật là khó chịu một khi phải đối mặt với một đối tượng giữ thế chủ động như vậy (trong đó có phần nào do lỗi bị động từ trước đến nay của phía ta).

Sự thật là ngay trong kịch bản A hiện nay, Trung Quốc có thể dễ dàng làm kinh tế nước ta tổn thất 10 – 15% GDP như nhiều chuyên gia đã tính toán. Trong kịch bản khác, Trung Quốc có thể đánh thắng ta trong một cuộc hay một số cuộc chiến tranh có giới hạn. Trong kịch bản Z Trung Quốc có thể hủy hoại tới 1/3 GDP của nước ta hoặc hơn nữa, đánh chiếm thêm các đảo của ta, thậm chí có thể đánh chiếm kiểm soát một phần lãnh thổ ta trong một thời gian nhất định…

Vì ta không thể ra lệnh được cho Trung Quốc chỉ được phép dùng kịch bản gì và dùng như thế nào, cho nên lựa chọn sự đáp trả của phía ta mới là quyết định. Lựa chọn sự đáp trả đúng thì thắng, lựa chọn sai thì là hiểm họa.

Sự lựa chọn tại Thành Đô là sự lựa chọn sai, đã và đang đem lại hiểm họa hôm nay.

Trong tiểu thuyết “Lũ” (bản thảo 2, tập II, tháng 08-2012[8]), những kinh nghiệm có được trong những năm phải đối phó với cuộc chiến tranh 17-02-1979 và chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc khiến tôi đã phải tính đến kịch bản Z này. Song nước ta xưa nay có bao giờ chịu khuất phục một cuộc xâm lược như thế? Trong thế giới ngày nay lại càng không thể như thế. Trong thế giới đương đại, nước ta mới đây thôi đã 3 lần chiến thắng 3 kẻ xâm lược lớn với sự hậu thuẫn của cả thế giới tiến bộ.

Giả thiết Trung Quốc áp đặt lên nước ta kịch bản Z, nhân dân ta có sự lựa chọn nào hơn là trong tình huống “bị lôi ra làm thịt” như thế, thì phải tìm cách tự giải phóng đất nước thoát khỏi kiếp chư hầu, đồng thời giành lại cho chính mình quyền làm chủ đất nước đã bị trì hoãn 4 thập kỷ nay? Tôi có lòng tin vững chắc trong tình huống xảy ra kịch bản Z, nhân dân ta sẽ buộc phải lựa chọn như vậy và nhất định sẽ thắng cả gói: Nước giữ được độc lập, dân giành lại được quyền làm chủ đất nước đã bị trì hoãn 4 thập kỷ.

Nếu nước ta bị Trung Quốc áp đặt một kịch bản Z như thế, nhân dân ta sẽ phải một lần nữa hy sinh xương máu ghê gớm lắm, phải cố tránh. Trong vòng một nửa thế kỷ đã 4 cuộc chiến tranh lớn đẫm máu là quá nhiều đối với đất nước ta! Nhưng biết làm thế nào? Rồi bao nhiêu mổ hôi nước mắt, và cả máu nữa, mới xây dựng nên được những gì đất nước có hôm nay! Càng tha thiết với hòa bình, quý trọng sinh mạng và công sức của đất nước, càng phải có ý chí quyết liệt đấu tranh bảo vệ, huy động sự hậu thuẫn của cả thế giới để quyết bảo vệ. Bởi vì không thể quỳ gối mà gìn giữ được! Hòa bình không thể đến được bằng van xin.

Nhưng một khi cây muốn lặng, nhưng gió chẳng đừng!? Vâng, một khi nước ta bị Trung Quốc cố ý áp đặt một kịch bản Z như thế, cho dù cho đảng lựa chọn đối phó thế nào, chắc chắn dân tộc ta sớm hoặc muộn sẽ chỉ có sự lựa chọn duy nhất nói trên của chính mình mà thôi, sẽ quyết chấp nhận sự lựa chọn duy nhất này, như đã từng bao nhiêu lần dân tộc ta phải lựa chọn như thế trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước.

Đồng thời tôi cho rằng: Một khi phải đương đầu với một kịch bản Z như thế, trong sự lựa chọn nói trên của nhân dân có lẽ sẽ không thể có một chỗ đứng nào cho ĐCSVN như đảng đang là, vì lòng tin của nhân dân vào đảng như đang là không còn nữa. ĐCSVN như đang là cũng không thể lựa chọn như nhân dân lựa chọn, càng không thể có phẩm chất và năng lực lãnh đạo nhân dân thực hiện sự lựa chọn ấy, bởi vì phẩm chất và năng lực của ĐCSVN như đang làkhông còn đáp ứng được nhiệm vụ quyết liệt này nữa. Trong tình hình như vậy, ĐCSVN như đang là sẽ không còn đứng và sẽ không thể đứng được trong hàng ngũ cứu nước của dân tộc.

Câu chuyện sẽ hoàn toàn khác, nếu ĐCSVN như đang là quyết lột xác để trở thành đảng của dân tộc và để cùng chung với nhân dân sự lựa chọn như thế. ĐCSVN chủ động tiến hành cải cách hòa bình đễ xóa bỏ chế độ toàn trị, thiết lập chế độ pháp quyền dân chủ chính là con đường đảng như đang là có thể hoàn toàn thay đổi chính bản thân mình, để trở thành đảng cùng đi với cả dân tộc. ĐCSVN như đang là chủ động tiến hành cải cách hòa bình xóa bỏ chế độ toàn trị, để tập hợp toàn dân tộc thành một khối thống nhất rong một thể chế pháp quyền dân chủ, sẵn sàng đương đầu với bất kỳ kịch bản nào của Trung Quốc – đấy còn là con đường ngăn chặn hay làm thất bại kịch bản xấu nhất mà Trung Quốc muốn ra tay.

ĐCSVN như đang là, nếu chủ động hòa bình cải cách xóa bỏ chế độ toàn trị để tập hợp toàn dân tộc trong một thể chế pháp quyền dân chủ vì sự nghiệp cứu nước và chấn hưng đất nước, chắc chắn nước ta sẽ có sức mạnh của chính mình và đồng thời sẽ tranh thủ được sự hậu thuẫn của cả thế giới tiến bộ, kịch bản nào của Trung Quốc đưa ra cũng sẽ thất bại, đất nước ta sẽ có hòa bình và từ đó mới tạo ra được hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc. Dĩ bất biến đối với mọi cái “biến” Trung Quốc muốn áp đặt với nước ta chính là điểm này!

Tâp hợp toàn dân tộc trong một thể chế pháp quyền dân chủ vì sự nghiệp cứu nước và chấn hưng đất nước – chính cái dĩ bất biến này mới cho phép nước ta một mặt bất di bất dịch gìn được giữ độc lập chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, mặt khác mới có điều kiện thực hiện các giải pháp sách lược. Trong quan hệ ngoại giao, làm sao mà thiếu được các giải pháp sách lược, nhất là đối với Trung Quốc? Song chỉ riêng lịch sử quan hệ Việt – Trung đã có đủ các bài học cho nước ta cần học: bất kỳ giải pháp sách lược nào với Trung Quốc mà nước ta không có cái dĩ bất biến nàylàm nền tảng, nước ta đều thua, và không hiếm trường hợp mất luôn cả chì lẫn chài – như đã trình bày trong câu chuyện Hội nghị Thành Đô.

Xin nhắc lại: Tiến hành giải pháp Thành Đô, trong thâm tâm những người lãnh đạo nước ta hồi ấy là muốn thực hiện một giải pháp sách lược lớn – hòa hiếu với Trung Quốc. Nhưng vì không có cái dĩ bất biến này làm chỗ dựa, nên cuối cùng nước ta chỉ nhận được 4 tốt và 16 chữ!

Hiểm họa đen đang đến, ở chỗ cho đến hôm nay đảng như đang là và đội ngũ lãnh đạo vẫn không dám nhìn lại 40 năm đầy sai lầm của mình, vẫn còn lo mất quyền lực hơn lo mất nước, vẫn còn cố tìm cách trì hoãn hay thỏa hiệp vì khiếp nhược, trong khi đó thời gian không chờ đợi và phía Trung Quốc đã sẵn sàng mọi kịch bản khác. Những vấn đề lịch sử để lại rất lớn và phức tạp, song chí ít ĐCSVN nhất thiết phải đứng trên quan điểm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc đánh giá lại toàn bộ chặng đường 40 năm đất nước độc lập thống nhất đầu tiên để có ý chí thay đổi đảng một cách triệt để.

Hiểm họa đen thực sự đang tiến đến, bởi lẽ cái giàn khoan HD 981 chưa đủ lớn, chưa đủ nặng để đặt ra cho Hội nghị Trung ương 9 sự lựa chọn sẽ phải được bàn đến tại đại hội XII sắp tới: Cứu nước? hay cứu chế độ và cứu đảng nhưđang là? Cho đến giờ phút này đối với cả nước đảng như đang là vẫn tiếp tục vừa lừa mỵ dân, vừa đàn áp lẽ phải, trấn an dân, kêu gọi kiên định chung chung.., trong khi đó đội ngũ lãnh đạo vẫn trống đánh xuôi kèn thổi ngược.

Hiểm họa đen cũng có thể xuất hiện dưới dạng thường trực không mời mà đến, vì bất kể một yếu kém nào của chế độ đương quyền trong một bối cảnh nào đó, với sự lũng đoạn của quyền lực mềm – ví dụ như dưới dạng kịch bản tạo ra phản ứng bầy đàn cướp phá khoảng 800 xí nghiệp có FDI ngày 13 và 14-05-2014 ở quy mô không kiểm soát được… Những chuyện phản ứng bầy đàn như thế có thể xảy ra bất kỳ lúc nào trong thị trường kinh tế, trong thị trường tài chính tiền tệ, trong tình hình khiếu kiện đất đai của nông dân, trong trấn áp biểu tình, trấn áp chính trị, trong một thiên tai… Bởi vì lúc này đất nước có không ít những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội… rất nhạy cảm, mà nguyên nhân gốc thường là những sai trái và yếu kém chế độ và của người trong hệ thống chính trị. Bưng bít thông tin, không công khai minh bạch, các hoạt động lừa bịp của dư luận viên, các biện pháp trấn áp trên báo chí và bằng quyền lực… nhân danh giữ ổn định, vân vân.., tất cả những thứ này chỉ là đổ dầu vào lửa, đồng thời tạo đất thánh cho hoạt động của quyền lực mềm Trung Quốc. Chỉ có một con đường: Phải dựa hẳn vào dân, vào dân tộc, dấy lên sức mạnh từ dân để giải quyết tất cả, bắt đầu từ phát triển xã hội dân sự để nuôi dưỡng tinh thần dân tộc và phát huy dân chủ – vì sự nghiệp cứu nước và chấn hưng đất nước.

Hiểm họa đen thực sự không thể tránh nổi, nếu chế độ toàn trị hiện nay theo quy luật mâu thuẫn giữa cai trị và bị cai trị đến một lúc nào đó sẽ tức nước vỡ bờ và ắt phải sụp đổ, đất nước rơi vào tự hủy diệt của hỗn loạn nồi da xáo thịt.

Hiểm họa đen luôn tiềm tàng và không thể đảo ngược được, chừng nào đảng như đang là trốn tránh nhiệm vụ tạo ra cho đất nước cái dĩ bất biến nói trên không thể trì hoãn được nữa.

Cần thảo luận rộng rãi trong đảng để đi tới kết luận và hành động.

Lời kết: Phải cắt bỏ cái thòng lọng đang siết dần

Cách đây vài ngày cái dàn khoan HD 981 đã rời khỏi chỗ nó đứng hơn 2 tháng trong vùng biển của ta. Ý kiến nói ra nói vào trên thế giới nhiều chiều lắm.

Trong rừng các ý kiến ấy, đáng chú ý nhất là người Trung Quốc nhắc nhở chúng ta: Người Việt Nam đừng lấy trứng chọi đá, phải làm quen với việc cái giàn khoan này rút ra, cái khác sẽ được đưa vào, tùy theo công việc đòi hỏi mà!…

Ý kiến khác đánh giá: Việc rời giàn khoan HD 981 đi chỗ khác tạm thời làm xẹp được sự căng thẳng trong dư luận quốc tế; mặt khác bước đi này tiếp sức cho phái Việt Nam chủ hòa và đầu hàng, lôi kéo phái Việt Nam này vào giải pháp song phương, thuận cho phương thức “gác tranh chấp cùng khai thác”.

…Dù sao, cái giàn khoan phải di chuyển đi nơi khác như thế cho thấy không phải Trung Quốc muốn làm gì cũng được!… Sự phản đối quyết liệt của Việt Nam và dư luận thế giới đã buộc Trung Quốc phải tính đến.

Nhìn lại, mười năm đầu sau 30-04-1975 Trung Quốc đã thành công đáng kể trong việc vô hiệu hóa gần như hoàn toàn ảnh hưởng của cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam trong khu vực, đồng thời giành được vị thế tạm thời lấp chỗ trống của Mỹ. Sau Hội nghị Thành Đô 1990, Trung Quốc thực sự đã đặt được cái thòng lọng ý thức hệ lên cổ đất nước ta. 25 năm qua Trung Quốc đã từng bước và bằng mọi thủ đoạn chính tri, kinh tế, quân sự siết dần cái thòng lọng này, và hôm nay đạt được một Việt Nam lệ thuộc trầm trọng về kinh tế, đối nội bị lũng đoạn, đối ngoại phải “leo dây”, ngoài việc Trung Quốc đã chiếm thêm được một số đất đai và một số diện tích biển đảo.

Những gì cái giàn khoan HD 981 đã lộ thiên ra được ở Việt Nam hai tháng qua và sự việc cái đường lưỡi bò 9 vạch được nối thêm một vạch nữa là những cái “tests” giúp Trung Quốc khẳng định được Việt Nam là khâu yếu nhất, cần đột phá cho giai đoạn mới của chiến lược bá chiếm Biển Đông, lúc tiến lúc thoái nhưng sẽ kiên định lấn tiếp.

Hiển nhiên, những năm tháng ngày càng hiểm nguy cho đất nước ta đang ở phía trước!

Bài toán 1: Chủ hòa, thôi kiện ra quốc tế, chấp nhận đàm phán song phương cho vấn đề Biển Đông, gác tranh chấp cùng khai thác, có thể tạm thời tránh được chiến tranh, bảo toàn được tài sản riêng và các đặc quyền của quyền lực; làm thế tuy sẽ phải mặt dày mày dạn thêm với dân và bạn bè, nhưng quyền lực có thể sống thêm một thời gian nữa, đất nước sẽ bị cô lập thêm nữa cũng đành, chấp nhận cái thòng lọng ở trên cổ đất nước siết thêm một nấc nữa nhưng quyền lực vẫn còn thở tiếp được… Song bia miệng chắc sẽ đời đời phỉ báng, tâm linh đất nước của quá khứ đằng đẵng đau thương chiến tranh chắc sẽ nguyền rủa trời tru đất diệt chủ hòa theo kiểu đầu hàng như vậy… Thật ra chủ hòa như thế là phương án chấp nhận chết dần từng nấc về thể xác, nhưng chết ngay và chết hẳn về nhân cách một quốc gia, một dân tộc. Cho dù có cái chủ hòa này, nhân dân ta chắc chắn sớm hay muộn sẽ không bao giờ chấp nhận bài toán này. Chấp nhận như thế, đầu tiên sẽ phải tính đến ngay sự phản kháng quyết liệt từ dân. Đàn áp thế nào đi nữa cũng không thể giập tắt được sự phản kháng của nhân dân, của dân tộc. Chấp nhận chủ hòa như thế, dù có dùng đến cả nội chiến để đàn áp nhân dân, trước sau và cuối cùng vẫn sẽ là cái chết nhục nhã của quyền lực.

Bài toán 2: Đấu tranh: Cắt đứt cái thòng lọng đang siết dần - Cùng với cả dân tộc và toàn thế giới tiến bộ bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia và luật pháp quốc tế. Trước hết bằng cách cùng với nhân dân cả nước nhất quyết cắt cái thòng lọng ý thức hệ và sự nô lệ của quyền lực cũng như sự cám dỗ của mọi lợi ích tội lỗi khác, trả lại quyền làm chủ đất nước cho nhân dân để tạo ra cái dĩ bất biến ứng vạn biến. Dân tộc sẽ thắng, đất sẽ nước thắng, các nước trong khu vực cùng thắng – cũng có nghĩa là luật pháp quốc tế sẽ thắng; thậm chí nếu có ý chí quyết liệt thì có thể bằng cái dĩ bất biếnphải có này thắng được bành trướng bá quyền Trung Quốc trong đấu tranh hòa bình, nhờ đó tránh được chiến tranh… Nhưng lựa chọn bài toán 2 chế độ toàn trị cùng với mọi quyền lực và đặc quyền của nó sẽ không còn, ĐCSVN cũng có thể không còn như đảng đang là nữa mà phải trở thành thành một đảng khác, hoặc là không còn nữa.

Bài toán 3: “?” – Sự thật là quyền lực của chế độ toàn trị và lợi ích quốc gia không thể dung hòa được với nhau để cùng tồn tại, nên hình như không có bài toán này.

Để đại hội XII tính toán các bài toán và sự lựa chọn, chỉ xin lưu ý vài điều:

- Trung Quốc siêu cường đang lên mạnh, ác, hiểm độc, nhưng không phải là bất khả kháng như suy nghĩ của bóng vía yếu. Cái yếu nhất của Trung Quốc không phải là sự phi nghĩa, vì bành trướng bá quyền Trung Quốc đâu có quan tâm đến đạo nghĩa, nên hầu như nó không có nỗi sợ nào về đạo lý và lẽ phải. Nhưng như đỉa sợ vôi, Trung Quốc rất sợ dân chủ. Một Việt Nam dân chủ đúng nghĩa, sẽ là gương xấu cho khát vọng cháy bỏng về dân chủ cho các vùng miền khác nhau ở Trung Quốc – đây là cái gót chân Achilles Trung Quốc đang giấu. Đập chết một Việt Nam dân chủ như vậy ngày nay hầu như không thể, vì sức mạnh nội tại của nó sẽ là bất khả kháng đã đành, và vì thế giới ngày nay không còn lạc hậu như cách đây 2 thế kỷ. Song trong trường hợp này cái gót chân Achilles của Trung Quốc sẽ làm cho nó đứng ngồi không yên. Ngoài ra, nhìn toàn diện cả bàn cờ thế giới, bành trướng bá quyền Trung Quốc vẫn đang là kẻ yếu (Nhiều người đã nói đúng: Trung Quốc mạnh chỉ vì ta quỳ xuống!).

- Đi với ai? Liên minh với ai để đối phó với cái người láng giềng khổng lồ không biết điều này?

Xin trả lời:

§ Nước ta như hiện nay chẳng ai muốn liên minh cả, có nài xin cũng không được. Nước ta đã có khá nhiều cam kết của các đối tác chiến lược hay toàn diện rồi mà hiện nay vẫn tay trắng, chính là vì lẽ này. Các đối tác này đang kiên nhẫn chờ đợi.

§ Chẳng lẽ Việt Nam đang là một thứ con bệnh?

§ Nếu dân tộc ta, nước ta còn chưa đủ bản lĩnh sống vì chính ta, thì ai dám liên minh với ta? Xin hãy tự hỏi mình: Bản thân chúng ta có dám kết thân với kẻ ba, bốn mặt, hư, ăn bám và èo uột không?

Một khi ta có bản lĩnh dám sống vì một đất nước của dân tộc và dân chủ, ta sẽ có hậu thuẫn của trào lưu dân tộc và dân chủ trên cả thế giới này, sẽ biết liên minh như thế nào và liên minh với ai, từ đó sẽ tạo ra được liên minh.Trước sau, Việt Nam phải sớm tự thay đổi chế độ chính trị hiện nay của nước mình để có mọi điều kiện xây dựng được cho mình các mối quan hệ liên minh vững chắc dưới các hình thức và trong mọi lĩnh vực (kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hóa…), ở mọi tầng nấc quốc tế và khu vực, để thay đổi triệt để nền kinh tế của nước ta, và để gắn kết được sự phát triển của nước ta với lợi ích phát triển chung của cộng đồng các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam nhất thiết phải làm như thế để tạo ra một liên kết bền vững với cả thế giới mà an ninh và sự nghiệp phát triển của nước ta đòi hỏi. Điều này trước hết có nghĩa Việt Nam phải trở thành một nước có những phẩm chất mới để có thể tạo ra cho mình một liên kết như thế với nhân loại. Dù để chậm mất 40 năm rồi, nhưng bây giờ vẫn là lúc dân tộc Việt Nam ta phải đề ra cho mình lẽ sống này!

Trong bối cảnh cục diện quốc tế đa cực rất phức tạp và giành giật nhau rất quyết liệt hiện nay, cái lối nghĩ “Việt Nam không bao giờ liên minh với ai để chống nước thứ ba” đã trở nên quá sơ lược, lỗi thời và tự trói tay mình. Thực ra lối suy nghĩ này hàm chứa (1)sự mơ hồ chết người về cái thế giới chúng ta đang sống, (2)sự nhu nhược không dám tự thay đổi bản thân mình để thích nghi và sống được trong cái thế giới hiện tại này, và (3)sự van xin trá hình lòng thương từ Trung Quốc.

Ngày nay Trung Quốc trở thành vấn đề riêng rất nghiêm trọng của Việt Nam, đồng thời cũng là vấn đề chung nghiêm trọng của cả thế giới, Việt Nam phải tự thay đổi chính mình để tự giải quyết vấn đề của mình và cùng chung tay giải quyết vấn đề của cả thế giới.

- Có cái dĩ bất biến đất nước đang đòi hỏi, sẽ có thể ứng vạn biến. Nước ta muốn sống có hòa bình, hữu nghị và hợp tác được với Trung Quốc, nhất thiết phải sống như thế. Phải gạt sang một bên mọi di sản tiêu cực của quá khứ và suy nghĩ cảm tính, để có trí tuệ và ý chí cần thiết xây dựng nước ta trở thành một đối tác chiến lược của Trung Quốc với đúng nghĩa Trung Quốc phải nhìn nhận nước ta là đối tác chiến lược, chứ không phải là một chư hầu. Vấn đề đặt ra cho nước ta là: Ngoài “quyền lực mềm” luôn luôn có sẵn trong “thực đơn” Trung Quốc đưa ra, không có sự nhượng bộ hay quà biếu nào trong mối quan hệ này, mà chỉ có sản phẩm của trí tuệ và ý chí độc lập tự do nước ta cần tạo ra để xây dựng những mối quan hệ bình đẳng, cùng có lợi và thuận với lợi ích chung của cộng đồng khu vực và quốc tế. Nước ta rất cần một Trung Quốc của những mối quan hệ như thế. Song cũng có thể nói nước ta có những điều kiện làm cho Trung Quốc cần một Việt Nam không phải là thù địch của Trung Quốc, là cầu nối cho mọi liên hệ, là trung tâm của hòa giải trong khu vực – và một ngày nào đó Việt Nam trở thành một trung tâm phát triển mới trong khu vực cùng có lợi cho mọi bên hữu quan. Chống chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc một cách chủ động là phải dấn thân tự thay đổi chính mình như thế để có trí tuệ, bản lĩnh, nghị lực, thực lực và thế đứng tự mở ra được con đường làm cho mình trở thành một đối tác như thế mà Trung Quốc cũng phải cần đến.

Sự thật một trăm lần rõ phải bắt đầu từ dứt khoát cắt đi cái thòng lọng ý thức hệ đang siết trên cổ đất nước.

Thiết tha mong từng đảng viên suy nghĩ. Hiểm họa đen thực sự đang đến. Phải quyết liệt đối mặt với nó, bằng dấn thân tự thay đổi chính mình trước tiên. Nhìn được ra vấn đề, dựa hẳn vào dân tộc, sẽ định liệu được nhiệm vụ và những bước đi thích hợp.

Để có một điểm tựa nào đó cho so sánh, có thể nói: Một phần tư thế kỷ vừa qua từ Hội nghị Thành Đô mọi sai lầm chết người ở nước ta đều xuất phát từ lỗi của hệ thống; cũng một phần tư thế kỷ vừa qua, mọi thành công ngoạn mục của nước Đức thống nhất đều bắt nguồn từ hệ thống đúng đắn./.

Nguyễn Trung

Hà Nội tháng 7-2014

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Huỳnh Ngọc Chênh : VIỆT NAM XỨ SỞ CỦA NGHỊCH LÝ…VẪN CÒN DÀI DÀI

Nguồn huynhngocchenh

THỨ HAI, NGÀY 21 THÁNG 7 NĂM 2014

Năm 1988 trong bài "Việt Nam xứ sở của nghịch lý" của tôi viết có đoạn "Trong truyền thông có một ngịch lý đáng buồn là muốn biết chuyện xảy ra trong nước phải nghe báo đài nước ngoài, và báo chí ở thành phố HCM thì được tự do bênh vực và ủng hộ nhân dân Nam Phi bị áp bức và công nhân Mỹ bị bóc lột nhưng không được quyền bênh vực cho những người dân bị o ép ở Thuận Hải hay ở các tỉnh khác!"

Tưởng sau hơn 1/4 thế kỷ, không còn nghịch lý ấy nữa, thế nhưng mọi chuyện cũng không thay đổi bao nhiêu. Để biết thiết bị tên lửa từ VN xuất đi bị bắt, hoặc biết công dân VN bị đàn áp bắt bớ như thế nào thì vẫn tiếp tục nghe, đọc báo chí nước ngoài. Thậm chí để biết giàn khoan khốn nạn của bọn Tàu cộng cắm vào đâu trên lãnh hải VN thì cũng chờ thông báo của tàu cộng đăng trên chính báo đài của bọn chúng.
Vì vậy mà "Việt nam xứ sở của nghịch lý" vẫn còn dài dài
2.jpg
VIỆT NAM XỨ SỞ CỦA NGHỊCH LÝ

Ở hội nghị bàn tròn các nhà báo Châu Á Thái Bình Dương, trả lời phóng viên báo Utusan(Malaysia), đồng chí Nguyễn Cơ Thạch nói rằng ở nước chúng tôi có thời kỳ giá một trứng vịt 30 đồng, trong khi đó giá một ký thép 5 đồng. Phải có đến 6 kg thép mới mua được một trứng vịt. Trên thế giới không ai làm như thế cả. Chuyện ấy khó tin, nhưng lại là một sự thật. Và đó chỉ là một trong muôn vàn chuyện nghịch lý đã và đang xảy ra ở đất nước ta.
Một giáo viên sau 13 năm giảng dạy, thấy đời sống quá khó khăn, không còn đủ sức theo ngành giáo nữa bèn xin nghỉ dạy. Nhà nước cấp cho chị 13 tháng lương va 6 tháng gạo, qui ra tiền tổng cộng 300.000 đồng. Mang số tiền ấy gửi tiết kiệm lấy lãi 8% mỗi tháng, như vậy không cần phải đi làm việc, mỗi tháng cô giáo lãnh được 24.000 đồng…hơn xa tiền lương lúc còn đi dạy.
Một em bé bán nước tại chợ Cồn Đà Nẵng, mỗi ngày mùa nắng đổ được 30 ấm, mỗi ấm kiếm được 100 đồng, vị chi mỗi tháng thu vào 90.000 đồng. Lương của một vị giáo sư đại học phải thua xa.
Có một dạo, tỉnh nầy thừa gạo nên đem nuôi heo, trong khi thành phố bên cạnh đang thiếu gạo phải cho dân ăn bobo và sắn lát thay cơm. Và hàng hóa sản xuất ra tại nhà máy ở Thủ Đức mà người tiêu dùng ở Chợ Lớn muốn mua phải ra tận Hà Nội mang về! Cung cách làm ăn của ta dựa trên cơ sở những nghịch lý: Người ta phá máy móc tốt để xuất khẩu sắt vụn thu ngoại tệ, dùng ngoại tệ đó nhập máy móc về để cho… han rỉ. Đất đai được chuyển từ người lao động siêng năng cần cù sang những người lười biếng và không biết trồng trọt. Tương tự như vậy, người biết thức khuya dậy sớm để phục vụ nhân dân từ nắm xôi điểm tâm đến cây kim sợi chỉ thì không được phép buôn bán, còn người không biết và không muốn buôn bán thì được giao cho những quầy hàng đồ sộ lộng lẫy.
Nghịch lý cơ bản và nguy hiểm nhất là quyền lợi giữa cá nhân và quyền lợi đất nước mâu thuẫn nhau. Một người lao động chân chính làm hết sức mình một cách thành thật và có năng suất dĩ nhiên sẽ mang lợi đến cho xí nghiệp, cho đất nước nhưng khốn thay bản thân lại đói khổ vì tiền lương quá thấp. Còn ngược lại, nếu chỉ biết lo cho bản thân mình đầy đủ và sung sướng thì dứt khoát anh ta phải làm hại đất nước: ăn cắp, buôn lậu, móc ngoặc, tham ô, gian dối….Do vậy mà có “định lý đảo”: ở Hà Nội có một công dân phải ở tù vì tội sản xuất ra những cây bút và lốp xe tốt hơn và rẻ hơn của nhà nước.
Trong nghiên cứu khoa học xảy ra những nhịch lý: sắn thì giàu đạm hơn thịt bò và hột mít thì ăn ngon và bổ hơn trưng vịt lộn. Đồng thời một giáo sư triết học trước đây tốt nghiệp tiến sỹ tại đại học Sorbone nhưng khi làm bài thi triết ở Việt Nam chỉ đạt được điểm 4/10.
Trong quản lý (tài chính) cũng lắm điều nghịch lý. Người ta in ra tờ giấy bạc ba chục đồng để nâng cao năng suất lao động của nhân viên ngân hàng..vì họ dành nhiều công sức để đếm, nhân chia….
Lại có chuyện nghịch lý như sau. Hai anh em nhà kia cùng rủ nhau đi vượt biên, một người đi lọt và một người bị bắt. Thế là một kẻ bị kết tội phản quốc phải đi tù, kẻ còn lại sau một thời gian trở về thành người yêu nước, được tiếp đón nồng hậu.
Giai cấp tư sản trong nước bóc lột công nhân quá tệ nên được triệt hạ đi, và sau đó người ta trải thảm đỏ mời tư sản nước ngoài vào.
Rồi đến nghịch lý dân chủ: Quốc hội là cơ quan đại diện và quyền lực cao nhất của người dân nhưng trong thực tế được xem như là nơi để…tán thành một cách có tổ chức và kỷ luật khi thông qua hoặc hợp thức hóa mọi chuyện cần hợp thức hóa.. Còn tại một huyện nọ, HĐND huyện phiên đầu tiên bầu chủ tịch huyện, ứng cử viên chỉ có một người duy nhất và điều lệ bầu: ai cũng phải bỏ phiếu và không được quyền bỏ phiếu trắng. Cách làm như vậy được gọi là “dân chủ”…
Trong truyền thông có một ngịch lý đáng buồn là muốn biết chuyện xảy ra trong nước phải nghe báo đài nước ngoài, và báo chí ở thành phố HCM thì được tự do bênh vực và ủng hộ nhân dân Nam Phi bị áp bức và công nhân Mỹ bị bóc lột nhưng không được quyền bênh vực cho những người dân bị o ép ở Thuận Hải hay ở các tỉnh khác!
Những chuyện nghịch lý như vậy kể ra còn nhiều nhưng tất cả đều không đáng kể so với điều nghịch lý lớn nhất sau đây: Đến nay vẫn còn có nhiều người không cho những chuyện kể trên là điều nghịch lý
HUỲNH NGỌC CHÊNH
( Đà Nẵng )

Posted in báo chí, chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , | Leave a comment

RFI. Phạm Đoan Trang: “Xin đừng quên blogger anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh”

Phạm Đoan Trang: "Xin đừng quên blogger anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh"

Blogger Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm) / www.rsf.org Blogger Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm) / www.rsf.org

Trọng Thành

Đầu tháng 5/2014, blogger Anh Ba Sàm, tức ông Nguyễn Hữu Vinh, bị cơ quan an ninh Việt Nam bắt giữ và bị cáo buộc vi phạm điều 258 Bộ Luật Hình sự. Vụ bắt giữ nhân vật truyền thông nổi tiếng bậc nhất trong giới blogger Việt Nam – rơi đúng vào ít ngày sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan trên khu vực thềm lục địa Việt Nam – dường như có xu hướng chìm vào quên lãng.

Trả lời RFI hôm nay, luật sư Hà Huy Sơn – một trong ba người bào chữa cho ông Nguyễn Hữu Vinh – cho biết tình trạng sức khỏe của thân chủ ông tương đối ổn định, "nhưng không được tốt so với thời gian trước". Hôm thứ Năm 17/07 vừa qua, đã diễn ra phiên hỏi cung lần thứ 6 với sự có mặt của luật sư. Hai luật sư cùng bảo vệ ông Nguyễn Hữu Vinh là luật sư Nguyễn Minh Long (đoàn Luật sư Hà Nội) và luật sư Trịnh Minh Tân (đoàn luật sư Sài Gòn).

Ông Nguyễn Hữu Vinh, 58 tuổi, bị bắt ngày 05/05/2014, cùng với người cộng sự, bà Nguyễn Thị Minh Thúy, 34 tuổi. Luật sư cho biết, theo luật Việt Nam, cơ quan điều tra có quyền tạm giữ người bị bắt để điều tra theo điều 258 trong vòng ba tháng (thời gian bị tạm giữ có thể được triển hạn). Điều 258 Bộ Luật Hình sự Việt Nam quy định về tội "lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước" thường xuyên bị giới bảo vệ nhân quyền trong nước và quốc tế lên án như một công cụ mà chính quyền sử dụng để đàn áp những người có tiếng nói độc lập với chính quyền.

Trong khuôn khổ Cơ chế Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR), ngày 20/06/2014, tại Genève, chính phủ Việt Nam thông báo chấp thuận 182 khuyến nghị về cải thiện nhân quyền của các nước, trong đó có đề nghị 156 (của Úc) và 157 (của Canada) về sửa đổi các điều 79, 88 và 258 Luật Hình sự « để bảo đảm tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam, bao gồm nghĩa vụ theo Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị ».

Để chuyển đến quý thính giả thông tin về vụ án, về những hoạt động chủ yếu của blogger Anh Ba Sàm và những phản ứng của dư luận trong và ngoài nước, RFI đặt câu hỏi với nhà báo Phạm Đoan Trang, một người từng làm việc nhiều năm trong nước, hiện đang vận động cho nhân quyền Việt Nam tại Hoa Kỳ.

RFI : Trước hết, xin nhà báo Phạm Đoan Trang cho biết nhận định chung của chị về vụ blogger Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh bị bắt.

Phạm Đoan Trang : Cũng như các vụ bắt tương tự, vụ bắt nào đối với những người bất đồng chính kiến hay những người có hoạt động ủng hộ dân chủ, các blogger có khuynh hướng hoạt động nhân quyền… luôn luôn gây tranh cãi. Bao giờ cũng có một bộ phận dư luận cho rằng, những người đó là « sai pháp luật », bộ phận khác cho rằng những người đó là « con bài của chính quyền », « con bài trong một cuộc đấu tranh phe phái » nào đấy, « đấu tranh nội bộ nào đấy », đến khi không dùng đến nữa thì họ bị bắt…

Với quan điểm của tôi, bất cứ cuộc bắt người nào mà vi phạm quyền cơ bản của con người, của công dân, đều đáng lên án cả, không cần biết người đó là của phe phái nào, không cần biết là người đó có mục đích gì trong việc thể hiện quyền tự do ngôn luận của họ. Hơn nữa, việc Anh Ba Sàm bị bắt, đối với tôi, còn nghiêm trọng hơn các vụ khác, hơn tất cả các vụ bắt các blogger khác từ trước đến nay, bởi vì, theo quan điểm cá nhân của tôi, Anh Ba Sàm gần như là một biểu tượng của cuộc đấu tranh của các blogger vì quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt. Do đó, việc bắt anh ấy gần như là một đòn đánh trực tiếp thẳng cánh, gọi là không kiêng nể gì cả, của chính quyền vào giới blogger, vào quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận, tự do quan điểm của công dân Việt Nam, của người dân Việt Nam.

RFI : Vì sao chị lại coi Anh Ba Sàm là biểu tượng của cuộc đấu tranh vì tự do ngôn luận ở Việt Nam ?

Phạm Đoan Trang : Khi tôi nói về Anh Ba Sàm, tôi nghĩ rằng ý kiến của tôi không khỏi gây tranh cãi, tuy nhiên tôi cũng sẽ cố gắng khách quan hết sức có thể.

Thứ nhất là, khi mạng xã hội vào Việt Nam năm 2005, đó là lần đầu tiên trong lịch sử xuất bản ở Việt Nam, người dân Việt Nam mới biết đến khái niệm gọi là « mạng xã hội », một diễn đàn tương đối tự do để người ta có thể bày tỏ được quan điểm của mình, mà không sợ bị hậu quả gì sau đó. Trước đó, internet đã vào Việt Nam từ năm 1997, nhưng tôi nghĩ rằng, cái văn hóa Diễn đàn/Forum vẫn không kích thích cái quyền tự do biểu đạt mạnh bằng mạng xã hội. Bởi vì mạng xã hội là nơi chúng ta có thể tự xuất bản, không cần phải chờ người khác xuất bản hộ. Yahoo, blog vào Việt Nam năm 2005 thì được hưởng ứng rất nồng nhiệt, thì đến năm 2007, Anh Ba Sàm đã có blog và đã bắt đầu nổi tiếng rồi. Anh ấy thành lập blog Ba Sàm vào ngày 09/09/2007, tức là trước cả thời điểm Câu lạc bộ Nhà báo tự do của anh Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) được thành lập.

Tôi không muốn so sánh hoạt động của blog Anh Ba Sàm cũng như các trang blog khác, bởi vì, đối với tôi, tất cả đều là « báo chí công dân », đều là góp phần vào thúc đẩy quyền tự do thông tin, thúc đẩy chuyện minh bạch thông tin trong người dân Việt Nam. Nhưng có thể so sánh về mặt văn hóa chẳng hạn, về văn hóa của độc giả, tôi thấy blog của Anh Ba Sàm phù hợp hơn với dân chúng miền Bắc, hay nói đúng hơn những người sống với chế độ cộng sản lâu hơn, (họ) sợ hãi hơn, quy phục hơn. Ở phía Bắc, người ta sợ hơn, và nếu quy phục cũng quy phục hơn, cái thái độ vô cảm, sợ hãi, thái độ thần phục ở phía Bắc cũng nặng hơn, thái độ thân chính quyền cũng nặng hơn. Ngoài Bắc, người ta hay nói « gần lửa rát mặt », gần trung ương thì khiếp sợ hơn là ở xa.

Chính vì thế, blog Anh Ba Sàm ngay từ đầu đã chọn một cách tiếp cận với độc giả một cách bình dân và ở mức họ chấp nhận được, tức là họ không quá sốc trước các thông tin Anh Ba Sàm đưa ra. Anh Ba Sàm ngay từ đầu không chủ trương chửi chính quyền một cách gọi là tát nước vào mặt, không gọi người ta là « cộng sản bán nước », « tay sai Tàu » hay « vẹm nô », « cộng nô»…, tức là ở mức chấp nhận được. Giới chấp nhận được có thể là những người quan tâm đến chính trị, nhưng ban đầu họ còn sợ, hoặc những người chưa có kinh nghiệm gì cả. Tôi thấy độc giả của Anh Ba Sàm có cả sinh viên, có cả thanh niên, có cả cựu chiến binh, tầng lớp cán bộ về hưu, tầng lớp học giả, trí thức, các chuyên gia… Nói chung các tiếp cận của anh ấy nó nhẹ nhàng hơn, thuyết phục hơn, không gây sốc cho họ. Từ đó, anh ấy giúp họ hé màn thông tin, các thông tin mà chính quyền không thích người dân được biết, hoặc biết mà không hiểu gì, không hiểu cần phải nghĩ thế nào…

Tôi rất muốn nhấn mạnh điểm này vì, thực sự mà nói, độc giả Việt Nam nói chung khả năng đọc hiểu, khả năng cảm nhận, hay nói rộng hơn là khả năng tư duy, phản biện bị phá hỏng khá nhiều. Họ thậm chí không biết rằng chính quyền có thể sai, Nhà nước có thể sai. Đến khi thấy có những chính sách quá bất hợp lý. Thí dụ như chuyện năm 2007, 2008, thì có chính sách là người nào vòng ngực dưới 0,72m thì không được cấp bằng lái xe máy. Điều này quá là vô lý, nhưng mà không phải người dân nào cũng hiểu được điều đó, họ ngờ ngợ, không biết nên nghĩ thế nào. Những lúc đó là khi những nhà báo công dân như Anh Ba Sàm lên tiếng. Họ, cụ thể như Anh Ba Sàm bình luận rất dí dỏm, tôi chỉ nhớ là các bình luận rất gần gũi, hài hước và giúp độc giả định hình quan điểm một cách gọi là gần với chân lý nhất, gần với thực tiễn đời sống nhất và nói chung là hợp lý nhất.

Tất nhiên, cũng có những lúc anh ấy định hướng, làm truyền thông sai, không hợp lý, nhưng trường hợp đó ít hơn những trường hợp đúng. Trường hợp khá là rõ ràng là cách đây 2 năm khi phong trào Con đường Việt Nam mới bắt đầu thành lập, Anh Ba Sàm là một trong những người phản ứng dữ dội nhất. Nhưng sau đó hai năm, phong trào Con đường Việt Nam đã thể hiện họ không phải là « chim mồi », không phải là một phong trào do chính quyền lập ra để bẫy dân. Về điểm đó, Anh Ba Sàm đã định hướng sai.

RFI : Giai đoạn Anh Ba Sàm vừa làm trang điểm tin, bình luận… bắt đầu từ năm 2007 kéo dài cho đến thời gian gần đây. Trước khi bị bắt, dường như Anh Ba Sàm có mở thêm một hai trang nữa, đặc biệt là trang Chép Sử Việt. Xin chị cho biết một đôi nét.

Phạm Đoan Trang : Trước khi có trang Chép Sử Việt, Anh Ba Sàm có trang Việt sử ký, sau đó trang này bị hacker đánh sập mất, theo tôi hiểu, anh ấy chuyển sang Chép Sử Việt.

Tôi thấy rằng trang Chép Sử Việt đã chạm vào một điểm mà chính quyền ghét nhất. Đó là «chuyện bí mật cung đình ». Đó là một điểm nữa tạo nên sự khác biệt. với nhiều blogger khác. Anh Ba Sàm là thành phần chúng ta hay gọi là thành phần « con ông cháu cha », hay « thái tử đảng ». Cha của anh ấy nguyên là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô. Đối với người cộng sản, « bí mật» là sức mạnh của họ, cho nên họ đặc biệt là kỵ và ghét những người nào lộ bí mật của họ ra ngoài. Ngay từ thế hệ cộng sản tiền bối, như ông Phạm Văn Đồng hay ông Võ Nguyên Giáp…, cho dù cuộc đời họ có sóng gió thế nào, họ có trải qua kỷ niệm cay đắng với đồng đội, họ luôn luôn im lặng. Chúng ta không biết thực chất ông Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Võ Nguyên nghĩ gì, phản ứng như thế nào khi bị điều đi làm Trưởng ban Sinh đẻ có kế hoạch. Cụ luôn giữ bí mật.

RFI : Nếu đọc lại một số bài viết được cho là của Anh Ba Sàm ngay trước khi bị bắt, đơn cử như « Có thể Bác Hồ và Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam sẽ bị Trung Quốc kiện vì ”chôm” bài hát Kết đoàn » (loạt bài 3 kỳ từ ngày 02 đến 05/05) hay bài « Đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri » hay « Giáo hoàng ban phước cho con chiên » ? (bài ngày 04/04) chẳng hạn. Điều mà gọi là « bí mật » trên thực tế phải chăng là nhìn ra những gì mà người quan sát bình thường không thấy được, và nói với một giọng điệu ít người có, giọng điệu mang tính giễu cợt hay là châm chọc, châm biếm thẳng các lãnh đạo cao cấp nhất… như chị vừa cho biết ?

Phạm Đoan Trang : Tôi cũng nghĩ như vậy : đã tiết lộ « bí mật », mà lại còn thêm tính hài hước vào đây, thì đảng Cộng sản không thể chịu nổi. Nhìn chung, họ ghét những người moi « bí mật » của họ ra và chưa kể còn biết cách truyền tải những bí mật đến với công chúng nữa.

RFI : Ở Việt Nam, những gì được gọi là các thông tin mật và những gì được coi là « mật » được đăng tải trên do trang blog Anh Ba Sàm ?

Phạm Đoan Trang : Đó là tất cả những thông tin nào mà không có trên mặt báo (chính thức). Ví dụ như chuyện Ban Tuyên giáo chỉ đạo, sau vụ chìm tàu ở Hạ Long, tháng 2/2010 hay 2011. Sau vụ này, Ban Tuyên giáo chỉ đạo không đưa đậm, không đưa về vụ đó nữa, sợ ảnh hưởng đến Vịnh Hạ Long. Bản thân « tin » đó chẳng báo nào đưa cả. Không báo nào dám đưa, ví dụ « hôm nay Ban Tuyên giáo chỉ đạo chúng tôi » như vậy. Không báo nào đưa, nhưng Anh Ba Sàm đưa như thế. Đó là chuyện hậu trường của báo chí. Rồi quá trình hợp tác ra quyết định, chính sách của các quan, rồi quá trình các cuộc họp…, có phần thông tin công khai, có phần không, thì anh ấy thường (mang đến cho công luận) các phần "không công khai", không đưa lên mặt báo (chính thức) được.

Ngoài ra « bí mật » còn là thái độ, hành xử của quan chức nào đấy. Những bài đó, chẳng báo nào đưa. Chúng ta thấy, kể cả chuyện ông quan chức này chỉ đạo cái này, ông kia cái kia…, được tin ông ấy nhảy dựng lên, la lối chẳng hạn… Không bao giờ chúng ta biết được đời thường hay đầu óc các quan chức ở ngoài (thực chất – ndr) như thế nào. Anh Ba Sàm cũng công khai hết những cái đó.

Thực ra những điều đó chẳng có gì bí mật đối với một nước có nền báo chí bình thường, còn ở ta nó khác. Phải có một lớp hào quang bao xung quanh, quá trình hoạch định chính sách phải bí mật, nhất là phải tạo cảm giác khó lắm, phức tạp lắm, đòi hỏi những bộ óc ghê gớm lắm…

Nhìn chung họ ghét những người moi « bí mật » của họ ra, rồi lại biết cách truyền tải « bí mật » ấy đến công chúng nữa. Nếu như không phải là Anh Ba Sàm, mà là một người khác may mắn lấy được những thông tin gọi là « bí mật cung đình » như vậy, chưa chắc họ đã biết cách truyền đạt đến công chúng, chưa chắc họ đã biết cách gọi là diễn giải nó, bình luận nó, đưa đến công chúng để người dân hiểu được, để định hình được quan điểm… Anh Ba Sàm rất thông minh, rất nhiều ý tưởng, đấy chính là điều khiến blogger này trở thành rất nguy hiểm đối với chính quyền. Tôi nói thế này, có thể là so sánh làm không vừa lòng nhiều người, nhưng tôi nghĩ rằng chính quyền sẽ không sợ một blogger « chửi đổng », cứ lên mạng « chửi Đảng, chửi Nhà nước»…, họ không sợ bằng một blogger thông minh, hài hước, biết cách kể chuyện, biết cách truyền tải thông tin đến độc giả, và từ việc đó, lại biết cách kết nối với độc giả nữa, có khả năng kết nối trước cả khi có facebook. Với tất cả những cái đó, Anh Ba Sàm trở nên « nguy hiểm » hơn so với các blogger khác trong mắt chính quyền.

Họ ý thức được điều « bí mật » là đoàn kết và sức mạnh của Đảng. Anh Ba Sàm, con của một công thần, lại tiết lộ những chuyện đó. Tiết lộ những chuyện đó là chạm vào « tử huyệt », chạm vào điểm mà đảng Cộng sản ghét nhất, nên họ phải bắt sớm. Chúng ta có thể tự hỏi, tại sao bao nhiêu năm nay anh ấy làm việc bình luận, điểm tin, các bình luận ngày càng sắc hơn, mà không sao cả, tôi nghĩ rằng chính bởi vì anh ấy chưa đụng đến các « tử huyệt » kia.

Ngoài ra tôi có một ý, mà nhiều người nói, nhưng chưa kiểm chứng được : Anh Ba Sàm bị bắt chỉ ba ngày sau khi Trung Quốc kéo giàn khoan 981 (ngày 02/05/2014) và vài ngày trước cuộc biểu tình lớn (11/05/2014). Có người cho rằng việc bắt Anh Ba Sàm là để ngăn chặn trước phe chống Trung Quốc trong chính quyền và tâm lý chống Trung Quốc trong người dân, bởi vì, theo tôi biết, Anh Ba Sàm là người có tinh thần dân tộc chủ nghĩa rất mạnh, một người chủ trương dùng lòng yêu nước chống Trung Cộng. Suy đoán như vậy tôi nghĩ cũng có thể có lý.

RFI : Blogger Anh Ba Sàm dù được coi là « lề trái », tức truyền thông nằm ngoài Nhà nước, nhưng dường như quan hệ của blogger này với giới báo chí của truyền thông Nhà nước không gặp trở ngại ?

Phạm Đoan Trang : Đó cũng là một đặc điểm thú vị của Anh Ba Sàm, đó là anh ấy không chủ trương chống lại « lề phải ». Tôi cũng muốn nhấn mạnh điều này. Bởi vì các vị biết, người cộng sản ý thức rất rõ sức mạnh của thông tin và sức mạnh của sự bí mật. Nói cách khác, bí mật tạo nên quyền lực của họ. Vì vậy cho nên họ quản lý rất chặt. Họ quản lý thông tin theo cách là chỉ có những đối tượng nhất định mới có được một số thông tin nào đó, chỉ có tầng lớp cao nhất mới nắm được thông tin đầy đủ nhất. Thông tin sẽ được rót xuống dưới theo hướng ít dần đi. Trong xã hội có một lực lượng có được tương đối thông tin so với các thành phần khác, đó là nhà báo. Ngay trong giới báo chí cũng vậy, họ cũng quản lý theo lối là nhà báo nào càng thân chính quyền, và có khả năng làm công cụ tốt cho họ thì có được đặc quyền đặc lợi, và có thông tin. Còn những thành phần đã mang tính « chống đối », mang tính « lề trái », như kiểu tôi chẳng hạn, thì rất khó có thông tin. Luôn luôn ở cấp dưới, không bao giờ được dự những hội nghị quan trọng, được tiếp cận với những cuộc gặp quan trọng, để có được những thông tin « mật ».

Anh Ba Sàm chắc cũng nhìn được điểm đó và thấy rằng, nền báo chí công dân của chúng ta, của các blogger không thể nào chuyên nghiệp được, hấp dẫn được, hay được, nếu không dựa trên nền tảng sự thật và thông tin. Nghĩa là nếu không có thông tin từ chính quyền, chính thống, thì nó sẽ mãi mãi là một thứ báo chí chỉ có « chửi đổng » và gọi là « tự sướng » với nhau, chứ không tiếp cận được người dân nhiều bằng báo chí chính thống. Hiểu được điều đó cho nên anh ấy rất chú trọng quan hệ với giới báo chí chính thống, báo chí « lề phải ». Anh ấy không chống lại họ ngay từ đầu. Ví dụ, mọi người có thể để ý là anh ấy không bao giờ chửi « lề phải » là lũ « lưỡi gỗ », gộp hết vào một bọn, « lũ vẹt », hay « báo lá cải », những từ xúc phạm họ. Mà anh luôn lọc tìm trong nền báo chí « lề phải » ấy, có những gương mặt nào, cá nhân nào, hoặc tờ báo nào có xu hướng tiến bộ, ủng hộ dân chủ, thì anh ấy tìm cách quan hệ tốt với họ để có thông tin.

Tôi phải nói thành thật là, giới báo chí lề phải của chúng tôi rất nhiều người quý Anh Ba Sàm. Và trong chúng tôi, có những người bí mật hợp tác với anh ấy, và một điều hay nữa là anh ấy bảo mật điều đó, bảo mật thông tin cho chúng tôi, đúng theo nguyên tắc bảo vệ nguồn tin. Nên Anh Ba Sàm được nhiều nhà báo rất tin cậy.

Tôi nghĩ rằng bây giờ, khi Anh Ba Sàm bị bắt rồi, thì chúng ta không còn một blog nào ở cái mức độ như vậy được nữa, ở mức độ có thể làm cầu nối được nữa. Mà cũng không còn blogger nào có nhiều thông tin « cơ mật » như Anh Ba Sàm được nữa. Có thể họ có, nhưng họ không biết cách làm truyền thông, không lan truyền được các thông tin đó đến cộng đồng như Anh Ba Sàm nữa. Anh Ba Sàm bị bắt là một tổn thất, một mất mát lớn cho cộng đồng blog Việt Nam, nền dân báo của Việt Nam.

RFI : Xin chị cho biết mọi người, những blogger, những người quan tâm đến truyền thông, cụ thể ở hải ngoại, phản ứng như thế nào về vụ Anh Ba Sàm bị bắt.

Phạm Đoan Trang : Đây cũng là một điểm mà tôi thấy có sự khác biệt lớn giữa người trong nước và người Việt hải ngoại. Ở ngoài này, người ta không biết Anh Ba Sàm nhiều. Có thể vì cách tiếp cận của Anh Ba Sàm là bình dân, nhẹ nhàng và không quá gay gắt, được người trong nước hưởng ứng, đặc biệt là phía Bắc, thì phía Nam và phía hải ngoại không chấp nhận được kiểu đó chăng ? Họ cho rằng đó là kiểu "hai mang", "mập mờ", "không quyết liệt", "không dứt khoát", "không thẳng thắn". Có thể vậy ?!

Ngoài này, tôi thấy người ta không biết anh ấy nhiều, không ủng hộ nhiều, đặc biệt là quan điểm (nghi ngờ) chắc lại là thành phần « thái tử », con ông cháu cha ! Quan điểm này rất nặng. Người ta không tin rằng những thành phần như vậy có thể tốt được, có thể tiến bộ được.

Tôi nói như vậy không phải là về tất cả cộng đồng người Việt hải ngoại, nhưng một số gặp gỡ tạo cho tôi một ấn tượng chung như vậy.

Và tôi cũng chưa biết làm thế nào để (anh ấy) không bị rơi vào quên lãng. Nếu tất cả mọi người không làm gì cả, để nó rơi vào quên lãng, thì tôi nghĩ rằng bản án sẽ là khá nặng với Anh Ba Sàm.

Với Anh Ba Sàm, nếu chuyện đó xảy ra, thì tôi nghĩ khá là bất công cho anh ấy, tội nghiệp cho Anh Ba Sàm, vì đó là một người đóng góp quá nhiều cho việc công khai hóa, tự do hóa thông tin ở Việt Nam, nâng cao dân trí. Như anh ấy nói « khai dân trí, phá vòng nô lệ ». Anh ấy đóng góp rất nhiều cho quá trình đó, mà nếu mà lúc anh ấy lâm nạn mà không được cứu giúp, thì tôi nghĩ là một điều bất công và có phần bất nhẫn với anh ấy.

Nếu được, mong quý vị thính giả, cũng như Đài, nỗ lực giúp đỡ trong trường hợp Anh Ba Sàm. Xin hãy làm những việc mà trong nước không thể làm được.

Rất là mong muốn quý vị hãy tìm hiểu nhiều hơn về trường hợp blogger Anh Ba Sàm, hãy cố gắng nỗ lực, giúp đỡ, gây tiếng nói để Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh sớm được trả tự do.

RFI : Xin chân thành cảm ơn nhà báo Phạm Đoan Trang.

Nhà báo Phạm Đoan Trang

20/07/2014

Nghe (15:50)
More

Posted in chính trị, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Người Buôn Gió : Những người phụ nữ khốn khổ.

Nguồn nguoibuongio

Chủ Nhật, ngày 20 tháng 7 năm 2014

Nếu như Vich To Huy Go ở Việt Nam, có lẽ ông không còn đủ sức để viết tác phẩm Những Người Khốn Khổ. Có thể ý kiến này là hơi ngang ngược. Nhưng những ai cầm bút có thể hiểu chút ít, khi mà nhân vật nhiều đến mức khủng khiếp, tràn ngập, khiến người viết khó mà tập trung để khắc hoạ nhân vật chủ đạo.

Không chỉ Vich To Huy Go, kể cả Đốt lẫy lừng về thân phận tối tăm con người cũng khó mà diễn giải hết những số phận bi thảm ở Việt Nam bây giờ. Cả một nước Nga Sa Hoàng thời đen tối vậy, nhưng những nhân vật tưởng rằng bi đát của Đốt trong Những Kẻ Tủi Nhục, Lũ Người Quỷ Ám so với Việt Nam thời nay cũng chẳng thấm tháp gì. Bạn cứ đọc cuộc đời của nhân vật mà Đốt kể, đối chứng với những gì bạn chứng kiến xung quanh bạn, bằng cái nhìn của Đốt chứ không phải cái nhìn của định hướng CNXH, bạn sẽ thấy cảm giác thế nào.

Hoạ chăng chỉ có nhà văn Rumani RGHEORGHIU với cái nhìn của một tu sĩ mới khắc hoạ được trong cuốn tiểu thuyết Lối Thoát Cuối Cùng những nhân vật có dáng dấp bi kịch như thân phận người Việt Nam. Lý do bởi những nhân vật của ông cũng sống dưới thời cộng sản. Nếu bạn có đọc tiểu thuyết này đến đoạn một gia đình bị theo dõi ngặt nghèo, khủng bố tinh thần liên miên. Họ sống trong sư tăm tối vì truy bức, đói rét và tuyệt vọng. Một ngày lễ, người vợ dành tiền mua được một con ngỗng, chị chọn một chiéc váy trắng mà lâu lắm chị không mặc. Chiếc váy dành cho ngày lễ trọng đại. Vì sự đói khát lâu ngày, nên con ngỗng quay là lý do của một ngày lễ trọng đại.

Khi con ngỗng đặt lên bàn, người phụ nữ trong chiếc váy trắng thấy tiếng gõ cửa. Tiếng gõ cửa không báo điềm lành, cánh cửa mở ra, người công an hộ khẩu xuất hiện. Người phụ nữ không còn tiếc nuối gì cuộc đời nữa, chị lao mình qua cửa sổ tự vẫn.

Không phải chị tự vẫn vì sợ tội, chị không có tội gì, chỉ vì người ta nghĩ gia đình chị có tư tưởng không vững. Hàng ngày, hàng giờ họ cần kiểm soát, uốn nắn để thấm nhuần tư tưởng chính trị của chế độ. Chỉ có vậy thôi.

Chị tự vẫn vì chị không thấy tự do, không thấy ánh sáng hạnh phúc ở cuộc đời này, bởi thế tên cuốn sách là Lối Thoát Cuối Cùng.

Tôi đã thấy những người phụ nữ Việt Nam tự vẫn, họ tự thiêu mình ở cổng uỷ ban. Có những người phụ nữ khác đội đơn, đội khăn tang trắng trên đầu cũng đang đòi tự vẫn trước cổng công quyền. Họ già có, trẻ có, nuôi con nhỏ có, mang bầu cũng có, thậm chí là tàn tật cũng có, neo đơn cũng có và đôi khi là cả bà mẹ liệt sĩ, bà mẹ VN anh hùng nữa.

Chưa nhà văn nào khai thác nguyên mẫu từ họ để viết thành tiểu thuyết cho đời. Một thời Pháp cai trị vẫn còn có những Vũ Trọng Phung, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Ngô Tất Tố…viết về những phụ nữ bất hạnh. Nhưng ngày nay thì hiếm có nhà văn nào viết về họ.

Văn đàn Việt Nam ngày nay có một điều gì đó xa rời với thực tế cuộc sống, nói cách khác là xa rời những hình ảnh đau khổ, bất công, số phận bị chà đạp của người phụ nữ. Chỉ một mình Nguyễn Ngọc Tư là phảng phất đôi chút. Còn lại là Bóng Đè, Phải Lấy Người Như Anh, rồi cả Xách Ba Lô Lên Đi cũng được giới thiệu là tác phẩm văn học. Thậm chí một cuộc tình già nhân ngãi, non vợ chồng, thiếu trách nhiệm với cuộc đời cũng thành hiện tượng văn học như Ngủ Đi Anh Em Phải Dậy Lấy Chồng cũng được tung hô. Sở dĩ tung hô, vì nó phản án được một hiện thực xã hội ham ăn chơi, ham làm tình, ham hưởng thụ cho bản thân.

Thân phận phụ nữ Việt Nam ngày nay là vậy ư, là lên giường làm tình, đi du hí, cặp bồ ăn chơi…và rồi thành ngôi sao hay thành bế tắc cảnh tương lai ế ẩm phải tính trước kẻo hố lỡ mất thì.

Nó đúng là như vậy, văn học Việt Nam sát thực là như vậy. Nhưng còn hàng trăm hàng hàng người phụ nữ đi khiếu kiện, bị hắt a xít, đánh gãy chân, gãy răng, bị bỏ tù , cướp tài sản….họ ở đâu trong văn học Việt Nam.?

Có ba người phụ nữ ở ba miền mà tôi biết. Chị Trần Thuý Nga ở miền Bắc, một nách hai con nhỏ, chị bị một đám côn đồ theo dõi, đe doạ không được đấu tranh cho quyền con người. Vì không nghe lời chúng, chị bị chúng đánh gẫy chân bỏ măc trên đường, đứa con nhỏ ngồi giữa lòng đường, bên cạnh người mẹ đang nằm đau đớn quẳn quại vì ống sắt của bọn côn đồ vụt gẫy chân.

Chị Lê Thị Phương Anh ở miền Trung, có ba đứa con nhỏ, chị bị bắt một cách mơ hồ. Tội danh đến nay chưa xác định. Ba đứa con thơ lít nhít của chị ngày đêm mong chờ mẹ về. Cuộc sống của chị trước đó là những hăm doạ, cướp, đánh, bắt cóc không khác gì người phụ nữ trong tác phẩm Lối Thoát Cuối Cùng, thậm chí còn khốc liệt và trắng trợn hơn nhiều.

Người thứ ba là chị Bùi Thị Minh Hằng, người Bắc nhưng ở trong Nam. Chị bi bắt trên đường đi , chính quyền cáo buộc chị gây rối trật tự công cộng. Nhưng tội gây rối nào mà đến 6 tháng không kết luận được phải đi nhờ nhân chứng. Đã gọi là gây rối công cộng thì hành vì phải diễn ra rõ ràng, ở nơi nhiều người nhìn thấy mới gọi là công cộng. Tội rõ ràng như thế mà giam cầm đến tháng thứ 6 mới tìm nhân chứng để đối chất. Người phụ nữ này từng bị giam cầm không qua xét xử 5 tháng đến mức thân hình tàn tạ, bệnh tật, khuynh gia bại sản và bây giờ là lại tiếp tục tù.

Cả ba người phụ nữ đều liên quan đến chuyện đòi quyền sống mà con người sinh ra phải được hưởng.

Còn vô số những phụ nữ ở trong tù lâm trọng bệnh như Mai Thi Dung, Tạ Phong Tần…và vô số phụ nữ lay lắt đợi chồng con , cha anh ở trong tù trên mọi miền đất nước. Cũng như hàng trăm, ngàn phụ nữ vạ vật dưới mái hiên, vườn hoa để đợi chờ công lý cho mình. Có người đã chết gục ở vườn hoa vì kiệt sức trong bao năm theo đuổi công lý.

Tôi không có ý nói những nhà văn VN là hèn, chưa có câu nào tôi nói vậy trong bài viết này. Ngay từ đầu tôi đã mạo phạm ví dụ là ngay kể cả các đại văn hào thế giới lẫy lừng cũng khó mà viết cho nổi về thân phận bi thương của người phụ nữ Việt Nam. Đó là một cách tôi giải thích cho nền văn học Việt Nam vì sao chưa có những tác phẩm như thế. Bởi vì nếu vượt qua được sự sợ hãi, thì các số phận bi thương quá nhiều đến mức làm người viết bị tràn ngập bởi mọi hình ảnh, mọi nhân vật ở khắp nơi, khắp chỗ. Như một người thợ xây dựng mà chất liệu phong phú, ngồn ngộn hàng đống khiến họ không biết xây nhà bằng chất liệu gì.

Hay chăng nỗi đau thương lớn nhất là nỗi đau thương không thể tả nổi. Đó là nỗi đau thương của những người phụ nữ Việt Nam khốn khố ngày nay, ở trên đất nước mình trong khu công nghiệp, ngoài bến tàu xe, trước cửa uỷ ban, toà án, trong nhà tù hay ở các nhà máy Mã Lai, Đài Loan, Trung Quốc.

Nếu vậy người phụ nữ Việt Nam còn sở hữu những khổ đau về tinh thần , thể xác, còn mong mỏi trong tâm trí của mình về lẽ công bằng của pháp luật, sự minh bạch của chế độ , khao khát quyền con người. Chứ không phải là trong đầu họ chỉ có suy nghĩ hám ăn chơi, du hí, bồ bịch, làm tình, ế ẩm, thất tình, thất nghiệp như nhưng gì chúng ta thấy trong văn đàn Việt Nam ngày nay.

Những người phụ nữ khốn khổ. Họ rất nhiều và rất nhiều quanh chúng ta.

Posted in chính trị, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Nguyễn Ngọc Lụa : Đi thăm cha và chuyện kể trong tù

Nguồn danlambao

nvl.jpgTù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lía

Nguyễn Ngọc Lụa – Buổi sáng hôm 18/7, gia đình chúng tôi, là thân nhân của tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lía, có chuyến đi xuống trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai cùng với gia đình tù nhân lương tâm Bùi Văn Trung, cha tôi bị bắt tù 2 lần, lần đầu vào năm 2003 với mức án là 3 năm chỉ vì cha tôi là một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo và hoạt động để phát triển tôn giáo, lần thứ 2 ông bị bắt tiếp vào năm 2011 với án 4 năm 6 tháng theo điều 258.

Đợi đến 9h sáng, viên công an mới vào kiểm tra giấy chứng minh nhân dân, rồi sau đó lại chờ họ đưa tất cả chúng tôi vào xe đi về hướng trại giam. Đến nơi thì vừa lúc cơn mưa lớn trút xuống đột ngột.

Vừa thấy cha, cả gia đình mừng vui, mẹ tôi thì đã không kiềm được và đã bật khóc khi cha hỏi thăm về bà nội ngay khi gặp. Cha nói chuyện phải dùng máy trợ thính nên nghe câu được câu mất.

Cha tôi hỏi viên công an đứng kế bên về tờ giấy mà viên giám thị trại giam mới vừa lấy của cha, tờ giấy mà ông ghi những ý chính để nói với gia đình chúng tôi, vì giờ trí nhớ không được tốt nên ông phải ghi ra để nói hết tất cả những điều muốn nói trong thời gian ít ỏi quý báu này. Khi lấy tờ giấy của ông, giám thị trại giam bảo để họ xem xét các ý trong đó và sẽ đưa lại ngay, nhưng trong suốt giờ thăm gặp ngắn ngủi, cha đã nhiều lần nhắc nhở và lên tiếng bảo họ trả lại. Nhưng họ chỉ bảo rằng họ đang xem, và cứ thế cho đến hết giờ thăm gặp, họ vẫn chưa xem xong tờ giấy.

nvl1.jpg

Cha tôi dặn dò từng người anh em tôi kỹ lưỡng, rằng không được tin những gì Cộng sản hứa hay nói gì, vì từ trước đến nay họ đã hứa rất nhiều nhưng toàn dối trá nói một đằng làm một nẻo, Cộng sản là loại ăn cháo đá bát bất nhân bất nghĩa.

Từ lần thăm nuôi trước đến nay, cha tôi có viết gửi về nhà 3 lá thư nhưng khi ông hỏi lại, thì ở nhà chỉ nhận được 1 lá. Và ở gia đình có viết cho cha 1 lá nhưng cha cũng không được nhận. Và một điều bất công nữa là các phạm nhân ở đây thì có thể điện về nhà nhưng riêng ông thì không được. Cha bảo chúng tôi rằng chỉ có ở Việt Nam mới có tình trạng giấu nhẹm thư tù nhân tôn giáo như thế này, cũng như gây khó khăn trong việc giao tiếp, thăm nuôi từ bên ngoài hòng làm sụt giảm ý chí họ cũng như cô lập họ trong 4 bức tường giam

Cha kể cho chúng tôi biết người tù giam phòng kề bên vừa mới ra đi vì căn bệnh AIDS, ông bảo thêm rằng riêng tháng vừa rồi có đến 3 người chết vì căn bệnh này trong cùng một trại giam. Làm tôi nhớ đến lời anh Huỳnh Minh Trí, người cũng đã vừa mới chết vì căn bệnh AIDS, theo anh Trí là chứng nhân, anh nói có cả thấy 14 người đã chết vì AIDS mà anh biết cho đến khi ra rù. Tôi không khỏi lo lắng cho cha mình có tránh được căn bệnh mà chính quyền đã chủ tâm luôn muốn hại những tù nhân lương tâm như thế này không?

Cha bảo họ đối xử với những phạm nhân đã nổi loạn tại trại giam K1, Xuân Lộc, Đồng Nai lần trước rất dã man, họ đánh đập tàn nhẫn những người đó, thậm trí họ quỳ lạy van xin nhưng những đòn trừng phạt vẫn lạnh lùng nện xuống. Sau đó là biệt giam họ, đồng thời tăng án lên gấp đôi bản án họ đã lãnh nhận trước đó

Vậy đó, khi họ ngược đãi tù nhân, những người tù đã vùng lên khỏi song sắt để phản đối lại, hầu mong tình trạng nhà tù được tốt hơn, thì sau đó số phận những tù nhân không được cải thiện hơn mà lại bì trù dập thê thảm như vậy.

nvl2.jpg

Mỗi sáng và tối cha tôi đọc Sấm Giảng Thi Văn của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ cho nhiều người nghe và kể những lời vàng ngọc của Đức Thầy răn dạy người đời làm lành lánh dữ, ông khuyến khích những người phạm nhân ăn chay và Niệm Phật để nhận được sự giải thoát khỏi những gian khổ và thoát khỏi mọi tội lỗi vì do mình gây ra . Chúng bảo ông làm những việc bao đồng đó nữa thì ông sẽ bị biệt giam, cha vẫn kiên quyết giảng về Phật Giáo Hòa Hảo vì cha biết được rằng họ rất có nhu cầu và khao khát vấn đề tâm linh nơi ngục tù này.

Một lần ông bị chúng bắt biệt giam vì giúp đỡ một người bệnh nặng chung phòng, chú ấy ngoài 60 tuổi án chung thân, có thức ăn gì cha tôi điều chia phần chú vì hơn 7 năm gia đình không lại thăm nuôi, trong người mang nhiều chứng bệnh nặng lại bị mất 1 chân, nên đi lại rất khó khăn vì thế việc vệ sinh cá nhân diễn ra trong một túi nylon, nên cha tôi vì lòng thương người cùng chung cảnh tù thường giúp chú đi bỏ túi nylon, nhưng không ngờ cán bộ trại giam lại phản đối cha về hành động giúp đỡ này, nhưng cha vẫn tiếp tục làm điều đúng lương tâm khi họ bỏ mặc chú ấy, vậy là họ biệt giam cha tôi, nhưng ông đấu tranh và cầm trong tay cục đá tuyên bố sẽ đập đầu chết nếu họ không thôi biệt giam, vì lo sợ cha tôi chết nên họ đành phải nhượng bộ.

Đây đúng là những sự vi phạm nhân quyền rất trắng trợn của chính sách đối đãi tù nhân của chính quyền. mà chính họ đã ký kết với quốc tế về các công ước về đối xử với tù nhân

Tôi bỗng thấy cha trầm tư và u buồn vì ông biết nhà tù là nơi để răn dạy con người để họ có cơ hội trở lại thành người tốt, và dù họ là phạm nhân nhưng họ vẫn rất cần tình yêu thương để giúp họ dần tái nhập lại cuộc sống sau sai phạm nhưng thật tiếc, tù ở Việt Nam chỉ trù dập những tù nhân và nhất là loại trừ những tù nhân lương tâm và tôn giáo như ông bằng cách gián tiếp đẩy người tù vào những căn bệnh như AIDS, lao và nhiễm độc thực phẩm dẫn đến ung thư

Tôi để ý thấy 2 viên công an ngồi ghi chép cách rất tỉ mỉ và liếng thoáng lại lời của những người chúng tôi và cha tôi, cứ như thể ghi lại những lời nói hớ hên quá sự cho phép của họ để làm bằng chứng tội phạm vậy.

Nhưng ông vẫn nói bằng một tinh thần kiên quyết và thoải mái về những sai trái của trại giam, của những cai ngục, ông cho gia đình biết về tình trạng sức khỏe cũng như cách đối xử của cán bộ trại giam : ông đang bị giam chung phòng với những người bị lao phổi rất nặng và những người bị HIV, nguy cơ bị lây nhiễm của cha là rất cao. Cha tôi có bệnh Tim và Cao huyết áp nhiều năm nay và những thương tật như Điếc một tai , gãy xươn Vai cùng xươn Sườn do bàn tay ác độc của cộng sản gây ra khi còn ở ngoài. Lúc trái gió trở trời vết thương đó hoành hành đau nhức dữ dội, ông yêu cầu được khám chúng điều ngó lơ,ông luôn phản đối bằng cách kêu la đập cửa phòng giam, chúng nhượng bộ. Gia đình có gởi thuốc vào mỗi khi bệnh cha biến chứng, qua sự kiểm soát của trại giam, chúng đã không đưa đến tay cha tôi mặc cho cha nằm chờ căn bệnh dày vò nhưng họ bảo” chưa chết lo gì”.

Ước mong giới tranh đấu trong cũng như hải ngoại sẽ lưu tâm, vận động mạnh mẽ hơn cho tình trạng nhà tù tại Việt Nam, và hy vọng sẽ nhớ đến cha tôi trong những lần vận động cho nhân quyền và tự do tôn giáo để cha sẽ sớm trở về chữa bệnh và đoàn tụ cùng cùng gia đình.

Cuộc thăm nuôi ít ỏi của gia đình nhanh chóng qua đi, cán bộ trại giam nhanh chân đưa cha tôi vào, gia đình đành chia tay ông, anh em chúng tôi đã dặn cha cứ hãy viết thư về cho gia đình, họ có không gửi cũng chẳng sao, chỉ thể hiện sự bất lương của họ cho mọi người biết chế độ độc tài thối nát của Cộng sản. Chúng tôi từ biệt cha lần cuối vừa lúc cơn mưa vừa tạnh hạt.

Nguyễn Ngọc Lụa

10341951_338141069673819_8130101444097449608_n.jpg

Posted in chính trị, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

LÁ THƯ NGÀY 20.6 CỦA TRẦN HUỲNH DUY THỨC

Nguồn huynhngocchenh

Xuyên mộc, 20/06/2014
Thưa ba thương kính,
Mấy hôm rồi con không mơ thấy má nhưng kỳ lạ là con liên tục gặp những người bạn Mỹ, Nhật trong 3 đêm qua, mà toàn nói chuyện về Biển Đông, Hoa Đông. Đây là lần đầu tiên con mơ thấy họ. Giấc mơ vẫn là bí ẩn với khoa học. Nhưng những người bạn này lại nói những chuyện rất thực tế. Nhiều giấc mơ khi thức dậy thì con không còn nhớ gì nhưng 3 đêm qua thì con lại nhớ rất rõ như là một cuộc gặp mặt ngoài đời vậy.
Về Biển Đông họ có một vài nhận định khác nhau nhưng tất cả đều có cùng dự đoán là sẽ phải trải qua một giai đoạn đen tối nhưng không kéo dài. Giai đoạn này, TQ sẽ thực hiện một chiến lược khống chế VN một cách tinh vi bằng những thủ đoạn ghê gớm, ở bề nổi lẫn phần chìm, ở tất cả các phuơng diện kinh tế; chính trị; ngoại giao; quốc phòng, đe dọa vũ lực và thậm chí là sẵn sàng sử dụng vũ lực khi tìm được một cái cớ. Bằng mọi giá TQ phải đạt được sự thừa nhận, chí ít là một sự làm ngơ thụ động hoặc phản đối chiếu lệ của VN đối với tham vọng của họ. Nhưng nếu họ thất bại với chiến lược này thì toàn bộ kế hoạch của họ sẽ phá sản. Khi ấy hòa bình thế giới sẽ đứng trước nguy cơ vô cùng nghiêm trọng vì chính quyền TQ rất nhiều khả năng phải chủ động khai chiến để tránh né và chuyển hướng áp lực của dư luận trong nước đối với sự phá sản nói trên. Họ buộc phải làm dù biết khả năng giành thắng lợi cuối cùng rất thấp,nhưng nếu không làm thì khả năng tồn tại của họ bị đe dọa ngay lập tức. Những tình huống tương tự như thế đã từng xảy ra ở các nước đã gây nên các cuộc chiến thế kỷ 20. Những người bạn cũng đồng ý với con rằng nếu kịch bản chiến tranh như trên nổ ra thì VN sẽ là nơi nhận hậu quả đầu tiên và thảm khốc nhất, mà có thể hàng trăm năm sau chưa ngóc đầu lên được. Trong 3 người bạn thì có 2 người tin rằng chiến lược khống chế VN của TQ sẽ thất bại nên họ sẽ phải chấm dứt màn kịch “trỗi dậy hòa bình” và “hiện nguyên hình”. Vì vậy mà VN đang giữ một vai trò rất quan trọng trong việc duy trì hòa bình cho thế giới. Nhưng nếu VN chấp nhận “thứ hòa bình, hữu nghị viễn vông lệ thuộc” thì hòa bình đó sẽ không bền vững vì TQ sẽ có một bàn đạp quan trọng
chiến lược từ VN để tiếp tục bành trướng ra toàn khu vực. Chiến tranh cũng sẽ xảy ra không sớm thì muộn. Còn nếu VN không chấp nhận thứ hòa bình, lệ thuộc đó mà lại chưa có được một thế trận quốc phòng toàn cầu thì TQ gần như chắc chắn sẽ “tiên hạ thủ vi cường”. TQ chỉ buộc phải kiềm chế không dám hạ thủ khi mà họ không có chút cơ may thành công nào ngay lập tức sau khi động thủ. Và trong một tình huống như vậy –TQ gặp phải bế tắc trong kế hoạch bành trướng ra ngoài thì họ sẽ gặp phải vấn đề cực lớn từ bên trong. Khi đó sẽ xuất hiện những cơ hội cực lớn để TQ thay đổi dân chủ. Một TQ dân chủ là một đảm bảo bền vững cho nên hòa bình thế giới cũng như chính sự thịnh vượng và văn minh của họ. Người bạn Nhật nói nước Nhật đang đua tốc lực tối đa cho hòa bình, tranh thủ từng giờ một và nhận xét rằng Việt Nam đang còn chậm quá. Trong khi TQ đang nỗ lực hết tốc lực “khống chế VN” để đạt được thứ “hòa bình viễn vông”. Nếu ba đi đến Bắc Kinh vào năm 2008 thì ba sẽ cảm nhận rõ hơn về những nhận định trên. Thời điểm đó Mỹ và Châu Âu bắt đầu rơi vào suy thoái kinh tế nghiêm trọng còn TQ thì vẫn tiếp tục tăng trưởng phát triển cao, báo chí TQ hết sức ca ngợi sự sáng suốt và lãnh đạo tài tình của Đảng và nhà nước TQ, đẩy tinh thần tự tôn dân tộc lên cao ngất, bắt đầu xem thường mọi nước khác. Đó cũng là thời điểm họ chuẩn bị để công bố đường lưỡi bò chính thức ra LHQ. Con đọc được rất nhiều các bài báo và những học giả TQ lúc ấy, đại ý rằng: “Đây là thời điểm lịch sử để TQ lấy lại công bằng, đòi lại những gì thuộc về TQ từ nhiều ngàn năm trước nhưng đã bị chà đạp và tước đoạt bởi các thế lực hắc ám…”, và rằng: “Nếu Đảng và Nhà nước không hoàn thành sứ mạng này thì sẽ có tội với nhân dân, với lịch sử, với sự hy sinh xương máu…”. Nói chung là đầy tham vọng, kích động và hận thù. Những ngọn lao như vậy đã được phóng ra thì không thể dừng được mà phải theo tới cùng. Trên mạng có đầy rẫy các bài viết công phu đề ra kế hoạch quân sự cho các lãnh đạo TQ đánh chiếm VN chớp nhoáng, làm bàn đạp tấn công toàn diện, khống chế toàn bộ Biển Đông không cho Mỹ kịp trở tay, v.v… Những bài viết như vậy được tung hô điên loạn bởi cộng đồng mạng. Dù chính phủ TQ cho rằng đó không phải là quan điểm của họ, chỉ thuần túy là sự tự do ngôn luận, nhưng ở một đất nước mà báo chí bị kiểm duyệt nghiêm nhặt như TQ thì chẳng ai tin rằng nó không được ngầm cổ súy bởi chính quyền. Chính quyền TQ giờ phải liên tục, không ngừng thỏa cơn khát “dân tộc cực đoan” mà chính họ tạo ra cho hàng trăm triệu người. Nếu không làm được thì cơn khát này cũng sẽ nuốt chửng cả họ. Do vậy con không ngạc nhiên gì khi họ hết thiết lập vùng nhận diện không phận phòng không ADIZ trên biển Hoa Đông thì đến HD-981 dù cái giá phải trả là quá lớn so với giá trị nhận được. Tương tự như Nga buộc phải sáp nhập Crimea sau khi đã thất bại ê chề trong việc nuôi dưỡng chính quyền Yanukovich vậy. Dù biết trước cái giá mà nước Nga phải trả là rất đắt như hiện nay: bị cô lập, cấm vận; mất thể diện và kinh tế đứng trước nguy cơ suy sụp nhưng Putin không thể không làm. Cơn khát “Đại Nga” có thể nuốt chửng ông ta trước khi những hậu quả trên xảy ra cho nước Nga. Dù chiến thuật này chỉ giúp Putin đối phó được trong ngắn hạn nhưng nó đã làm Ukraine hiện giờ bị mất Crimea. Vì không dự liệu để có được chiến lược ngăn chặn hiệu quả nên Ukraine đã phải chịu thiệt hại lớn. Con nghĩ đây là một bài học rất quý giá cho VN mình hiện nay. Một vấn đề tương tự nhưng nghiêm trọng hơn hoàn toàn có thể xảy ra cho VN từ phía TQ. Chính quyền TQ khôn ngoan hơn Nga rất nhiều. Sẽ có nhiều chuyện khó lường khác chứ không phải chỉ là Tây Nguyên hay kiểu kế hoạch tấn công chớp nhoáng nói trên. Nếu VN không sẵn sàng một chiến lược ngăn chặn phù hợp thì mình sẽ phải chịu những thiệt hại rất lớn và lâu dài.
Kể cũng tiếc cho TQ. Nếu họ thực tâm muốn trỗi dậy thì chỉ 20-30 năm nữa thôi họ sẽ trở thanh quốc gia thịnh vượng nhất thế giới, sống hòa bình; dân chủ; thân thiện với mọi nước khác và được tôn trọng còn hơn cả người Mỹ, Nhật… Nhưng họ lại nóng vội, chọn con đường dân tộc và tham vọng. Con có thể khẳng định rằng trong thời đại này những cách sử dụng hận thù làm công cụ đều sẽ dẫn đến thất bại. Một ví dụ nhãn tiền là Morsi ở Ai Cập và hiện giờ là Maliki ở Iraq: Maliki khi thành thủ tướng đã ra sức trả thù những người Hồi giáo Sunni đã theo chế độ Saddam Husen trước đây, đồng thời kích động hận thù của người Hồi giáo Shiite với Hồi giáo Sunni để lấy phiếu bầu của dòng Shiite vốn chiếm đa số ở Iraq. Từ đó ông ta loại trừ hầu hết những người Sunni ra khỏi chính trường và đưa những kẻ bất tài trung thành với mình vào thay thế. Rõ ràng là ông ta nuôi dưỡng chia rẽ sắc tộc, tôn giáo thay vì đoàn kết dân tộc; khoét sâu thù hận thay vì hòa
giải, hòa hợp. Hậu quả là giờ đây người HG Sunni đang nổi lên đánh chiếm hơn 1/3 diện tích Iraq và đang đe dọa nghiêm trọng đến chính quyền Maliki. Con xem tin thấy thật đáng nhục nhã, chỉ vài ngàn phiến quân tiến công mà khiến 30 ngàn quân Maliki bỏ của chạy lấy người. Đúng là những kẻ bất tài. Ông Morsi thì vừa mới nhận án tử hình, không biết có thoát khỏi cái chết không. Dùng hận thù thì sẽ giống như chơi dao có ngày đứt tay vậy. Biết là vậy nhưng với TQ thì thật khó mà dừng lại. Chính quyền TQ đang bị hiệu ứng do chính họ tạo ra là “Bịt tai trộm chuông”. Họ cố gắng bưng bít người dân nước họ nhưng thực ra là bịt chính lỗ tai mình. Nếu không thì họ đã có thể nghe được những lời cảnh báo nghiêm khắc nhưng chân thành dành cho họ. Trong lịch sử thế giới, chưa có một cường quốc, đế quốc nào dám tham vọng độc chiếm, kiểm soát tự do hàng hải cả. Cho dù là nước Anh vào thời kỳ mà “mặt trời không lặn” hay là nước Mỹ siêu cường sau thế chiến II, chưa từng tuyên bố chủ quyền trên các vùng biển/ tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất như Địa Trung Hải/ kênh đào Suez, Vịnh Caribé/ kênh đào Panama. Vậy mà TQ lại dám bất chấp luật pháp quốc tế để tuyên bố hơn 80% diện tích Biển Đông thuộc về mình. Do đó nhân loại phải tin rằng nếu TQ trỗi dậy thành một đế quốc thì đó sẽ là một đế quốc tham vọng và tàn hại nhất từ trước đến nay. Cho nên nhân loại yêu hòa bình đã và đang cùng nhau, âm thầm lẫn công khai, gián tiếp lẫn trực diện thực hiện nhiều cách thức để ngăn chặn hoặc loại trừ đế quốc đó. Có lẽ không có cách nào để chính quyền TQ nghe lọt tai những điều cảnh báo như vậy, trừ những người TQ còn tỉnh táo và yêu chuộng hòa bình. Do đó khó mà tránh được một giai đoạn đen tối ba à.
Nhưng trong giấc mơ mới hồi rạng sang nay, người bạn Mỹ dùng một châm ngôn tiếng Anh để nói về tình huốngcủa VN là: “Greatest growth occurs during the darkest hours”. Con rất thích và hoàn toàn tin vào câu này. “Sự trưởng thành vĩ đại diễn ra trong những giờ phút đen tối nhất”. VN mình đang đứng trước một bước chuyển mình như vậy. Nhưng chỉ có một ngõ hẹp để dân tộc lách qua an toàn trong khoảnh khắc để đến với con đường thịnh vượng, văn minh, hòa bình cho mình và thế giới. Con tin đất nước mình sẽ đi trên con đường sáng sủa rộng mở đó chứ không phải trên những ngõ ngách đen tối dẫn tới ngõ cụt trong hang u ám. Nhưng ba cũng hãy sẵn sàng tinh thần cho những giờ phút tối tăm khó thể tránh được mà phải vượt qua ba nhá!
Kính ba. Con Thức

Posted in chính trị, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Trường Sơn : AI ĐẨY CỒN DẦU VÀO TÂM THẾ TỰ THIÊU?

Nguồn ijavn

JULY 19, 2014 IJAVN

Trường Sơn/VNTB

Giáo dân Cồn Dầu biểu tình - Hình: VRNsGiáo dân Cồn Dầu biểu tình – Hình: VRNs

Nếu không được giải quyết thỏa đáng cho gia đình tôi và mọi người tại đây, không bố trí đất tái định cư tại chỗ cho bà con dân oan Cồn Dầu, tôi sẽ tự thiêu ngay trước cổng văn phòng chính phủ” – ông Trần Thanh Cát, một dân oan Cồn Dầu đang có mặt tại Hà Nội, đã công phẫn tuyên bố ngay trước mặt đoàn thanh tra chính phủ.

Từ một giáo xứ không mấy ai biết đến, Cồn Dầu đã trở thành một điểm nóng lương tâm trong mắt cộng đồng quốc tế. Mọi chuyện bắt đầu từ tháng 5/2010 khi chính quyền Đà Nẵng sử dụng vũ lực để đàn áp giáo dân giáo xứ Cồn Dầu trong đám tang của bà Hồ Nhu, dẫn đến cái chết của một giáo dân là Tôma Nguyễn Thành Năm.

Đà Nẵng cũng là địa chỉ mà một người dân đã tự thiêu ngay trước trụ sở ủy ban nhân thành phố do phẫn uất về chính sách bồi thường đất đai không thỏa đáng.

Dân oan Cồn Dầu đã nhiều lần ra tận Hà Nội để khiếu kiện nhưng chỉ nhận được những lời khuyên vô trách nhiệm của Thanh tra chính phủ. Nhiều người dân đã bức xúc đến tột đỉnh.

Với 85 hộ dân nằm trong diện cưỡng chế của nhà cầm quyền quận Cẩm Lệ, cho đến nay đã có hơn 30 hộ gia đình ở giáo xứ Cồn Dầu bị cưỡng chế. Nhưng từ giữa tháng 6 đến đầu tháng 7 năm nay, 50 hộ gia đình còn lại đã lần lượt nhận được giấy quyết định cưỡng chế.

Vào năm 2013, một số tổ chức phi chính phủ quốc tế đã quan tâm đến vấn đề Cồn Dầu và đã đến tận nơi để tìm hiểu sự việc. Những khuyến cáo đã được gửi đến chính quyền trung ương ở Hà Nội. Tuy nhiên cho đến nay, giới hữu trách Việt Nam vẫn chỉ giải quyết vụ việc này theo tư duy đối phó. Không chỉ một lần, đã nhiều lần Đà Nẵng cử đoàn thanh tra ra Hà Nội để giải quyết cho bà con. Nhưng tất cả những lần đó Thanh tra Đà Nẵng luôn cố tính làm lệch bản chất sự việc trước mặt Thanh tra chính phủ và bà con dân oan Cồn Dầu. Trong các cuộc họp dân ở tại Văn phòng chính phủ, Thanh tra Đà Nẵng đấu dịu khuyên bà con về lại quê hương và hứa sẽ giải quyết cho bà con một cách thỏa đáng; nhưng khi người dân khiếu kiện đã về tới Đà Nẵng thì lại bị tiếp tục cưỡng chế nhà cửa.

Giờ đây, dư luận người dân Cồn Dầu và dân oan khắp nơi đều phẫn uất trước những việc làm của chính quyền Đà Nẵng mà đã làm cho người dân Cồn Dầu trở nên mất đất và bị dồn ép đến bước đường cùng là phải tuyên bố tự thiêu để đòi lại đất. Mảnh đất Cồn Dầu có lịch sử trên 135 năm từ những vũng đầm lầy đã được mcha ông bồi đắp, ngăn nước để được như ngày hôm nay, song nhà cầm quyền Đà Nẵng lại muốn cướp đi công lao của cha ông họ.

Cũng với rất nhiều dư luận về chuyện đất đai của giáo xứ đã được chia chác cho các nhóm lợi ích ngay từ khi người dân chưa bị đuổi đi, khó ai có thể tin vào sự trong sáng của chính quyền Đà Nẵng, liên quan đến triều đại của ông Nguyễn Bá Thanh khi ông còn chấp chính nơi đây.

Tuyên bố tự thiêu của dân oan Trần Thanh Cát hoàn toàn không phải là lời nói. Mất nhà, mất đất, không còn nơi ở, phải chạy đi cầu cứu các cơ quan cấp cao của nhà nước nhưng lại bị mắc lừa nhiều lần. Bị dồn ép đến bước đường cùng và muốn dùng cái chết để thoát khỏi sự áp bức bất công này, liệu còn con đường nào khác để giải thoát cho người dân Cồn Dầu ngoài hành động tự thiêu – như hàng trăm tu sĩ Tây Tạng đã phải tự quyết để phản kháng sự xâm đoạt của chính quyền Bắc Kinh?

Trường Sơn

Posted in chính trị, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment