Đến đã đủ lâu! Giờ cũng sẵn sàng để… ra đi! (… về với Chúa)

- Phổ biến thông tin đa chiều, và lên tiếng vì những bất công xã hội là việc làm cần thiết và đúng đắn. – Tự do thông tin là bước khởi đầu để có được dân chủ thực sự, giúp đưa đất nước đi lên và thoát khỏi khốn khó đói nghèo.

- Đừng lầm lẫn giữa : thứ tha những lỗi lầm đã qua, với việc nuôi dưỡng những sai phạm đang diễn ra để chúng cứ tiếp tục tồn tại và trầm trọng hơn nữa! – Đó là ác chứ không phải ái!

- Đừng để bị nhập nhằng giữa “Đất Nước, Tổ Quốc” với đảng cầm quyền! “Đất Nước, Tổ Quốc” là mãi mãi, còn đảng cầm quyền chỉ là nhất thời!

Theo dõi các links tin từ twitter, được cập nhật thường xuyên ở cột phải

Posted in khề khà | Tagged , | 1 Comment

Bản tin Liên hội nhân quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ-Văn Bút Quốc Tế vẫn đòi nhà cầm quy ền Cộng sản trả tự do vô điều kiện cho nhà báo tù nhân Điếu Cày Nguyễn Văn Hải

Nguồn chuacuutheĐĂNG NGÀY: 30.10.2014 , MỤC: - TIN NỔI BẬT, TIN VIỆT NAM

Posted in Uncategorized | Leave a comment

VOA. Blogger Điếu Cày: Tôi sẽ kiện Việt Nam ra tòa quốc tế

Nguồn VOA

Nhà bất đồng chính kiến vừa được Việt Nam phóng thích tuyên bố sẽ kiện chính quyền Hà Nội ra tòa quốc tế vì đã tống giam trái phép các thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do. Blogger Điếu Cày cho biết ông tin rằng ông sẽ “thắng kiện”. Ngoài ra, nhà báo tự do này còn cho biết ông phải đặt gánh nặng của phong trào “lên trên lợi ích của gia đình”. Mời quý vị theo dõi toàn bộ cuộc phỏng vấn sau đây với blogger Điếu Cày dành cho VOA Việt Ngữ chiều 27/10:

VOA: Ông mặc một chiếc áo cộc tay và đi đôi dép tổ ong để sang Mỹ. Vì sao ông lại ăn mặc giản dị như vậy?

Blogger Điếu Cày: Tôi ở trong nhà tù, bị đưa ra ngoài, có thế nào thì mặc như thế. Họ đưa tôi ra khỏi nhà tù và từ Trại giam số 6, Thanh Chương, Nghệ An, thì họ đưa thẳng tôi ra sân bay Nội Bài.

VOA: Chính quyền Việt Nam nói gì trước khi thả ông không?

Họ cũng yêu cầu tôi viết một cái đơn xin tha tù trước thời hạn. Thế nhưng tôi có một nguyên tắc bất di dịch là không nhận tội để được ra tù cho nên là tôi không viết.
Blogger Điếu Cày nói.

​​Blogger Điếu Cày: Trước đó, Bộ Công an Việt Nam có vào, tham mưu của Bộ Công an Việt Nam có vào, có nói với tôi, đề nghị tôi viết đơn, xin nhập cảnh vào Hoa Kỳ để học tập về báo chí. Họ cũng yêu cầu tôi viết một cái đơn xin tha tù trước thời hạn. Thế nhưng tôi có một nguyên tắc bất di dịch là không nhận tội để được ra tù cho nên là tôi không viết.

Sau đó tôi có được gặp Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thì Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng nói với tôi rằng chính phủ Hoa Kỳ đã yêu cầu chính phủ Việt Nam phải thả tôi ra vô điều kiện, kể cả tôi ở Việt Nam hoặc đi sang Hoa Kỳ. Nhưng hiện tại, hai chính phủ mới đạt được thỏa thuận là tôi ra tù sẽ nhập cảnh vào Hoa Kỳ để học tập.

Và tôi cũng nhận được một số sự ủy thác của anh em ở trong trại giam, kể cả anh em tù chính trị và anh em tù hình sự ủy thác cho tôi cho nên tôi đồng ý nhập cảnh vào Hoa Kỳ để học tập.

VOA: Dũng, con trai ông và cả chị Tân, vợ cũ của ông, cho biết là gia đình không nhận được một lời từ biệt nào trước khi ông ra đi. Ông có thể nói rõ hơn về chuyện này không?

Blogger Điếu Cày: Về những việc như thế này, chúng tôi là người ở trong nhà tù, việc đàm phán giữa hai bên hoặc những người đi trước có kinh nghiệm như thế nào rồi, có thông tin gì rồi thì chúng tôi hoàn toàn không biết. Một người tù khi anh bị đặt vào hoàn cảnh như thế thì anh chỉ có thể đưa ra các quyết định đối phó trong hoàn cảnh đó với những kinh nghiệm mà anh có được, với những thông tin ít ỏi mà anh có được thôi.

Ở trong tù, chúng tôi luôn phải trả giá bằng những phương pháp thử và sai. Còn khi mà xuất cảnh ra sân bay, tôi cũng nghĩ là họ sẽ để cho tôi được gặp con tôi, gặp vợ tôi ở sân bay nhưng thực tế thì họ không cho tôi gặp mà đẩy thẳng ra máy bay luôn.

Vấn đề thứ nhất là đối với chính phủ Việt Nam, thì họ chỉ đưa ra cho tôi có một sự lựa chọn, là đi học tại Hoa Kỳ, chứ không có lựa chọn là ở lại Việt Nam, và ra tù.
Blogger Điếu Cày nói.

​​VOA: Có tin nói rằng ông bị ép buộc đi Mỹ. Thông tin này đúng hay sai, thưa ông?

Blogger Điếu Cày: Thực ra thì nó có hai vấn đề. Vấn đề thứ nhất là đối với chính phủ Việt Nam, thì họ chỉ đưa ra cho tôi có một sự lựa chọn, là đi học tại Hoa Kỳ, chứ không có lựa chọn là ở lại Việt Nam, và ra tù.

Anh em tù chính trị thì chúng tôi có thảo luận và thống nhất với nhau rằng “anh sẽ phải đi thay chúng tôi, để làm những gì chúng tôi ủy nhiệm”. Vì vậy, lựa chọn này, không phải là riêng của cá nhân tôi, mà còn là lựa chọn của anh em ở cùng với tôi, qua thảo luận đã ủy nhiệm cho tôi. Điều đó đã được thể hiện qua lá thư của anh Trương Duy Nhất.

VOA: Sau khi ông tới Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói ông được đi Mỹ vì ‘lý do nhân đạo’. Phản ứng của ông ra sao đối với tuyên bố này?

Blogger Điếu Cày: Tôi thấy cái tuyên bố này hoàn toàn sai, không có cái gì gọi là nhân đạo ở đây cả, bởi vì tòa án Việt Nam vẫn chưa hoàn thành thủ tục pháp lý để mà buộc tội câu lạc bộ nhà báo tự do. Chúng tôi bị bắt, bị xử sơ thẩm. Chúng tôi đã kháng cáo phúc thẩm, và đã đưa ra bằng chứng thuyết phục nhưng phiên tòa phúc thẩm đó đã không làm được một cái việc duy nhất, đó là chứng minh tội phạm đối với chúng tôi. Và đã không chứng minh được tội phạm, không công bố được chứng cứ, không đưa ra được kết luận mà lại cứ y án.

Việc đưa chúng tôi vào trại giam là hoàn toàn trái pháp luật, và quả thực nó trái pháp luật đối với ngay chính pháp luật của họ. Bởi vì cho đến giờ này, chúng tôi vào tù ngần ấy năm rồi nhưng vẫn chưa có quyết định thi hành án, chưa có bản án phúc thẩm. Tôi đã yêu cầu nhiều lần là phải công bố quyết định phúc thẩm, phải công bố quyết định thi hành án thì mới đưa tôi được vào trại giam. Vì vậy, khi mà anh Khải là tham mưu của Bộ Công an xuống và nói với tôi là viết một đơn xin tha tù trước thời hạn thì tôi nói rằng các anh chưa hoàn thành thủ tục đưa chúng tôi vào tù thì làm sao có thể làm thủ tục đưa tôi ra tù được. Vì vậy tôi không viết đơn xin tha tù. Anh ấy nói đây chỉ là một thủ tục pháp lý thì tôi nói rằng thủ tục pháp lý thì cũng phải tôn trọng pháp luật thì anh mới làm thủ tục pháp lý được. Cuối cùng thì đến ngày đi, họ cũng lặng lẽ đưa tôi ra, không hề tuyên đọc quyết định tha tù hay đình chỉ thi hành án như là Bộ Ngoại giao đã tuyên bố. Tôi cũng không phải ký bất kỳ giấy tờ gì để ra tù.

Vụ án này khi tôi sang đây là nhờ ủy nhiệm của anh em, và tôi cũng còn một trách nhiệm nữa trong chuyến đi này, đó là bắt đầu vụ án CLB nhà báo tự do ở một tòa án khác.

Tôi sẽ tìm kiếm các nguồn lực, các tổ chức quốc tế để giúp đỡ chúng tôi đưa vụ đó ra tòa quốc tế. Tôi tin rằng, về mặt pháp lý, chúng tôi sẽ thắng kiện.
Blogger Điếu Cày nói.

​​VOA: Tức là ông sẽ đưa vụ việc ra trước một tòa án quốc tế nào đó phải không, thưa ông?

Blogger Điếu Cày: Đúng thế. Đây là một vấn đề pháp luật và là một sai lầm cơ bản của pháp luật mà ngay tòa án Việt Nam sai lầm với chính pháp luật Việt Nam , với chính hiến pháp Việt Nam, vi phạm các công ước quốc tế. Họ không có đủ chứng cứ để buộc tội chúng tôi. Vụ án đã bị vỡ, bị sụp đổ rồi nhưng họ cố tình giam nhốt chúng tôi. Vì vậy mà chúng tôi phải đi ra ngoài này để bắt đầu vụ án đó tù một tòa án khác, tòa án của cộng đồng quốc tế.

Chúng tôi từng bước một sẽ tiến hành việc đó. Tôi sẽ tìm kiếm các nguồn lực, các tổ chức quốc tế để giúp đỡ chúng tôi đưa vụ đó ra tòa quốc tế. Tôi tin rằng, về mặt pháp lý, chúng tôi sẽ thắng kiện.

VOA: Một số nhà hoạt động cho rằng chính phủ Việt Nam đang sử dụng các tù nhân bất đồng chính kiến vào một cuộc mặc cả với Mỹ. Ông có nghĩ rằng mình là một con bài trong cuộc trao đổi này hay không?

Blogger Điếu Cày: Quan hệ ngoại giao giữa hai chính phủ với nhau, là một người tù, tôi hoàn toàn không có thông tin gì cho nên tôi không được biết. Tôi cũng không biết đổi tôi để lấy cái gì vì hoàn toàn tôi không được biết những thông tin đó. Một người phải ở trong tù đối với tôi là sáu năm sáu tháng và hai ngày nên bảo tôi phải bình luận về quan hệ ngoại giao giữa hai nước hoặc có những vấn đề liên quan đến tôi thì quả thật là tôi chưa đủ thông tin để mà bình luận.

Trong lựa chọn ra đi này, gia đình tôi tiếp tục bị chia cắt, nhưng mà tôi cũng phải đặt gánh nặng của phong trào, của anh em, lên trên lợi ích của gia đình.
Blogger Điếu Cày nói.

​​VOA: Sau nhiều năm con cái tranh đấu cho tự do của ông khi ông ở trong tù, ông có ý định đưa gia đình mình sang Mỹ đoàn tụ với mình không?

Blogger Điếu Cày: Đó cũng là cái điều khi mà tôi lựa chọn ra đi, tôi đã phải suy nghĩ rất nhiều tại vì ai cũng muốn đoàn tụ với gia đình. Thế nhưng, trên vai tôi còn gánh nặng ủy thác của anh em, của anh em tù chính trị, và kể cả anh em tù hình sự. Tôi đã đi qua 11 nhà tù, tôi phải thay anh em cất lên tiếng nói, để bảo vệ họ. Dù họ là tù nhân, họ có thể mất một số quyền công dân nhưng quyền con người, họ vẫn còn đầy đủ. Tôi muốn rằng, những trại giam, phải thực thi pháp luật đầy đủ, và phải đối xử với họ như đối xử với những con người.

Chính vì vậy, trong lựa chọn ra đi này, gia đình tôi tiếp tục bị chia cắt, nhưng mà tôi cũng phải đặt gánh nặng của phong trào, của anh em, lên trên lợi ích của gia đình. Tôi nhận sự ủy thác của anh em để đi tiếp. Còn gia đình tôi, tôi cũng rất mong muốn sớm được đoàn tụ.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Hiệu Minh : Một giờ với Robert Dodge – Nhiếp ảnh gia kiêm nhà báo Mỹ

Nguồn hieuminh
Bìa cuốn sách của Robet Dodge.

Bìa cuốn sách của Robet Dodge.

Hôm trước tình cờ vào trang VOA có phỏng vấn của nhiếp ảnh gia Robert Dodge nhân dịp xuất bản tác phẩm với tựa đề “Vietnam, 40 years later – Việt Nam 40 năm sau”, cuốn sách đầu tiên của ông. Theo đường link, tôi vào trang web http://vietnam40yearslater.com/ bị choáng ngợp với hàng trăm bức ảnh có hồn vía nước Việt hiện lên trong ống kính của một người Mỹ.

Tôi liên lạc với ông, hẹn uống café ở trụ sở World Bank trên đường H cắt phố 18. Một ngày sau, chúng tôi đã ngồi nhâm nhi Starbucks ở MC Atrium mang tên James Wolfensohn, vị chủ tịch cũ.

Ông Dodge rất thân thiện và dễ mến, nụ cười vẻ tin cậy. Hình như tố chất của nhà báo, nhiếp ảnh gia, phải dễ gần gũi, nếu không chẳng có ai giơ mặt cho chụp, hay đưa micro để phỏng vấn.

Tôi cũng chẳng định hỏi gì vì có biết gì mà hỏi, nhưng câu chuyện về những bức ảnh Việt Nam do ông chụp từ 2005 đến nay, 9 năm, 9 chuyến đi xuyên Việt, từ Sapa về Đà Lạt, vào Ninh Bình rồi Bạc Liêu, Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn, chỗ nào cũng có dấu chân của người Mỹ này, làm người ta không khỏi tò mò.

Hỏi ra mới biết, chúng tôi cùng thời với nhau, thời mà người Mỹ chỉ thấy chiến tranh vào từng phòng khách của từng nhà, thời mà người Việt ngày nào cũng nghe còi báo động, bom rơi, máu chảy.

Ông kể, lẽ ra phải đi quân dịch, nhưng thời TT Nixon (1970) đó có luật bắt thăm đi lính. Có lẽ giống nhiều người, chàng trai ấy không muốn ra chiến trường. Bill Clinton cũng thế mà vẫn thành tổng thống sau này. Như một sự may rủi, Robert Dodge nhặt được số…không phải vào quân đội.

Nhưng không vì thế mà ông quên Việt Nam, vì ông cho rằng, ký ức chiến tranh này còn đeo đuổi nước Mỹ mãi. Trong họ, Việt Nam chỉ có chiến tranh, chết chóc và thất vọng. Ông muốn thay đổi cách nhìn đó bằng những hình ảnh Việt Nam hòa bình và thân thiện.

Nhân một lần vào trang web của một nhiếp ảnh gia, Lý Hoàng Long, sống ở Đà Lạt, Robert Dodge thấy những bức ảnh ấn tượng, mô tả cuộc sống bình thường của người Việt, ông làm quen.

Cũng hẹn đi cafe, hai nghệ sỹ gặp nhau, lẽ ra chỉ định một buổi chiều chụp loanh quanh Đà Lạt sương mờ, họ đã gắn bó tới 2 ngày không dứt và tình bạn đã kéo dài đến hôm nay. Sau này, nhiếp ảnh gia Lý Hoàng Long đã giúp cho ông Dodge đi khắp nước Việt trong nhiều chuyến đi. Chỉ có nhiếp ảnh gia mới hiểu nhiếp ảnh gia muốn gì và ở đâu, lúc nào chụp được đẹp.

Có lần Robert thấy cảnh hùng vĩ những người phụ nữ đang gieo hạt trên nương. Ông cùng anh Long cố trèo lên đồi, nhưng bùn ướt, trượt chân và ngã, bị trẹo gối. Nhờ có anh Long mà ông được đưa ra sân bay, sau 72 tiếng mới về tới Mỹ để cấp cứu. Người bác sỹ không khỏi thán phục vì sự chịu đựng đau đớn và cơ thể đề kháng tốt của nhiếp ảnh gia.

Nhưng không vì thế mà Robert Dodge không trở lại Việt Nam những lần sau. Nay cuốn sách đã hoàn chỉnh, ông lại muốn lên đường, quay lại miền đất ông rất quí trọng, thương yêu, ghi thêm những khoảnh khắc mới của một Việt Nam thoát nghèo một cách kỳ diệu, đã đổi khác so với 40 năm trước đây. dù họ đang đứng ở ngã đường đầy thách thức giữa ý thức hệ và hội nhập.

Việt Nam đã biến đổi nhiếp ảnh gia từ truyền thống sang hiện đại

Tôi có hỏi, điều gì làm ông ấn tượng về Việt Nam. Đó là đất nước hùng vĩ, đa sắc mầu, những con người thân thiện, sẵn sàng cho chụp ảnh mà không yêu cầu bất kỳ điều gì, chuyện ở Mỹ hay Tây Âu là cấm kỵ. Những cánh đồng lúa vàng, ruộng bậc thang trên nương, người đánh cá quăng chài vào sáng sớm, Đà Lạt hay Sapa sương mờ…không thể thu vào ống kính đen trắng trong máy ảnh phim truyền thống.

Miền quê sông nước. Ảnh: Robert Dodge.

Miền quê sông nước. Ảnh: Robert Dodge.

Trước đó ông chuyên về phong cảnh, sang Hà Nội lần đầu cũng thế, nhưng ông thấy như thế chưa đủ và bắt đầu thêm người Việt vào những bức ảnh.

Ông mang theo một máy canon kỹ thuật số, những bức ảnh mầu đầu tiên được số hóa của thời đại tin học. Cuốn ““Vietnam, 40 years later” tái hiện hình ảnh Việt Nam từ nhiều góc nhìn khác nhau cũng là cuốn sách đầu đời của nhiếp ảnh gia kiêm nhà báo lọc lõi.

Cho đến thời điểm này, ông vẫn thấy việc lựa chọn ảnh số cho cuốn ảnh Việt Nam là một lựa chọn thú vị. Thật kỳ lạ, một người Mỹ sống quá nửa đời ở một thế giới văn minh, theo truyền thống đen trắng, nay đã phải chuyển sang kỹ thuật số bởi một miền đất từng là cựu thù

Bức ảnh mầu kỹ thuật số đầu tiên ở Hà Nội

Bức ảnh mầu đầu tiên. Ảnh: Robert Dodge.

Bức ảnh mầu đầu tiên. Ảnh: Robert Dodge.

Tôi thích bức ảnh có bức tường mầu vàng úa, mốc meo, treo cái nón, một cái khăn mướp mầu xanh và cạnh đó là số 6 trên nền mầu xanh. Ai từng ở Hà Nội sẽ nhận ra đây là một góc cổ của Hà Nội rất đời thường hiện nay, dù ngoài kia phố phường đã đổi thay chóng mặt. Chỉ cho Lan Hương đang công tác ở DC, em nói ngay, người hiểu nước Việt mới có thể chụp những bức ảnh này.

Ông cười giải thích, đó là pô đầu tiên chụp tại Hà Nội. Năm đó (2005), đến thành phố vào buổi chiều. Hẹn với bạn, 11 giờ đêm có chuyến tầu đi Sapa, còn vài tiếng, ông vác máy đi loanh quanh. Nhìn thấy một phụ nữ vẻ lam lũ, đội cái nón đã ngả mầu, Robert Dodge lặng lẽ theo. Biết có ai phía sau, bà lặng lẽ treo cái nón lên tường, vắt cái khăn lên cái đinh đã rỉ, rồi bước nhanh vào nhà. Ông thầm nói “Cảm ơn bà, tôi chỉ cần có thế”, thế là bức ảnh được thu vào ống kính canon kỹ thuật số có mầu của Hà Nội qua năm tháng.

Ảnh trên trang bìa

Như ông đã trả lời trên VOA, đó là bức ảnh chụp một phụ nữ bán bánh mì, hậu cảnh là những chiếc xe mô tô chạy thật nhanh sau lưng. Ngoài ra còn mấy bà bán bánh mỳ bên cạnh nữa, ngay bên chiếc xe Mec mầu đen láng bóng, một sự chênh lệch giầu nghèo hiện lên trong bức ảnh. Ông ưng ý bức này nhất vì nói lên nhiều điều về lịch sử của Việt Nam.

Một bà đã luống tuổi, nhìn kỹ răng có vẻ không đến nha sỹ, bán hàng rong, một cảnh quen thuộc nhiều thập kỷ ở đất nước này. Ồng không biết những gánh hàng rong đã nuôi những thế hệ lớn lên, cứu rỗi dân tộc. Bà đội chiếc nón lá đặc trưng xứ Việt, áo vét theo mốt Tây phương, chân mang dép và vai đeo túi mốt thời nay.

Người bán bánh mỳ trên phố. Ảnh: Robert Dodge.

Người bán bánh mỳ trên phố. Ảnh: Robert Dodge.

Bà mẹ này cố vươn ra thế giới bên ngoài để nối kết với nền kinh tế toàn cầu. Những ổ bánh mì baguette nhắc nhở thời kỳ Pháp thuộc. Sau bà là những người trẻ tuổi lái xe máy lao vun vút. Đó là hình tượng của thế hệ trẻ hối hả hướng tới tương lai. Một bạn trẻ, mặc áo xanh rất mờ trong bức ảnh, ngoảnh lại nhìn bà, làm cho người xem tự hỏi, liệu bà có muốn đi theo, hay là sự tiến bộ của Việt Nam sẽ bỏ lại bà và thế hệ của bà phía sau lưng.

Cũng có đôi chút về kỹ thuật chụp ảnh, tôi có nói, chắc ông phải chụp vài chục cái mới được một cái ưng ý. Ông gật đầu. Hôm đó, ông ngồi phía xa, ngắm bà, thỉnh thoảng chụp một pô. Lúc đầu bà tỏ ra băn khoăn, không hiểu cái ông tây chụp cái gì mà chụp lắm thế. Nhưng rồi ngoài kia sự hối hả của cuộc sống làm bà quên đi Robert Dodge.

Để chụp được ảnh đó, ông phải để tốc độ chậm, giảm ánh sáng, đề người chạy xe bị mờ đi, nhưng focus lại nhằm vào mấy ổ bánh mỳ và người bán. Sau 20 phút, ông thử một cái, xem lại trên màn hình LCD, ông đã thầm kêu lên, được rồi.

Đôi lời cuối

Chuyện trò một hồi, hai cốc starbucks cafe cũng cạn. Tôi có nói với ông, sang Mỹ tôi bị món cafe kiêm nước đun sôi này hút hồn. Ông cười, starbucks không thể so với cafe đen đá của xứ Việt, mỗi lần nhâm nhi, ông lại thấy Việt Nam hiện lên thanh bình, nhẹ nhàng như những giọt chảy đều đều trong cái phin.

Ông không hiểu nổi sao starbucks lại đắt và đông kình hoàng ở Sài Gòn trong khi cafe Việt Nam chất lượng và ngon hơn. Có gì đó đã ngăn thương hiệu Việt ra xứ người.

Như đã nói trong VOA, nay Robert Dodge nhắc lại với tôi, Việt Nam đã vượt qua được một chặng đường dài trên con đường phát triển, đó là điều không thể không thừa nhận, từ một nước nghèo thành nước có thu nhập trung bình. Nhưng từ nay cần những con đường khác hơn.

Những bất cập trong thể chế, tham nhũng tràn lan, vấn đề tự do báo chí, nhân quyền là những cản trờ cho sự sáng tạo, mất cơ hội trong phát triển, bỏ lỡ bao chuyến tầu. Điều này thì ngay cả TT Obama hay ngoại trưởng Kerry đều nhắc nhở trong câu chuyện với các chính trị gia Việt Nam.

Chia tay, tôi có hỏi, sao ông không xuất bản cuốn sách này tại Việt Nam. Chính phủ VN dùng như một cách quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới, cần gì phải bỏ hàng triệu đô la cho vài phút trên CNN.

Robert Dodge nói, cuốn sách ảnh này nhằm vào thị trường Mỹ vì nhân 40 năm kết thúc chiến tranh, chắc chắn người Mỹ muốn nhìn lại 4 thập kỷ, Việt Nam đang ở đâu, có còn chiến tranh điêu tàn hay đã hòa bình và tươi đẹp.

Ông trầm ngâm, ừ nhỉ, giá như những hình ảnh này đến với người Viêt, nhiếp ảnh gia sẽ hạnh phúc biết bao, bởi trái tim nghệ sỹ không chỉ dành riêng cho một phía bên kia bán cầu, quan hệ Mỹ Việt đã nồng ấm hơn rất nhiều sau 40 năm hết tiếng súng.

Cuối buổi gặp, tôi hỏi ông có mang theo máy ảnh không. Ông lắc đầu, tôi cũng vậy, nhưng ông bảo, dùng iPhone cũng OK, rồi ông đưa cho tôi. Một blogger chụp ảnh một nhiếp ảnh gia nổi tiếng của Mỹ, kể cũng liều. Buồn cười hơn là ông có những bức ảnh để đời chất lượng tuyệt hảo nhưng hôm nay lại vào chui vào iPhone chất lượng thấp.

Chia tay, tôi chúc ông có cuốn sách bằng tiếng Việt, do một người Việt có trình độ về nhiếp ảnh đề tựa. Tôi tin những gì trong ống kính của Robert Dodge sẽ được đón nhận tốt đẹp tại Việt Nam. Tôi cũng mong ông trở lại VN chụp nhiều ảnh hơn nữa về một miền đất mà cả hai cùng bạn đọc khắp năm châu yêu quí.

Chúng tôi nắm tay rất chặt và cùng nói “See you again” – Hẹn gặp lại.

HM. 24-10-2014

Đầu nguồn. Ảnh: Robert Dodge.

Đầu nguồn. Ảnh: Robert Dodge.

Ông Robert Dodge tại World Bank. Ảnh: HM chụp bằng iPhone của ông ấy

Ông Robert Dodge tại World Bank. Ảnh: HM chụp bằng iPhone của ông ấy

Robert Dodge.- Biography

Robert Dodge is a commercial, editorial and fine arts photographer and writer with more than 30 years of experience in journalism and public relations. His work includes portraits, landscapes, and iconic Washington venues, as well as wedding, travel, and corporate and advertising imagery.

While photography has been a part of Dodge’s life since age 14, he spent more than three decades as a newspaper writer and editor. In 2006, he left The Dallas Morning News, where he had been a Washington correspondent for nearly 25 years, to work in media relations for a major industry trade association. Several years later, he launched an independent business as a writer and photographer.

In 2013, images from his Vietnam 40 Years Later project won top honors in FotoWeekDC’s Uncover/Discover contest. In 2010, an image from the project won honorable mention in the Santa Fe Workshop’s LIGHT contest. The Dallas Press Club honored Dodge for his Dallas Life Magazinestory Mr. Bentsen and the President, which chronicled the close relationship between Treasury Secretary Lloyd Bentsen and President Bill Clinton. In 1982, he was a key member of a team ofDallas News journalists who were Pulitzer Prize finalists for spot-news reporting on the bankruptcy of Braniff International Airways.

Dodge was president of the National Lesbian and Gay Journalists Association, 1999-2002, and has served on the Accrediting Council on Education in Journalism and Mass Communications, the academic and industry group that awards accreditation to journalism colleges.

Dodge lives in Washington, D.C., with his two cats, Winston and Tittles, who both enjoy boiled shrimp and a good belly rub. Vietnam 40 Years Later is his first book.

2020 12th Street, NW, No. 417, Washington DC 20009

HYPERLINK “mailto:Robert” Robert |http://www.RobertDodge.com

Xem thêm

Posted in sách, văn nghệ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , | Leave a comment

Trần Trung Đạo: Khi bài hát trở về (Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ)

Post lại từ trantrungdao

cuong-hvdvljkNếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.

Không giống như một số hành khúc quen thuộc trong giới trẻ trước 1975 như Dậy mà đi của Nguyễn Xuân Tân, Tổ quốc ơi ta đã nghe của La Hữu Vang thiết tha, mạnh mẽ nhưng chỉ giới hạn trong các phong trào sinh viên tranh đấu và ngay khi ra đời đã bị Đảng sử dụng cho mục đích tuyên truyền trong các trường đại học, các đô thị miền Nam, hay Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy chan chứa tình dân tộc, kêu gọi người người thương mến nhau nhưng thiếu đi cái hùng khí, sôi nổi của tuổi trẻ, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của Nguyễn Đức Quang không dừng lại ở nỗi đau của đất nước mà còn nói lên cả những bi thương, công phẫn, thách đố của tuổi trẻ Việt Nam trước những tàn phá của chiến tranh và tham vọng của con người.

Trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, Việt Nam quê hương ngạo nghễ nổi bật lên như một biểu tượng cho khát vọng của một dân tộc đã vượt qua bao nhiêu gian nan khốn khó để tồn tại và vươn lên cùng các dân tộc khác trên mặt đất nầy.

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang.

Lời nhạc của Việt Nam quê hương ngạo nghễ tương đối khó nhớ nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trẻ trung, mạnh mẽ, tượng thanh, tượng hình như “tiếng cười ngạo nghễ”, “xích kêu loang xoang”, “trên bàn chông hát cười đùa vang vang” hay “Da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi” đã làm cho Việt Nam quê hương ngạo nghễ trở thành độc đáo, không giống như những bài ca yêu nước khác với những ý tưởng quen thuộc và lời ca phần lớn là lập lại nhau.

Việt Nam quê hương ngạo nghễ đẹp tự nhiên như một đoá lan rừng, không mang màu sắc chính trị, không nhằm cổ võ hay biện minh cho một chủ nghĩa nào, không cơ quan nhà nước nào chỉ đạo thanh niên sinh viên học sinh phải hát và bài hát cũng chẳng nhằm phục vụ lợi ích riêng của chính quyền, tôn giáo hay đảng phái chính trị nào. Trước 1975, từ thành phố đến thôn quê, từ các trường trung học tỉnh lẻ đến đại học lớn như Huế, Sài Gòn, từ các phong trào Hướng đạo, Du ca đến các tổ chức trẻ của các tôn giáo như Thanh niên Công giáo, Gia đình Phật tử, từ các quân trường Đà Lạt, Thủ Đức, Quang Trung, Nha Trang đến các tổ chức, đoàn thể xã hội từ thiện đều hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Sau 1975, bài hát theo chân hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức miền Nam đi vào tù. Nhiều hồi ký, bút ký kể lại Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát lên, kín đáo hoặc cả công khai, ở nhiều trại tù khắp ba miền đất nước. Trong tận cùng của đói khát, khổ nhục, đớn đau, Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã hoá thành những hạt cơm trắng, hạt nếp thơm nuôi sống tinh thần những người lính miền Nam sa cơ thất thế.

Những năm sau đó, bài hát, như tác giả của nó và hàng triệu người Việt khác lên đường ra biển tìm tự do. Việt Nam quê hương ngạo nghễ lại được hát lên giữa Thái bình dương giông bão, hát lên ở các trại tỵ nạn Palawan, Paula Bidong, Panat Nikhom trong nỗi nhớ nhà, hát lên ở Sungai Besi, White Head trong những ngày chống cưỡng bách hồi hương, hát lên ở San Jose, Santa Ana, Boston, Paris, Oslo, Sydney trong những cuộc biểu tình cho tự do dân chủ Việt Nam, hát lên ở các trại hè, trại họp bạn Hướng đạo, các tổng hội sinh viên Việt Nam tại hải ngoại.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, trong buổi phỏng vấn dành cho chương trình Tiếng Nói Trẻ đã kể lại câu chuyện ra đời của Việt Nam quê hương ngạo nghễ trong âm nhạc Việt Nam: “…Thế bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng vậy, nó không phải là một bài ca tôi nghĩ là quá lớn, nhưng lúc bấy giờ khi tôi kết thúc tập Trường Ca vào năm 1965, cuối 1965 hay đầu 1966 gì đó, khoảng thời gian đó, 10 bài trường ca, những bài như Nỗi buồn nhược tiểu, Tiếng rống đàn bò, Lìa nhau, Thảm kịch khó nói v.v. những bài nói về đất nước của mình rất là khổ sở, tôi nghĩ nên kết nó bằng một bài hát có tiếng gọi hùng tráng và tha thiết hơn. Thành ra tôi viết bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ một cách rất là dễ dàng. Tất cả những ý đó tôi đem vào hết trong bài hát đó để nó vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh. Viết xong bài đó tôi nghĩ chỉ kết thúc tập Trường Ca mà thôi, không ngờ về sau càng ngày đi các nơi càng thấy nhiều người ưa thích bài đó, có lẽ đáp được ước vọng của nhiều người, tôi nghĩ tiếng gọi đáp ứng đúng được tiếng của nhiều người, không riêng gì giới trẻ đâu, cả người lớn tuổi ở các hội đoàn về sau này, rồi đi vào trong quân đội, đi rất nhiều nơi. Thành ra, tôi cho đó là một bài hát tự nó trưởng thành nhưng khi viết tôi chỉ đúc kết cho tập Trường Ca lúc đó mà thôi.”

Thật đơn giản và tự nhiên như thế. Không một ông Bộ trưởng Bộ Chiêu hồi nào đặt hàng hay một ông Tổng ủy trưởng Dân vận nào chỉ thị anh phải viết. Anh viết không phải để thi đua sáng tác hay mong mang về giải thưởng, huân chương. Trong tâm hồn của một nghệ sĩ chân chính, tình yêu nước bao giờ cũng là sự thôi thúc tự nguyện. Anh viết Việt Nam quê hương ngạo nghễ để kết thúc tập trường ca của riêng anh nhưng cũng nối tiếp tập trường ca lớn hơn của đất nước. Sau ba mươi năm, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ đã trở về qua nhiều ngả, trong nhiều tư cách khác nhau, một số tình ca sáng tác trước 1975 đã được nghe lại trong nước, nhưng đây là lần đầu tiên một bài hát đã về lại quê hương qua ngả của trái tim, trở về trong vòng tay nồng ấm của tuổi trẻ Việt Nam.

Bất ngờ và cảm động, một buổi sáng tuần trước, khi đi dạo một vòng qua các blog Việt ngữ, tôi bắt gặp không chỉ những mẩu tin nóng viết vội vàng trên đường phố, những đoạn phim biểu tình vừa mới đưa lên YouTube, những tấm hình ghi lại cảnh xô xát giữa đồng bào, sinh viên với công an, nhưng còn được nghe lại bài hát quen thuộc Việt Nam quê hương ngạo nghễ. Tôi cảm nhận qua lần gặp gỡ đó một niềm vui chung khi có một bản nhạc mà các em sinh viên Việt Nam ở California, Washington DC, Oslo, Paris, Hà Nội, Sài Gòn cùng hăng say hát trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng bá quyền mà không cảm thấy ngần ngại, nghi ngờ, xa cách.

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.

Trong số một trăm em đang hát trong nước hôm nay có thể hơn chín mươi em chưa hề nghe đến tên Nguyễn Đức Quang lần nào, và nếu có nghe, có đọc qua bộ máy tuyên truyền của Đảng, cũng chỉ là một “nhạc sĩ ngụy đã theo chân đế quốc”. Biết hay không biết, nghe hay không nghe không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là bài hát đã đáp ứng được ước vọng về tương lai và tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ. Tổ quốc, vâng, không có gì lớn hơn tổ quốc. Văn hoá không phải chỉ là đời sống của một dân tộc mà còn là những gì giữ lại được sau những tàn phá, lãng quên. Việt Nam quê hương ngạo nghễ sau 30 tháng Tư 1975 hẳn đã nằm trong danh sách các tác phẩm “văn hoá đồi trụy” mà Đảng tìm mọi cách để xóa bỏ, tận diệt. Thế nhưng, như giọt nước rỉ ra từ kẽ đá và như bông hoa mọc giữa rừng gai, bài hát đã sống sót, đã ra đi và đã trở về. Để tồn tại, một bài thơ, một bản nhạc cũng phải trải qua những gạn lọc, những cuộc bỏ phiếu công bằng không chỉ của người nghe, người đọc dưới một chế độ chính trị nào đó mà còn của cả lịch sử lâu dài. Bài hát phát xuất từ tình yêu nước trong sáng như Việt Nam quê hương ngạo nghễ sẽ ở lại rất lâu trong lòng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và nhiều thế hệ mai sau. Là một người thích tham gia các sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, bài hát mang tôi về thời trẻ tuổi của mình.

Tôi còn nhớ, mùa hè 1973, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng là nhạc sinh hoạt chính của trại hè sinh viên toàn quốc quy tụ đại diện sinh viên các trường đại học và cả sinh viên du học về nghỉ hè, do Bộ Giáo dục và Thanh niên tổ chức lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối tại trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu. Đêm trước ngày chia tay, chúng tôi không ai ngủ được. Ngày mai sẽ mỗi người mỗi ngả, chị về Huế, anh về Đà Lạt, em về Cần Thơ và đa số chúng tôi sẽ trở lại Sài Gòn. Cùng một thế hệ chiến tranh như nhau, khi chia tay biết bao giờ còn gặp lại. Những ngày tháng đó, cuộc chiến vẫn còn trong cao điểm. Mỹ đã rút quân nên máu chảy trên ruộng đồng Việt Nam chỉ còn là máu Việt Nam. Thảm cảnh của “mùa hè đỏ lửa” chưa qua hết. Trên khắp miền Nam, đâu đâu cũng có đánh nhau, đâu đâu cũng có người chạy giặc. Mơ ước của tuổi trẻ chúng tôi là được thấy một ngày đất nước hoà bình, một ngày quê hương không còn nghe tiếng súng. Đêm cuối trại hè, chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn rộng quanh cột cờ trường Thiếu Sinh Quân và hát nhạc cộng đồng như để vơi đi những vương vấn, lo âu đang trĩu nặng trong lòng. Bài hát được hát nhiều nhất trong đêm đó là Việt Nam quê hương ngạo nghễ, và khi điệp khúc cất lên cũng là khi chúng tôi hát trong nước mắt:

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng giờ qua
Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam
Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.

Những giọt nước mắt của tuổi sinh viên nhỏ xuống xót thương cho dân tộc mình. Tại sao có chiến tranh và tại sao chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng tôi mà không phải tại một quốc gia nào khác? Mấy tháng sau, tháng Giêng năm 1974, bài hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát vang trên đường phố Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Những bản tin đánh đi từ Đà Nẵng, danh sách những người hy sinh được đọc trên các đài phát thanh làm rơi nước mắt.

Và hôm nay, ba mươi ba năm sau, trong cái lạnh mùa đông trên xứ người, những lời nhạc Việt Nam quê hương ngạo nghễ từ YouTube phát ra như xoáy vào tim. Tôi lại nghĩ đến các anh, những người đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, ở Trường Sa tháng Ba năm 1988. Các anh khác nhau ở chiếc áo nhưng cùng một mái tóc đen, một màu máu đỏ, một giống da vàng, cùng ăn hạt gạo thơm, hạt muối mặn, cùng lớn lên bằng giòng sữa mẹ Việt Nam, và cùng chết dưới bàn tay hải quân Trung Quốc xâm lăng. Việt Nam, sau ba mươi ba năm “độc lập, tự do” vẫn chưa thoát ra khỏi số phận nhược tiểu bị xâm lược, vẫn chưa tháo được cái vòng kim cô Trung Quốc trên đầu. Việt Nam có một lãnh hải dài trên ba ngàn cây số nhưng thực tế không còn có biển. Cả hành lang Đông hải rộng bao la từ Hải Nam đến Hoàng Sa và xuống tận Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm. Nếu vẽ một đường cung dọc theo lãnh hải đó, ngư dân Việt Nam chỉ còn có thể đi câu cá ven bờ chứ không thể đánh cá như ngư dân Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan hay các quốc gia khác trong vùng biển Đông. Phía sau tấm bảng in đậm “mười sáu chữ vàng” hữu nghị thắm thiết giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc là thân xác của ngư dân Việt Nam trôi bềnh bồng dọc các hải đảo của tổ tiên mình để lại.

Trong suốt dòng lịch sử, hoạ xâm lăng từ phương Bắc vẫn là mối đe doạ thường xuyên. Khác với các thời đại trước đây, cái bất hạnh của Việt Nam ngày nay không phải chỉ là mất đất nhưng mất đất mà không đòi lại được ngay. Cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất trong hàng vương tước nhà Trần chỉ có mỗi Trần Nhật Hiệu chủ trương “Nhập Tống” và lần thứ hai chỉ có Trần Ích Tắc và đám hầu tước Trần Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Viên chủ trương “Hàng Nguyên” nhưng ngày nay, về mặt lập trường quan điểm, Việt Nam có đến 14 Trần Ích Tắc và 160 Trần Kiện. Trận đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra tại Trường Sa năm 1988 theo tác giả Daniel J. Dzurek trong biên khảo Xung Đột Trường Sa: Ai có mặt trước? (The Spratly Islands Dispute: Who’s on First?) chỉ kéo dài vỏn vẹn 28 phút và Việt Nam chịu đựng hầu hết thương vong. Với một giới lãnh đạo tham quyền cố vị và sự chênh lệch quá xa về kỹ thuật chiến tranh như thế, cuộc đấu tranh giành lại hai quần đảo sẽ vô cùng khó khăn.

Dù sao, tuổi trẻ Việt Nam, khác với các thế hệ Tân Trào, Pác Bó trước đây, thế hệ Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay có nhiều cơ hội tiếp xúc, học hỏi và so sánh giữa chế độ các em đang sống với các tư tưởng tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó, hy vọng các em sẽ có những chọn lựa đúng cho mình và cho đất nước phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại.

Trong cuộc chiến Việt Nam dài mấy mươi năm Đảng đã sản xuất ra không biết bao nhiêu bài hát, bài thơ kích động lòng yêu nước nhưng tại sao các em không đọc, không hát nữa? Như một độc giả trong nước đã trả lời, đơn giản chỉ vì chúng nhạt nhẽo. Ý thức sâu sắc đó đã được thể hiện không chỉ trong khẩu hiệu các em hô mà ngay cả trong những bài hát các em hát. Sau những Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, Dậy mà đi, Nối vòng tay lớn của những ngày đầu phong trào, các bạn trẻ trong nước đã đi tìm những nhạc phẩm nói lên lòng yêu nước trong sáng, tích cực, không bị ô nhiễm, chưa từng bị lợi dụng và họ đã tìm được Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.

Mỗi khi nhắc đến những khó khăn đất nước, chúng ta thường nghe đến những “bất hạnh”, “nỗi đau”, “tính tự ti mặc cảm”, vâng đó là một thực tế hôm nay, thế nhưng dân tộc Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi khẳng định, không phải chỉ biết đau, biết tự ti mặc cảm mà thôi nhưng từ những nỗi đau đã biết lớn lên bằng tự hào và kiêu hãnh làm người Việt Nam. Chỗ dựa tinh thần của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không có gì khác hơn là lịch sử. Không thể làm nên lịch sử mà không cần học lịch sử. Lịch sử sẽ là vũ khí, là hành trang trong hành trình tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, cũng như để xây dựng một Việt Nam tươi đẹp sau nầy.

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngoi dậy hùng cường đi lên.

Việt Nam quê hương ngạo nghễ như giọt nước mắt bi tráng của tuổi trẻ Việt Nam ngày nào nhỏ xuống trên quê hương chiến tranh khốn khổ, đã bốc thành hơi, tụ thành mây và sau bao năm vần vũ khắp góc bể chân trời đã trở về quê hương qua ánh mắt của em, qua nụ cười của chị, qua tiếng hát của anh, hồn nhiên và trong sáng.

Từ “vết thương rỉ máu” của một dân tộc đã từng bị nhiều đế quốc thay phiên bóc lột, lợi dụng và hôm nay còn đang chịu đựng trong áp bức của độc tài đảng trị, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cất lên như một lời khuyên, hãy sống và hãy vững tin vào lịch sử, sẽ có một ngày, sẽ có một ngày.

© 2008 talawas

Posted in chính trị, văn nghệ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , | Leave a comment

Dương Danh Dy : Họp Thành Đô ‘nguyên nhân và diễn biến’

Nguồn BBC

Dương Danh DyNhà nghiên cứu Trung Quốc

  • 23 tháng 10 2014

Chia sẻ
Cuộc họp bí mật Thành Đô tháng 9/1990 làm VN đổi hướng

BBC giới thiệu một phần bài tư liệu của ông Dương Danh Dy, cựu Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu về các nguyên nhân chủ yếu dẫn tới Hội nghị bí mật Thành Đô năm 1990 giữa một số lãnh đạo hai Đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam:

Nguyên nhân từ phía Việt Nam:

Ngưòi lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta, người quyết liệt chống bọn bành trướng bá quyền Trung Quốc qua đời tháng 7 năm 1986, tạo điều kiện cho Ban lãnh đạo Việt nam nhất là ngưòi lãnh đạo chủ chốt mới, đại biểu cho xu hướng cần phải bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, để thoát khỏi vũng lầy Campuchia, thế bị bao vây cấm vận, phải căng mình ra đối phó trên nhiều mặt trận…để có cơ hội thuận lợi tiến hành thực hiện bước chuyển đổi chiến lược “cải cách, đổi mới”.

Ban lãnh đạo và người lãnh đạo chủ chốt mới của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: Đảng Cộng sản Liên Xô đứng đầu là Gorbachev là xét lại, chỉ có Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc mới kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, kiên trì chủ nghĩa Mác Lênin.

Qua thực tiễn “cay đắng” về nhiều mặt, đã thấy tác hại rất lớn của “cái bẫy” Campuchia, ban lãnh đạo mới quyết tâm thay đổi chính sách về vấn đề CPC mạnh hơn trước.

Việt Nam đang tiến hành cải cách và đổi mới, đã thu được nhiều thành quả rõ rệt, nếu chưa bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc sẽ bị những hạn chế và gặp những khó khăn nhất định về thu hút đầu tư và mở rộng mậu dịch đối ngoại.

Nguyên nhân từ phía Trung Quốc:

Trong thời gian dài hơn 10 năm, mặc dù Ban lãnh đạo Bắc Kinh đã dùng mọi thủ đoạn xấu xa, tàn bạo nhất hòng làm cho Việt Nam suy sụp, phải khuất phục Trung Quốc, nhưng Việt Nam vấn đứng vững, đặc biệt là những thành quả rõ rệt thu được sau mấy năm chúng ta tiến hành chính sách đổi mới, mở cửa đã khiến họ phải thay đổi cách nhìn và đối sách cũ đối với Việt Nam.

Ngoài ra những chuyển biến trong thái độ của Mỹ đối với Việt Nam và chuyển biến bước đầu trong quan hệ Việt Mỹ đã khiến ban lãnh đạo Bắc Kinh thấy nếu tiếp tục kéo dài căng thẳng với Việt Nam sẽ làm cho Mỹ được hưởng lợi.

Trung Quốc đang bị cấm vận sau sự kiện Thiên An Môn, bình thường hoá quan hệ với Việt Nam sẽ tạo thêm thế.

Thấy rõ những điểm yếu của ban lãnh đạo Việt Nam, chủ động chấp nhận bình thường hoá với Việt Nam lúc này sẽ thu lợi nhiều hơn trong chính sách đối với Việt Nam và trên quốc tế.

Nguyên nhân quốc tế:

Trung Quốc thông qua Liên Xô gây sức ép với Việt Nam, phải nhân nhượng, chấp nhận các yêu cầu của Trung Quốc

Các nước XHCN Đông và Trung Âu không còn nữa, Liên Xô mất quyền lãnh đạo, sắp tan rã, Việt Nam đứng trước nguy cơ mất chỗ dựa về nhiều mặt (chính trị, kinh tế, quốc phòng) cần phải tìm chỗ dựa mới, và Trung Quốc là đối tượng thích hợp nhất. Do đó cần phải tích cực đáp ứng một số yêu cầu của phía Trung Quốc nhằm nhanh chóng bình thưòng hoá quan hệ với họ.

Hội nghị bí mật Thành Đô:

Hội nghị Thành Đô họp theo ‘lý luận Đặng Tiểu Bình’ dù ông này không có mặt

Thời gian họp và những nội dung thảo luận.

Do không thể trực tiếp tiếp cận những tư liệu do phía ta nắm giữ nên người viết đành phải dựa vào một số cuộc hỏi chuyện với đồng chí phiên dịch của đoàn và đồng chí Hồng Hà, Chánh văn phòng Trung ương đảng, thành viên của đoàn.

Ngoài ra đồng chí Đinh Nho Liêm chủ động cho biết một số tin liên quan và một số ít tư liệu đã được công khai của phía Trung Quốc, đó là Nhật ký của Lý Bằng (Bản tiếng Trung, Mạng “Nhân Dân” Trung Quốc ngày 5/1/2008) bài viết của Lý Gia Trung (lúc đó là Tham tán chính trị ĐSQ Trung Quốc), nguồn “Hà Bắc tân văn võng” ngày 30/10/2007 đưa lại tin của “Báo cuộc sống ngưòi già” Trung Quốc ) và bài viết của Trương Thanh (lúc đó là Vụ phó Vụ Á châu 1 Bộ Ngoại giao Trung Quốc, người tham dự hội nghị. Nguồn “Tạp chí “Thế giói trí thức” số 24 năm 2004, đang lại trên “Tân Hoa văn trích” số 5/2005)).

Để đỡ nhắc đi nhắc lại, khi dưới đây ghi “Nhật ký Lý Bằng”… bạn đọc nên nhớ cả nguồn đã ghi trên và đặc biệt là cuốn “Hồi ký Trần Quang Cơ” bản năm 2001 và bản năm 2003.

Theo các tư liệu đó thì diễn biến và kết quả đạt được của hội nghị như sau:

“Chiều ngày 28/8/1990 Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Trương Đức Duy nhận được chỉ thị trong nước, chuyển lời tới TBT Nguyễn Văn Linh:

“TBT Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng hoan nghênh TBT Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưỏng Đỗ Mưòi thăm nội bộ Trung Quốc từ ngày 3- 4 tháng 9 năm 1990, cũng hoan nghênh Cố vấn Phạm Văn Đồng cùng đi.

Hồi ký Trần Quang Cơ cho biết Trương Đức Duy nói mập mờ là Đặng Tiểu Bình có thể đến hội nghị gặp anh Tô. Do Á vận hội sắp cử hành tại Bắc Kinh, để tiện bảo mật, nên sắp xếp hội đàm tại Thành Đô, Tứ Xuyên” (Lý Gia Trung: “Nội tình gặp gỡ Thành Đô…” “Hà Bắc tân văn võng” ngày 30/10/2007).

“Nhật ký Lý Bằng” cho biết:

“Sáng ngày 3/9/1990 chuyên cơ Việt Nam rời Hà Nội, 1 giờ chiều tới Thành Đô, hai giờ chiều đoàn Việt Nam tới nhà khách Kim Ngưu, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân đón tiếp họ tại phòng khách, rồi cuộc hội đàm bắt đầu.”

"Mặc dù biểu thị nguyện vọng muốn nhanh chóng giải quyết vấn đề Campuchia, nhưng lại biểu thị không muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia.”

Nguyễn Văn Linh có bài nói dài mà hiện nay chưa tìm đọc được vì cả hai phía đều không công bố, bài nói của Giang Trạch Dân tại hội nghị cũng như “Kỷ yếu hội nghị” cũng trong tình trạng như vậy.

Lý Bằng nhận xét:

Ban lãnh đạo Việt Nam năm 1990 lo sợ diễn biến Đông Âu làm phe cộng sản than rã

“Xem ra trên vấn đề Campuchia Nguyễn Văn Linh chỉ muốn làm một cái biểu thị nguyên tắc mà đặt trọng điểm vào mặt bình thường hoá quan hệ Trung Việt.”

“Hội đàm kéo dài tới 8 giờ tối. 8: 30 mới bắt đầu tiệc tối . Tại bàn tiệc tôi và đồng chí Giang Trạch Dân lại lần lượt làm công tác Đỗ Mưòi và Nguyễn Văn Linh.

Sáng ngày 4 tháng 9, chúng tôi cùng các đồng chí Việt Nam tiếp tục họp. Đến đây những vấn đề mà hội nghị đề xuất có thể nói là đã tương đối đạt được đồng thuận, tương đối trọn vẹn đầy đủ. Quyết định khởi thảo một kỷ yếu hội nghị.

Vào 2 giờ 30 phút chiều, hai bên cử hành lễ ký kết, lần lượt do TBT và Thủ tướng mỗi bên ký. Đó là bước ngoặt có tính lịch sử trong quan hệ Trung Việt. Chuyên cơ Việt Nam bay về nước ngay trong ngày.”

Bài viết của Trương Thanh nói:

“Đây là lần gặp gỡ đầu tiên giữa những ngưòi lãnh đạo hai nuớc Trung Việt sau hơn 10 năm, hai bên tiến hành hội đàm cấp cao. Trước tiên Giang Trạch Dân biểu thị: quan hệ Trung Việt đã xấu đi hơn 10 năm. Hai bên chúng ta nên quán triệt lý luận Đặng Tiểu Bình “kết thúc quá khứ, mở ra tương lai”.

Vừa là đồng chí vừa là anh em

"Ngoài việc khôi phục quan hệ hữu hảo láng giềng hai nước Trung, Việt ra, phía Trung Quốc đã đề xuất ý kiến quan trọng giải quyết chính trị vấn đề Campuchia: Việt Nam rút quân toàn bộ, hội đàm với các phái Campuchia, tiếp nhận văn kiện khung do năm nước thưòng trực Hội đồng Bảo an chế định, tham gia hội nghị quốc tế Paris về Campuchia, đó là then chốt của việc hai nước Trung Việt khôi phục quan hệ hữu hảo.

TBT ĐCSVN Nguyễn Văn Linh cám ơn bài phát biểu quan trọng của Giang Trạch Dân, ông biểu thị, quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc là “vừa là đồng chí vừa là anh em” như lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nói. Trung Quốc đã ủng hộ to lớn cho cuộc chiến tranh cứu nước của Việt Nam.

"Đáng tiếc là Lê Duẩn người lãnh đạo tiền nhiệm đã thi hành chính sách sai lầm khiến người ta khó lý giải. Hai nước Việt Nam, Campuchia xảy ra 10 năm chiến loạn, khiến quan hệ Trung Việt bị phá vỡ nghiêm trọng, nhân dân Việt Nam vô cùng đau lòng.

Giang Trạch Dân: ‘Các đồng chí tới đây cho đến nay các nước không ai biết, cũng không cho các bên Campuchia biết. Chúng tôi cảnh giác vấn đề này’.

Bây giờ chúng tôi quyết tâm sửa chữa chính sách sai lầm trước đây, khôi phục tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước, hai Đảng, cùng đi về con đường XHCN tươi đẹp.”

Về việc giải quyết chính trị vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười đều biểu thị “chúng tôi tiếp nhận văn kiện khung, kết thúc cuộc xung đột Việt Nam, Campuchia.”

Qua hai buổi thảo luận, chiều ngày 3 và sáng 4, người lãnh đạo hai nước đã đạt được sự đồng thuận quan trọng, ký văn kiện “Kỷ yếu hội đàm”.

TBT Giang Trạch Dân biểu thị: bắt đầu từ hôm nay, hai nước Trung Việt “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại;Tương kiến nhất tiếu mấn oan cừu” (thơ cổ: Qua hết sóng gió anh em vẫn còn, gặp nhau cười một cái là quên ân oán )”

Giang Trạch Dân nói thêm:

“Các nước Phương Tây rất chú ý tới quan hệ của chúng ta. Các đồng chí tới đây cho đến nay các nước không ai biết, cũng không cho các bên Campuchia biết. Chúng tôi cảnh giác vấn đề này. Họ cho rằng Việt Nam XHCN, Trung Quốc XHCN đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo, họp với nhau bàn cái gì đây? Vì vậy chúng tôi giữ kín chuyến đi này. Trong tình hình quốc tế hiện nay, nếu để hai đảng cộng sản bắt tay nhau là sách lược không có lợi cho chúng ta.”

Trước khi đánh giá hội nghị xin nói thêm một nhận xét quan trọng: Giang Trạch Dân và Lý Bằng đã “tỏ ra” rất kính trọng ba vị Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười trong đoàn Việt Nam, coi họ thuộc thế hệ cha chú của mình.

Xin nêu một ví dụ : để tỏ lòng kính trọng ba vị ấy, tại nơi họp họ đã bố trí mỗi vị ở riêng một biệt thự cách nhau khá xa. Xin hỏi mấy ông già bảy mươi, tám mươi này sau khi họp mệt nhoài về liệu có thể tranh thủ gặp nhau để hội ý thêm được không?

Ngoài ra việc vì sao Đặng Tiểu Bình không đến dự hội nghị cũng cần được đánh giá thêm.

Ông ta sợ bị phía Việt Nam trực tiếp phê phán, để làm phía Việt Nam dịu bớt thái độ khi bàn về bình thường hoá quan hệ, để phía Việt Nam dễ tiếp thu dàn xếp của Trung Quốc.

Tổng bí thư Đỗ Mười

…Chấp nhận thoả thuận Thành Đô, Đại hội VII ĐCSVN, họp từ ngày 17/6 đến 27/6/1991 đã gạt đồng chí Nguyễn Cơ Thạch ra khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, không để ông giữ bất kỳ chức vụ nào về đảng và nhà nước.

Các ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười lên làm lãnh đạo Việt Nam sau cuộc họp Thành Đô

Đại hội đã bầu Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười làm Tổng Bí thư. Sau đó ít lâu Uỷ viên Bộ Chính trị Lê Đức Anh được bầu làm Chủ tịch nước. Như đã nêu trên, tháng 10/1991 hội nghị quốc tế về CPC họp tại Paris giải quyết về cơ bản vấn đề Campuchia.

Và chỉ sau khi hai sự kiện lớn đó đã diễn ra theo đúng yêu cầu của phía Trung Quốc, ngày 5/11//1991 (tức là hơn một năm sau Hội Nghị Thành Đô) phái đoàn Việt Nam do TBT Đỗ Mười và Chủ tịch HĐBT Võ Văn Kiệt mới được mời tới Bắc Kinh, đặt dấu mốc cho việc chính thức bình thường hoá quan hệ giữa hai nước.

Tuy nhiên tại hội nghị này Lý Bằng đã “thẳng thừng” nêu ra nhiều vấn đề tồn tại trong quan hệ hai nước, trong đó có vấn đề Việt Nam nợ Trung Quốc, vấn đề của cái gọi là “nạn kiều” từ Việt Nam về Trung Quốc… (Nhật ký Lý Bằng) trong khi phía Việt Nam không có động thái gì.

Hơn 20 năm sau Hội nghị Thành Đô, nay có dịp nhìn lại vấn đề, ngưòi ta sẽ thấy “ngộ” ra được một số điều mà ngay từ khi được phổ biến “kết quả” của Hội nghị, những người quan tâm đến tình hình đất nước lúc đó đã ít nhiều biểu thị sự không đồng tình.

Bước đầu, xin mạnh dạn công khai một số “yếu kém” của phía chúng ta, cũng như xin thẳng thắn đề cập tới một vài tác hại của những “quyết đoán” sai lầm khi đó đối với đất nước.

Nêu ra một số việc, không phải là muốn truy cứu trách nhiệm chính trị, hoặc nhằm bôi xấu, hạ thấp uy tín của một ai mà chỉ nhằm một mục đích: nếu không thấy hết những “dại khờ, non yếu” của chúng ta, không vạch trần những “mưu ma chước quỷ” của kẻ mà cho đến tận giờ phút này trong chúng ta vẫn còn có không ít ngưòi lầm tưởng họ là những “đồng chí cộng sản”, những người đang cùng chúng ta xây dựng “chủ nghĩa xã hội”… thì sẽ là một “nguy hại to lớn, lâu dài, tiềm ẩn” đối với dân tộc.

Posted in chính trị, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , | Leave a comment

Người khởi xướng chiến dịch Chúng Tôi Muốn Biết liên tục bị CA gia tăng khủng bố

Nguồn danlambao

vg1.jpg
CTV Danlambao – Trong nhiều ngày gần đây, lực lượng công an liên tiếp dùng nhiều thủ đoạn khủng bố nhắm vào gia đình blogger Phạm Thanh Nghiên – người khởi xướng chiến dịch Chúng Tôi Muốn Biết tại Hải Phòng.

Kể từ khi chiến dịch “Chúng tôi muốn biết” khởi xướng hôm 2 tháng 9 đến nay, Phạm Thanh Nghiên cho biết công an thường xuyên canh gác, bao vây nhà.

Hồi tuần truớc, một trong số những công an mặc thường phục theo blogger này ra tiệm cắt tóc để chửi bới, xúc phạm cô rất nặng nề.

Thậm chí, tên này còn đe dọa giết người và đời mang xe đến ủi sập nhà Phạm Thanh Nghiên.

Sự việc càng trở nên nghiêm trọng vào đêm qua, 23/10/2014 khi công an đã ngang nhiên khóa trái cổng nhà Phạm Thanh Nghiên. Việc này chỉ được phát hiện khi người cháu trai của Phạm Thanh Nghiên đi chơi về khuya.

Rất lâu sau, một tên côn an mới chịu mang chìa khóa để mở cổng cho cháu trai chị Nghiên vào nhà.

Blogger Phạm Thanh Nghiên gọi đây là ‘hành động đáng khinh bỉ’.

vg2.jpgKhuôn mặt 2 viên công an khủng bố gia đình blogger Phạm Thanh Nghiên

Trả thù chiến dịch Chúng Tôi Muốn Biết

Theo cựu tù nhân lương tâm này, đây là hành vi trả thù của lực lượng công an sau khi cô tham gia phát động chiến dịch Chúng Tôi Muốn Biết nhằm yêu cầu nhà cầm quyền CSVN phải bạch hóa thông tin về Hội nghị Thành Đô 1990.

Đồng thời, công an Hải Phòng gia tăng khủng bố giữa thời điểm diễn ra chuyến thăm và làm việc tại Viêt Nam từ ngày 22 đến 26 tháng mười của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao động.

Phạm Thanh Nghiên từng bị kết án bốn năm tù giam, ba năm quản chế vì đấu tranh cho Nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Hiện cô đang bị cầm tù tại nhà theo “lệnh” quản chế 3 năm của nhà cầm quyền.

Blogger này cũng nhiều lần bị ngăn cản không cho đi chữa bệnh. Hai năm nay kể từ khi ra tù, Phạm Thanh Nghiên đã bị triệu tập hàng chục lần để làm việc với công an và chính quyền địa phương.

Không ít người đã bị bắt, bị sách nhiễu, đe dọa chỉ vì đến Hải Phòng thăm người phụ nữ can đảm này.

Cũng xin nhắc lại, khi mẹ Phạm Thanh Nghiên là bà Nguyễn Thị Lợi qua đời, nhà cầm quyền cộng sản đã huy động một lực lượng lớn công an, côn đồ đến để phá tang lễ. Rất nhiều người đã bị ngăn cản ngay tại nhà riêng để không thể đến chia buồn với Phạm Thanh Nghiên. Một số người khác bị đánh đập ngay trong tang lễ.

Khi xe chở tro cốt bà Nguyễn Thị Lợi đến nghĩa trang Đằng Lâm, ban quản lý nghĩa trang này đã ngăn cản và cho biết Ủy ban Nhân dân phường này đã ra chỉ thị “không cho chôn cất vì lý do liên quan đến chính trị”. Tuy nhiên, trước sự kiên quyết của gia đình, mọi việc sau đó đã được giải quyết ổn thỏa.

Hành vi khóa cửa, nhốt cả gia đình Phạm Thanhh Nghiên trong nhà là một việc làm vi phạm pháp luật của chính công an Hải Phòng. Hơn thế, còn là hành vi coi thường tính mạng của người dân. Thể hiện sự bất lương, bất chính của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.

CTV Danlambao

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Võ Thị Hảo : Nếu Quốc hội cũng thù địch với minh bạch…

Nguồn RFA

Võ Thị Hảo, viết từ Hà Nội 2014-10-23

000_Hkg10109885.jpgCông an canh gác bên ngoài tòa nhà Quốc Hội VN.icon-zoom.png AFP photo

Phóng viên ngồi bệt chầu …chân ghế QH

Hình ảnh những phóng viên phải ngồi bệt dưới đất ngửa cổ “chầu” lên chân ghế các vị đại biểu quốc hội (ĐBQH) đang họp đã khiến nhiều người phẫn nộ.

ĐBQH ngự trên những chiếc ghế da choáng lộn được sắm bằng tiền dân. Những vầng trán và con mắt phóng viên dù có cố vươn lên thì cũng chỉ cao ngang … chỗ đặt mông của các vị ĐBQH. (ảnh đăng trên Tuổi trẻ.vn trong bài “Phóng viên phải ngồi dưới sàn tường thuật họp QH- 22/10/2014).

Hình ảnh này rất điển hình cho hiện trạng và bản chất mối tương quan, vị trí giữa tầng lớp cầm quyền với báo chí và người dân trong một hệ thống độc tài, trong đó người dân là nô lệ và nhà cầm quyền muốn làm gì cũng được.

QH với lý do tồn tại là phải giám sát các cơ quan công quyền, luôn lắng nghe và bảo vệ quyền lợi công dân mà còn đối xử với báo chí như vậy thì dân còn bị khinh miệt đến mức nào?!

- Trong hơn 60.000m2 diện tích của tòa nhà QH mới xây nguy nga đồ sộ, cao tới 39m, trong hơn 80 phòng họp, trong đó phòng họp chính với sức chứa 600 người, trang bị hết sức đắt tiền (theo Vietnamnet , “Cận cảnh tòa nhà QH cực hiện đại – 21/10/2014), báo chí và người dân VN có mét vuông nào không? Qua theo dõi cho thấy, cứ đà này, họ sẽ ngày càng bị ghẻ lạnh và xua đuổi. Nếu như thế, Tòa nhà QH liệu rồi có giống những tòa công sở “chết”, trong đó “cao cao tại thượng” là những quan chức do dân mà lên ngôi to lộc lớn để rồi ngày càng xa dân, ngày càng vô cảm với nguyện vọng và nỗi đau của nhân dân?!

- Hình ảnh ấy đã ghi lại như một biểu tượng khắc họa sinh động về thực trạng tự do báo chí, nhân quyền ở VN cùng với mối tương quan giữa nhà cầm quyền và quyền được biết của công dân.

Đến đại biểu Trần Du Lịch cũng phải thốt lên bất bình: Ðại biểu Quốc hội ngồi họp trên ghế, còn phóng viên ngồi tác nghiệp dưới đất nhìn lên thì tôi thấy không ổn chút nào.

Thông qua báo chí phản ánh những ngày đầu tiên của kỳ họp này, tôi cũng được biết có gần 400 phóng viên đưa tin ở Quốc hội nhưng chỉ có 40 thẻ sự kiện để phát cho phóng viên vào hành lang hội trường giờ giải lao để tiếp cận đại biểu mỗi ngày…(theo Tuổi trẻ .vn, bài đã dẫn)

Cử tri bị đàn áp khi đến QH?

Trước những sự kiện mắt thấy tai nghe, người ta không thể không nghi ngờ dụng ý hạn chế, ngăn chặn báo chí và người dân theo dõi, kiến nghị và cung cấp thông tin cho QH.

Gần đây nhất,, chỉ trước phiên khai mạc QH 5 ngày, vào 15/10/2014, dư luận trong và ngoài nước quá sốc bởi theo nhiều nhân chứng thì QH – cụ thể là một số người có chức trách ở UB dân nguyện đã đóng cửa không tiếp công dân, thậm chí còn bị nghi là cho người đàn áp để xua đuổi họ.

Những người bị đàn áp, xua đuổi ấy chỉ là một đoàn công dân rất ôn hòa, lịch sự, trên tay chỉ có bản kiến nghị yêu cầu bạch hóa thông tin về Hội nghị Thành Đô và một vuông giấy nhỏ ghi dòng chữ “Được biết là quyền của công dân”.

Nhưng những người có trách nhiệm tại Ban Dân nguyện của QH tại Hà Nội và Sài Gòn hôm ấy đều đóng cửa không tiếp.

Yêu cầu QH bạch hóa thông tin về Hội nghị Thành Đô – một văn bản ký kết giữa nhà cầm quyền VN và TQ từ tháng 9/1990 là một nguyện vọng hoàn toàn chính đáng, không ai có quyền bưng bít hoặc ngăn cản. Yêu cầu của những công dân này không những chính đáng, mà còn tạo cơ hội cho QH kiểm tra thông tin, tạo cơ hội cho nhà cầm quyền thanh minh, giải thích, dập tắt những lời đồn đoán về việc các vị lãnh đạo thời đó và bây giờ đang theo lộ trình “bán nước” VN cho TQ nếu họ thực sự “bị oan”. Văn bản đó không thuộc diện tài liệu mật, lại cách đây đã .15 năm. Thế mà, theo nhiều nhân chứng trong cuộc cho biết, trong đó có người viết bài này, nhà cầm quyền đã cử những công an mặc thường phục canh giữ trước cửa nhà nhiều trí thức có chính kiến, ngăn cản việc họ đi đến UB Dân nguyện của QH. Còn các công dân đã đến được cửa VP QH thì tố cáo rằng họ đã bị rất nhiều công an đến ngăn cản, đàn áp, còn cả côn đồ mặc áo đỏ đến gây sự, mạt sát.

Việc đàn áp ấy diễn ra hàng giờ, ngay trước cổng QH, mà QH không can thiệp. Sự im lặng của những người có trách nhiệm đã khiến cho công luận phẫn nộ trước sự làm ngơ – tức cũng là tiếp tay – cho sự bưng bít thông tin, và đàn áp quyền tự do ngôn luận của người dân

Những tòa nguy nga và người đàn bà thắt cổ

Quan chức nơi nơi ngự trong trong những tòa nhà nguy nga công sở hoặc biệt thự riêng, dẫu đã đồ sộ rồi vẫn bỏ đi xây mới để có cớ tham nhũng. Họ dùng những tiện nghi choáng lộn, được xây dựng và mua sắm bằng vô số món tiền khổng lồ tha hồ lấy từ mồ hôi nước mắt của dân trong khi dân ngày càng nghèo khốn và tuyệt vọng. Quốc nạn tham nhũng vô độ không bị ngăn chặn nên ngày càng lớn và bất công, tệ nạn xã hội đẩy số người chết, người tự sát vì đói nghèo và tuyệt vọng ở VN tăng vọt chưa từng có.

Và mạng người dân nhiều khi dường như chằng quý giá gì hơn mạng gia súc. Chẳng ai thèm nghiên cứu thống kê xem bao nhiêu người đã chết vì đói, vì không có tiền chữa bệnh hoặc bị từ chối chữa bệnh do không biết đút lót ; những người tự sát vì vỡ doanh nghiệp do cạnh tranh bất bình đẳng, donợ nần, mất việc làm, vô phương kiếm sống trước vô vàn áp lực từ bạo lực và bất công trong xã hội…

Có ai còn thèm nghe thèm biết không, tiền mua sự xa hoa của quan chức là do họ đã giật đoạt miếng cơm từ miệng người dân VN khốn khổ, thu nhập và mức sống đứng vào hàng đội sổ trên thế giới, thậm chí cả Lào và Campuchia cũng sắp vượt qua ?!

Dưới bóng ám của những tòa nguy nga, hãy dừng một phút xem thư tuyệt mệnh của người mẹ ba con tên là Mỹ Nhân, vừa thắt cổ chết ở tuổi 38 ở ấp 5, An Xuyên, Cà Mau:

“…Các con Bằng, Tâm, Ngân, các con đừng trách mẹ, mẹ khổ nhiều lắm. Mẹ chạy tiền cho các con ăn học, bây giờ nợ nhiều lắm. Mẹ đã đi van xin được cấp sổ hộ nghèo để mẹ vay tiền đóng học phí cho các con. Nhưng không ai cho gia đình mình nghèo hết. Mẹ chết đi để giảm gánh nặng cho cha con…để chính quyền thấy nhà mình thực sự khổ rồi cấp sổ hộ nghèo, vay tiền đóng học phí cho các con.

Xin các cấp chính quyền ấp 5 soi xét cho hoàn cảnh quá khổ, không lối thoát của chúng tôi mà xét cấp sổ hộ nghèo cho chồng con tôi được sống những ngày tháng còn lại trên đời…” (Theo “Thắt lòng mẹ tự tử để lấy tiền phúng viếng cho con ăn học”. Baomoi, 7/8/2014.

Đau lòng thay, đã có và còn có vô số người mẹ như Mỹ Nhân ở VN. Họ phải chết không vì lười biếng, mà họ đã bị đám quan chức tham lam vô cảm cướp đoạt miếng ăn của họ bằng cách này hay cách khác, trong đó có tình trạng nếu họ không hối lộ hoặc không phải cánh hẩu thì dẫu sắp chết đói cũng không được vào diện hộ nghèo để được cứu trợ hoặc vay tiền sống cầm hơi, trong khi họ đã ở đáy của cái nghèo….

Thông tin báo chí đã nhiều lần vạch rõ tiền tái định cư, xóa đói giảm nghèo, cứu trợ lũ lụt… ở rất nhiều nơi lại được cấp cho những hộ khá giả mà cán bộ địa phương không bị hề hấn gì vì được bao che.

Vâng, người dân VN chỉ là hạng gia súc đối với suy nghĩ và hành xử của rất nhiều quan chức VN. Dân là đối tượng để hành hạ, để bóp cổ lè ra tiền cung phụng cho đám tham nhũng không còn biết gì đến liêm sỉ.

Đám quan chức ấy còn coi dân như kẻ thù, nhất là khi người dân muốn làm người và khẳng định quyền minh bạch hóa thông tin.

Quốc hội với chức trách của mình đã cam kết với toàn dân, cần phải là lực lượng đầu tiên và cuối cùng trên mặt trận bảo vệ quyền công dân của người VN.

Nếu QH cũng làm ngơ, cũng kiếm cớ tiêu phí tiền dân, cũng sợ hãi, cũng xua đuổi, cũng bao che và ngầm đàn áp người dân, để mặc đám quan trộm cướp tha hồ tung tác, thì hóa ra QH cũng coi dân như kẻ thù?!

Trong kỳ họp này QH thảo luận về Luật tổ chức QH (sửa đổi). Nếu không có những thay đổi cơ bản, nhằm tách hệ thống lập pháp ra khỏi hệ thống hành pháp và tư pháp, cải cách thể chế xóa độc tài, thì không những ngày càng nhiều quan chức coi dân như kẻ thù, mà chính nhiều ĐBQH cũng sẽ coi dân như kẻ thù, chỉ vì dân đòi quyền được biết , yêu cầu sự minh bạch và công bằng như Hiến pháp đã quy định.

(Võ Thị Hảo, Hà Nội 23/10/2014)

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Bùi Tín : Tại sao lại đi đêm?

Nguồn VOA

Bùi Tín

22.10.2014

Cuộc gặp bí mật giữa 2 đoàn đại biểu đảng CS Việt Nam và Trung Quốc ở Thành Đô, Trung Quốc, tháng 9 năm 1990, đang là đề tài nóng ở trong nước. Cả một phong trào rộng lớn “Tôi cần biết”, “Chúng tôi muốn biết”, “Quyền được biết là quyền công dân” đang lan rộng, ăn sâu, theo đúng cam kết của đảng CS với nhân dân. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là phương châm căn bản trong mối quan hệ giữa đảng CS với nhân dân .

Ngày 1 tháng 1 năm 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cam kết trong Thông điệp đầu năm rằng “Mọi quyết định của Nhà nước đều phải minh bạch”. Ông phải giữ lời hứa.

Trong khi đó báo chí chính thống và không chính thống của Trung Quốc đều đưa tin về cái gọi là Thỏa thuận Thành Đô tháng 9/1990, nói rõ rằng phía Việt Nam đã chấp thuận sẽ trở thành một khu tự trị của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa như Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương sau 30 năm, nghĩa là kể từ năm 2020…

Cả một làn sóng giận dữ trào dâng khắp đất nước ta. Do đó buộc lòng Ban Tuyên huấn Trung ương phải đưa ra một tài liệu giải thích trong nội bộ đảng CS rằng không có chuyện “Việt Nam chấp nhận trong 30 năm trở thành một khu vực tự trị của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa như Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương”.

Cái kiểu cải chính vuốt đuôi, úp úp mở mở như thế không làm hài lòng dư luận được.

Dư luận nhân dân, nhất là trí thức, tuổi trẻ cùng đảng viên ở cơ sở yêu cầu Bộ Chính trị phải nói rõ cho nhân dân nội dung cụ thể của Thỏa thuận Thành Đô, phải thật sự công khai minh bạch, bạch hóa đầy đủ, khi đã qua thời gian hơn 25 năm rồi.

Trước hết không phải chỉ thông báo vắn tắt trong đảng CS, mà phải là trình bày cho tòan dân được biết. Lẽ ra từ ngay sau khi có thỏa thuận, Bộ Chính trị, chính phủ phải báo cáo trước phiên họp của tòan thể Quốc hội, hay ít ra là trước Ủy ban đối ngọai và Ủy ban quốc phòng của Quốc hội theo đúng Hiến pháp, phép tắc quy định. Từ lý lẽ này, Bộ Chính trị cần báo cáo đầy đủ về cuộc mật dàm Thành Đô ngay trong phiên họp Quốc hội sắp tới, rồi phổ biến rộng rãi cho tòan dân biết rõ. Để đến nay là quá chậm rồi.

Hai là trong khi bác bỏ tin tức từ phía Trung Quốc đưa ra, là không hề có thỏa thuận nào về “VN chấp nhận việc trở thành khu tự trị của TQ trong 30 năm”, phải nói rõ đây là sự bịa đặt có tính chất dựng đứng xấu xa của phía TQ và đòi hỏi chính quyền TQ phải công khai cải chính và xin lỗi phía VN về vụ việc này, vì chính Tân Hoa xã, cơ quan thông tấn chính thức của TQ đã tham gia truyền bá tin thất thiệt này. Cần yêu cầu họ không để xảy ra việc tái phạm. Tại sao không dám phản đối một sự xúc phạm lớn đến vậy?

Ba là qua sự kiện trên đây, cần nhìn lại tòan bộ các mối quan hệ Việt – Trung, quan hệ giữa 2 đảng, 2 nhà nước, giữa nhân dân 2 nước, trong đó nổi lên vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, biển đảo, an ninh tài nguyên, khai thác biển, giao thông trên biển Đông, vấn đề hợp tác khai thác rừng vùng biên giới, khai thác bô-xít trên Cao nguyên, việc các công ty TQ đấu thầu trên đất VN, vấn đề công nhân TQ vào VN sinh cơ lập nghiệp… dều có nhiều vấn đề nảy sinh cần giải quyết rốt ráo theo luật pháp và chủ quyền đất nước. Không thể để nhiều nơi như đất vô chủ, người Tàu lộng hành vì giỏi đút lót bọn tham quan địa phương.

Từ sự kiện trên đây cần công khai chỉ ra vừa qua phía TQ đã gây nên căng thẳng kéo dài khi cho giàn khoan HD 981 vào cắm trong vùng biển quốc gia nước ta, họ chỉ rút ra khi thời tiết không thuận vì mùa mưa bão, cho nên ta nên từ bỏ, trả lại họ mối quan hệ “4 tốt” và “16 chữ vàng” do phía TQ đưa ra mà không thực hiện, và từ đó VN có toàn quyền liên minh với các nước bạn bè tin cậy ở mọi nơi, nhằm bảo vệ nền độc lập và tòan vẹn lãnh thổ, lãnh hải quốc gia, không nhằm chống một nước nào, trong khi vẫn duy trì quan hệ bình thường bình đẳng với TQ, quan hệ thân hữu với nhân dân Trung Hoa.

Nhân dân ta luôn chủ trương thực hiện một nền ngọai giao hòa bình, hợp tác, hữu nghị với tất cả các nước, một nền ngọai giao nhân dân, công khai minh bạch, không chấp nhận những cuộc đi đêm mờ ám, sau lưng nhân dân và quân đội, để mất đất, mất biển, mất đảo, chủ quyền bị vi phạm, nền độc lập giành lại bằng xương máu bị chà đạp phũ phàng như hiện nay.

Việc bạch hóa đầy đủ sự kiện Thành Đô là thuộc quyền được biết của mỗi công dân Việt Nam.

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

VOA. Điếu Cày tới Mỹ- Phỏng vấn nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng

Nguồn VOA

Hoài Hương-VOA

22.10.2014

Điếu Cày tới Mỹ- Phỏng vấn Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng

Sau khi blogger Điếu Cày được Hà Nội trả tự do và tức tốc tống xuất ra khỏi Việt Nam, Ban Việt ngữ -VOA đã tiếp xúc với các nhà báo độc lập ở trong nước để tìm hiểu phản ứng của giới tranh đấu cho dân chủ ở nước nhà.

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Ban Việt ngữ-VOA, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng cho rằng việc Điếu Cày được thả khỏi nhà tù là một tin vui, không những cho ông, mà còn cho Phong trào Dân chủ nói chung. Tiến sĩ Phạm Chí Dũng nhận định:

“Mặc dù chúng tôi đã dự báo trước về chuyện này nhưng vẫn là một niềm vui. Vấn đề Điếu Cày không chỉ là vấn đề riêng của Điếu Cày mà đó còn cho phong trào dân chủ ở Việt Nam nói chung nữa. Đơn giản là một điều thế này: tù nhân lương tâm quan trọng nhất như là Điếu Cày mà được thả, thì theo tôi đã có một sự nhượng bộ đáng kể từ phía nhà nước Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế và đối với đòi hỏi của Hoa Kỳ. ”

Ông Phạm Chí Dũng bày tỏ hy vọng rằng trong những ngày sắp tới, sẽ có thêm những người tù chính trị khác được phóng thích, như người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Mỹ đã bày tỏ hy vọng trong cuộc họp báo của bà trong ngày thứ Ba.

Về nguyên do Hà Nội buộc nhà báo Điếu Cày phải lập tức rời Việt Nam ngay sau khi ra khỏi nhà tù, tương tự như trường hợp của Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, lại không cho ông báo tin cho gia đình biết, nhà báo Phạm Chí Dũng nói:

“Điều đó cho thấy là họ sợ, nhà nước e sợ những nhân vật này (như Cù Huy Hà Vũ và Điếu Cày) sẽ tạo ra ảnh hưởng trong giới dân chủ ở Việt Nam, nhưng mà thực sự ra thì tình hình ở Việt Nam thì đó gần như là một nỗi sợ bóng sợ gió, khi họ cảm thấy rất thiếu tự tin, và từ tình trạng thiếu tự tin như vậy thì vấn đề quản lý đất nước, quản lý xã hội, quản lý an ninh đối với họ trong thời gian tới sẽ là một thách thức rất lớn.”

Ông Phạm Chí Dũng cho rằng vụ blogger Điếu Cày được trả tự do có liên hệ trực tiếp tới sự hiện diện của hai quan chức cấp cao Mỹ tại Việt Nam ngay trong lúc này. Đó là Trợ Lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao động Tom Malinowski, đến Việt Nam để thảo luận việc củng cố và mở rộng Quan hệ Đối tác Toàn diện với Việt Nam, và Đại diện Thương Mại Mỹ Michael Froman có mặt ở Việt Nam để đẩy mạnh thương thuyết Hiệp định Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương TPP với Hà Nội.Tiến sĩ Phạm Chí Dũng nói:

“Tôi cho là hoàn toàn có mối liên hệ so sánh với nhau tại vì đã có những dẫn chứng trong lịch sử, gần đây nhất là vào đầu tháng Ba năm nay. Tháng Ba 2014, nữ Thứ trưởng phụ trách các vấn đề chính trị Wendy Sherman của Hoa Kỳ sang Việt Nam, lúc đó thực ra chưa xuất hiện tín hiệu gì, nhưng mà đột nhiên, trường hợp ông Nguyễn Hữu Cầu, Đại úy Quân lực VNCH được thả, rồi sau đó dẫn tới một loạt tù nhân chính trị như Đinh Đăng Định, Nguyễn Tiến Trung, Vi Đức Hồi rồi sau đó là Cù Huy Hà Vũ. Đó là lần đầu tiên từ năm 1975 nhà nước Việt Nam thả nhiều người đến thế, tới 5 tù nhân. Sau Lễ Quốc Khánh 2/9, mặc dù Điếu Cày chưa được thả nhưng mà đã có bảy tù nhân chính trị, chủ yếu là người thuộc chế độ cũ được thả ra. Sau đó thì đến Điếu Cày. Điếu Cày là người thứ 14 trong năm. Phải nói năm 2014 là một năm đặc biệt, và ứng với con số 14 thì đã có 14 tù nhân chính trị được thả ra. Tôi cho là vấn đề đó có liên hệ mật thiết với vấn đề TPP, và vấn đề TPP lại liên hệ mật thiết với vai trò của ông Froman, tức là Đại diện Thương mại của Mỹ.”

Trong khi cộng đồng người Việt hải ngoại đang ăn mừng việc nhà báo Điếu Cày được trả tự do và đã tới Hoa Kỳ, một số người lo ngại một khi rời khỏi nước, thì cũng như nhiều người khác, dù kiên cường tới đâu, cuộc đấu tranh của những người bên ngoài nước cũng sẽ kém hiệu quả, nhà báo Phạm Chí Dũng nói điều đó không nhất thiết xảy ra:

“Vè khách quan có thể nói như vậy. Người đấu tranh dân chủ bất đồng chính kiến luôn luôn phải chịu những rủi ro trực tiếp và gián tiếp, mà người ở ngoài nước khi ngồi trong phòng lạnh gõ bàn phím sẽ không bị một mối đe dọa nào cả. Tuy nhiên khó khăn đó có thể khắc phục được nếu như những lực lượng dân chủ ở ngoài nước đoàn kết thống nhất với nhau. Muốn làm nên một sự nghiệp lớn lao nào đó thì những lực lượng hải ngoại phải biết thống nhất với nhau và thống nhất với những nhân vật lưu vong ở trong nước đi ra.”

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Đoan Trang : Đòi quyền ư? Đòi cái gì?

Nguồn phamdoantrang

Wednesday, October 22, 2014

Ngày 21/10/2014, người tù lương tâm nổi tiếng – blogger Điếu Cày – được chính quyền Việt Nam “đày” sang Mỹ.

Sự kiện này đã, đang, và sẽ được nhiều blogger, giới đấu tranh dân chủ trong nước và nước ngoài coi là một tin tốt lành. Điếu Cày, với những hy sinh của ông suốt gần 10 năm qua, sẽ được đồng bào ở hải ngoại đón tiếp hân hoan và nhiệt thành.

Nhưng xen lẫn trong niềm vui, cũng có cả những chua xót.

Chính quyền luôn “thắng lớn”

Dieu_Cay_slider-680x340.jpg
Nỗi chua xót thứ nhất là, việc trả tự do cho Điếu Cày mà thực chất là trục xuất sang Mỹ “cho rảnh nợ”, chỉ một lần nữa cho thấy chính quyền Việt Nam sử dụng công dân mình, nhất là những người bất đồng chính kiến, như con bài để mặc cả, đổi chác như thế nào. Và điều đáng nói là giới đấu tranh dân chủ cả trong và ngoài nước đều đi đúng vào hướng mà chính quyền mong muốn: Tất cả đều sa vào những cuộc đấu tranh đòi “free Nguyễn Tiến Trung”, “free Lê Quốc Quân”, “free Điếu Cày”, v.v. tóm lại vận động trả tự do cho tù nhân lương tâm, mà xao lãng những vấn đề khác – những vấn đề thực sự là mấu chốt của cải cách chính trị, mà chính quyền luôn tìm cách lờ đi.

Đó là sửa đổi Hiến pháp, cải cách tư pháp để đảm bảo sự độc lập của tư pháp. Là sửa đổi Bộ luật Hình sự, sửa Luật Báo chí, Luật Đất đai, v.v. Là hủy bỏ tất cả những điều luật và quy định “xiết chặt quản lý” thay vì bảo vệ quyền tự do của người dân – như hàng loạt điều khoản vi phạm nhân quyền trong Bộ luật Hình sự và những nghị định, thông tư đầy rẫy vô lý, vi hiến…

Chính quyền đưa tù nhân lương tâm ra làm công cụ để đổi chác. Giới hoạt động dân chủ liền vận động quốc tế gây sức ép để buộc nhà nước Việt Nam phải trả tự do cho tù nhân lương tâm, mà chỉ riêng việc vận động cho một người thôi cũng đã làm hao tổn không biết bao nhiêu tâm trí, sức lực, nguồn lực. Có lẽ mỗi năm, mỗi tổ chức chỉ cần tiến hành 1-2 chiến dịch cũng đủ… hết sức, hết thời giờ, hết tiền. Mỗi cá nhân được thả lại được coi là một thắng lợi của cuộc đấu tranh, đủ làm giới đối kháng hoan hỉ, cộng đồng quốc tế ghi nhận. Còn những vấn đề mấu chốt kia thì vẫn giữ nguyên trạng.

Biến công dân thành tù nhân lương tâm rồi đem ra mặc cả quả là có lợi: Vừa có cái để đổi chác với Mỹ và Tây phương, vừa gây hao tổn nguồn lực của giới đấu tranh dân chủ (nhất là cộng đồng người Việt ở hải ngoại), lại vừa phân tán, đánh lạc hướng sự tập trung của họ khỏi các vấn đề có tính chất tử huyệt của chế độ. Lợi nhiều như thế, chẳng tội gì nhà nước không duy trì việc bỏ tù “bọn phản động”. Suy cho cùng, nhà nước mới thực là bên thắng, mà thắng lớn.

Điều đau khổ là kể cả có biết vậy, giới hoạt động dân chủ và cộng đồng quốc tế cũng không thể không đấu tranh cho tự do của tù nhân lương tâm, vì ngoài ý nghĩa chính trị thì đây cũng là chuyện nhân đạo. Và thế là, họ tiếp tục đi đúng hướng mà chính quyền Việt Nam mong muốn: Sa vào cuộc đấu tranh cho những cá nhân cụ thể mà quên mất cái lớn hơn.

Tu-Nhan-Luong-Tam.jpg
Nguồn ảnh: Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ (2011)

Sự bế tắc của cuộc đấu tranh

Trong niềm vui đón mừng Điếu Cày được tự do, vẫn có những cái nhìn của blogger nói lên nỗi chua xót thứ hai.

Ông Lê Quốc Tuấn, thành viên phong trào Con Đường Việt Nam, viết: “Một tương lai đích thực cho người Việt Nam vẫn còn nằm ở phía trước, cho đến khi đại đa số người Việt hiểu được rằng dân chủ tự do và quyền con người quan trọng hơn cơm áo qua ngày của một loại đời sống cúi mặt nhẫn nhục chờ đợi như hiện nay để cùng đứng dậy, tìm đến nhau cho một câu trả lời chung. Và, nếu người Việt Nam còn tiếp tục chịu đựng, đến lúc các nước phương Tây sẽ thấy họ lẻ loi trong việc cứ đi đòi hỏi Hà Nội những điều mà ngay chính người dân không màng đến… Khi ấy, tôi tin rằng những người tù lương tâm sẽ không còn được thả nữa”.

Một thành viên khác của Con Đường Việt Nam, ông Hoàng Triết, cũng bình luận trên Facebook: “Dân chủ của Việt Nam không thể nào đến từ những người đấu tranh đơn độc trong nước. Càng không thể đến từ những nỗ lực giúp đỡ từ hải ngoại. Và càng không thể từ sự quan tâm của người nước ngoài…. Khi mà đại đa số người dân trong nước chẳng muốn làm gì cả”.

Câu hỏi đặt ra là: Tại sao ĐẠI ĐA SỐ người dân trong nước lại chẳng muốn làm gì cả?

Có phải vì các nhà đấu tranh chưa hiểu đúng, hoặc không thật hiểu người dân Việt Nam không?

Dân chủ, tự do, nhân quyền. Đó đều là các khái niệm đẹp đẽ, và đều trừu tượng. Một người dân thường điển hình, chẳng hạn, một công chức ở Hà Nội hoặc TP.HCM, khi nghe câu “dân chủ tự do và quyền con người quan trọng hơn cơm áo qua ngày của một loại đời sống cúi mặt nhẫn nhục”, chắc hẳn sẽ có suy nghĩ phản biện như thế này:

“Sao? Chúng tôi đâu có thấy chúng tôi mất tự do gì đâu? Chúng tôi có nhẫn nhục cúi mặt gì đâu. Chúng tôi đi làm hàng ngày, hôm nào có kha khá tiền thì đi nhậu, không có thì về nhà xem tivi, thỉnh thoảng đi hát karaoke, xem phim, du lịch quanh quanh. Chúng tôi vẫn đọc báo đều, vẫn có Internet để vào mạng, lên Facebook chém gió, vẫn có tivi mà xem các game show, nóng nực vẫn có cái máy điều hòa, lạnh vẫn có máy sưởi… Chúng tôi có thấy chúng tôi làm sao đâu mà các vị bảo chúng tôi là đang nhẫn nhục, phải đòi tự do?

Ông Điếu Cày đấu tranh gì gì đấy, thì đi tù, rồi được Mỹ nó bảo lãnh cho qua. Ừ, tốt, cũng mừng cho ông ấy. Nhưng mà cụ thể ông ấy đòi hỏi cái gì ấy nhỉ? Tự do à? Ủa, thì chúng ta vẫn tự do mà, có ai bị làm nô lệ như thời thuộc Pháp đâu? Ổng đòi tự do báo chí à? Ô hay, thì chúng ta vẫn lên mạng viết lách, lên Facebook chém gió ầm ầm kia kìa; vẫn mua báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Pháp luật Thành phố… ê hề ngoài sạp kìa, có thiếu gì đâu, mất gì đâu? Tóm lại là các vị đòi cái gì?”.

Tự do, dân chủ, nhân quyền là các khái niệm đẹp đẽ, nhưng cũng chính là cái bẫy chết người mà các học giả, các nhà đấu tranh trong nước và hải ngoại rất dễ rơi vào: Đa số người dân không hiểu chúng là cái gì, mà những nhà hoạt động thì lại đang đấu tranh cho những thứ rất “chung chung”, “mơ hồ” đó. Và đi đến tận cùng con đường tranh đấu, nhà hoạt động bị bỏ tù, trở thành tù nhân lương tâm, trong khi dân chúng đa số không hiểu vì sao họ phải quan tâm đến một cá nhân đã bị cầm tù vì một sự nghiệp không liên quan gì đến họ.

xi%E1%BB%81ng%2Bx%C3%ADch.jpg
Hình ảnh xiềng xích, còng, dây thép gai… là biểu tượng của sự mất tự do,
nhưng đang tỏ ra rất thiếu thuyết phục trong tuyên truyền,
vì đa số người dân VN chỉ thấy nghĩa đen của vấn đề là họ không hề bị xích chân tay gì cả.
Nguồn ảnh: PJMedia

Giới hoạt động dân chủ tiếp tục đi vào hướng mà chính quyền Việt Nam mong muốn, nhưng ở đây thì lại ngược hoàn toàn với phần trên: Họ sa vào cuộc đấu tranh cho những điều có vẻ rất xa vời, trừu tượng, lý thuyết đối với dân chúng, mà quên mất những lợi ích cụ thể, rõ ràng trước mắt người dân, nôm na như quyền được dùng thực phẩm sạch, không phải uống rượu giả, bia giả chẳng hạn.

Các quyền đất đai cũng là một lĩnh vực gần gũi, sát sườn với nông dân. Nhưng khẩu hiệu “đấu tranh vì quyền đất đai” vẫn là một khái niệm chung chung, trừu tượng, cần được cụ thể hóa hơn nữa, ví dụ trở thành mục tiêu “đền bù công bằng”. (Thế nào là đền bù công bằng, đền bù công bằng thì phải được thực hiện ra sao, lại cũng là những điều cần làm rõ).

Có lẽ, chỉ khi nào phong trào đối kháng ở Việt Nam tìm được cách đấu tranh vì những điều cực kỳ cụ thể, thì việc làm của họ mới trở nên dễ hiểu và dễ thuyết phục dân chúng.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment