Đến đã đủ lâu! Giờ cũng sẵn sàng để… ra đi! (… về với Chúa)

- Phổ biến thông tin đa chiều, và lên tiếng vì những bất công xã hội là việc làm cần thiết và đúng đắn. – Tự do thông tin là bước khởi đầu để có được dân chủ thực sự, giúp đưa đất nước đi lên và thoát khỏi khốn khó đói nghèo.

- Đừng lầm lẫn giữa : thứ tha những lỗi lầm đã qua, với việc nuôi dưỡng những sai phạm đang diễn ra để chúng cứ tiếp tục tồn tại và trầm trọng hơn nữa! – Đó là ác chứ không phải ái!

- Đừng để bị nhập nhằng giữa “Đất Nước, Tổ Quốc” với đảng cầm quyền! “Đất Nước, Tổ Quốc” là mãi mãi, còn đảng cầm quyền chỉ là nhất thời!

Theo dõi các links tin từ twitter, được cập nhật thường xuyên ở cột phải

Posted in khề khà | Tagged , | 1 Comment

Nguyễn Trung : Chúng ta lựa chọn gì cho tổ quốc? (Bài 3 viết về Đại hội XII sắp tới c ủa ĐCSVN)

Nguồn viet-studies

Bài 1: Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy

Bài 2: Hiểm họa đen?

Lời nói đầu

Nước Việt Nam là của người Việt Nam!”

Đấy là khẩu hiệu quyết định nhất làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945.

Người viết bài này mong khái nhiệm “chúng ta” ở đây được hiểu với nghĩa như vậy.

Đất nước 40 năm độc lập thống nhất rồi, tôi thấy rất đau lòng hôm nay vẫn phải mở đầu bài viết của mình với đôi lời định nghĩa như vậy về khái niệm “chúng ta”. Đơn giản vì đã 69 năm trôi qua, thế nhưng hôm nay vẫn còn không ít những rạn nứt chia rẽ cộng đồng dân tộc Việt Nam ta, đang làm mờ đi hay làm thiếu vắng khái niệm “chúng ta” khi bàn đến đại sự của đất nước.

Sự thể là qua các bài viết của mình, tôi vấp phải không ít phản ứng gay gắt từ phía người đọc: “Chúng ta” là ai trong toàn thể cộng đồng dân tộc đất nước này? Là người cai trị hay người bị cai trị? Là người nắm quyền hay là dân đen? Là ông chủ hay người đi làm thuê? Là đảng viên (ĐCSVN) hay không phải đảng viên? Là người chiến thắng hay kẻ lưu vong? Là bên thắng cuộc (Huy Đức) hay kẻ phải đi cải tạo?.. Câu chuyện còn đau lòng hơn nữa khi có người đọc nổi đoá với tôi: Khái niệm đảng ta là đảng của ai? Đấy là đảng của các ông chứ đâu phải là đảng của chúng tôi! Đến nông nỗi này mà ông vẫn còn "ngu trung" đặt vấn đề đảng viên muốn cứu nước thì phải cứu đảng trước!.. Ngôn ngữ làm nát lòng người này khiến tôi nhớ lại những ngày tháng lặn lội đi sửa sai cải cách ruộng đất tại các xã ở Trực Ninh – Nam Định cách đây hơn nửa thế kỷ…

Vâng, đã 69 năm gian truân rồi kể từ Cách mạng Tháng Tám, nhưng hình như khái niệm “chúng ta” vẫn chưa tìm được chỗ đứng phải có trong ngôn ngữ chính trị bàn về vận mệnh đất nước, nhất là hôm nay! Tại sao đất nước chúng ta cứ bị chia vụn mãi ra như vậy hả trời!?..

Song đất nước không phải là của riêng một ai. Những thách thức hôm nay đang đặt ra cho số phận đất nước cũng không đặt ra cho riêng một ai. Vì thế xin cho phép tôi trong bài này được dùng khái niệm “chúng ta” với hàm nghĩa phải có của ngôn ngữ cuộc thảo luận này: “Chúng ta” ở đây là những người chủ của đất nước, không phân biệt một ai.

Người viết cũng xin phép áp đặt sự không phân biệt như thế để kêu gọi mỗi người Việt chúng ta cùng suy nghĩ và cùng lựa chọn cho đất nước con đường phải đi và những việc phải làm. Vì đất nước này là của mỗi chúng ta! Tìm ra sự đồng thuận cao nhất để thực hiện sự không phân biệt này.

I. Sự lựa chọn của địa lý

Trước khi bàn đến chủ đề “chúng ta lựa chọn gì cho tổ quốc?”, xin lưu ý các điều kiện địa lý của nước ta trong bối cảnh địa chính trị và địa kinh tế hôm nay của thế giới và của khu vực tự nó đã định ra những hướng đi tất yếu và khách quan đất nước phải lựa chọn, trong khi đó chúng ta bây giờ mới bắt đầu bàn đến lựa chọn gì. Từ cổ chí kim luôn là như vậy, bất chấp khả năng nhận thức của chúng ta. Cho nên câu chuyện còn lại của chúng ta hôm nay thật ra chỉ là: chấp nhận sự lựa chọn nào, thuận hay nghịch với tất yếu khách quan của sự vật…

Trong bài 2 “Hiểm hoạ đen”, phần I “Thế giới đã sang trang[1], tôi đã trình bầy khái quát cục diện thế giới đa cực hôm nay với nhiều biến động sâu sắc khó lường, nhạy cảm với mọi quốc gia; nhiều khu vực trên thế giới mất ổn định hơn trước hoặc đang có chiến tranh ác liệt (Trung Đông, thánh chiến ISIS, Ukraina, dịch bệnh ebola…)… Trong đó, những vấn đề nổi bật liên quan đến Việt Nam là:

· quan hệ và mâu thuẫn Mỹ – Trung trở thành yếu tố chi phối thế giới trong thế kỷ 21,

· Châu Á – Thái Bình Dương trở thành trận địa chính của những mối quan hệ song phương Mỹ – Trung,

· siêu cường Trung Quốc đang lên với sức mạnh áp đảo tại chỗ trực tiếp uy hiếp nghiêm trọng Việt Nam, đồng thời trở thành vấn đề của khu vực Đông Nam Á và cả thế giới.

Trong phần I này tôi đặc biệt lưu ý Trung Quốc đang khai thác cục diện quốc tế mới rất phức tạp, nhằm dấn thêm những bước đi mới trên con đường trở thành siêu cường, đấy là: (a) đối nội nhấn mạnh nước giầu quân mạnh để thực hiện giấc mơ Trung Hoa, (b) đối ngoại một mặt xây dựng liên kết Trung – Nga, mặt khác đưa chiến lược bá chiếm Biển Đông bước vào giai đoạn mới,trong đó Việt Nam được coi là đột phá khẩu cần khuất phục.

Tính chất quyết liệt của vấn đề là ở chỗ siêu cường đang lên Trung Quốc bắt đầu đi vào thời kỳ đẩy mạnh bành trướng ảnh hưởng quyền lực để tự khẳng định chính nó, bên trong lấy chủ nghĩa dân tộc (Đại Hán) nuôi dưỡng giấc mộng Trung Hoa làm động lực[2], đối với bên ngoài thì khẳng định chủ quyền theo đường lưỡi bò 9 vạch và lợi ích cốt lõi không thể nhân nhượng của Trung Quốc ở Biển Đông (tuyên bố của bộ trưởng quốc phòng Thường Vạn Toàn tại Shangri La, Singapore 30-05-2014, điện đàm Tập Cận Bình – Obama 15-07-2014).

Tuy nhiên việc giàn khoan HD 981 phải di dời đi chỗ khác sớm hơn 30 ngày so với dự kiến do cho thấy Trung Quốc không phải muốn làm gì cũng được. Nguyên nhân thất bại này là vấp phải sự phản đối kiên quyết của Việt Nam và sự lên án hầu như của cả thế giới.

Trong giai đoạn mới hiện nay lúc tiến lúc thoái, “…song trọng tâm lấn tới của Trung Quốc bây giờ nhằm vào vùng biển đảo của Việt Nam. Về lâu dài Trung Quốc sẽ dùng các thủ đoạn và mọi hình thức can thiệp mềm hoặc rắn, quyết biến Việt Nam thành chư hầu, coi đây là một khâu chiến lược quyết định nhằm khống chế khu vực Đông Nam Á và ngoi lên siêu cường tranh giành ảnh hưởng với Mỹ” – như tôi đã trình bầy trong thư ngày 24-07-2014 gửi các thành viên chủ chốt Bộ Chính trị.

Cục diện quốc tế và khu vực nêu trên khách quan đặt ra cho Việt Nam 3 kịch bản để lựa chọn, không ý thức hệ hay chủ nghĩa nào có thể xoay chuyển được, đó là:

Kịch bản 1: Chịu khuất phục làm chư hầu để Trung Quốc sử dụng làm bàn đạp bành trướng trong khu vực Đông Nam Á.

Kịch bản 2: Làm lá chắn hay khu đệm trung lập giữa một bên là Trung Quốc và một bên là các nước Đông Nam Á.

Kịch bản 3: Tự vươn lên giữ vững độc lập chủ quyền trong mọi biến động của khu vực và thế giới, cùng đi với cả thế giới để trở thành một đối tác dấn thân cho lợi ích của hoà bình và hợp tác mà Trung Quốc và cả thế giới đều chấp nhận.

Cũng có thể có một kịch bản thứ tư nữa là đi hẳn với một bên chống một bên. Song đấy sẽ chỉ là một dạng khác của kịch bản 1 mà thôi, ta sẽ không thoát được thân phận chư hầu và làm lính đánh thuê không cho bên này thì cho bên kia, đất nước sẽ trở thành trận địa tranh chấp của các bên. Vì lẽ này không bàn đến kịch bản thứ tư.

Xin lưu ý: Liên minh Việt – Mỹ để chống Trung Quốc là chuyện không thể, vì Mỹ không lựa chọn đối đầu với Trung Quốc ngoại trừ hoàn cảnh bất khả kháng, phía ta cũng không lựa chọn chống Trung Quốc trừ phi bị Trung Quốc xâm lược. Vả lại Việt Nam như hiện tại không có đủ những giá trị chung với Mỹ để tạo ra một liên minh với nghĩa là đồng minh (như Nhật, Hàn Quốc, Philippines…).

Nhưng liên minh Việt – Mỹ để tăng cường khả năng bảo vệ đất nước là đòi hỏi sống còn, song liên minh này chỉ trở thành hiện thực một khi Việt Nam lựa chọn sự phát triển của mình phù hợp với lợi ích chung của Mỹ cũng như của cộng đồng khu vực và thế giới.

Nói cụ thể: Về danh nghĩa chính thức, Mỹ đã trở thành đối tác toàn diện của Việt Nam, nhưng nội dung còn chưa qua thời kỳ sơ khởi và chưa thể có thực chất, vì các lẽ:

(a) Còn chế độ toàn trị như hiện nay thì không thể tạo ra một liên minh với Mỹ, vì Mỹ không thể tin cậy ta, và nội bộ Mỹ cũng không chấp nhận; hơn nữa cũng không thể ảo tưởng chờ đợi Mỹ sẽ bỏ công sức để bảo vệ chế độ toàn trị ở Việt Nam.

(b) Một Việt Nam của chế độ toàn trị như hiện nay tất yếu có những yếu kém đối nội mang tính chất quyết định, vì thế phía Việt Nam không thể nào đoạn tuyệt được với chính sách đối ngoại “leo dây”. Chính vì lý do này Mỹ chỉ có thể có mối quan hệ với phía Việt Nam ở mức chiến thuật, chứ không thể ở mức liên minh chiến lược.

(c) Hơn nữa tự thân phía Việt Nam vì bản chất toàn trị của chế độ cũng không dám tạo ra một liên minh như thế để bảo vệ tổ quốc, vì nỗi lo mất chế độ[3]. Giữ chế độ toàn trị như hiện nay, không có đủ điều kiện đối nội và đối ngoại tạo ra một liên minh đúng đắn với Mỹ mà lợi ích quốc gia đang đòi hỏi.

(d) Mỹ hiện nay chủ động để mở cánh cửa cho hình thành một liên minh Việt – Mỹ với mục đích củng cố hoà bình và hợp tác trong khu vực, đồng thời kiềm chế những bước đi bá quyền của Trung Quốc. Hiện nay Mỹ đang nỗ lực khuyến khích hình thành một liên minh có thể với Việt Nam với điều kiện Việt Nam phải tự thay đổi. Quan điểm này nằm trong chiến lược trục xoay Châu Á – Thái Bình Dương và khách quan phù hợp với lợi ích quốc gia của Việt Nam.

Một đặc điểm vô cùng quan trọng trong cục diện quốc tế thời đại chúng ta đang sống là Mỹ, cộng đồng đa số các nước trên thế giới và Việt Nam cùng nhau chia sẻ nhiều lợi ích chung hơn bao giờ hết so với mọi thời đại trước đây. Trong xu thế mới này, riêng Việt Nam và Mỹ lần đầu tiên khách quan – do địa kinh tế và địa chính trị quyết định – cùng nhau chia sẻ nhiều lợi ích chiến lược chưa từng có. Nói riêng về Việt Nam: Lần đầu tiên trong lịch sử của mình Việt Nam có cơ hội với tính cách là một quốc gia độc lập có thể mở cửa cùng đi với cả thế giới để phát triển chính mình và để trở thành một thành viên có ý thức trách nhiệm chung trong cộng đồng quốc tế, và đây là con đường duy nhất để nước ta với tính cách là một quốc gia độc lập thực hiện được chung sống hoà bình và hữu nghị hợp tác bên cạnh Trung Quốc.

Tôi muốn quỳ xuống nói với từng người Việt Nam, hoặc muốn đứng thẳng quát to vào mặt từng người: Bỏ lỡ cơ hội này sẽ đời đời mang tội với tổ quốc!

Cuối thập kỷ 1980s khi các nước Liên Xô Đông Âu cũ sụp đổ, Việt Nam đã một lần có một cơ hội tương tự như thế nhưng đã bị bỏ lỡ. Song cơ hội hồi cuối thập kỷ 1980s không lớn và không thật hoàn toàn rõ ràng, và đồng thời cũng không thôi thúc bức thiết “sống hay chết!?” như cơ hội hôm nay.

Lợi ích quốc gia Việt Nam trong cục diện quốc tế mới hiện nay đòi hỏi phải sớm tiến hành triệt để cải cách chính trị để có những điều kiện tiên quyết từ đối nội cho phép (1) phát huy nội lực của một quốc gia độc lập tự chủ, (2) tiến tới tạo ra được một liên minh với Mỹ với nội dung và tinh thần nêu trên. Đòi hỏi này ngày nay trở thành một trong những điều kiện tiên quyết của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc và đưa nước ta vào một thời kỳ phát triển mới. Xin đừng bao giờ quên: Không có một đất nước tự do của con người tự do để có được nội lực và bản lĩnh phải có, Việt Nam chỉ có thể là một đối tác què quặt, ăn xin, và vì thế không thể liên minh với bất kỳ ai dù ta muốn, kể cả với Mỹ.

- Tìm kiếm liên minh với Mỹ là hút đối kháng của Trung Quốc vào Việt Nam! Có nên không?

- Trung Quốc đã không dưới một lần “đối kháng” với Việt Nam ngay từ lúc Việt Nam còn đang chống Mỹ. Vậy lý do này không xác đáng. Sự kiện giàn khoan HD 981 chắc sẽ có diễn tiến khác nếu không có thái độ quyết liệt của Mỹ.

- Nhưng Mỹ đã bỏ rơi Cộng Hoà Việt Nam, làm ngơ lúc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa. Như vậy làm sao mà liên minh được?

- Đúng vậy, nhưng thế giới bây giờ khác với cách đây 40 năm. Việt Nam cũng khác cách đây 40 năm, Mỹ cũng vậy. Đừng lúc nào quên, ngày nay đi được với Mỹ đồng nghĩa có khả năng đi được với cả thế giới.

- …

- …

II. Bàn về các kịch bản

Chắc chắn toàn thể cộng đồng dân tộc Việt Nam chúng ta không bao giờ có thể chấp nhận kịch bản 1, do đó không phải bàn đến nữa.

Tuy nhiên, điều đáng lo ở đây là quá trình phát triển của nước ta – đặc biệt là từ bước ngoặt Hội nghị Thành Đô 1990 – đã tích tụ những yếu kém và sai lầm đã và đang từng bước biến nước ta trên thực tế và trên những phương diện nhất định trở thành một dạng chư hầu kiểu mới của Trung Quốc (như đã phân tích trong bài 2). Tạm gọi đấy là hiện tượng (đang) trở thành chư hầu kiểu mới một cách gần như là vô ý thức hay là không ý thức được. Nghĩa là trên thực tế kịch bản 1 đã và đang trở thành hiện thực từng phần rồi, nhưng ĐCSVN không nhận biết được và cho đến nay chưa một lần báo động cho cả nước! Điều đáng lo nhất là sự kiện giàn khoan HD 981 hình như vẫn chưa đủ nghiêm trọng để có thể loại bỏ hẳn sự vô thức này đang còn tồn đọng ở mức độ nhất định trong không ít những người nắm vận mệnh đất nước. Đây là vấn đề cần phải được giải quyết dứt điểm tại đại hội XII sắp tới của ĐCSVN.

Kịch bản 2: Vừa không thể chấp nhận, vừa không khả thi.

(a) Không thể chấp nhận, vì Việt Nam như hiện nay quá yếu kém về nhiều mặt và do đó không thể đảm đương nổi một vai trò lá chắn cho bất kỳ ai hay là một khu đệm trung lập; cũng chẳng có một bên hữu quan nào chấp nhận hoặc tin tưởng giao cho Việt Nam như hiện nay một vai trò như thế.

(b) Kịch bản này dù ta muốn cũng không khả thi, đơn giản vì nước ta như hiện nay không thể là một Thuỵ Sỹ Việt Nam ở Đông Nam Á. Không biết đến bao giờ mới có thể có một Thuỵ Sỹ Việt Nam như thế để đảm đương vai trò này, hay là không bao giờ. Hơn nữa vì yêu cầu bành trướng quyền lực của một nước rất đông dân, siêu cường đang lên Trung Quốc không chấp nhận một quốc gia láng giềng nào là trung lập, dù có xin cũng không được, kể cả nước lớn như Ấn Độ. Láng giềng với Trung Quốc chỉ có thân phận: hoặc là đối tượng của bành trướng, nếu không thì phải đi với Trung Quốc như là Nga hiện nay. Chỉ trừ trường hơp TQ không ăn thịt nổi thì mới tha làm phúc – nghĩa là chấp nhận là đối tác. Quan điểm "Việt Nam không đi với bất kỳ một bên nào để chống lại một bên thứ ba" thực ra là lỗi thời (xem Thế giới đã sang trang) và vô nghĩa đối với Trung Quốc; quan điểm này trên thực tế che giấu sự nhu nhược và đầu hàng trá hình; trong khi đó sự thật là Việt Nam đã bị cột chặt vào Trung Quốc trên nhều phương diện.

Kịch bản 3: Là đáng bàn nhất.

Cũng có thể gọi đấy là kịch bản tự đứng vững trên đôi chân của mình trong mọi tình huống, không chống lại bất kỳ ai trên thế giới này, nhưng đi với cả thế giới để phát triển chính mình và để dấn thân cho lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, gắn lợi ích phát triển của chính mình với lợi ích phát triển chung của cộng đồng quốc tế, đi với cả thế giới để huy động sự hậu thuẫn và ủng hộ của cả thế giới cho sự nghiệp bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trước mọi nguy cơ bị xâm lấn. Nói nôm na, đây là sự lựa chọn trở thành một người có nhân cách và tư thế không ai bắt nạt được, sống được với tất cả mọi người, làm bạn được với tất cả mọi người, có ích cũng như được sự tôn trọng và tin cậy của tất cả mọi người. Một trong những cái đích sâu xa của kịch bản này là tạo ra tình thế: Một khi siêu cường bá quyền Trung Quốc xâm phạm độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, thì sự việc này đồng nghĩa với xâm phạm những giá trị và lợi ích chung của cộng đồng thế giới và không thể được cộng đồng thế giới chấp nhận.

Đây là kịch bản duy nhất đúng cho nước ta, song đặt ra cho nước ta những đòi hỏi phấn đấu vô cùng gắt gao.

Sự thật là trên thế giới hiện có không ít quốc gia nhỏ sát nách các nước lớn hoặc ở trong tình thế nằm lọt thỏm vào thế giới đối nghịch mình mà vẫn đứng vững và tự khẳng định được mình, đơn giản vì họ phấn đấu có trí tuệ và kiên cường hơn nước ta rất nhiều. Có thể nêu ra một vài so sánh khác nữa để suy nghĩ:

Người Singapore học hỏi và lao động với một cường độ cao hơn hẳn so với người dân nước ta. Tinh thần trách nhiệm và tính khoa học trong công việc cũng cao hơn.

Nhìn vào Nhật: Thảm hoạ động đất và tsunami ngày 11-03-2011 vô cùng khốc liệt càng làm rõ thêm những giá trị và phẩm chất Nhật Bản, có thể nói cả thế giới phải kính phục…

Nếu bạn đã đọc cuốn Quốc gia khởi nghiệp của Dan Senor, bạn có thể hình dung trí tuệ và nghị lực nào của dân tộc Do Thái đầy trầm luân đã xây dựng nên nước Israel có nền kinh tế phát triển cao vào hàng đầu thế giới ngày nay giữa sa mạc và trong lòng thế giới đạo Hồi.

Bạn cũng nên chịu khó tìm đọc cuốn "Swiss Made" của R. James Breiding để hiểu những thành công phi thường của quốc gia này, tạo ra một Thuỵ Sỹ tồn tại phồn vinh giữa các hùm sói châu Âu suốt 3 thế kỷ vừa qua, và bây giờ Thuỵ Sỹ còn trở thành một trung tâm của Liên Hiệp Quốc.

Công cuộc cải cách ở Myanmar (bắt đầu từ 2011) dưới thời tổng thống Thein Sein đã hoá giải thành công trong hoà bình chế độ quân phiệt đẫm máu kéo dài nhiều thập kỷ, đưa Myanmar bước đi những bước đầu tiên vô cùng gian truân trên con đường phát triển của dân chủ, bất chấp sự lũng đoạn khủng khiếp của Trung Quốc. Mọi hiểm nguy đối với Myanmar vẫn ở phía trước. Cả thế giới tiến bộ đang hồi hộp theo dõi và đứng bên Myanmar trên con đường mới khai phá này.

Lãnh tụ Nam Phi Nelson Mandela huyền thoại (1918 – 2013) sau khi lãnh đạo cách mạng Nam Phi xoá bỏ chế độ apartheid để xây dựng thành công nước Cộng Hoà Nam Phi đã trao lại mọi quyền lực cho nhân dân…

Cuộc chiến tranh Iraq 8 năm ròng (203 -2010), Mỹ ném vào đây khoảng hai nghìn tỷ USD (thật ra có thể hơn, tuỳ cách tính) và mất khoảng 7000 sinh mạng quân nhân Mỹ. Một trong những mục tiêu chiến lược là nhằm dựng lên ở đây một chế độ dân chủ, song Mỹ đã thất bại cay đắng, đơn giản vì văn hoá đạo Hồi và nội tình các sắc tộc và bộ tộc ở Iraq lại chỉ quan tâm đến tranh giành quyền lực; thậm chí chiến tranh tôn giáo mới (nguy cơ nhà nước thánh chiến Hồi giáo ISIS) hiện nay đang có nguy cơ biến dạng quốc gia Iraq và toàn vùng.

Mùa xuân Ả-rập dù ở Ai Cập hay Lybia…sau khúc dạo đầu đầy hứa hẹn, chiến tranh giữa các sắc tộc và giữa các bộ tộc cư dân khác nhau lại đang đẩy những quốc gia này vào nội chiến mới.

Ukraina trên con đường tìm sự phát triển của dân chủ đã mất Krym và rơi vào nội chiến quyết liệt, nguy cơ đất nước bị chia cắt do sự can thiệp trực tiếp của Nga rất lớn. Song Ukraina cũng đang cho thấy họ dám chiến đấu cho con đường mình lựa chọn.

Ngay cạnh nước ta, Thái Lan từ năm 1932 bắt đầu tìm kiếm con đường trở thành nước phát triển, đến hôm nay đã chìm ngập trong 18 cuộc đảo chính, song đất nước bị giam hãm tiếp trong cái bẫy quốc gia có thu nhập trung bình, nguyên nhân chủ yếu là gần 9 thập kỷ rồi mà Thái Lan vẫn chưa sao xây dựng nổi cho mình một thể chế chính trị nhất thiết phải có của một nước công nghiệp. Trong khi đó Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore khởi sự sau Thái Lan nhiều thập kỷ nhưng đã thành công ngoạn mục, chủ yếu vì họ đã xây dựng được thể chế chính trị phù hợp… Càng rõ, thể chế chính trị mới là yếu tố quyết định cuối cùng của phát triển.

Có lẽ ở đây cũng phải nhắc đến “sự phấn đấu tự đổi đời” một cách triệt để và đáng là tấm gương cho cả thế giới suy nghĩ – đó là sự đổi thay và trỗi dậy từ đống tro tàn của chủ nghĩa phát xít và chiến tranh, để hình thành nên nước Đức và nước Nhật hôm nay, với vị thế được tôn trọng trong cộng đồng thế giới – nguyên nhân thành công chủ yếu của họ là trung thực với bài học của lịch sử và sự thật.

Trong khi đó nỗ lực đổi đời của Liên Xô cũ chỉ tạo nên một nước Nga Putin đang đặt một chân lên con đường tạo dựng đế chế Nga mới, còn lâu mới được như Liên Xô cũ, thậm chí có thể là không thể…

Vân vân…

Nghĩa là thế giới hôm nay có đủ mọi điều hay và cái dở cho nước ta là nước đi sau học tập và phấn đấu thành công, không còn phải mò mẫm gì nữa. Phải nói thế này: Đất nước phải trả giá tổn thất bao nhiêu thế hệ, cái duy nhất Việt Nam hôm nay được hưởng là lợi thế của nước đi sau. Xin ngẫm nghĩ kỹ điều này. Trong khi đó động lực quyết định làm nên mọi thay đổi trong thời đại chúng ta đang sống là thông tin và ý chí. Chúng ta hoàn toàn không thiếu những gương tốt và những kinh nghiệm xương máu trong thế giới hôm nay để học và để thay đổi triệt để chính bản thân mỗi chúng ta mà đất nước đang đòi hỏi. Không có một lý do nào có thể biện minh sống trong thời đại này mà chúng ta không thể tự thay đổi triệt để được chính bản thân mình, ngoại trừ sự biếng nhác và hèn kém của mỗi chúng ta. Mỗi chúng ta thay đổi, sẽ cùng nhau thay đổi được đất nước.

Nhìn vào những tấm gương và kho tàng kinh nghiệm của nhân loại hôm nay, tôi thành thực muốn nói chúng ta còn kém cỏi quá, ươn hèn quá, có nhiều thói hư tật xấu quá, thậm chí còn lười biếng quá, còn quá nhiều chuyện làm giả ăn thật, chưa nói đến đầu óc còn quá chật hẹp, và con mắt chưa hẳn đã muốn có tầm nhìn vươn ra bên ngoài luỹ tre làng ngàn xưa, dân trí và quan trí đều còn thấp lắm so với thiên hạ xa gần; so ngay với Thái Lan kinh tế, xã hội và thể chế chính trị nước ta lạc hậu vài chục năm… Cho phép tôi nói đến mức thế này: Một trong những cái ngu dốt lớn nhất của chúng ta là chưa thấy hết được cái ngu dốt của chính mình, hơi một tý là tưng tưng Việt Nam có cái này cái nọ nhất thế giới, nhất châu Á..! Chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm, có những chiến trận lùi xa cả nửa thế kỷ hoặc hơn nữa, mà mà niềm tự hào vẫn oang oang không ngớt như để cố át đi những yếu kém trong cuộc sống hôm nay, bất chấp cả cái lẽ tối thiểu trên đời trong giao tiếp là ăn trông nồi, ngồi trong hướng… …

Vì quyền lực tha hoá nặng nề, nơi chứa đựng nhiều điều u mê nhất trong cả nước lại là ĐCSVN. Ví dụ: Đến ngày hôm nay trong giới nghiên cứu cao cấp của ĐCSVN vẫn có người đặt câu hỏi: Xã hội dân sự là cái gì? Nó có phù hợp với nước ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội không? Chấp nhận xã hội dân sự thì mất chế độ! Làm thế nào xây dựng đảng cầm quyền ở nước ta mà vẫn giữ được chế độ chính trị một đảng?… “Chưa nên cho phép tự vận động bầu cử tại Việt Nam vì có nhiều đặc thù…” …nghĩa là chỉ nên duy trì hệ thống nhà nước được tổ chức theo kiều “đảng cử dân bầu”, cái gì không quản đươc thì nên cấm… Vân vân… Trong khi đó cuộc sống của đất nước chúng ta hôm nay bên cạnh siêu cường Trung Quốc đang lên đòi hỏi quyết liệt mỗi người dân và cả nước ta phải có một phẩm chất mới hoàn toàn khác – đến mức “tồn tại hay không tồn tại!” (“to be or not to be!”)…

Nói thẳng thắn với nhau, có lẽ chưa có thời nào trong lịch sử đất nước mà nhân dân chúng ta lại hèn kém như hiện tại so với thiên hạ toàn thế giới trong hoàn cảnh nước ta có độc lập, hèn kém so với những thách thức đất nước đang phải đối mặt. Có lẽ chưa có thời nào chúng ta hèn kém như hiện nay dưới ách cai trị do chính tay mình dựng nên. Chưa có thời nào chúng ta lại nhu nhược, tự làm tổn thương trầm trọng phẩm giá của chính quốc gia mình, và chịu để cho danh dự, độc lập chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị Trung Quốc uy hiếp, xâm phạm như hiện nay. Đất nước thật sự bị dắt mũi từ Hội nghị Thành Đô. Không biết làm sao nuốt được nỗi nhục này!

Chịu trách nhiệm toàn diện và tuyệt đối về tình trạng hèn kém nói trên của đất nước và của dân tộc là Đảng Cộng Sản Việt Nam tha hoá hôm nay. Không thể nói khác.

Chế độ chính trị đảng trị và chính sách ngu dân nhân danh thực hiện sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của ĐCSVN tha hoá hôm nay là tác nhân chính mang lại sự hèn kém này cho đất nước, đến mức mỗi chúng ta – kể cả các đảng viên ĐCSVN – hầu như không đủ năng lực và ý chí nhìn nhận ra sự hèn kém của chính bản thân mình nữa, đến mức hầu như mỗi chúng ta cam chịu hai tay buông xuôi. Đối với bên ngoài thì cam chịu nhắm mắt trước từng bước lấn tới của quyền lực mềm và quyền lực rắn Trung Quốc. Đối với bên trong, đành ngậm miệng oán trách thầm những điều ngang trái, hoặc thụ động bó tay chờ đợi, nước chảy bèo trôi được đến đâu hay tới đó – đấu tranh tránh đâu?.., hoặc có cơ hội thì bỏ nước đi tìm đường kiếm sống… Trong khi đó hàng ngày nhan nhản những cái giả – diễn – hão thay nhau hiếp đáp cuộc sống mọi mặt của đất nước… Phải nói đây là hiện tượng xã hội xuống cấp cùng cực nhất kể từ Cách mạng Tháng Tám 1945. Đại hội XII sắp tới của ĐCSVN cần mổ xẻ thấu đáo trách nhiệm này của đảng.

Trong tôi canh cánh câu hỏi phải chăng đây là thời kỳ mạt vận của khí phách và tinh hoa Việt Nam? Đau lòng lắm, xấu hổ lắm, nhưng không thể không tự cật vấn mình như thế được.

Song mỗi công dân chúng ta – dù đảng viên hay không đảng viên – cũng phải gánh chịu phần trách nhiệm riêng của chính mình về thực trạng đất nước hôm nay, không thể đổ thừa hết mọi chuyện cho chế độ. Chỉ riêng sự cam chịu một bề như vậy của mỗi chúng ta cũng đủ kết án chúng ta là tòng phạm, là đồng loã trước toà án lịch sử của đất nước, không thể nói khác được… Dân nào thì chế độ nấy – đây cũng là một quy luật của phát triển.

Tôi xin phép nói đến mức thế này: Nếu những chuyện đàn áp và làm nhục dân đang xẩy ra hàng ngày ở nước ta mà lại xảy ra ở các nước của mùa xuân Ả-rập năm nào, thì có lẽ chế độ chính trị hiện nay của Việt Nam đáng phải sụp đổ 3 hay 4 lần rồi! Nếu luận rằng “cái ỳ” này của Việt Nam là biểu hiện cao độ của sự ổn định chính trị, tôi e rằng đấy là nguỵ biện đáng xấu hổ – cho người giải thích và cho cả người chấp nhận sự giải thích này.

Đất nước này có đủ tủi nhục để không cần phải chủ động có thêm hay xúi giục gây thêm một thảm hoạ mới bổ sung nào nữa. Ở vào hoàn cảnh nước ta hiện nay, điều tai ác là sụp đổ của hiện trạng đồng nghĩa với thảm hoạ, chắc chắn sẽ thê thảm hơn nhiều lần và sẽ đẫm máu so với sụp đổ trong hoà bình của Liên Xô. Nhưng không thể vì thế nhắm mắt làm ngơ trước cái hèn kém của chính mình. Thậm chí sự ngơ điếc này chính là mầm mống chắc chắn của thảm hoạ sẽ tới mai sau. Điều cần nói rành rọt ở đây: Nhờ những nỗ lực của cả nước, nhất là trong kinh tế, (đương nhiên phần quan trọng không kém là còn nhờ cả “sức ỳ” nữa) đất nước mới thoát được mấy phen sụp đổ như thế của hệ thống chính trị – chứ không phải là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của đảng và tính ưu việt của chế độ. Song chính kết quả những nỗ lực này đặt ra đòi hỏi quyết liệt: Không thể kéo dài mãi tình trạng èo uột đến ngắc ngoải như hiện nay! Phải cải cách triệt để hệ thống chính trị hiện tại để mở đường sống cho đất nước.

Cái hèn kém đáng phê phán nhất của mỗi người chúng ta trước hết là sự giác ngộ chưa đầy đủ về quyền và trách nhiệm phải có của công dân với tư cách là người chủ đất nước của một quốc gia độc lập, là không thắng được nỗi sợ của chính mình để ý thức được và làm được quyền và trách nhiệm công dân phải có ấy của mình. Nói riêng trong hàng ngũ ăn lương từ ngân sách nhà nước – dù là ngạch đảng, ngạch chính quyền, hay ngạch đoàn thể, cái gọi là “phường giá áo túi cơm” đông quá, ăn hết nhuệ khí của đất nước và cố níu kéo sự tồn tại của chế độ toàn trị. Tôi trầm ngâm ước ao, giá mà mỗi chúng ta – trước hết là các đảng viên – dám dấn thân sống theo lương tri mình một chút, chắc chắn đất nước này đã khác hẳn rồi! Cái thấp hèn của mỗi chúng ta góp phần không ít vào việc huỷ hoại đất nước này!..

Cái sợ và sự phản ứng bầy đàn là sản phẩm tồi tệ nhất của hiểu biết thiếu hụt, là đồng minh lợi hại của mọi thế lực đen tối ngay trong lòng đất nước chứ không phải ở đâu xa, là trở lực hoặc thậm chí bị lạm dụng làm phản lực chống lại cái tiến bộ và cải cách[4]. Chẳng có sự diễn biến hoà bình hay biến chất đạo đức chính trị tư tưởng nào đáng sợ cả, mà chỉ có cái việc lấy cái được gọi là diễn biếnbiến chất này để hăm doạ sự bất bình trong lòng nhân dân và xí xoá đi cái tha hoá của quyền lực mà thôi. Phụ hoạ một cách vô ý thức vào tình trạng này chính là cái sợ của mỗi chúng ta.

- Nhưng mà, cứ làm khác là bị đàn áp! Vừa không có cái mồm để nói, trong tay vừa không có quyền!..

- Chỉ còn cách phải tự mở mồm, chấp nhận mọi đàn áp để mở mồm. Phải giành lấy quyền! Một người không làm nổi thì hè nhau cùng làm! Phải học để làm đúng.

- Nhưng mà sợ lắm. Sợ nhiều thứ.

- Chịu bó tay vì sợ thì ngày xưa đứng lên chiến đấu cứu nước để làm gì? Hãy cùng vượt lên nỗi sợ để cùng làm![5]

- …

- …

Sống há miệng chờ sung rụng đã là không ổn, nói chi đến khoanh tay chờ được ban phát quyền và trách nhiệm như thế – những thứ này phải học và phải đấu tranh mà giành lấy.

Sống cạnh Trung quốc trong thế giới hôm nay, nước ta không thể lựa chọn cách sống nước chảy bèo trôi thế nào cũng được. Tự do của chúng ta mà trời đất và tự nhiên ban tặng chỉ là sự tự do được phép tuỳ ý lựa chọn cho đất nước một trong 3 kịch bản như đã nêu trên mà thôi. Và vì tự do của chính mình, mỗi chúng ta chỉ có con đường lựa chọn kịch bản 3 cho đất nước.

Nhất thiết không thể để đất nước như thế này sống qua ngày đoạn tháng bên cạnh Trung Quốc. Để thực hiện kịch bản 3, mỗi chúng ta hãy bắt đầu từ học và quyết thực hiện quyền và trách nhiệm công dân của mình, trước tiên là để triệt để thay đổi chính mình, rồi vượt lên mọi nỗi sợ thực hiện quyền và trách nhiệm của mình góp phần vào cải cách thể chế chính trị của đất nước, đưa đất nước sang trang mới. Muốn đất nước tiến hành cải cách triệt để thể chế chính trị hiện hành trong hoà bình và phát triển, mỗi chúng ta phải quyết học như vậy. "…Đời đời sống cạnh Trung Quốc mà mỗi chúng ta không có trí tuệ, ý chí và nghị lực luôn luôn thắng được ý đồ của Trung Quốc đầy bản chất bá quyền, nước ta chỉ đáng sống trong kiếp chư hầu, nô lệ. Đã đến lúc cả nước và toàn Đảng cần hiểu rõ đòi hỏi bắt buộc này, để tiến hành bằng được cuộc cải cách chính trị sâu rộng hiện nay đã chín muồi nhằm thay đổi hẳn đất nước…" [6]

Sự sống còn của đất nước đặt ra những đòi hỏi nghiệt ngã như vậy. Song đồng thời cũng phải thấy hết tinh hình nguy hiểm:Thực trạng mọi mặt của đất nước ta hiện nay nhạy cảm đến mức cứ đụng vào sửa chữa mà ngu dốt là có thể đẫn đến sụp đổ, có lẽ còn nguy khốn hơn so với Liên Xô năm nào! Không một ai được ngoảnh mặt trước sự thật phũ phàng này vì bất kỳ lý do gì.

Quyền lực cai trị đất nước đang vin vào thực tế nhạy cảm này để chống lại cải cách, nhân danh duy trì sự ổn định. Đây là sự ngoan cố duy trì cái sống tạm thời cho quyền lực bằng cách đi sâu thêm nữa vào con đường chết của đất nước, không thể chấp nhận.

Để vượt qua sự nhạy cảm có thể gây ra sụp đổ bất cứ lúc nào như thế, chỉ có một con đường là trung thực với sự thật, mở ra đối thoại xây dựng với tất cả tinh thần trách nhiệm theo tinh thần Diên Hồng trong cả nước, từ đó tìm ra sự đồng thuận cao nhất để có khả năng tiến hành cải cách thể chế chính trị trong hoà bình và phát triển. Đấy là con đường sống. Đối thoại trung thực với sự thật như thế trong nội bộ đảng, giữa đảng và nhân dân, và giữa cả nước với nhau theo tinh thần Diên Hồng như vậy, sẽ chẳng có nguy hiểm nào có thể tước bỏ hay lấy cắp được con đường cải cách nước ta nhất quyết phải lựa chọn. Trong dân nhiều năm nay đã có không ít tiếng nói phát đi theo hướng tâm huyết này, đảng cần lắng nghe và đủ can đảm đối thoại chứ không được trấn áp tệ hại như đang làm. Hơn nữa, duy nhất nắm quyền lực trong tay, ĐCSVN có trách nhiệm ràng buộc phải chủ động và làm tất cả mọi việc có thể để tổ chức thành công đối thoại Diên Hồng như vậy.

III. Đại hội XII lựa chọn gì?

III.1. Bàn về cái không thể và cái có thể

Trước hết xin chia sẻ, 10 bạn đọc các bài viết của tôi thì có đến 9 bạn không thích phần tôi viết về ĐCSVN, càng không thích hoặc thậm chí rất ghét phần tôi khuyến nghị ĐCSVN nên thay đổi như thế nào. Thái độ như vậy không phải là vấn đề cảm tính hoặc là hệ quả của những bức xúc từ cuộc sống. Phản ứng tiêu cực này chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm dẫn tới sự khẳng định: ĐCS nói chung là không thể thay đổi được, ĐCSVN không phải là ngoại lệ. Một số trong những bạn đọc này còn viện dẫn ý kiến của Yeltsin: ĐCSLX không thể thay đổi được, chỉ còn mỗi cách đập tan nó! Những người có trách nhiệm trong đảng, trước hết là Bộ Chính trị, cần phân tích thấu đáo phản ứng này của dư luận nước ta. Bản thân tôi cũng cho sự khẳng định này có căn cứ xác đáng. Bởi sự thật là không có một ĐCS nào trong các nước Liên Xô Đông Âu cũ chịu chấp thuận cải cách. Tất cả các đảng này chỉ kết thúc bằng quá trình sụp đổ hoặc bị xoá sổ. Sự ngoan cố của ĐCSVN trước những đề nghị cải cách cũng rất rõ.

Tuy nhiên, có một khía cạnh cần xem xét dưới đây.

Trong nhiều bài viết của mình, tôi cho rằng ĐCSVN từ nhiều thập kỷ nay không còn là đảng lãnh đạo nữa, mà chỉ là lực lượng chính trị lớn nhất đang nắm lọn quyền cai trị đất nước. Vấn đề đặt ra là câu hỏi: Xử sự như thế nào với cái lực lượng chính trị lớn nhất nước này?

- Giải tán bằng luật pháp hay xoá bỏ bằng bạo lực? Cách làm này là không thể và sẽ tiếp tục không thể như thế một thời gian khá dài nữa. Lại càng không thể “bói” được là bao giờ ĐCSVN sẽ tự sụp đổ, dù rằng đây sẽ là kết cục tất yếu của tha hoá. Xoá bỏ bằng bạo lực dù muốn làm và làm được, cũng không phải là phương án tối ưu cho đất nước trong hiện tại, bởi vìsẽ gây ra binh đao nồi da xáo thịt vô cùng thảm khốc, chưa ai có thể nói trước kết cục sau đó sẽ là gì. Và kể cả một khi đã xảy ra một cuộc bể dâu như thế, trước sau cải cách vẫn là nhiệm vụ không thể trốn tránh.

- Tôi mong mỏi mỗi chúng ta hãy tự học để tự thay đổi chính mình trước tiên trước khi bắt tay vào cải cách thay đổi thể chế chính trị của đất nước, và điều này là khả thi trong thế giới hôm nay. Vậy hà cớ gì tôi lại không đồng thời cùng đặt vấn đề như thế đối với từng đảng viên và toàn thể ĐCSVN? Vả lại, như chúng ta đã thấy ở Myanmar, cải cách thể chế chính trị từ trên xuống và từ trong ra của hệ thống quyền lực là hứa hẹn thành công nhất và đỡ tốn kém xương máu nhất. ĐCSVN hiện nay có mọi điều kiện cần và đủ để cải cách thành công như thế, chỉ còn thiếu ý chí đặt lợi ích quốc gia lên trên hết[7]. Cũng có ý kiến cho rằng ĐCSVN không thể làm được cải cách này, vì bị nô lệ ý thức hệ và vì đang thiếu một minh quân giương cờ…

- Giả thiết rằng mọi nỗ lực của cả nước tìm đường cải cách bắt đầu từ trên xuống và từ trong ra trong hệ thống quyền lực của ĐCSVN đã được thực thi hết mức mà vẫn thất bại, thì phương án xoá bỏ bằng bạo lực chẳng những sẽ là không tránh khỏi sau đó, mà còn là bước phát triển tất yếu tiếp theo, tự phát từ nhân dân, và sẽ chẳng có gì ngăn nổi như đã từng xảy ra ơ nhiều nước khác, sự cáo chung của ĐCSVN sẽ trở thành đương nhiên, thảm hoạ cũng là đương nhiên. Tôi đã cảnh báo rõ ràng như vậy trong nhiều bài viết của mình.

- Cải cách ở nước ta để chuyển sang thể chế chính trị của nhà nước pháp quyền dân chủ hầu như chắc chắn sẽ là một cái gai phải nhổ trong con mắt siêu cường đang lên Trung Quốc. Bởi vì ảnh hưởng lan toả của cải cách này có thể nguy hiểm đối với Trung Quốc. Song chúng ta phải làm việc phải làm của mình, không thể chờ đợi Trung Quốc cho phép hay không cho phép. Một khi Trung Quốc học tập kinh nghiệm đã xảy ra ở Krym và Đông Ukraina quyết xóa bỏ cuộc cải cách này của nước ta, nhân dân ta sẽ lại một lần nữa phải chấp nhận hy sinh xương máu, nhưng sự nghiệp cải cách này sẽ trở thành bất khả kháng và rất triệt để, cái thòng lọng ý thức hệ và “4 tốt và 16 chữ” đang siết lên cổ đất nước sẽ bị loại bỏ dứt khoát và vĩnh viễn.

Những lý do tại sao tôi lựa chọn con đường vận động cả nước không loại trừ một ai tiến hành cải cách như thế có lẽ đã rõ.

(1) Đất nước đang đòi hỏi gay gắt phải có một thể chế chính trị mới để ra khỏi bế tắc hiện nay và để trở thành một nước công nghiệp, (2) cục diện thế giới đặt ra nhiều thách thức mới nghiêm trọng, đồng thời cũng đang mở ra vận hội mới chưa từng có đổi đời đất nước dứt khoát phải nắm lấy (3) thách thức của siêu cường đang lên Trung Quốc trực tiếp uy hiếp nước ta với ý đồ chiến lược biến nước ta thành chư hầu để đẩy mạnh bá chiếm Biển Đông – đấy là 3 yếu tố quyết định buộc chúng ta phải lựa chọn kịch bản 3 cho Tổ quốc. Sự lựa chọn này là có thể, và không được thoái thác.

III.2. Những vấn đề đặt ra cho Đại hội XII

Trong bài “Hiểm hoạ đen” (bài 2), tôi đã trình bầy khái quát ý kiến của tôi về tình hình đất nước sau 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên, với nhận xét tổng quát: Về cơ bản đây là một giai đoạn phát triển thất bại.

Nhận xét này này dựa trên các đánh giá sau đây:

(1) Thành tựu đạt được không cân xứng với nguồn lực và công sức đã huy động được, nhiều cơ hội lớn có tính bước ngoặt đã bị bỏ lỡ[8]; sự phát triển kinh tế theo chiều rộng đã tới ngưỡng không thể vượt qua, tích tụ cho đất nước hôm nay nhiều ách tắc lớn của cái bẫy quốc gia có thu nhập trung bình thấp, không thể đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020[9]. Xin nhấn mạnh: trong 3 thập kỷ công nghiệp hoá nước ta huy động được nguồn lực nhiều gấp đôi Hàn Quốc trong thời kỳ này, Hàn Quốc trở thành NIC (nước mới công nghiệp hoá), nhưng Việt Nam trở thành một nền kinh tế của người đi làm thuê và của đất nước cho thuê.

(2) Chế độ chính trị hiện hành xuống cấp nghiêm trọng vì tệ nạn quan liêu tham nhũng, ngày càng trở thành nhân tố trực tiếp kìm hãm sự phát triển của đất nước; xã hội nước ta từ hơn một thập kỷ nay bị khủng hoảng sâu sắc về nhiều mặt – tiêu biểu nhất là nhân dân mất lòng tin vào chế độ chính trị và đảng nắm quyền; bất công xã hội ngày càng lớn; tự do dân chủ và quyền con người bị xâm phạm nghiêm trọng; đặc trưng của chế độ toàn trị hiện nay là: nhân dân không phải là người làm chủ đất nước, đảng đứng trên Hiến pháp.

(3) Độc lập chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và nhiều lợi ích chính đáng khác của đất nước bị Trung Quốc xâm phạm và uy hiếp nghiêm trọng (hơn cả thời kỳ có chiến tranh biên giới 17-02-1979 do Trung Quốc tiến hành); đường lối đối nội và đối ngoại sai lầm đã dẫn đến tình trạng Việt Nam rơi vào vị thế quốc tế của nước phải “leo dây” (song trên thực tế là bị cột chặt vào Trung Quốc) và hầu như không có bạn hoặc liên minh với đúng nghĩa để tạo thanh thế, mặc dù Việt Nam đã thiết lập được quan hệ đầy đủ với hầu hết mọi quốc gia trên thế giới và có quan hệ đối tác chiến lược hay đối tác toàn diện với tất cả các nước có vị thế quốc tế quan trọng. Mặt nào đó mà xét, Việt Nam lâm vào một thế cô lập trên thực tế (de facto) khá nguy hiểm: Chung quanh là các nước láng giềng nhỏ yếu dễ bị Trung Quốc chi phối, ngoài biển là cái đường lưỡi bò đang hình thành, ngoài ra rất dễ bị chấn thương trên các phương diện kinh tế, chính trị, quân sự.

Có thể kết luận: Sau 40 năm độc lập, trong đó có 30 năm đổi mới, Việt Nam hiện nay là một nước yếu về đối nội và đối ngoại so với những thách thức phải đối mặt, con đường phát triển đang bế tắc với cơ cấu kinh tế và thể chế chính trị toàn trị hiện tại, đất nước chịu sự lệ thuộc và lũng đoạn nghiêm trọng từ phía Trung Quốc mà chưa có cách gì thoát ra được, khoảng cách tụt hậu ngày càng rộng. Nguồn gốc của tình hình này là những yếu kém và sai lầm của ĐCSVN trong suốt thời kỳ này.

Xin nhắc lại, khoảng trên 10 năm qua trong các quá trình chuẩn bị các đại hội đảng, liên tục kể từ đại hội IX, X và XI của ĐCSVN, các ý kiến đóng góp của dư luận trong nước – đặc biệt là của các trí thức, trong đó có nhiều đảng viên lão thành – tập trung vào 3 vấn đề quan trọng:

1. Đường lối phát triển kinh tế sai lầm, chưa có một chiến lược kinh tế nào đã đề ra có thể thực hiện được (chiến lược công nghiệp hoá, chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn, chiến lược kinh tế biển, chiến lược kinh tế vùng, chiến lược sản phẩm…), chỉ dựng lên được một nền kinh tế gia công với cơ cấu lạc hậu.

2. Thể chế chính trị bất cập, trở thành một hệ thống quan liêu ăn bám nặng nề. Các nhóm lợi ích chi phối nặng nề (a) tập đoàn kinh tế nhà nước, (b) nền kinh tế GDP tỉnh, và (c) sự vận hành theo tư duy nhiệm kỳ của quyền lực, qua đó biến dạng luật pháp và toàn bộ kỷ cương đất nước. Đây là nguyên nhân gốc kìm hãm sự phát triển của đất nước. Đất nước độc lập 40 năm, nhưng quyền làm chủ đất nước của nhân dân vẫn chưa được thực hiện, khả năng thực thi luật pháp rất thấp. Thể chế chính trị như đang tồn tại là nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu làm thất bại chiến lược công nghiệp hoá.

3. Đường lối đối ngoại nói chung không đáp ứng thoả đáng những đòi hỏi của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đặc biệt là thất bại nghiêm trọng trong chính sách đối ngoại của nước ta kể từ Hội nghị Thành Đô đã giúp quyền lực mềm và quyền lực rắn Trung Quốc lũng đoạn toàn diện và sâu sắc nhiều mặt cuộc sống của đất nước, tạo ra cho nước ta sự lệ thuộc nguy hiểm, uy hiếp trực tiếp và ngày càng nghiêm trọng độc lập chủ quyền quốc gia của ta. Quan hệ Việt – Trung như đang diễn ra có nguy cơ chặn đứng tương lai phát triển của đất nước.

Cho đến nay cả 3 vấn đề cốt lõi nêu trên tiếp tục là 3 vấn đề nóng bỏng của đất nước. Bộ Chính trị và BCHTƯ cả 3 khoá IX, X và XI cho đến nay không thèm đếm xĩa đến và vẫn giữ thái độ im lặng đối với sự đóng góp xây dựng này.

Thư ngỏ ngày 28-07-2014 của 61 đảng viên gửi Bộ Chính trị và BCHTƯ ĐCSVN đặt vấn đề:

- Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, ĐCSVN cần thay đổi cương lĩnh để chuyển hẳn sang đường lối phát triển dân tộc và dân chủ, chuyển đổi thể chế toàn trị hiện nay sang thể chế của nhà nước pháp quyền dân chủ; chấm dứt ngay các hành động sách nhiễu, trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước, đối với các tổ chức xã hội dân sự mới thành lập, trả tự do cho những người đã và đang bị kết án hình sự chỉ vì công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình.

- Bạch hoá những vấn đề nghiêm trọng trong quan hệ Việt – Trung kể từ Hội nghị Thành Đô; thảo luận thẳng thắn và dân chủ trong toàn Đảng và trong cả nước về tình hình mọi mặt của đất nước và những thách thức trước những bước đi mới rất trắng trợn của Trung Quốc muốn bá chiếm Biển Đông; vạch ra con đường phát triển để thoát khỏi cơ cấu kinh tế lạc hậu và lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc hiện nay; tạo ra hợp tác, liên kết, liên minh có hiệu quả với các nước ASEAN và trong cộng đồng quốc tế – nhất là với các cường quốc – có khả năng làm thất bại mưu đồ Trung Quốc bá chiếm Biển Đông và hậu thuẫn đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nước ta.

- Thư ngỏ yêu cầu phải có sự lựa chọn dân chủ các đại biểu thực sự có năng lực đáp ứng nhiệm vụ quan trọng của đại hội đảng toàn quốc lần thứ XII; đồng thời phải thật sự dân chủ bầu ra một Quốc hội chuyên nghiệp, xứng đáng đại diện cho dân, đáp ứng yêu cầu lập pháp để chuyển đổi thể chế chính trị.

Thiết nghĩ những vấn đề trong thư ngỏ này liên quan đến vận mệnh sống còn của đất nước, đại hội XII sắp tới cần đánh giá thấu đáo và phải đi tới những quyết sách đáp ứng.

Điều quan trọng số một đối với đại hội XII là ĐCSVN là đảng độc quyền trong hệ thống chính trị đứng trên hiến pháp, tha hoá trong 4 thập kỷ vừa qua đã lấy đi mất khả năng lãnh đạo của đảng. Sự tha hoá này một mặt trực tiếp phản bội lại lý tưởng và truyền thống cách mạng vì dân vì nước đã từng lập nên ĐCSVN, mặt khác biến cái đảng tha hoá này thành nhân tố trực tiếp nhất và quyết định nhất giam hãm sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, để xảy ra ngày càng nhiều hiện tượng đối kháng với lợi ích của quốc gia và của dân tộc. Đảng đứng trước sự thật lạnh lùng chết người là: Nếu tiếp tục giữ ĐCSVN như hiện nay, đất nước sẽ lún sâu thêm nữa vào khủng hoảng mọi mặt; đảng sẽ càng tha hoá và bất lực tiếp, khiến cho đất nước phải chuốc thêm nhiều tổn thất mới. Dẫn tới hệ quả đảng sẽ buộc phải chấp nhận những thất bại mới hoặc phải lao vào những sai lầm và tội lỗi mới để bảo vệ chế độ của mình. Tình hình này sẽ đẩy mạnh hơn nữa sự phản kháng của nhân dân, chế độ sẽ phải đàn áp dân tàn bạo hơn.., và cuối cùng sẽ dẫn tới con đường chế độ công khai chống lại nhân dân, chống lại đất nước. Diễn tiến này từ nhiều năm nay đã manh nha qua các vụ đàn áp những bất bình của nhân dân và các vụ bắt bớ, xử án những người bất đồng chính kiến… Phải nói thẳng là sự uy hiếp của Trung Quốc dù nguy hiểm với nước ta đến mức nào chăng nữa cũng không đáng sợ bằng sự tha hoá trầm trọng hiện nay của đảng và toàn bộ hệ thống chính trị đất nước. Ta thua hay thắng ý đồ bành trướng của Trung Quốc trước hết là tuỳ thuộc ở điểm đối nội mấu chốt này.

Nếu muốn đi với đất nước tại bước ngoặt định mệnh này, ĐCSVN hôm nay không có cách nào khác là phải tự lột xác để không còn là mình như hôm nay nữa và qua đó phấn đấu trở thành một đảng mới, đồng thời đảng phải thực hiện trách nhiệm ràng buộc là chủ động tiến hành cải cách để thay đổi cái chế độ chính trị toàn trị hiện hành là con đẻ của đảng. Không ý thức hệ hay chủ nghĩa nào có thể cứu đảng hay giúp đảng trốn tránh được hai nhiệm vụ phải làm này.

Chọn đất nước, có nghĩa đảng phải lột xác đến mức như vừa nói trên. Còn muốn giữ đảng như hiện tại, đảng phải chống lại đất nước. Vì lẽ này đảng đang đứng trước bước ngoặt định mệnh, không cách gì lẩn tránh được.

Song lột xác cái đảng tha hoá ngày càng trầm trọng này như thế nào? có làm được không?

Trong buổi tiếp Dương Khiết Trì ngày 18-06-2014, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: lập trường về chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên Biển Đông là không thay đổi và không thể thay đổi.

Tổng bí thư khẳng định như vậy là đúng đắn. Nhưng điều kiện tiên quyết để thực hiện khẳng định này là phải có một Việt Nam mạnh và có bản lĩnh. Đặt vấn đề như thế, sẽ chỉ có một con đường là ĐCSVN hôm nay trước tiên phải tự thay đổi chính mình theo con đường dân tộc và dân chủ để trở thành một đảng mới, qua đó cùng với cả nước tạo ra một quá trình hình thành một Việt Nam mới như thế. Có làm được không? Nói được như thế mà không đi đến cùng được như thế, sẽ làm sao lay chuyển được Trung Quốc?

Cho đến hôm nay, tôi không thấy, hoặc chưa có điều kiện được thấy việc chuẩn bị đại hội XII đang tiến hành theo hướng tiếp cận những vấn đề như đã xới ra trên đây! Vậy đại hội XII sẽ lựa chọn gì cho đất nước, cho chính bản thân đảng của mình? Những gì thấy được trên phương tiện truyền thông “lề phải” hình như vẫn là ngựa quen đường cũ: Từ khâu chuẩn bị nhân sự và khâu bầu chọn các cấp chủ yếu vẫn theo cách làm cũ; lời căn dặn của những người lãnh đạo: tổng kết tình hình đất nước chuẩn bị cho đại hội phải dựa vào cương lĩnh và hiến pháp… Nếu đúng là như vậy thì nguy hiểm quá, vì cách làm đại hội theo kiểu này hình như báo hiệu khả năng ĐCSVN thay đổi và việc cải cách xoá bỏ chế độ toàn trị có lẽ đến 99% là không hiện thực.

Tôi xin lưu ý: Đại hội XII hoặc là sẽ mở ra được một bước ngoặt cho ĐCSVN và cho đất nước, hoặc là báo hiệu một thời kỳ đen tối mới của đất nước và gia tăng những yếu tố trước sau sẽ dẫn đến sụp đổ của chế độ, tất cả tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của từng đảng viên và toàn đảng ở ngay đại hội XII này, không thể đổ lỗi cho bất kỳ ai khác hay cho lý do nào khác. Ngay từ bây giờ, từng đảng viên cần có tiếng nói của mình cho việc tiến hành một đại hội đúng đắn và nghiêm túc tình hình đất nước đang đòi hỏi.

IV. Kiến nghị

Khoản 2 điều 4 của Hiến pháp ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.” Chiểu theo tinh thần và lời văn của khoản này tôi kiến nghị: Công khai hoá tới mức tối đa toàn bộ quá trình chuẩn bị và tiến hành đại hội XII. Đơn giản vì mọi việc của đại hội đều liên quan trực tiếp đến vận mệnh quốc gia, nhân dân cần được biết, cần có tiếng nói của mình với đại hội, cần được giám sát những việc đại hội làm… Tại các nước văn minh, các đảng chính trị đều phải làm như thế khi họp đại hội để tranh cử, chương trình hành động của đại hội phải được dân tán thưởng mới hy vọng thắng cử. Hơn nữa, gắn bó mật thiết với dânnhư viết trong khoản 2 điều 4 của Hiến pháptrước hết có nghĩa đại hội XII phải quyết định những vấn đề đặt ra đúng với lợi ích quốc gia và nguyện vọng của nhân dân.

Đặt vấn đề như vậy, tôi xin có một số đề nghị sau đây.

IV.1. Bàn về nội dung cốt lõi của đại hội XII

Đứng trước bước ngoặt hiện nay của đất nước, trung thực với các bài học của lịch sử và sự thật là đòi hỏi tất yếu để nhận thức đầy đủ lợi ích sống còn của tổ quốc, từ đó có được ý chí thoát khỏi tình trạng lũng đoạn của Trung Quốc, xoá bỏ sự cai trị mang tính chất ngu dân và nô dịch đang kìm hãm đất nước do chế độ toàn trị hiện nay của đảng vô ý thức hay có ý thức đã tạo dựng nên, quyết mở đường cho đất nước chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, nhằm thực hiện khát vọng đời đời của nhân dân về độc lập – tự do – hạnh phúc[10], tranh thủ sự hậu thuẫn của cộng đồng khu vực và quốc tế cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, dấn thân đóng góp vào nỗ lực chung của cả thế giới vì hoà bình, hữu nghị và hợp tác. Đã đến lúc ĐCSVN phải đặt ra cho mình nhiệm vụ như vậy. Nhiệm vụ này đồng nghĩa là sự khai sinh mới của ĐCSVN hiện nay: sự ra đời của một đảng vì dân tộc và dân chủ, chỉ có lý tưởng và mục tiêu duy nhất là phụng sự tổ quốc và nhân dân, mang lại cho tổ quốc vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế giới. (vấn đề 1)

Xuất phát từ kết luận nêu trong phần III.2. bên trên: “Sau 40 năm độc lập, trong đó có 30 năm đổi mới, Việt Nam hiện nay là một nước yếu về đối nội và đối ngoại so với những thách thức phải đối mặt, con đường phát triển đang bế tắc với cơ cấu kinh tế và thể chế chính trị toàn trị hiện tại, đất nước chịu sự lệ thuộc và lũng đoạn nghiêm trọng từ phía Trung Quốc mà chưa có cách gì thoát ra được, khoảng cách tụt hậu ngày càng rộng…”, đứng trước bước ngoặt hiện nay của đất nước, hãy coi 40 năm qua là sự mày mò tìm kiếm gian khổ con đường phát triển của một quốc gia mới giành được độc lập thống nhất. Hãy coi những gì đã thành đạt được trên chặng đường 40 năm này là vốn liếng khiêm tốn đầu tiên cho khởi sự sự nghiệp mới này. Hãy coi những thất bại trên chặng đường 40 năm này là các bài học nhớ đời và rút ra từ đó những kinh nghiệm để khởi sự và thực hiện thành công sự nghiệp mới. Đã đến lúc cả nước phải đứng lên mở ra một thời kỳ phát triển mới cho tổ quốc! ĐCSVN hiện nay với tính cách là một đảng mới của dân tộc và dân chủ coi thúc đẩy nhiệm vụ này là lẽ sống và lý tưởng phấn đấu của mình (vấn đề 2).

Sống trong thế giới thế kỷ 21 đầy những thách thức sống còn và biến động khó lường của một trật tự quốc tế mới khác hẳn với 5 – 10 năm trước, lại đúng vào thời điểm siêu cường đang lên Trung Quốc coi Việt Nam là đột phá khẩu cần khuất phục trong đẩy mạnh mưu đồ bá chiếm Biển Đông, Việt Nam nhất thiết phải trụ vững với tính cách là một quốc gia có sức mạnh và bản lĩnh bảo vệ được độc lập chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của mình, đồng thời phải là một thành viên dấn thân trong cộng đồng ASEAN để cùng nhau gìn giữ hoà bình và ổn định trong khu vực, cùng nhau phấn đấu cho sự phát triển thịnh vượng của mọi quốc gia. Phát huy sức mạnh của chính mình và tranh thủ sự hậu thuẫn của toàn thế giới trở thành đòi hỏi sống còn để thực hiện được những mục tiêu này. Để có được trí tuệ, ý chí, nghị lực và sự quyết đoán đúng đắn cho mọi vấn đề đặt ra, nhất thiết phải lấy các giá trị của dân tộc và những tinh hoa tinh thần của nhân loại làm nội dung, làm chuẩn mực xây dựng con người và xây dựng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ mới này. Thừa nhận đòi hỏi này, phải nói đất nước ta sẽ có nhiều cái phải học lại từ đầu, phải làm lại từ đầu, thậm chí có nhiều cái phải thay đổi hẳn cách nghĩ và cách làm vì 40 năm qua và 70 năm qua có không ít tác động tạo nên trong đời sống của chúng ta những nếp nghĩ và thói quen lạc hậu, sai trái khó sửa. Nghĩa là cuộc sống trong thế giới hiện tại đặt ra cho cả nước phải tiến hành một cuộc cải cách toàn diện và triệt để chưa từng có nhằm đổi đời chính bản thân dân tộc ta và đất nước ta. Chẳng có tư tưởng, chủ nghĩa hay ý thức hệ nào có thể giúp dân tộc ta tạo ra được sự thay đổi đến mức đổi đời như thế này. Ta trở thành chính ta như thế, ta mới là người tự do và có cả thế giới là bạn bè bình đẳng. Để ta trở thành ta như thế, học hỏi trở thành đòi hỏi sống còn như con người cần không khí để thở vậy. Nói rốt ráo, chính dân tộc ta cũng phải lột xác vứt bỏ quá khứ nghèo nàn và lạc hậu của mình, phải tỉnh ngộ để thoát khỏi cái cái thân phận suốt chiều dài lịch sử nếu không bị ngoại bang ăn hiếp thì lại luôn luôn là cái bóng của ngoại bang. Chúng ta phải học hỏi và phấn đấu trở thành một dân tộc mới của một quốc gia mới để có một Việt Nam giữ được độc lập tự chủ của mình đồng thời có thể cùng với cả cộng đồng thế giới dấn thân cho hoà bình, hợp tác và phát triển[11]. (vấn đề 3).

Nhìn về mọi phương diện, nhiệm vụ mở ra một thời kỳ mới cho đất nước đã chín muồi.

Câu hỏi đặt ra là Bộ Chính trị, BCHTƯ và toàn thể đảng viên ĐCSVN có đặt mọi vấn đề phải thảo luận và phải quyết định tại đại hội XII này theo hướng và xứng tầm với 3 vấn đề trọng đại nêu trên đang đặt ra cho đất nước hay không?

Với cách nhìn đại hội XII coi như là bước đi đầu tiên của ĐCSVN trong nhiệm vụ cùng với cả nước mở ra một thời kỳ mới của đất nước, đại hội nên tập trung vào 3 nội dung chính:

(1) Cải cách xoá bỏ thể chế chính trị toàn trị hiện nay mang tính chất cai trị áp bức dân và kìm hãm đất nước, chuyển sang chế độ chính trị pháp quyền dân chủ mang lại tự do và sức mạnh toàn diện cho đất nước để phát triển trên con đường dân tộc và dân chủ.

(2) Hoàn thiện kinh tế thị trường nhằm đưa kinh tế ra khỏi tình trạng bế tắc hiện nay và mở ra một giai đoạn phát triển mới để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

(3) Đổi mới xây dựng ĐCSVN trở thành đảng của dân tộc và dân chủ để phấn đấu trở thành đảng cầm quyền trong chế độ nhà nước pháp quyền dân chủ.

Xin được bàn đến 3 nội dung quan trọng này trong một bài sau.

VI.2. Kiến nghị thay đổi cách tiến hành đại hội

Song song với việc chuẩn bị đại hội như các tiểu ban trù bị (nay gọi dưới cái tên chung là ban trù bị) đang tiến hành, đề nghị lập một nhóm ad hoc do một số đảng viên có năng lực trực tiếp xây dựng một báo cáo độc lập tổng kết những vấn đề lớn trong tình hình đất nước và nêu lên những vấn đề lớn tìm lối ra cho đất nước hiện nay; soạn thảo trình đại hội một số dự án cần thiết, ví dụ: (1) dự án cải cách thể chế chính trị, (2) dự án hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, và (3) dự án cải tổ ĐCSVN thành đảng của dân tộc và dân chủ đáp ứng đòi hỏi của việc mở ra một thời kỳ mới cho phát triển đất nước, vân vân…

Báo cáo tổng kết độc lập này của nhóm ad hoc chủ yếu cần nêu lên những nhận định và phương hướng chính của nhiệm vụ phát triển đất nước, không cần đi sâu vào các chi tiết (vì có thể sử dụng những số liệu và dữ liệu cụ thể trong các dự thảo các báo cáo và trong dự thảo báo cáo chính trị do ban trù bị đại hội đảng soạn thảo); các dự án của nhóm ad hoc cần đặc biệt chú ý (a) xác đinh những mục tiêu chiến lược cần đạt được cho cả giai đoạn cải cách và mở đường thay đổi đất nước, (b) thiết kế các tổng lộ trình tiến hành, (c) trình bầy các dự án thực hiện những bước đi đầu tiên của nhiệm kỳ khoá XII… Báo tổng kết và các dự án của nhómad hoc sẽ được trình bầy và thảo luận trong đại hội, phản biện và so sánh với các văn bản do ban trù bị đại hội soạn thảo, để đại hội tranh luận và đi tới những kết luận, những quyết định đúng đắn và tối ưu.

Trong quá trình thảo luận tại đại hội, nên dựa trên quá trình tranh luận các vấn đề lớn của đất nước và của đảng làm xuất hiện những quan điểm hay tư duy xuất chúng, như vậy sẽ thuận lợi cho việc tìm người (nhân tài) để đại hội trực tiếp đề cử, tranh cử và bầu cử riêng cho các chức vụ tổng bí thư và các uỷ viên bộ chính trị.

Báo cáo và các văn kiện của nhóm ad hoc cũng như của ban trù bị đại hội cần tranh thủ tối đa những ý kiến xác đáng chắt lọc trong cả nước trong suốt quá trình chuẩn bị trước khi đưa ra thảo luận tại đại hội.

Nhóm ad hoc có toàn quyền dự thảo các báo cáo và các dự án cho những vấn đề lớn, đề xuất những ý kiến về những vấn đề lớn theo nhận thức và quan điểm của mình, không câu nệ vào bất cứ điều gì – kể cả hiến pháp, cương lĩnh, điều lệ đảng… Nhóm ad hoc có quyền đề nghị với đại hội thảo luận và quyết định những vấn đề lớn khác của quốc gia và của đảng chưa được ban trù bị đại hội đưa vào chương trình nghị sự, trực tiếp phản biện những vấn đề hay quan điểm trong các văn kiện do ban trù bị đưa ra đại hội, vân vân… Nhóm ad hoc có quyền và nên lấy ý kiến rộng rãi, công khai trong cả nước về những vấn đề trọng đại trước khi đưa ra đại hội thảo luận. Toàn bộ sản phẩm của nhóm ad hoc mang tính khuyến nghị, đề xuất và phản biện, phục vụ cho tranh luận trong đại hội, do đó ngoài việc chịu trách nhiệm trước toàn đảng và cả nước về tinh thần trách nhiệm và tính trung thực của mình, nhóm ad hoc có tính độc lập hoàn toàn. Đại hội kết thúc, nhóm ad hoc coi như làm xong việc được giao và tự giải thể.

Tóm lại, nên có hai luồng chuẩn bị song song độc lập với nhau như vậy cho việc tiến hành đại hội, một bên là luồng của ban trù bị đại hội như hiện nay, một bên là luồng của nhóm ad hoc, với mục đích làm sáng tỏ các vấn đề, chứ không một chiều đơn thuần lĩnh hội mọi thứ từ ban trù bị (thực chất là của khoá đương thời) đưa ra để tiếp thu và quán triệt như xưa nay thường làm, thực hiện tranh luận dân chủ và đi tới những quyết định xác đáng, công khai hoá trong cả nước hai luồng chuẩn bị này. Tạo mọi điều kiện cho cả nước theo dõi và tham gia ở mức tối đa có thể vào quá trình thảo luận các vấn đề tại đại hội, qua đó tạo ra một tiền lệ quan trọng cho việc thực hiện công khai minh bạch trong đời sống chính trị của đất nước.

Trừ một số vấn đề đảng vụ, mọi việc đại hội bàn là việc của quốc gia, đều liên quan mật thiết đến vận mệnh quốc gia, do đó cả nước phải biết và có quyền có ý kiến của mình; đảng cần tìm ra cách thức để thực hiện được đầy đủ quyền này của cả nước tại đại hội. Xin lưu ý: Nhân dân là người chủ đích thực của đất nước, vì vậy đại hội chỉ nên bàn những vấn đề lớn mở ra phương hướng phát triển của đất nước để sau này kiến nghị với quốc hội. Theo Hiến pháp, đại hội không có bất kỳ sự uỷ nhiệm hay uỷ quyền nào của đất nước cho phép quyết định công việc của nhà nước. Vì vậy đại hội không nên bàn lấn sân sang các nhiệm vụ nhà nước của quốc hội khoá tới. Nên như vậy để tránh tình trạng quốc hội khoá tới sẽ chỉ làm cái việc nhắc lại và cụ thể hoá để thực hiện những quyết định của đại hội XII, qua đó quốc hội khoá tới vô hình trung trở thành cấp dưới của Bộ Chính trị, đảng mặc nhiên đứng trên Hiến pháp. Xin lưu ý cách làm đại hội kiểu này vi phạm điều 2 khoản 2 trong Hiến pháp “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”, vi phạm điều 4 khoản 3 “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

Báo chí được phép đưa tin trung thực quá trình diễn tiến của đại hội, không chịu bất kỳ sự chỉ đạo đạo của cá nhân hay tổ chức nào; đưa tin sai lệch có dụng ý sẽ bị truy cứu trách nhiệm. Như vậy đại biểu đi dự đại hội và toàn bộ hoạt động của đại hội nói chung sẽ phải chịu áp lực và thách thức rất lớn của ống kính báo chí, song điều này là cần thiết và phải chấp nhận.

Cách tiến hành đại hội như trình bầy trên đòi hỏi phải chọn lọc các đại biểu có chất lượng đi dư đại hội. Chứ không phải lựa chọn đại biểu theo cơ cấu, đi dự đại hội chỉ để quán triệt các thứ khoá đương thời bầy ra và để thực hiện bầu cử theo xắp xếp của khoá đương thời như xưa nay thường làm.

Tôi xin kiến nghị nhóm ad hoc chỉ có 3 thành viên. Tôi xin tiến cử Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh là 3 thành viên nhóm này, xin tuỳ Bộ Chính trị hay BCHTƯ quyết định và lựa chọn theo thẩm quyền.

Nhóm ad hoc chỉ nên nhỏ gọn như vậy để làm việc có hiệu quả và dễ quyết đoán. Theo yêu cầu công việc đòi hỏi, nhóm ad hoc có quyền trực tiếp huy động nhân lực, mọi nguồn lực vật chất kỹ thuật khác và tài chính trong cả nước giúp làm mọi việc, để nhóm thực hiện được nhiệm vụ của mình.

Lý do tôi kiến nghị nhóm ad hoc gồm 3 thành viên này là vì theo hiểu biết của mình, tôi đánh giá đấy là 3 người có bề dầy kiến thức và kinh nghiệm thực tế cần thiết cho nhiệm vụ của nhóm ad hoc, có nhiệt huyết thay đổi đất nước. Cả 3 người này đều là uỷ viên BCHTƯ đảng, không có mảy may bất kể cái gì để có thể nghi ngờ tiếng nói của họ là của các thế lực thù địch theo tiêu chuẩn đo lường của đội ngũ dư luận viên và của báo chí “lề phải”. Chỉ có vấn đề 3 người này dám hay không dám trung thực với sự thật mà thôi, việc này cả nước và đại hội sẽ đánh giá khi vào cuộc. Hiểu biết như vậy, tôi xin tiến cử như vậy, có thể đảng sẽ tiến cử được những người giỏi hơn.

Trong công khai minh bạch đối với cả nước, nếu nhóm ad hoc thành công ở đại hội XII, hầu như chắc chắn dù mạnh yếu thế nào đấy sẽ là một cú hích đầu tiên của quá trình đổi đời đảng này và đất nước này. Nếu thất bại – giả thử vì năng lực và phẩm chất nhóm ad hoc không như mong đợi, hay vì phản ứng bác bỏ quyết liệt của đại hội…, cả nước sẽ thấy rõ đảng đang ở đâu, đất nước này đang làm sao, từng người của đất nước sẽ rút ra được kết luận cho riêng mình.

Việc chấp nhận phương án có một nhóm ad hoc như thế sẽ báo hiệu đại hội làm việc trên cơ sở thực sự cầu thị và có tranh luận dân chủ, có dũng khí đổi mới đảng, tạo ra không khí cởi mở trong cả nước, rất có lợi cho đảng và cho đất nước. Nếu đề xuất về lập nhóm ad hoc bị bác bỏ và không có một phương án cải tiến tương tự nào thay thế, nghĩa là nếu vẫn tiến hành đại hội theo đường mòn lâu nay, có lẽ con số “99%” nêu bên trên (phần III.2., tr 17) sẽ có xác suất rất cao!..

*

Thay lời kết: Hãy cùng nhau nỗ lực khai phá những bước đi đầu tiên!

Trong âm hưởng của mùa thu Cách Mạng Tháng Tám năm nào, giữa những ngày này chúng tôi gặp nhau hàn huyên và trò chuyện về nước non. Khi bàn về tình hình đất nước hôm nay, nhà thơ Nguyễn Duy bật đứng lên như bị dồn nén từ bên trong, anh đọc cho chúng tôi nghe bài thơ “Nhìn từ xa… Tổ quốc!”[12].

Thơ viết năm 1988, ngồi nghe mà nhiều chuyện vẫn cứ ngỡ đang là hôm nay… Trong lòng đau đớn tự hỏi: Tổ quốc chúng ta về nhiều mặt vẫn đang đứng im một chỗ, hay là đang đi giật lùi so với thời gian? Cái đang đi giật lùi hiển hiện này phải chăng đang ngoan cố kéo lùi tất cả?!.. …

“Ai?”… Nỗi đau về sự trì trệ của đất nước và sự lộng hành của tha hoá hôm nay quặn lên câu hỏi truy tìm thủ phạm. Hành trình truy tìm xuyên thế kỷ này hôm nay vẫn tiếp tục. Nguyễn Duy đã đưa ra nhiều cái “Ai?" để mổ xẻ. Nguyễn Duy đã tìm được tới cái “Ai?” cuối cùng đang góp phần quyết định kéo lùi tất cả: Nỗi sợ trong mỗi chúng ta!

Dù có sao đừng khoanh tay khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối

Vâng, để đổi đời chính chúng ta và cả đất nước, việc đầu tiên là mỗi người phải vượt lên nỗi sợ của chính mình. Hãy bắt đầu từ nói thật và đòi chỉ nói thật!.. Đây là bước đi đầu tiên của mọi bước đi đầu tiên. Có gan làm được như thế, cuộc sống sẽ mách bảo chúng ta những bước đi tiếp. Bản thân tôi cũng đang cố gắng như vậy. Đơn giản vì không thể há miệng chờ sung rụng, càng không thể chờ được quyền lực bố thí!

Sự thật là đất nước đang lâm nguy chưa từng có – trước hết từ bên trong, hoạ bành trướng tôi không sợ bằng. Đụng vào sửa chữa bất cứ vấn đề gì cho đến nơi đến chốn cũng có thể dẫn đến sụp đổ tất cả, còn hơn cả kiếm củi ba năm thiêu một giờ!.. Hàng thập kỷ nay sự tha hoá của quyền lực đã lên tới đỉnh điểm: Sẵn sàng mất tất cả nhưng giữ đến cùng chế độ! Nhưng nếu duy trì nguyên trạng, thì èo uột và không thể tồn tại bên cạnh Trung Quốc. Cái ngu dốt và cái sợ đang làm phức tạp thêm tình trạng tiến thoái lưỡng nan này.

Đất nước, và tất cả mỗi chúng ta – kẻ cai trị cũng như người bị cai trị – chỉ có một lối thoát: Mỗi người hãy vượt lên nỗi sợ của chính mình! Kẻ cai trị hãy vượt lên nỗi sợ mất quyền lực và lo bị trừng trị. Người bị cai trị hãy vượt lên nỗi sợ bị đàn áp![13] Bởi vì không phải kẻ thù từ bên ngoài, mà chính cái sợ này sâu thẳm bên trong mỗi chúng ta đang bịt mắt chúng ta, tước vũ khí chúng ta, sui khiến chúng ta hành động theo bản năng mù quáng và bầy đàn.

Chính nỗi sợ trong mỗi chúng ta như thế giờ đây là thứ cỏ khô, có thể bất cứ lúc nào bất giác bắt lửa đốt rụi đất nước, thiêu sống người tốt cũng như kẻ xấu! Chính vì có nỗi sợ trong mỗi chúng ta như thế, tất cả chúng ta đang bị giam hãm trong sự thấp hèn riêng, và qua đó kéo dài mãi cái thấp hèn chung đang giam hãm cả nước. Mỗi người chúng ta phải vượt lên nỗi sợ này trong chính mình như thế, để tất cả cùng nhau không phân biệt một ai lựa chọn sự đổi đời cho tổ quốc có chỗ đứng cho mỗi chúng ta, với tính cách là con người tự do! Một tổ quốc như thế, chính là tổ quốc trong tim mỗi chúng ta! Đó thực sự là tổ quốc của chúng ta! Có một tổ quốc như thế, mỗi chúng ta sẽ có cái quý giá nhất và đáng sống nhất trên đời này: Tự do!

Đất nước của con người tự do như thế, sẽ là bất khả xâm phạm đối với bất kỳ kẻ thù nào. Đất nước của con người tự do như thế, sẽ có chỗ đứng xứng đáng trong hàng ngũ văn minh nhân loại.

Đoàn kết, hoà giải, tổ quốc trên hết, để cùng nhau đổi đời chính mình và đổi đời đất nước. Đấy phải là sự lựa chọn của tất cả chúng ta hôm nay cho tổ quốc! Đã đến lúc phải trả lại hai chữ “chúng ta” cho tổ quốc trong tim mình!

Hà Nội, Tháng Tám 2014.

Nguyễn Trung

====

[1] Nguyễn Trung, “Hiểm hoạ đen”, http://www.vietstudies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_HiemHoaDen.htm

[2] Xin lưu ý: Hai nước Đức và Nhật thời kỳ đi vào chủ nghĩa phát xít nhằm khẳng định vị thế đế chế của mình đều lấy chủ nghĩa dân tộc làm động lực bên trong và đã dẫn tới chiến tranh thế giới II. Điều đang lo ngại là hiện tượng này ngày nay lại đang xảy ra ở Trung Quốc và nước Nga của Putin.

[3] Nguyễn Trung, “Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thuỷ”, http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_CayDangHonMyChauTrongThuy.htm

[4] Ví dụ: Hiểu biết thiếu hụt và phản ứng bầy đàn đã giúp cho quyền lực mềm Trung Quốc tạo ra bạo loạn trong 2 ngày 13 và 14-05-2014 vừa qua tàn phá khoảng 800 xí nghiệp FDI nhân sự kiện giàn khoan HD 981 – chỉ riêng một vụ việc này thôi đủ nói lên những điều phải nói…

[5] Tìm xem Nguyễn Trung, “Vượt lên nỗi sợ”, http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_VuotLenNoiSo.htm.

[6] Nguyễn Trung, thư ngày 24-07-2014 gửi các thành viên chủ chốt Bộ Chính trị về đại hội XII sắp tới của ĐCSVN.

[7] Nguyễn Trung, thư ngày 24-07-2014 gửi các thành viên chủ chốt trong Bộ Chính trị.

[8]Riêng lãng phí và tham nhũng hàng năm ước tính có thể lên tới khoảng 5 – 10% GDP hoặc hơn nữa, tổn thất do lãng phí hay đánh mất cơ hội tuy không lượng hoá được nhưng vô cùng nghiêm trọng – trước hết vì kìm hãm hay cướp đi khả năng chuyển đổi nền kinh tế sang bước phát triển mới. Chuyên gia USAID, Olin McGill ngạc nhiên với “chỉ số xếp hạng môi trường kinh doanh” đã đạt được, thu nhập bình quân đầu người ở VN tại sao chỉ là 1.400 USD/năm, lẽ ra nó phải là ở mức trên 7.000 USD/người. Sự thật là thế nào? Ý kiến của McGill đúng hay sai? V… V… (nguồn thanh niên – 12-08-2014 – http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140722/viet-nam-le-ra-phai-co-muc-thu-nhap-tren-7000-usdnguoi.aspx).

[9] (trong các văn kiện chính thức của đảng mục tiêu công nghiệp hoá này được diễn đạt loanh quanh theo ngôn ngữ cao su là "phấn đấu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020")

[10]Khát vọng này ra đời từ Cách mạng Tháng Tám và trở thành tiêu chí quốc gia.

[11] Trong bài II của loạt bài “Viễn tưởng” bàn về sự nghiệp duy tân đất nước, tôi đã đề cập đến nhiệm vụ cải cách toàn diện này, (tìm xem: http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_VienTuong_2.htm, 20-10-2011). Song nhìn vào bối cảnh quốc tế hôm nay trong tình hình đang nổi lên vấn đề “siêu cường Trung Quốc”, tôi nghĩ rằng dân tộc Việt Nam ta đã đến lúc phải thay đổi hoàn toàn chính mình mới có thể tự khẳng định được mình trong thế giới nhiều vấn đề nóng bỏng này.

[12] Tim xem: http://www.diendan.org/sang-tac/nhin-tu-xa…-to-quoc hoặc

http://nguoilotgach.blogspot.com/2011/10/nhin-tu-xa-to-quoc-chum-tho-cua-nguyen.html

[13] Tham khảo: Aung San Suu Kyji “Tự do khỏi nỗi khiếp sợ”, http://www.procontra.asia/?p=662.

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 20-8-2014

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , , , | 1 Comment

(VNTB) – Chế tài nhân quyền Việt Nam: Bắt đầu “triệt buộc”

Nguồn ijavn

Đăng bởi Eric hwang vào Chủ Nhật, ngày 17 tháng 8 năm 2014 | 17.8.14

Viết Lê Quân

(VNTB) – Garden Grove vừa trở nên thành phố đầu tiên của bang California và cũng có thể của cả nước Mỹ thông qua nghị quyết ủng hộ Dự luật Chế tài Nhân quyền Việt Nam, mang số hiệu HR 4254.

185020-DP-140321-HR4254-1-400.jpg
GSV. Janet Nguyễn (trái) và Dân Biểu Liên Bang Ed Royce tại buổi họp báo về Dự Luật HR 4254. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Là bang tập trung đông đảo nhất người Việt sinh sống, California dường như chẳng mấy khó khăn làm dấy lên một cuộc vận đông rộng rãi cho chiến dịch ủng hộ HR 4254 suốt từ tháng 3/2014 – khi dân biểu Ed Royce, Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Hạ viện đệ trình dự luật này – cho đến nay.

Minh chứng hiển nhiên mà có thể làm cho nhiều lãnh đạo cầm quyền ở Việt Nam phải thật sự lo ngại là trong cuộc bỏ phiếu tại phiên họp thường kỳ của Hội đồng thành phố Garden Grove hôm 12/8/2014 đã thu được toàn bộ 5 phiếu thuận từ các thành viên có mặt.

Tiếp bước “Lộ trình Miến Điện”

Áp đặt những biện pháp trừng phạt đối với những quan chức chính phủ Việt Nam “đồng lõa trong những vụ vi phạm nhân quyền nhắm vào người dân Việt Nam” là tinh thần sắt son trong bản Dự luật Chế tài nhân quyền Việt Nam mà những nghị sĩ cứng rắn như Ed Royce đang tiếp bước “Lộ trình Miến Điện”.

U47P5029T2D528096F34DT20121119150410.jpg
Thái độ mới của dân Myanmar

HR. 4254 cũng là một dự luật lưỡng đảng, nhắm mục tiêu vào những quan chức chính phủ, công an và những người khác vi phạm nhân quyền đối với những nhà bất đồng chính kiến ôn hòa. Những biện pháp được kiến nghị bao gồm những hạn chế du hành và trừng phạt về tài chính.

Cụ thể, những cá nhân có tên trong danh sách sẽ không được nhập cảnh hay quá cảnh ở Hoa Kỳ, không được cấp bất kỳ quy chế di trú hợp pháp nào, và cũng không được phép nộp đơn hay thỉnh nguyện liên quan đến những việc này. Về mặt tài chính, những cá nhân này sẽ bị phong tỏa tài sản, bị hạn chế hoặc bị cấm giao dịch tài chính và đưa tài sản vào hay ra khỏi Hoa Kỳ.

Thực ra dự thảo đầu tiên của HR. 4254 đã xuất hiện trong Quốc hội Hoa Kỳ từ tháng 3/2013, tức hai tháng sau chuyến “hành hương” của người đứng đầu đảng Nguyễn Phú Trọng đến Vatican. Khi đó và trong bầu không khí bị xem là “thụt lùi sâu sắc” về nhân quyền, các nghị sĩ Mỹ đã yêu cầu:

“Tổng thống sẽ đóng băng và cấm chỉ tất cả các giao dịch liên quan đến tất cả các tài sản và lợi ích của một cá nhân trong danh sách được quy định ở điểm (c)(1) nếu những tài sản và lợi tức đó nằm ở Hoa Kỳ, rơi vào Hoa Kỳ, hoặc nằm ở hoặc rơi vào quyền sở hữu hoặc kiểm soát của một người Mỹ”.

Và “Sau không quá 90 ngày từ ngày ban hành Đạo luật này, Tổng thống sẽ đệ trình lên những Ủy ban quốc hội thích hợp danh sách của các cá nhân, là công dân Việt Nam, mà Tổng thống xác định là dính líu đến những vụ vi phạm nhân quyền chống lại nhân dân Việt Nam hoặc thân nhân của họ, bất kể việc những vụ vi phạm đó có xảy ra ở Việt Nam hay không… Danh sách được quy định trong đoạn (1) sẽ được công khai cho công chúng và được đăng trên các trang web của Bộ Ngân khố và Bộ Ngoại giao”.

Làm gì để thoát “triệt buộc”?

Không phải và chẳng bao giờ tự do là món quà trên trời rơi xuống. Cũng không hẳn chuyện đổ tiền sẽ làm nguội lạnh những cái đầu tham lam lẫn sắt máu. Dĩ nhiên Miến Điện được như ngày nay là nhờ cú đi roi song hành chế tài nhân quyền với tiến trình xóa nợ quốc gia.

Tám tháng đầu của năm 2014 đã chứng kiến thái độ kiên định hơn của không chỉ khối nghị sĩ đảng Cộng hòa mà cả đảng Dân chủ cầm quyền. Ngay cả Tổng thống Obama và ngoại trưởng của ông cũng chợt mạnh mẽ hẳn lên đối với bản Phúc trình nhân quyền Việt Nam năm 2013 và những điều kiện đặt lên bàn đàm phán TPP.

Kịch bản ứng xử của Mỹ với Nga có thể tái hiện đối với Việt Nam. Bất chấp mối đe dọa có thể xảy ra cuộc chiến tranh lạnh lần thứ hai, vào giữa năm nay chính quyền Obama đã dám áp đặt lệnh trừng phạt đối với các quan chức Nga và Ukraine. Ngay sau đó, cơ quan công tố Thụy Sĩ đã làm việc hết sức khẩn trương: hàng loạt ngân hàng ở quốc gia này, nơi cất giấy tài sản của thế giới quan chức đen đúa, đang bị bóc trần từng mảng lớn. Chỉ mới đây, Berne đã hủy lời mời chủ tịch Duma quốc gia Nga vì nhân vật này nằm trong danh sách 12 quan chức Nga bị Mỹ chế tài nhân quyền

Lẽ nào tương lai của “một bộ phận không nhỏ” giới quan chức, công an Việt Nam cùng vợ con họ, những người đã có đủ thời gian để khiến Tổ quốc bị loang máu ngoại tệ sang tận Úc, Mỹ, Anh, Canada hay các nước Bắc Âu, những người nồng nàn tình yêu Tổ quốc đến mức sẵn sàng nhảy lên máy bay ra ngoại quốc vào bất kỳ thời điểm nào xảy ra “biến cố”, sẽ tự khép mình vào thế “triệt buộc” mất trắng tổ quốc như triều đại vừa lâm chung ở Ukraine?

Viết Lê Quân

Posted in chính trị, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

BBC. ‘Ủng hộ dự luật nhắm vào quan chức VN’

Nguồn BBC

Cập nhật: 12:01 GMT – thứ sáu, 15 tháng 8, 2014

Cộng đồng người gốc Việt tại Mỹ thường tổ chức biểu tình kêu gọi giới chức Việt Nam cải thiện vấn đề nhân quyền, trả tự do cho các nhà bất đồng chính kiến ở trong nước

Thành phố Garden Grove của California vừa thông qua nghị quyết ủng hộ Dự luật Chế tài Giới chức Cộng sản Việt Nam Vi phạm Nhân quyền (HR4254).

Việc bỏ phiếu trong phiên họp thường kỳ của Hội đồng thành phố hôm thứ Ba, 12/8 đã thu được toàn bộ năm phiếu thuận từ các thành viên có mặt.

Dự luật HR4254 muốn áp đặt những biện pháp trừng phạt đối với những quan chức chính phủ Việt Nam “đồng lõa trong những vụ vi phạm nhân quyền nhắm vào người dân Việt Nam.”

Đây là dự luật lưỡng đảng nhắm trừng phạt các quan chức chính phủ, công an và các cá nhân bị cho là vi phạm nhân quyền với các nhà bất đồng chính kiến ôn hòa, với các chế tài được kiến nghị gồm hạn chế đi lại và trừng phạt tài chính.

Cụ thể, nội dung dự luật muốn cấm các đối tượng bị trừng phạt cùng gia đình họ nhập cảnh gia đình vào Mỹ, kể cả vào với mục đích du học; bị phong tỏa tài sản, bị hạn chế hoặc cấm giao dịch tài chính, đưa tài sản vào hoặc ra khỏi Hoa Kỳ.

Để trở thành luật chính thức, HR4254 cần được thông qua ở cả Hạ viện lẫn Thượng viện Hoa Kỳ.

Khó được thông qua?

Từ Hoa Kỳ, nhà báo Trần Nhật Phong nhận định HR4254, cũng giống như các dự luật nhân quyền khác, khó lòng qua được cánh cửa Thượng viện: "Từ mười mấy năm nay, [các dự luật nhân quyền liên quan tới Việt Nam] Hạ viện đều thông qua cả, nhưng luôn bị chặn không lên nổi Thượng viện."

"Dự luật đưa lên Thượng viện chỉ cần bị một hay hai thượng nghị sỹ chặn lại là đã khó được đưa vào Thượng viện để bỏ phiếu. Do đó ở Hạ viện năm nào cũng thông qua nhưng lên Thượng viện là rớt."

Garden Grove, California là nơi có đông người gốc Việt sinh sống

"Điều này cũng tương tự như chủ đề Việt Nam xin Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương; được thông qua ở một khâu nhưng lại bị tắc ở một khâu khác, bởi sẽ có những thượng nghị sỹ phản đối điều này," ông Phong giải thích thêm.

Nhà báo Trần Nhật Phong bình luận việc những người đề xướng nội dung trừng phạt cá nhân trong dự luật HR4254 là dựa vào tình hình thời sự Nga-Ukraine trong thời gian gần đây.

"Họ thấy Hoa Kỳ đã ra một dự luật tương tự đối với [các cá nhân thuộc] chính phủ Nga, cho nên họ làm theo mô hình đó. Còn nội dung [dự luật nhân quyền] những năm trước không có điều này mà chỉ nói chung chung về tình hình nhân quyền Việt Nam."

Tuy nhiên, theo ông Phong, mục tiêu này sẽ khó đạt được bởi "đối với một nước nhỏ như Việt Nam, Hoa Kỳ không coi trọng các vấn đề cá nhân như đối với các nước lớn như Nga".

‘Thông điệp chính trị’

Garden Grove là nơi có đông cử tri gốc Việt. Được biết phiên họp của Hội đồng thành phố hôm 12/8 đã thu hút nhiều cử tri tới theo dõi, và trước giờ bỏ phiếu, nhiều người đã phát biểu kêu gọi thông qua nghị quyết ủng hộ HR4254.

Báo Người Việt, Bấm bản online, trích lời một trong những người có mặt, cựu Ðại Tá Lê Khắc Lý, chủ tịch lâm thời Cộng Ðồng Việt Nam Nam California, nói: “Chiến tranh về mặt quân sự đã xong, nhưng cuộc chiến chưa chấm dứt. Hoa Kỳ hãy sử dụng dự luật này như một vũ khí!”

Tuy nhiên, nhà báo Trần Nhật Phong đánh giá việc cộng đồng người gốc Việt kêu gọi bỏ phiếu hậu thuẫn dự luật không có nghĩa là muốn gây phương hại tới quan hệ Mỹ-Việt trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng tỏ ra muốn lấn lướt tại Á châu.

"Cần phân biệt về quan hệ đối tác chiến lược về tình hình thời sự giữa Hoa Kỳ, Trung Quốc và Việt Nam với những đòi hỏi lâu nay của khối cử tri gốc Việt. Sự khác biệt ở đây là phía Hoa Kỳ vẫn muốn thực hiện chiến lược của họ ở Á châu nhưng đồng thời cũng làm theo tinh thần dân chủ và nhân quyền của người Mỹ."

"Do đó, việc các thượng nghị sỹ và các dân biểu ủng hộ dự luật này sẽ tạo áp lực rất lớn, buộc chính phủ Việt Nam phải thay đổi cơ chế, thay đổi hệ thống pháp luật của Việt Nam, thay vì cản trở việc đưa Việt Nam xích lại gần với Mỹ hơn."

"Điều này mang ý nghĩa hỗ trợ cho phía Việt Nam đáp ứng những đòi hỏi xưa nay ở sân chơi của cộng đồng quốc tế. Tức là anh phải tuân theo nguyên tắc của cộng đồng quốc tế chứ không thể bước vào sân chơi quốc tế rồi nói vì văn hóa chúng tôi khác biệt nên chúng tôi cứ giữ những gì chúng tôi có, tránh né thay đổi."

"Dự luật này sẽ buộc các lãnh đạo Việt Nam không thể tránh né được nữa mà phải đối diện vấn đề, phải thay đổi mới có thể nhận được những gì họ muốn ở sân chơi quốc tế."

Dự luật HR4254 do Dân biểu Ed Royce, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ, đệ trình trước Hạ viện Hoa Kỳ hồi trung tuần tháng Ba 2014.

Dân biểu Ed Royce là một trong những nhà lập pháp Hoa Kỳ hoạt động mạnh mẽ cho vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

Trước HR4254, dân biểu Ed Royce từng soạn dự luật H. Res.128 kêu gọi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào lại danh sách những quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo, và là người đồng bảo trợ chính Dự luật Nhân quyền Việt Nam được Hạ viện bỏ phiếu thông qua hồi năm 2013. Tuy nhiên, dự luật nhân quyền này đã bị chặn ở Thượng viện.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , | Leave a comment

RFA. Nếu Việt Nam vỡ nợ công

Nguồn RFA

Nam Nguyên, phóng viên RFA 2014-08-15

namnguyen08152014.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Hoi-nghi-nganh-dau-tu-3-305.jpg Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Hội nghị Ngành Kế hoạch và Đầu tư ở Đà Nẵng hôm 7/8/2014. Courtesy chinhphu.vn

Gánh nợ quốc gia nguy ngập?

Phát biểu tại Đà Nẵng hôm 7/8/2014 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trấn an toàn dân: “Việt Nam dứt khoát không để vỡ nợ.”Thực tế gánh nợ quốc gia của Việt Nam nguy ngập thế nào mà Thủ tướng phải lên tiếng như vậy.

Trả lời Nam Nguyên, ông Bùi Kiến Thành một chuyên gia có nhiều kinh nghiệm về thị trường tài chính quốc tế từ Hà Nội nhận định:

“Thủ tướng nói như thế nhưng lấy cái gì để bảo đảm Việt Nam không vỡ nợ công. Nếu Việt Nam cứ tiếp tục đi vay nợ như thế này trong tình hình kinh tế không sáng sủa, doanh nghiệp chết hàng loạt. Kinh tế Việt Nam thì khó khăn mà mình cứ việc đi vay như thế thì lấy gì bảo đảm sẽ không vỡ nợ.”

Ngay từ đầu năm nay, TS Lê Đăng Doanh chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội đã bày tỏ sự đặc biệt quan ngại về tình trạng nợ công của Việt Nam. Ông nói:

“Theo tôi vấn đề nợ công rất là phức tạp, hiện nay cứ mỗi ba tháng ngân sách Nhà nước phải trả nợ nước ngoài khoảng 1 tỷ USD. Đấy là một khoản nợ không phải là nhỏ và số nợ công trong những năm gần đây đã tăng lên một cách nhanh chóng. Đấy cũng là một yếu tố rất đáng chú ý và rất đáng lo ngại.”

Theo tôi vấn đề nợ công rất là phức tạp, hiện nay cứ mỗi ba tháng ngân sách Nhà nước phải trả nợ nước ngoài khoảng 1 tỷ USD. Đấy là một khoản nợ không phải là nhỏ.
-TS Lê Đăng Doanh

Ngày 31/7/2014 vừa qua Argentina một quốc gia Nam Mỹ đã vỡ nợ lần thứ nhì, sau khi mất khả năng thanh toán 1,5 tỷ USD trái phiếu quốc gia cho cho hai quỹ đầu tư của Mỹ. Một trong các tổ chức đánh giá tín nhiệm là Fitch Ratings đã định giá trái phiếu Argentina xuống mức hạng Junk bond tức không khác gì giấy lộn. Như thế Argentina không thể vay tiền được nữa kể cả từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế, cho đến khi khả năng trả nợ được phục hồi.

Giả thiết trường hợp Việt Nam rơi vào tình trạng vỡ nợ thì điều gì sẽ xảy ra, chuyên gia Bùi Kiến Thành phát biểu:

“Nếu Việt Nam vỡ nợ, tất nhiên hệ số tín nhiệm của tín dụng đối với Việt Nam sẽ rất là thê thảm, trong trường hợp nhà nước muốn vay tiền chỉ số tín dụng từ BB sẽ rơi xuống B- và xuống hơn nữa….như thế làm sao Việt Nam có thể tồn tại trên thị trường tài chính quốc tế. Những chuyện ấy sẽ kéo theo làm cho một nước không thể ngóc đầu lên nổi. Chúng ta đã thấy chuyện đó xảy ra rồi, thí dụ bên Argentina vỡ nợ lần thứ hai kéo theo bao nhiêu hệ lụy của nền kinh tế.”

Từ hai năm qua, các đại biểu Quốc hội, chuyên gia đã lên tiếng báo động về tình trạng nợ công của Việt Nam. Báo động không những về cách tính nhằm giảm nhẹ tổng nợ công thực tế mà còn về tình trạng lãng phí nợ vay nước ngoài thực hiện tràn lan các dự án. Chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định:

“Phải tìm cách hãm lại gánh nợ công, hãm lại đầu tư công, hãm lại những thứ gọi là những phí phạm trong vấn đề quản lý nhà nước, hãm lại những cái rút ruột công trình, hãm lại vấn đề cán bộ nhà nước không kiểm tra đầy đủ chi tiêu nợ công.”

Theo báo điện tử VnEconomy, tại Hội nghị ngành kế hoạch đầu tư tổ chức tại Đà Nẵng ngày 7/8/2014 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo xin trích nguyên văn “Việt Nam dứt khoát không để vỡ nợ, phải bố trí đủ để trả nợ, chủ yếu là trả nợ phần đầu tư xây dựng trước. Trái phiếu cũng phải tính 5 năm. Tổng trái phiếu chính phủ và địa phương sẽ được tính kỹ, căn cứ vào bảo đảm nợ công rồi mới tính phát hành trái phiếu thế nào để có nguồn vốn bổ sung cho đầu tư phát triển nhưng đồng thời phải giữ vững an toàn cho nền tài chính quốc gia.”

Tính nợ công mập mờ?

no-cong-250.jpg
Ảnh minh họa. AFP PHOTO.

Báo cáo của Bộ Tài chính đưa ra tại hội nghị Đà Nẵng cho thấy tổng số nợ công tính đến cuối năm 2013 chỉ là 41,5% GDP. Đây là một chỉ số đẹp toàn hảo nhưng bị các chuyên gia ngoài chính phủ cho là một con số ảo. Theo các chuyên gia độc lập, cách tiếp cận vấn đề nợ công của Chính phủ Việt Nam hoàn toàn khác với thông lệ quốc tế.

Cách tính nợ công mập mờ tách rời những món nợ lớn của doanh nghiệp nhà nước mà chính phủ bảo lãnh gây ra nhiều tranh cãi trong giới chuyên gia.

Chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định:

“Chúng ta thấy tỷ lệ nợ công không rõ ràng, có thể nói là nhà nước không thực sự công bố hết nợ công, phần nợ công nào đi vay nước ngoài, nợ công nào đi vay trong nước; nợ công nào trực tiếp của Trung ương; nợ công nào của địa phương; nợ công nào nhà nước bảo lãnh cho các tập đoàn nhà nước… nếu mà cộng hết những cái đó lại thì không phải 50%-60% GDP như công bố mà có nhiều chuyên gia nói là có thể hơn 100% GDP. Vấn đề ở đây là nợ công và sự an toàn của nó là khả năng trả nợ. Phải có nền kinh tế phát triển tốt thì lúc đó mới có tiền vào ngân sách để trả nợ. Trong khi nền kinh tế Việt Nam ba bốn năm nay các doanh nghiệp chết hàng loạt thì làm sao có khả năng mà trả nợ nổi.”

Báo chí Việt Nam trích lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đó là tiền đề cho sự thúc đẩy tăng trưởng, tạo nền tảng ổn định vĩ mô, tạo công ăn việc làm và đảm bảo an sinh xã hội.

Chúng ta thấy tỷ lệ nợ công không rõ ràng, có thể nói là nhà nước không thực sự công bố hết nợ công, phần nợ công nào đi vay nước ngoài, nợ công nào đi vay trong nước.
-Bùi Kiến Thành

Tuy vậy trên các diễn đàn, chuyên gia ngoài chính phủ trong ngoài nước nhiều lần kêu gọi Việt Nam cải cách thể chế, công khai minh bạch và dân chủ trong kinh tế thì mới có thể phát triển kinh tế bền vững. Tham nhũng đi đôi với lãng phí và đầu tư không hiệu quả. Chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định:

“Thanh tra kiểm tra không đủ cho nên bao nhiêu công trình bị rút ruột. Tất cả các vấn đề nó phải giải quyết chứ không thể để nhà nước bỏ ra 100 đồng mà vào trong công trình có 40-50 đồng còn lại thì bị ăn xén ăn bớt hết, tạo ra những công trình không có chất lượng rồi phải đầu tư thêm để sửa chữa những công trình ấy. Có những công trình không sửa chữa được, một con đường đã hỏng rồi như Đại lộ Thăng Long đi lên Láng Hòa Lạc làm chưa xong đã hỏng rồi, cái nền ở dưới nó hỏng thì phải đào hết nó lên để làm lại hai ba lần. Ông Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư nói là chi phí làm đường ở Việt Nam cao hơn bên Mỹ tới hai ba lần, như thế là làm sao? Không phải chỉ nói nợ công đó là bao nhiêu mà nợ công đó làm gì có ích lợi gì, tồn tại bao lâu. Cái nợ công đó tạo ra nợ công khác. Phải có những biện pháp khống chế vấn đề tiêu xài của nhà nước như thế nào đừng gây ra lãng phí.”

Không riêng nợ công và cách tính nợ công khác thường của Bộ Tài chính Việt Nam cho ra một con số đẹp, cách tính GDP tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam cũng gây cho giới chuyên môn một trận cười bất tận. Thời báo kinh tế Việt Nam trích lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 7/8 tại Hội nghị Đà Nẵng, xin trích nguyên văn: “Cách tính GDP của các tỉnh thành hiện nay là không xác thực và so với quốc tế thì không giống ai.” Thủ tướng yêu cầu các tỉnh thành từ nay phải tính toán xác thực không tô hồng hay làm sai lệch vì trong những năm qua tỉnh thành nào cũng báo cáo GDP tăng trưởng 10% tới 15% nhưng GDP cả nước chỉ tăng từ 5% đến 7%.

Theo các chuyên gia cách tính GDP không xác thực dẫn tới sai lầm dây chuyền trong nền kinh tế, từ kế hoạch phát triển cho đến đầu tư sai lạc và dàn trải kém hiệu quả. Lần đầu tiên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhìn nhận phương pháp tính GDP của Việt Nam không xác thực và phải mau chóng cải cách. Các kế hoạch kinh tế của 63 tỉnh thành ở Việt Nam dựa trên những con số tô hồng chuốt lục dẫn tới những sai lạc cho cả quốc gia.

Một đất nước với các chỉ số ảo về tăng trưởng GDP, nợ công không được công bố một cách đầy đủ và minh bạch thì khó có thể đảm bảo không có ngày vỡ nợ. Những khoản nợ công bị phung phí ngày hôm nay chính là gánh nặng cho các thế hệ Việt Nam mai sau.

Posted in chính trị, kinh tế, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Minh Văn : Sự cần thiết của tổng tuyển cử tự do

Nguồn chuacuuthe

ĐĂNG NGÀY: 15.08.2014 , MỤC: - TIN NỔI BẬT, BUÔN CHUYỆN

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Người Buôn Gió : Hoạt động nhân quyền cho tù nhân lương tâm tại Muechen

Nguồn nguoibuongio

Thứ Hai, ngày 11 tháng 8 năm 2014

Ngày 9/8/2014 tại Muechen, Germany một số anh em người Việt sinh sống tại đây đã tổ chức một buổi biểu diễn âm nhạc đường phố với mục đích kêu gọi quan tâm cho các tù nhân lương tâm đang bị nhà cầm quyền Việt Nam giam cầm.

Địa điểm tổ chức diễn ra tại quảng trường Karlsplatz trung tâm thành phố Muechen. Nơi rất đông du khách và người dân thành phố qua lại, nhất là vào những ngày nghỉ.

Buổi biểu diễn âm nhạc thu hút sự quan tâm của những người Đức, trong trang phục áo dài, ca sĩ trong trang phục áo dài Việt Nam trình diễn hai nhạc phẩm của một nhạc sĩ đang bị cầm tù. Bài hát Anh Là Ai được dịch ra tiếng Đức và giữ nguyên phần nhạc khi cất lên lập tức đã khiến nhiều người phải lắng nghe. Khi được các tình nguyện viên giải thích về nội dung bài hát và tình trạng nhân quyền ở Việt Nam, đặc biệt là người nhạc sĩ trẻ sáng tác bài hát này đã phải bị bỏ tù vì nó. Những người Đức rất xúc động.

Buổi biểu diễn kết hợp với việc phát tờ rơi nội dung về tình trạng nhân quyền hiện nay tại Việt Nam, đặc biệt là những tù nhân lương tâm bị bắt giữ và kết án tù rất nặng nề hơn mười năm vì đã can đảm đòi tự do ngôn luận, tự do tôn giáo cho Việt Nam.

Các tấm hình cho thấy hoạt động rất được người dân Châu Âu quan tâm, chú ý một cách nghiêm túc. Gần đây các tổ chức nhân quyền, tổ chức xã hội dân sự Việt Nam đã có nhiều chương trình hoat động tiếp xúc với các chính khách, chính phủ , quốc hội …của nhiều nước trên thế giới để đưa vấn đề nhân quyền Việt Nam ra công luận thế giới. Để ủng hộ cho những hoạt động của các tổ chức này, trong điều kiện hẹp và khả năng không lớn, một số anh em Việt Nam ở Muechen đã rất cố gắng tổ chức buổi biểu diễn âm nhạc nhân quyền này để đưa thông tin về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam đến với người dân sở tại.

Các thông tin trong tờ rơi được chắt lọc, cô động và gây chú ý ngay lập tức cho người đọc, những tấm hình trên đã nói rõ về điều đó. Hy vọng trong tương lai các anh em người Việt trên khắp thế giới nhân rộng mô hình này, để đưa thông tin về những tù nhân lương tâm ở Việt Nam đến với người dân khắp nơi trên thế giới. Góp phần tăng hiệu quả những cuộc tiếp xúc báo cáo nhân quyền của các tổ chức nhân quyền, xã hội dân sự đang nỗ lực thông báo cho các cơ quan chính phủ, quốc hội quốc tế.

Nhóm anh em trẻ ở Muechen đã từng tổ chức những chương trình ca nhạc, nấu ăn để gây quỹ ủng hộ cho những tù nhân lương tâm. Vào tháng 1 năm 2015 tới đây họ sẽ có một chương trình ca nhạc tiếp tục gây quỹ cho các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam. Trọng tâm trong các hoạt động của họ hướng sự quan tâm tới các tù nhân lương tâm của người dân quốc tế cũng như kiều bào Việt Nam.

Rất mong những hoat động của họ mỗi ngày nhận được thêm sự ủng hộ của đồng bào Việt Nam ở xa quê hương.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Hạ Đình Nguyên : “CAM KẾT THÀNH ĐÔ” QUA THƠ & NGÂY

Nguồn saigondiemtin

Thứ Sáu, ngày 08 tháng 8 năm 2014

08-08-2014
TOQUOC12.JPG
Từ Hội nghị Thành Đô 1990, mối quan hệ hữu nghị giữa đảng CS Việt Nam và đảng CS Trung Quốc trở nên đặc biệt một cách bất thường, đến nỗi cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch gọi đây là khởi đầu của một thời kỳ Bắc thuộc lần nữa. “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm bắt đầu”

Đến nay, sau 24 năm nó vẫn còn là một bí mật – toàn dân chưa ai biết, kể cả Quốc Hội, cả ủy viên Trung Ương đảng chưa chắc đã biết. Chỉ có một vài tiết lộ của Thứ trưởng Trần Quang Cơ về cuộc đấu tranh nội bộ gay gắt vào thời tiền hội nghị, qua hồi ký để lại của ông, nay thì ông đã qua đời.

Hiện cái “kỷ yếu hội đàm Thành Đô, mang nhiều ý nghĩa lịch sử” vẫn còn là một bí mật, nhưng không còn nguyên vẹn vì bị sứt mẻ dần qua thời gian, nên chưa thể “biệt tăm” như cái hộp đen của chiếc máy bay MH370 của Malaysia mất tích đâu đó ở đáy đại dương.

Ngoài vài điểm đã tiết lộ trong hồi ký của Trần Quang Cơ, hồi ký của đại sứ Trung Quốc, sự tiết lộ của báo Hoàn Cầu TQ, và một ít từ Wikileaks, nhưng đều không thể xem là chính thức hay chính xác, dù có rõ mười mươi đi nữa, trừ phi Đảng CSVN công bố chính thức để minh bạch công và tội. Nhưng lãnh đạo đảng CSVN vẫn để mặc cho dư luận đồn đoán.

Vậy, trong khi chờ đợi sự bạch hóa đó, chúng ta có thể góp phần giải mã bí mật Thành Đô qua phương diện “thơ” xuất phát từ hội nghị. Những dòng thơ nầy thì không có gì để phải hoài nghi.

Theo hồi ký được đăng tải của vị Đại sứ TQ (1), người đã có mặt với vai trò xuyên suốt hội nghị, đã mô tả: ban đầu trên chiếc chuyên cơ bí mật của đoàn cao cấp Việt nam sang Thành Đô là nặng trĩu không khí lo âu căng thẳng, nhưng khi kết thúc hội nghị là sự hoan hỉ tràn ngập của hai bên. Sau khi 2 bên ký kết vào văn kiện, Giang Trạch Dân đã đọc tặng hai câu thơ (của Giang Vĩnh, đời nhà Thanh):

“Độ tận kiếp ba huynh đệ tại,
Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu”
(Trải qua cơn sóng gió, tình anh em vẫn còn.
Gặp nhau cười một cái quên hết oán thù)

Thủ tướng Đỗ Mười rất đắc ý, trên đường về cùng chuyến bay, đã yêu cầu ông Đại sứ nầy dịch và viết lại âm Hán-Việt và chữ Việt 2 câu nầy, ông càng đắc ý hơn. Sau khi về Việt Nam, ông TBT Nguyễn Văn Linh ngẫm nghĩ càng sảng khoái, bèn sáng tác:

“Huynh đệ chi giao sổ đại truyền
Oán hận khuynh khắc hóa vân yên
Tái tương phùng thời tiếu nhan triển,
Thiên niên tình nghị hựu trùng kiến
(Anh em chơi với nhau đã mấy thế hệ.
Oán hận trong khoảnh khắc đã biến thành mây khói.
Khi gặp lại nhau cười rạng rỡ.
Tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại)

Niềm vui thơ phú trong chốc lát của 2 vị đứng đầu Đảng và Nhà nước ngang giá hàng triệu sinh linh Việt Nam đã ngã xuống vì cuộc chiến đấu 74-79- 84-88. Bao nhiêu thanh niên 18-20, đã hy sinh trong rừng sâu, trong làng mạc, ngoài biển cả… và nỗi đau của cha mẹ, bao nhiêu gia đình mất cửa nhà, tài sản, tất cả hóa thành không, bởi vì “anh em ‘chơi’ với nhau, gặp nhau cười rạng rỡ”, “oán hận ‘trong khoảnh khắc’ đã thành mây khói”… với ảo tưởngđiên rồ, bốc đồng “tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại”.

Giờ đây chúng ta không còn gì để thắc mắc, vì sao bia kỷ niệm chiến sĩ bị đục bỏ, không được nhắc tới, không làm kỷ niệm những ngày lễ, và đàn áp thẳng tay, đánh dã man, bỏ tù những người biểu tình yêu nước, thanh trừng, triệt hạ, loại trừ những “đống chí” khác ý kiến…!

http://blog-imgs-45.fc2.com/a/n/d/andreagritti/yukata2.jpg
Ảnh minh họa : 500 người Nhật Bản mặc quốc phục Hàn Quốc để xin lỗi việc quân Nhật sử dụng phụ nữ Hàn Quốc làm "hộ lý" trong chiến tranh

Ông Nguyễn Trung đã nhận định rằng (2):

“Những ngưòi lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta lúc đó hầu như không nắm được những thay đổi, những diễn biến lớn trên trường quốc tế, nhất là về các nước XHCN Đông Âu, tình hình Liên Xô, tình hình Mỹ cũng như tình hình đối thủ trực tiếp của mình lúc đó là Trung Quốc. Từ đó đã có những nhận định rất sai lầm để rồi đưa ra những quyết định rất sai lầm”.

Nhưng cho dù sự hạn chế tầm nhìn thế nào đi nữa, cũng không thể đắm đuối với niềm tin quá dễ dàng về cái nhìn lịch sử của hằng ngàn năm từng va chạm cho cuộc sống còn. Vậy nó xuất phát từ đâu? Về cá nhân, người ta thường gọi đó là tính “kiêu ngạo cộng sản”. Về xã hội, là thể chế độc tài mà quyền lực nằm gọn trong tay một nhóm người – lãnh đạo chủ chốt ,bộ máy đảng-nhà nước chỉ còn là hệ thống kèn trống tồn tại để ăn theo, không hơn không kém.

Niềm sảng khoái văn thơ nầy, có thể gọi là thơ ngây, ngây ngất, và ngây ngô mà đầy tai họa. Nhưng chưa hết. Loại thơ độc hại nầy còn phát tiết, chảy dài theo 2 thập niên sau, kéo theo “anh em chơi với nhau nhiều thế hệ”.

Đó là 2 bài thơ, mang tính chất phương châm, có nghĩa là cương lĩnh, mỗi bài 4 câu, 16 chữ dùng cho mỗi thập niên (theo tiết lộ của Wikileaks là thời gian thực hiện trọn vẹn “Kỷ yếu hội đàm Thành Đô” mà Ông Đại sứ TQ gọi là mang nhiều ý nghĩa lịch sử, được quy định là 3 thập niên).

Theo âm Hán-Việt, đó là “Thập lục tự phương châm” (phương châm 16 chữ), đượcđảng CSVN công khai, đón nhận như một món quà vô giá từ sản phẩm Thành Đô.

- Phương châm 1 định hình tư tưởng, có giá trị như một slogan, một tuyên ngôn của văn kiện, do Giang Trạch Dân sang Hà Nội triển khai, vào tháng 11-1991:

“Sơn thủy tương liên.
Lý tưởng tương thông
Văn hóa tương đồng
Sinh mệnh tương quan”

- Phương châm 2 chỉ đạo hành động cụ thể, sau 10 năm thành tựu bước 1 căn bản, để tiến hành 10 năm bước 2, do Giang Trạch Dân chính thức công bố cùng Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, vào tháng 2-1999 :

Mục lân hữu hảo (láng giềng tốt)
Toàn diện hợp tác (hợp tác tốt )
Trường kỳ ổn định (ổn đinh tốt)
Diện hướng tương lai (tương lai tốt)

Phía Việt Nam đã đồng thuận triệt để, tích cực thực hiện và Việt-hóa một cách tài tình với sự trân trọng, phương châm tư tưởng thành “16 chữ vàng”, phương châm hành động thành “4 tốt”, và đã triển khai giáo dục cho toàn quân toàn dân.

Chỉ cần suy ngẫm từ hai phương châm nầy, so với thực tế diễn ra trong 24 năm qua, thì mọi sự khớp nhau, sáng tỏ như trăng rằm.

Quả thực, hai phương châm cực kỳ thâm hiểm do Trung Quốc đặt ra, trong chiến lược xâm lăng văn hóa bằng “sức mạnh mềm” của họ, tầm quan trọng hơn cả tuyên bố “hải phận Trung Quốc” của Trung Nam Hải trong chiến lược xâm lăng pháp lý và ngoại giao.

Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã “tán thành” và “chỉ thị cho các cấp thi hành”, đã gây nên nỗi nhức nhối ngày nay về chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa, dẫn đến giàn khoan HD 981. Đó là mặt cụ thể.

Về sức mạnh mềm, “mười sáu chữ vàng” và “bốn tốt” thì được tiếp nhận hồ hởi và triển khai triệt để tận tình, đã đập thẳng vào mặt nhân dân, đâm thẳng vào trái tim của lịch sử,có sức công phá tận nền tảng tư tưởng – văn hóa của dân tộc, mà trên cơ sở đó, Việt Nam đã tồn tại mấy ngàn năm như một quốc gia riêng biệt. Điều đáng kinh ngạc cho toàn bộ dân tộc Việt Nam, hai phương châm nầy đã thong dong xuyên thủng và băng qua từng tập thể lãnh đạo của các thời kỳ Bộ Chính Trị và Trung ương đảng, xuyên thấu các cấp đảng đến tận cơ sở, và ngự trị trên diễn đàn tư tưởng cả nước trong suốt thời gian hơn 2 thập kỷ qua. Không có một phản ứng nào đáng kể, từ những nhà văn hóa, sử gia, giáo sư và hằng đống tiến sĩ, (kể cả nhân sĩ trí thức?), và báo chí. Là tại sao? (…)

Mười sáu chữ VÀNG và bốn TỐT đã đi ngược lại, đến mức phủ định một cách đau xót “nền tảng tinh thần” của Quốc gia mà Nguyễn Trãi đã khắc họa qua 4 câu, cả dân tộc kiêu hãnh và không ai dám quên, khi khẳng định mình là người Việt Nam.

“Như Nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Nước non bờ cõi đã chia.
Phong tục Bắc Nam cũng khác”,
khẳng định tính độc lập của một quốc gia mới là ngàn năm, chứ không phải hữu nghị là “ngàn năm” (tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại) như thơ của TBT Nguyễn Văn Linh.

Càng nghĩ, càng đau về phương châm nầy, nó ngang nhiên hơn cả chiếc giàn khoan HD 981. Nó đối chọi trực diện với 4 câu cô đọng, nén chứa toàn bộ tinh thần và sức mạnh của một dân tộc. Cái đau nằm ở tính thâm độc của đối phương đã đành, càng làm nhói tim mọi người, khi mà nó được sự đồng tình đến mức triệt để, nâng lên thành vàng của chính đảng CSVN! – một đảng vốn ra đời và tồn tại với sứ mạng là để cứu nước, giữ độc lập chứ không phải để làm điều gì khác.

Bình tâm mà so sánh, xem xét lại kỹ, 4 câu xuất phát từ gan ruột, trí tuệ của Tiền nhân ta, và 4 câu mà Đảng mang về.

Ai là kẻ đã Việt-hóa thành phương châm “16 chữ vàng” “4 tốt”? Rất dễ nghe, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ lan truyền trong nhân dân- (như lời “chỉ đạo” viết văn kiện của TBT Nguyễn Phú Trọng mới đây, cho hội nghị Trung ương sắp tới ).

Mỗi câu trong 4 câu của phương châm vừa bóng bẩy nhẹ nhàng, lại hàm súc, phủ định một cách trọn vẹn tính độc lập của quốc gia, cả về phương diện vật thể cũng như phi vật thể, tạo nên một tiến trình đồng hóa ngọt ngào, êm ả. Ý thơ của nó thâm và êm như lưỡi dao phẫu thuật, cắt thẳng vào mạch nguồn tồn tại của dân tộc, mà nạn nhân không một chút phản ứng.

- Sơn thủy tương liên. Núi sông trùng điệp nối liền nhau, là cái vui và thuận lợi của kẻ mạnh, sao kẻ yếu không lo, lại mừng như được vàng, lại vô tâm cứ như xem một bức tranh đẹp? Chẳng phải đời Tần của Trung Quốc đã từng không tiếc máu xương sinh mạng của dân mà xây Vạn Lý Trường Thành, ngăn sông chắn núi để ngăn quân ngoại xâm từ phương bắc tràn vào? Bởi cái tương liên nông nổi đó mà ngày nay, sau 24 năm đường xe, đường tàu thông thống chạy qua, hàng độc hại, xe tăng có thể lao qua như nước từ trên cao ào ào đổ xuống. Đóng cửa, mở cửa là do họ chứ không phải ta.
Ai có mưu đồ sâu độc muốn xóa tan bờ cõi của ta? Ai là kẻ mơ màng mịt mù hữu hảo? Vì cái gì che mắt, để không nhìn thấy cạm bẫy của tương liên vốn có một chiều và thảm hại? Còn đâu sự tự tin và khẳng định đầy cương quyết: “Như nước Đại Việt ta từ trước!” “Nước non bờ cõi đã chia” – “Sách Trời đã định” (Tuyệt nhiên định phận tại Thiên thư- Lý Thường Kiệt).

- Lý tưởng tương thông. Đó là gì? Là cùng nhau một ý thức hệ chủ nghĩa Mác-Lê, Mao, Đặng, Giang, Hồ, Tập…? Là xóa bỏ Tổ quốc, Lịch sử, Dân tộc, như bài ca: “Chờ ngày xóa tan biên cương, loài người sống thân yêu…”, “Vô sản thế giới hãy đoàn kết lại”… Nhân loại có ai còn tin vào những lời nầy có thể là hiện thực, bằng con đường bạo lực mông muội của ý thức hệ Cộng sản, vừa thô thiển vừa viễn mơ? Và còn ai trong đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay thật sự tin điều nầy? Và kể cả đảng Cộng sản Trung Quốc? Chắc chắn là không một ai!
“Lý tưởng” nầy đã trở thành một sự “dối trá hoàn hảo” của cả hai bên: dối mình, dối người, dối cả nhân dân hai nước, trong khi nhân loại thấy rõ đó là một vở kịch bi hài dai dẳng, đáng tiếc cho một kẻ khờ. Một bên thì dối mà được cả, còn một bên dối kia, chỉ để tự nguyện đánh mất mình! Sao lại tự xóa bỏ “Một nền văn hiến đã lâu” để thay vào một thứ hư ảo không có thật?

- Văn hóa tương đồng. Văn hóa “cùng giống như nhau”, thì từ lâu đã bị đồng hóa, làm gì còn đất nước này, mà đảng Công Sản Việt Nam “nhân danh” để đi cứu nước? Phong tục, tập quán, tín ngưỡng, nhân sinh quan, giống loài đều khác. Nguyễn Trãi đã khẳng định cái riêng biệt để tồn tại: “phong tục Bắc, Nam cũng khác”. Chính đảng CSVN cũng đã nêu “ hòa nhập chứ không hòa tan” khi mở đầu cuộc đổi mới kinh tế theo hướng thị trường trước đây. Thì ra, chỉ lo đối phó với phương Tây mà ôm phương Bắc theo phương châm đã được chỉ đạo, cùng với định hướng đi kèm “thế lực thù địch”, nhằm vào những ai không ôm chân phương Bắc.

- Sinh mệnh tương quan. Là một kết thúc ngọt ngào, cùng “sống chết có nhau”. Thế mà nó lại tương khắc, lại chẳng bao giờ do ta gây ra!
Sự cố kết nầy được triển khai, thực hiện theo bốn tốt, qua từng thông cáo chung của mỗi triều Bộ Chính Trị, cái mới nhất là do TBT Nguyễn Phú Trọng ký với Hồ Cẩm Đào “hợp tác toàn diện và chiến lược”.
Quả chín chỉ còn chờ ngày rơi rụng, Tập Cận Bình lại muốn nhanh hơn, cố đóng vai người hùng trong “Giấc mơ Trung Hoa” để kết thúc thập niên thứ 3 trong kế hoạch 30 năm Thành Đô. Thế là giàn khoan HD 981 rất oai hùng xuất hiện ngang nhiên, hoành tráng ở thềm lục địa Việt Nam.

Ngọn gió xoay chiều

Sự hiện diện của HD 981 từ ngày 1-5, là bất ngờ đầy kinh ngạc làm BCT Việt Nam á khẩu, nín thở suốt 10 ngày. Nhân dân sục sôi và nổ ra cuộc biểu tình ngày 11-12/5 như chưa từng có trong 40 năm qua. Ngày 18 lại hứa hẹn một cuộc biểu tình tự phát trên khắp nước, thì bị ngăn chận và trấn áp trong trứng nước. Thông tin đã bùng phát khắp trong nước và thế giới. Bộ mặt bành trướng không thể nào che đậy được nữa. Vì liên quan đến biển đảo nên xuất hiện Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, làm vấn đề càng trở thành gai góc, bộc lộ mối quan hệ không lành mạnh giữa Việt Nam – Trung Quốc, kéo theo “bí mật Thành đô” được “hoài nghi” ngày càng lớn, về mối quan hệ bất chính tập thể của đảng Cộng sản Việt Nam đối với đảng Cộng sản Trung Quốc. Nó ngày càng trở nên trầm trọng hơn, hầu như “khó nói” của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nếu đem những thông tin đã được tiết lộ, cùng với “16 chữ vàng”và “4 tốt”, so sánh với thực tế diễn ra trên khắp đất nước của 24 năm qua, từ khi ký kết Thành Đô, thì lại vô cùng ăn khớp. Nó là một tiến trình logique từ lý thuyết sang hành động, thể hiện thật sự là “hợp tác chiến lược và toàn diện” theo cách “hòa tan”, đang rất cần sự “biện hộ” chân thành của Đảng.

Đang có yêu cầu bức bối trong nhân dân, tiêu biểu qua tiếng nói của 61 cựu đảng viên, của Thiếu tướng Lê duy Mật, của Đại tá Nguyễn Đăng Quang bằng thư chính thức đòi Trung Ương phải “bạch hóa” hồ sơ Thành Đô ngay trong kỳ hội nghị TƯ lần nầy.

Gió xoay chiều chính là sự thức tỉnh của toàn dân, và cả thế giới đều thấy, một liên minh quốc tế chống bành trướng là vấn đề của thời đại, không thể đảo ngược.

Nói đúng hơn, nay chỉ là chờ đợi sự công bố chính thức, bạch hóa nó trước nhân dân, trước lịch sử, cũng đồng thời là đòi hỏi thái độ công khai chính thức về sự thật và cách ứng xử của đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự kiện nầy.

Trong hội nghị Trung Ương lần thứ 10 tới đây, nếu tổng kết 30 năm được và mất, mà không đề cập đến vấn đề nầy, thì giá trị của tổng kết ấy khá vô nghĩa.

Để kết luận, xin mượn lời của Đại tá Nguyễn Đăng Quang (3):

“Nhân dân rất kỳ vọng một trong các quyết sách này là Đảng sẽ báo cáo cho toàn dân biết sự thực về mối quan hệ với TQ trong 1/4 thế kỷ qua, trong đó có vấn để Thành Đô năm 1990, kèm theo một lời (nên là một hành động – người viết) tạ lỗi chân thành! Nếu đúng thì đây sẽ là một trong các quyết định dũng cảm, hợp lòng dân và quan trọng nhất trong lịch sử tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Nên là một hành động xin lỗi theo cách mà người Nhật đã làm, xin lỗi thay cho tiền nhân đã có hành động sai trái với dân tộc khác, từ đó đứng thẳng lên để nâng cao phẩm chất của mình và xây dựng lại sức mạnh nội lực của dân tộc./.

HĐN 8-8-2014
Tác giả gửi Saigon Điểm Tin

Bài viết tham khảo từ các tài liệu và bài liên quan :
(1) Hồi ký của Đại sứ Trung Quốc- Hồi ký Trần Quang Cơ – “Trước và sau cuộc gặp cấp cao Trung –Việt ở Thành Đô
(2) “Phải chận đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990”- Nguyễn Trung
(3) “Phải công bố thỏa thuận ở Thành đô cho nhân dân biết” – Đại tá Đặng Văn Quang

(4) “Hiểm họa Trung Cộng và bài học “Phần Lan hóa” – Trần Trung Đạo

Posted in chính trị, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

Phạm Chí Dũng: Người Mỹ bắt tay giới bảo thủ Hà Nội?

Nguồn thuymyrfi

Thứ Sáu, ngày 08 tháng 8 năm 2014

mccain_01.jpg
Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain và Sheldon Whitehouse đến American Center ở Hà Nội dự họp báo, 08/08/2014.

Bài đăng : Thứ sáu 08 Tháng Tám 2014 – Sửa đổi lần cuối Thứ sáu 08 Tháng Tám 2014

Sự kiện hai Thượng nghị sĩ Mỹ là John McCain (đảng Cộng hòa, bang Arizona) và Sheldon Whitehouse (đảng Dân chủ, bang Rhode Island) đến thăm Việt Nam một cách khá bất ngờ, trong ba ngày kể từ 08/08/2014 đã gây chú ý trong dư luận.

RFI Việt ngữ đã trao đổi với tiến sĩ Phạm Chí Dũng, nhà bình luận chính trị ở Saigon về vấn đề này.

RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng. Là người theo dõi sát thời sự trong nước, anh có chú ý đến những chi tiết nào trong chuyến đi thăm Việt Nam của hai Thượng nghị sĩ Mỹ, đặc biệt là một chính khách tên tuổi như ông John McCain ?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Thượng nghị sĩ Cộng hòa John McCain là người phụ trách Ủy ban quân vụ – một cơ quan được xem là quan trọng trong Quốc hội Hoa Kỳ, đương nhiên có vai trò xung yếu đối với việc “quyết định” cơ chế bỏ cấm vận vũ khí đối với một quốc gia quá nhạy cảm chính trị như Việt Nam.

Bất ngờ là chỉ một tuần sau chuyến đi không tuyên bố trước tới Hoa Kỳ của Phạm Quang Nghị – người cho tới thời điểm này đang được xem là có thể kế vị cho Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại đại hội Đảng lần thứ 12 vào năm 2016, vào ngày 07/08/2014 ông John McCain và đồng viện Dân chủ Sheldon Whitehouse đã đột ngột đến Hà Nội. Thông tin ban đầu của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội cho biết, ba hồ sơ quan trọng là an ninh khu vực, nhân quyền và thương mại sẽ được phái đoàn nghị sĩ Mỹ thảo luận với cấp lãnh đạo Việt Nam.
Một chi tiết đáng chú ý không kém là ngay trước chuyến đến Việt Nam đột ngột trên, Thượng nghị sĩ Bob Coker của Hoa Kỳ cũng vừa kết thúc một chuyến thăm viếng tại Hà Nội, với cuộc gặp hầu hết những người được xem là nguyên thủ quốc gia của Việt Nam.

Chưa đầy một tuần sau khi Thượng nghị viện Mỹ “nhất trí” về Thỏa thuận hạt nhân dân sự với Việt Nam, đến lượt Hạ nghị viện Hoa Kỳ ghé mắt một nghị quyết cho phép Mỹ bán vũ khí sát thương cho quốc gia cựu thù nhưng vẫn chưa thể “hòa giải”. Dự thảo nghị quyết này nêu về an ninh hàng hải tại Châu Á – Thái Bình Dương, đã được hai dân biểu Forbes và Hanabusa đệ trình để Hạ viện thông qua. Điểm ấn tượng nhất liên quan đến “khách thể” Việt Nam trong dự thảo là trong các khuyến cáo về mặt chính sách đối với chính quyền Mỹ, khuyến nghị thứ 13 liên quan đến quan hệ Mỹ – Việt đã bật đèn xanh cho việc bán vũ khí cho Hà Nội.

RFI : Như vậy gần đây có vẻ Quốc hội Mỹ lại quan tâm hơn đến Việt Nam, trong khi trước đây các hoạt động trao đổi chủ yếu từ phía chính quyền ?

Khác hẳn với thời gian nửa cuối năm 2013 và đầu năm 2014 với vai trò chủ đạo thuộc về Chính phủ Mỹ, những tuần lễ gần đây lại chứng kiến hình ảnh “lên ngôi” của giới nghị sĩ Hoa Kỳ.

Những dữ liệu gần đây cũng cho thấy thật khó hoài nghi rằng đã không diễn ra một chuỗi logic đàm luận và móc ráp giữa các động thái mới đây của Ủy viên Bộ chính trị Phạm Quang Nghị, sự chuẩn thuận nhanh chóng của lưỡng viện Hoa Kỳ cùng những chuyến công du Việt Nam của các nghị sĩ Mỹ. Móc xích có vẻ lộ diện nhất là chuyến thăm “đáp lễ” của John McCain đã diễn ra ngay sau cuộc “diện kiến” chính khách Mỹ của ông Phạm Quang Nghị.

Một thông tin bên lề nhưng cũng rất đáng lưu tâm khác là gia đình blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) vừa nhận giấy mời của Chi cục thi hành án dân sự quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu thay mặt cho ông Hải đóng tiền án phí sơ thẩm và phúc thẩm hình sự để “đủ điều kiện xem xét giảm án đặc xá”.

RFI : Thông tin bên lề này có liên quan gì, theo anh ?

Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) chính là một trong những tù nhân lương tâm kỳ cựu và có tiếng nhất ở Việt Nam, bị bắt và bị xử án đến hàng chục năm tù giam chỉ vì đấu tranh phản kháng Trung Quốc. Ông cũng nằm trong danh sách ưu tiên mà Chính phủ Mỹ thường trao cho phía Việt Nam để đòi hỏi trả tự do.

Động thái giấy mời này đã khiến rộ lên dự đoán về khả năng Điếu Cày có thể được trả tự do trong không bao lâu nữa. Ngày gửi giấy mời lại trùng với ngày mà Thượng nghị sĩ John McCain đến Việt Nam. Nếu có thể so sánh, cần nhắc lại là ngay trước và sau chuyến công du Hà Nội của nữ Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách chính trị Wendy Sherman của Hoa Kỳ đến Hà Nội vào đầu tháng 3/2014, Nhà nước Việt Nam đã phóng thích một loạt 5 tù nhân lương tâm, kể cả một người bị coi là “rất cứng đầu” như ông Cù Huy Hà Vũ.

Sự việc trên cũng dẫn tới một giả thiết là trong hoặc sau chuyến đi Mỹ của ông Phạm Quang Nghị, phía Việt Nam đã chấp nhận thông báo cho phía Mỹ những nhượng bộ về nhân quyền, cụ thể là thả nhiều hơn và “chất lượng hơn” tù nhân lương tâm.

RFI : Có vẻ như quan hệ Việt – Mỹ đang có những bước chuyển khá ngoạn mục, đặc biệt là từ sau vụ giàn khoan Trung Quốc ?

Bây giờ, phương trình chính trị Việt – Mỹ đã trở nên phức hợp nhưng cũng thú vị hơn. Những chủ đề an ninh, thương mại và nhân quyền mà ông John McCain, chứ không phải một quan chức cấp cao nào của Chính phủ Mỹ, mang trách nhiệm bàn thảo với giới lãnh đạo Việt Nam, dường như phát lộ dấu hiệu Quốc hội Mỹ đang đóng vai trò khá then chốt đối với tương lai quan hệ Mỹ – Việt. Rất có thể, chuyến làm việc này của John McCain sẽ mang tính “tiền trạm” để Quốc hội Mỹ quyết định về một vấn đề còn hệ trọng hơn hẳn giữa hai quốc gia: đối tác chiến lược.

Dự đoán này là có thể có cơ sở khi tại cuộc chào từ biệt với ông Trương Tấn Sang, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam là David Shear đã nói bóng gió về triển vọng “đối tác chiến lược Việt – Mỹ” trong tương lai. Khác với khái niệm “đối tác toàn diện” được thỏa thuận giữa ông Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama vào tháng 7/2013, từ sau vụ giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 của Trung Quốc mà đã khiến đảo lộn không khí chính trị ngoài Biển Đông, nhu cầu về đối tác chiến lược được chính tư lệnh quân đội Mỹ tại Châu Á – Thái Bình Dương gợi mở, còn giới lãnh đạo Việt Nam thì tất nhiên không bỏ ngoài tai lời gợi ý hấp dẫn này.

Nếu chuyến đi của John McCain tùy thuộc vào lời mời của Phạm Quang Nghị, điều có vẻ đáng ngạc nhiên là người Mỹ đang như chú tâm đến mối quan hệ với giới lãnh đạo bảo thủ bên Đảng ở Hà Nội, thay cho những đồn đoán trước đây về vai trò nổi bật của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước phương Tây. Và nếu khả năng này xảy ra, Quốc hội Mỹ và sau lưng là Chính phủ Mỹ đang muốn chứng nhận việc Đảng và Nhà nước Việt Nam sẽ dành cho họ vai trò gì trong bầu không khí chính trị ở Việt Nam, và lẽ dĩ nhiên bao hàm cả vị trí của Hoa Kỳ ở khu vực Biển Đông.

RFI : Nếu thực sự là phía Mỹ đang quan tâm hơn đến phe bảo thủ ở Việt Nam, thì sẽ có những thay đổi gì, theo anh ?

Logic tiếp theo là nếu chuyến công du của John McCain “thành công tốt đẹp” với những người bên đảng Cộng sản Việt Nam, thời gian tới sẽ chứng kiến những thay đổi không nhỏ về chính trị đối ngoại của Việt Nam, mối tương quan chính trị đối nội và cả về một không khí cởi mở hơn mà Nhà nước Việt Nam “đặc cách” dành cho giới hoạt động dân chủ và nhân quyền tại quốc gia này.

Nếu kịch bản phóng thích tù nhân lương tâm được lặp lại như đầu năm 2014, sắp tới sẽ có một số những cái tên đáng chú ý có thể được trả tự do như Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Lý…

Và nếu một số tù nhân lương tâm được trả tự do trong tháng 8/2014, đây chính là một tín hiệu khá rõ ràng về khả năng sắp tới Nhà nước Việt Nam nhận được một số “đặc cách” về mua vũ khí sát thương, tham gia vào TPP và có thể cả hứa hẹn cho “đối tác chiến lược” với người Mỹ trong những năm tới.

Nhưng làm gì thì làm, giới lãnh đạo Việt Nam phải nhanh nhanh lên mới được. Vì thời gian cho họ chỉ còn đúng một quý nữa, tức nếu đến tháng 11/2014 khi Quốc hội Mỹ bước vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ mà phía Việt Nam vẫn chưa hoàn tất thủ tục vào TPP, thì coi như sau đó sẽ chẳng còn mấy nghị sĩ Mỹ quan tâm đến những vấn đề riêng tư của lãnh đạo Việt Nam nữa.

RFI : RFI Việt ngữ xin rất cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng.

Posted in chính trị, dân chủ, nhân quyền, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a comment

VRNs. Blogger Điếu Cày sắp được trả tự do?

Nguồn chuacuutheĐĂNG NGÀY: 08.08.2014 , MỤC: - TIN NỔI BẬT, TIN VIỆT NAM

Posted in Uncategorized | Leave a comment

(VNTB) – Chọn trả phí công đoàn hay lập Công đoàn độc lập? (Bài 1)

Nguồn ijavn

(VNTB) Ngày 25-6-1983, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định lấy ngày 28-7-1929, ngày họp Đại hội thành lập Công hội đỏ đầu tiên ở Bắc Kỳ, làm ngày thành lập Công đoàn (CĐ) Việt Nam.

Như vậy, thay vì như các quốc gia khác, tổ chức CĐ trước tiên phải do người lao động (NLĐ) tự nguyện lập ra cho quyền lợi của chính NLĐ, chứ không phải vì một chính đảng nào đó, thì ở Việt Nam, CĐ không được coi là một danh từ chung.

Vì là một tổ chức độc quyền, nên CĐ lâu nay đã đưa ra nhiều quy định mang tính ép buộc cho cả phía sử dụng lao động (LĐ) lẫn NLĐ. Loạt bài viết dưới đây sẽ cùng bàn luận một lát cắt nhỏ về chuyện “phí CĐ” đã được thu bất chấp luật định, và việc chi tiêu nguồn tiền này ra sao vẫn là câu hỏi chưa cơ quan nào trả lời. Bên cạnh đó, thử đề xuất một tổ chức CĐ độc lập thực sự vì quyền lợi của NLĐ.

37135-dhcdtkv131.jpg
Công đoàn có nguồn kinh phí rất lớn thu trực từ lương công nhân nhưng có hoạt động thực chất vì quyền lợi của công nhân hay không ?

BÀI 1: PHÍ CÔNG ĐOÀN: THUẾ THÂN ĐÁNH VÀO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Minh Tâm

Trao đổi với người viết từ năm 1995, giám đốc công ty Legamex khi ấy cho biết bình quân quỹ chi lương ở doanh nghiệp (DN) của ông là 2 tỷ đồng/tháng. Ông phải nộp một khoản tiền 2% tính trên 2 tỷ đồng này cho một loại thủ tục có tên “phí công đoàn”. Tuy nhiên, mọi chi tiêu cho chuyện quan, hôn, tang, tế của người lao động (NLĐ), kể cả đi nghỉ dưỡng hàng năm đều lấy từ nguồn ngân sách DN.

“Tôi có nêu thắc mắc về số tiền 2% này ở các cuộc giao ban tại Sở Công nghiệp (hiện nay là Sở Công thương), nhưng không ai trả lời được là thu về để chi vào những chuyện cụ thể gì cho an sinh NLĐ”. Ông giám đốc nói.

Thu phí theo quy định của… Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Trong kỳ họp Quốc hội năm 2012, thảo luận về dự thảo sửa đổi Luật Công đoàn (CĐ), lý giải về căn cứ của đề xuất trích nộp kinh phí CĐ 2%, Chủ tịch Tổng Liên đoàn LĐ Việt Nam Đặng Ngọc Tùng cho rằng nguồn thu kinh phí CĐ có tính… lịch sử, từ Sắc lệnh số 108 ngày 5-11-1957 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Luật CĐ, sau đó được cụ thể hóa bằng văn bản dưới luật do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ban hành ngày 9-4-1958.

Mức lương tối thiểu hiện tại đã gấp hơn 10 lần thời điểm trước năm 1997. Tuy nhiên báo chí không thể tìm được con số báo cáo về tổng kinh phí CĐ thu được hàng năm từ DN. Theo số liệu được đại biểu Quốc hội Chu Sơn Hà (Hà Nội) cung cấp, tổng kinh phí thu được của CĐ năm 2011 là 3.600 tỷ đồng.

CĐ do Đảng lãnh đạo nên…

Chuyện “đổ thừa” của ông Đặng Ngọc Tùng là có cơ sở, vì CĐ ở Việt Nam được pháp luật quy định đây là hoạt động chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy nhiên, viện dẫn về nội dung của Sắc lệnh thời chiến tranh để tiếp tục xem tổ chức CĐ là hoạt động chính trị đặt trong mối quan hệ thuần túy làm ăn kinh tế của DN là không thể chấp nhận. Cũng nói về yếu tố lịch sử, trước đây CĐ sử dụng phần kinh phí thu được để chăm lo mọi điều kiện cho NLĐ, nhưng từ năm 1995 trở lại đây, việc chăm lo cho NLĐ đã được chuyển sang cơ quan bảo hiểm xã hội.

Trước khi có các chính sách “mở cửa”, toàn bộ nền kinh tế Việt Nam là thuộc về nhà nước, và nhà nước lại thuộc về “giai cấp công nhân”. Khi đó công nhân cũng được coi là chủ sở hữu của chính nhà máy hay công ty mà mình làm việc, ban giám đốc của công ty cũng chính là đại diện của toàn thể công nhân. Những mâu thuẫn nếu có hiển nhiên là những mâu thuẫn nội tại của công nhân với chính họ và do đó không hề cần đến thương lượng hay toà án.

Trừ khi có những vi phạm pháp luật về hình sự, công nhân không bao giờ bị đuổi việc. Điều kiện LĐ và tiền lương thấp kém, nhưng đó cũng là vấn đề của chính công nhân, do năng suất LĐ thấp và tổ chức LĐ kém; hơn nữa điều này xảy ra ở tất cả các công ty nên công nhân không thể có cơ sở so sánh. Hoạt động hữu ích thực sự của CĐ trong giai đoạn này là hỗ trợ tang ma, bệnh tật, cưới hỏi, sinh đẻ.

Một loại phí nằm ngoài luật

Theo quy định tại Điều 2, Điều 3 Pháp lệnh phí và lệ phí thì “phí” là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ. Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được uỷ quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước. Như vậy phí và lệ phí mang tính chất hoàn trả trực tiếp, mức thu được xây dựng trên cơ sở tính toán các chi phí bỏ ra và lợi ích thu về của người cung cấp dịch vụ.

Với phí CĐ, các DN tự hỏi 2% quỹ lương mà họ phải đóng để CĐ hoạt động, được gọi là gì? Phí thì không phải. Thuế lại càng không đúng, vì DN đã nộp thuế cho Nhà nước. Vậy đâu là cơ sở pháp lý? Và trong thực tế, từ nhiều năm qua, CĐ cơ sở chỉ được giữ 40%, 60% còn lại phải trích nộp cho CĐ cấp trên và số tiền này được chi như thế nào, vào mục đích gì, quyết toán ra sao… thì CĐ cơ sở và chủ DN đều không được biết.

DN không được biết đã đành, ngay cả đại biểu quốc hội cũng không biết. Đại biểu Chu Sơn Hà bức xúc: “Cá nhân tôi phát biểu trong kỳ họp thảo luận về dự thảo luật CĐ lần đầu, đề nghị báo cáo kết quả quản lý tài chính của CĐ, báo cáo quản lý và sử dụng tài sản có nguồn gốc từ ngân sách và do các đoàn viên đóng góp, nhưng cá nhân tôi còn không nhận được trả lời, chưa nói đến việc trả lời cho tất cả các đại biểu?”.

Bức xúc không dừng lại khi vào đầu năm nay, Tổng Liên đoàn LĐ Việt Nam liên tục có quy định buộc tất cả loại hình DN đều phải đóng phí CĐ và không dừng lại ở mức 2%, bất kể DN đó không hề có tổ chức CĐ.

Minh Tâm

Posted in chính trị, dân chủ, xã hội | Tagged , , , , , , , , , , , | Leave a comment